



















Preview text:
ĐẠI CƯƠNG NGHỆ THUẬT HỌC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Ý nghĩa của học phần
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa và sáng tạo ngày càng trở nên quan trọng vì
chúng là một trong những nguồn lực chính tạo ra giá trị kinh tế và việc làm [11] ở các
quốc gia. Trong một báo cáo gần đây nhất của UNESCO (2022), “Văn hóa và sáng tạo
chiếm 3,1% GDP toàn cầu và 6,2% tổng số việc làm. Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ văn hóa tăng gấp đôi so với năm 2005, đạt 389,1 tỷ USD vào năm 2019” [13]. Các
lĩnh vực văn hóa và sáng tạo được coi “là động lực của sự đổi mới, là nguồn cung cấp các
kỹ năng sáng tạo. . đóng vai trò như một thỏi nam châm giúp thúc đẩy tăng trưởng trong
các lĩnh vực khác như du lịch”. Đồng thời, “chúng còn có tác động xã hội đáng kể, từ hỗ
trợ sức khỏe và hạnh phúc, đến thúc đẩy hòa nhập xã hội và vốn xã hội địa phương” [11].
Tại các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển, văn hóa được đưa vào chính
sách quốc gia. Điển hình như ở Úc, vào năm 1994, lần đầu tiên trong lịch sử chính phủ
liên bang đã đưa ra quốc sách văn hóa của mình với tên gọi “Quốc gia sáng tạo: Chính
sách Văn hóa của Khối thịnh vượng chung”. Chính sách nêu rõ: Văn hóa Úc là di sản
chung của họ, văn hóa “liên quan đến bản sắc - bản sắc của quốc gia, cộng đồng và cá
nhân”; “văn hóa cũng liên quan đến sự thể hiện bản thân và sự sáng tạo”. Đồng thời nhấn
mạnh rằng: “Chính sách văn hóa này theo đuổi hai mục tiêu là dân chủ và xuất sắc. Nó sẽ
làm cho nghệ thuật, đời sống trí tuệ và văn hóa cũng như di sản của chúng ta dễ tiếp cận
hơn với tất cả mọi người. Và nó sẽ giúp tạo ra các điều kiện để đạt được và thưởng thức
những biểu hiện tốt nhất về sự sáng tạo của chúng ta. Mục đích tối hậu của chính sách
văn hóa này là làm giàu cho người dân Úc”[10].
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã xác định quan điểm:“Văn hoá là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
[2]; Và gần đây Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục
nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo“phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần”, cùng với định
hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Phát triển con người toàn diện và xây
dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở
thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư
cho phát triển sự nghiệp văn hoá. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã
hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người
Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” [3, tr.330]. 1
1.2. Mục đích và mục tiêu cụ thể
Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về Nghệ thuật và các loại hình
nghệ thuật: Mỹ thuật, Âm nhạc, Múa, Sân khấu, Điện ảnh; kỹ năng nghiên cứu, thực hành nghệ thuật.
Giúp người học vận dụng được những kiến thức về các loại hình nghệ thuật vào
hình thành ý tưởng sáng tạo để giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn đời sống xã hội
liên quan đến lĩnh vực chuyên môn. Từ đó thể hiện thái độ yêu thích nghệ thuật, có ý
thức tích cực, chủ động phát huy chức năng, vai trò của nghệ thuật trong thực hành, thực
tiễn đời sống xã hội góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tôn trọng sự
khác biệt, đa dạng về văn hóa.
Thông qua việc dạy và học Đại cương Nghệ thuật học trong chương trình đào tạo
ngành Quản lý văn hóa để giúp người học nhận thức sâu sắc hơn về vai trò văn hóa nói
chung, nghệ thuật nói riêng trong đời sống xã hội và trong bối cảnh xã hội hiện đại; đồng
thời “thay đổi tư duy coi văn hóa - sáng tạo là ngành/nghề phi sản xuất, không đem lại
của cải (hữu hình) cho xã hội” [1] để chủ động xây dựng năng lực bản thân, trở thành
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng những yêu cầu về phát triển văn hóa trong bối
cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật học chính là các loại hình nghệ thuật được đề cập
trong học phần, gồm: Mỹ thuật, Âm nhạc, Múa, Sân khấu, Điện ảnh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận liên ngành: Sử học, Dân tộc học, Tâm lý học, Văn hóa học. .
Phương pháp cụ thể: Tổng hợp, phân tích; So sánh đối chiếu, quan sát tham dự. 2
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT HỌC
2.1. Khái niệm về nghệ thuật
2.1.1. Một số quan niệm về nghệ thuật
Nghệ thuật – “hình thái cao nhất, tập trung nhất của mối quan hệ thẩm mỹ của con
người với thực tại” – được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Theo Phạm Quang Trung [7, tr.31]:
Theo nghĩa rộng nhất, nghệ thuật đồng nghĩa với tài nghệ. Không xa lạ với hoạt
động nghệ thuật khi một vận động viên đạt tới một mức độ cao, điêu luyện trong bộ
môn của mình. Người chứng kiến thường đưa ra những nhận xét tương tự như
những đánh giá nghệ thuật đích thực.
Hẹp hơn và phổ biến hơn là người ta đưa ra khái niệm “nghệ thuật” để chỉ mọi hoạt
động, mọi sản phẩm được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Một quan niệm như
vậy về nghệ thuật vốn có truyền thống từ rất xa xưa ở phương Đông cũng như ở phương Tây.
Trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc phương Tây, nghề thủ công và nhiều hình thức
hoạt động khác nhau của con người đều được gọi chung là nghệ thuật. Chẳng hạn,
người Hy Lạp cổ đại chỉ dùng một từ duy nhất để chỉ nghệ thuật và nghề thủ công
là techne. Những nghệ sỹ đầu tiên là những thợ gốm, tạc đá, làm mộc cùng những
người lao động tạo ra những vật dụng hữu ích khác. Rất lâu về sau và cho tới ngày
nay người ta vẫn duy trì một quan niệm khá rộng như thế về nghệ thuật. Nhà mỹ
học người Mỹ T. Macro cho rằng các loại hình nghệ thuật không chỉ gồm văn
chương, hội họa, âm nhạc…mà còn gồm trang điểm, nấu ăn… Ông liệt kê ra có tới
gần 400 loại hình nghệ thuật khác nhau.
“Nghệ thuật” theo nghĩa hẹp nhất, chặt chẽ nhất là chỉ hoạt động và thành phẩm
sáng tạo của người nghệ sỹ. Ở đây lao động nghệ thuật mang tính đặc thù nhằm tạo
ra tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị. Mọi định nghĩa về nghệ thuật trước nay hầu
như đều xoay quanh ý nghĩa này của nghệ thuật. Tuy nhiên, thật khó thống nhất
được quan niệm “thế nào là nghệ thuật?”
2.1.2. Định nghĩa về nghệ thuật
“Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, là một loại hoạt động tinh thần - thực
tiễn của con người, đi theo quy luật của cái đẹp, ở trình độ phát triển cao, nhằm phục vụ
cho con người một đời sống tinh thần phong phú, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của con
người vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ”. (Lâm Vinh, 2002).
“Nghệ thuật là phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm
bằng hình tượng” (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1999) [9, tr.1193] 3
“Nghệ thuật là một hoạt động của con người mà thực chất là nghệ sĩ thông qua một
số kí hiệu bên ngoài có ý thức truyền cho những người khác bị nhiễm những tình cảm
này, cùng thể nghiệm chúng” (Lev Nikolayevich Tolstoy - dẫn theo Đỗ Văn Khang, 2001) [6. tr.12).
2.2. Nguồn gốc của nghệ thuật
Khoảng một triệu năm trước đây con người đã đứng thẳng, thoát thai khỏi giới
động vật. Hình thức sơ khai nhất của xã hội loài người được hình thành: Xã hội
cộng sản nguyên thủy. Công cụ lao động của các cư dân đầu tiên này đều được làm
từ đá. Vì vậy, theo khảo cổ học thời kì này được gọi là thời kì đồ đá, gồm ba giai
đoạn: Đồ đá cũ – đồ đá mới. Ở thời kỳ đồ đá cũ, con người sống bằng săn bắt và
đánh cá. Họ biết chế tạo công cụ lao động. Trải qua một thời gian dài với người
Crôma nhông (Pháp), dấu hiệu về sự làm đẹp đã xuất hiện. Họ chú ý tới cách ăn
mặc, trang trí vách hang bằng hình vẽ thú vật và họ còn làm những bức tượng nhỏ
bằng nhiều chất liệu như ngà, xương. .Tộc người này sống vào cuối thời kỳ đồ đá cũ.
Không ai có thể khẳng định một cách chắc chắn nghệ thuật tạo hình bắt đầu ra sao
và từ bao giờ. Tuy vậy căn cứ trên các hình vẽ tìm thấy ở một số hang động như
Antamira (Tây ban nha) Látsxcô (Pháp), một số bức tượng phụ nữ đã được xác định
niên đại có thể cho ta hình dung về sự ra đời của nghệ thuật tạo hình trong đời sống
nguyên thủy. Từ 30.000 năm đến 10.000 năm trước công nguyên đã bắt đầu để lại
những dấu vết về nghệ thuật tạo hình, theo như cách gọi của chúng ta ngày nay.
Cách chúng ta hơn 5000 năm trước đây, con người mới phát hiện ra chữ viết, lúc
đầu chỉ là những hình vẽ tượng trưng, những kí tự để trao đổi. Ví dụ hình tròn có
chấm ở giữa là mặt trời. . Dần dần các chữ tượng hình xuất hiện. Như vậy thì, từ
“nghệ thuật tạo hình” hay “Mỹ thuật” như ta thấy ngày nay xuất hiện sau những
hình vẽ trên vách hang động thời tiền sử rất nhiều. Khi con người thời tiền sử vẽ
hoặc khắc vạch lên vách, trần hang động nơi họ sinh sống có lẽ họ cũng chưa nghĩ
rằng đó là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Những hình vẽ đó gắn với cuộc
sống, với các đồ vật, nơi sinh hoạt của con người. Về một mặt nào đó, trong tư duy
nguyên thủy việc vẽ hình cũng giống như việc săn bắn hay các công việc khác. Nó
không chỉ mang ý nghĩa nghệ thuật mà còn gắn với cái có ích. Ngoài ra, nghệ thuật
tạo hình lúc này còn gắn với tín ngưỡng, ma thuật. Theo E.H. Gombrich, tác giả
cuốn “Câu chuyện nghệ thuật” thì “Tranh và tượng được họ dùng để thực hành
pháp thuật”. “Những người thợ săn thời kỳ này nghĩ rằng chỉ cần vẽ hình con mồi
và có lẽ tấn công chúng bằng giáo mác hay rìu đá, những con thú thật sẽ khuất phục
trước sức mạnh của họ”. Tất nhiên, đó là sự phỏng đoán của con người ngày nay
khi nghiên cứu về hai lịch sử mỹ thuật của thời nguyên thủy. 4
Ngoài hai ý nghĩa trên, các hình vẽ còn có ý nghĩa là những thông tin nhắn gửi cho
các thế hệ sau về cuộc sống, Sinh hoạt của con người thời tiền sử. Ví dụ qua các
hình vẽ thú vật như bò rừng, ngựa, voi ma mút,. .cho chúng ta biết về các động vật
thời nguyên thủy, ở bức tranh khác ta được chứng kiến cách đánh cá, cách quăng
lưới, cách sử dụng các con cá mồi lớn. Thậm chí con người thời kì đó vẽ chỉ để giải trí [6].
2.2.1. Các học thuyết về nguồn gốc của nghệ thuật
Nguồn gốc của nghệ thuật được giải thích theo một số học thuyết sau [5, tr.9-12]:
2.2.1.1.Thuyết “Bắt chước”
Người đề xướng thuyết này là Aristotle (384 – 322 tr. CN). Trong tác phẩm Thi
pháp, Aristotle cho rằng nghệ thuật là một hành vi “bắt chước”. Bản chất con người
là hay “bắt chước”, “bắt chước” khéo léo tạo ra sự thích thú, tạo ra tài năng và do đó tạo ra nghệ thuật.
Tuy nhiên Aristotle không coi sự “bắt chước” của nghệ thuật là sự “sao chép”, nghệ
sĩ luôn luôn thêm vào hay bớt đi để làm cho tác phẩm cao hơn tự nhiên. Sự thêm
vào, hoặc bớt đi phải được kết hợp với cách điệu, tiết tấu theo quy luật hài hoà.
Để làm rõ bản chất đặc sắc của nghệ thuật, Aristotle so sánh nghệ thuật với khoa
học lịch sử. Ông cho rằng, khoa học lịch sử chỉ nhằm tái hiện lại những sự kiện đã
xảy ra một cách trung thực, khách quan. Nghệ thuật không nhằm trình bày cái “đã
xảy ra”, mà chú trọng tới quy luật “tất yếu sẽ phải xảy ra”, như vậy nghệ thuật khác
hẳn khoa học lịch sử. Người nghệ sĩ không “bắt chước” một cách máy móc, anh ta
tái tạo lại hiện thực và đề xuất một kiểu mẫu, ở đó ta thấy bản chất sự vật một cách sáng tỏ hơn.
2.2.1.2. Thuyết “Du hí”
Những người giải thích nghệ thuật bằng thuyết “du hí” cho rằng, bản chất của con
người là thích “vui chơi”. Khi săn được con thú lớn, gặt được vụ mùa bội thu, con
người phấn khởi bày ra các “trò diễn” để “xả hơi”. Những lúc này người ta thích
khoa chân, múa tay, làm điệu bộ săn con thú hay gặt hái để làm tan biến cái thế giới
tẻ nhạt, đơn điệu, vậy là nghệ thuật ra đời. Robert Frost đã cho rằng văn học là “trò
diễn bằng ngôn từ”, trong văn học có yếu tố “mua vui”.
Nguyễn Du – nhà thơ lớn của nước ta, khi kết thúc tác phẩm Truyện Kiều cũng đề
cập tới ý này ở mức độ khiêm tốn:
“Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”.
Quả là trong tác phẩm văn học - nghệ thuật - có hiện tượng thu hút “hồn vía” người
đọc, làm cho người ta quên đi những gì gian khó, nhọc nhằn, để đi vào một thế giới 5
kỳ lạ, ngây ngất, cái cảm giác xâm chiếm toàn bộ tâm hồn ta, ta cảm thấy đầy đủ,
viên mãn, và dâng tràn một niềm thích thú khôn nguôi.
Thuyết “Du hí’ tuy chưa lột tả được những bản chất sâu xa của nghệ thuật, nhưng
nó đã đề cập được một trong những mặt quan trọng, đó là chức năng giải trí lành
mạnh trên cơ sở những khoái cảm vô tư mà nghệ thuật đưa lại cho chúng ta.
2.2.1.3. Thuyết “Ma thuật”
Thuyết này nghiêng về khía cạnh tôn giáo. Để giải thích nghệ thuật, người ta cho
rằng những lực lượng siêu nhiên chi phối con người, và con người hay cầu mong sự
trợ giúp của lực lượng siêu nhiên. Để biểu hiện “chân dung” của các vị thần mà họ
tưởng tượng ra, họ đã vẽ các vị thần đó trên các “bàn thờ”, hoặc tạo các bức tượng
về các vị thần. Chính quá trình này đã góp phần hình thành nghệ thuật.
2.2.1.4. Thuyết “Biểu hiện”
Thuyết này giải thích nguồn gốc của nghệ thuật là do nhu cầu muốn “bộc bạch nỗi
niềm chủ quan” của người nghệ sĩ. D.H Lawrence, nhà văn Anh (1885 – 1930) cho
rằng: “Người ta giãi bày nỗi đau trên trang sách, lặp lại và trình bày là để làm chủ được chúng”.
Thuyết “Biểu hiện” gắn vối thuyết “Cảm xúc” và “Tình cảm”. Nghệ thuật là gì nếu
như nó không biểu hiện những cảm xúc và tình cảm của người nghệ sĩ và gieo
những tình cảm, cảm xúc nơi người đọc. Trong tiểu luận “Nghệ thuật là gì?”, Lev
Nikolayevich Tolstoy cũng cho rằng: “Nghệ thuật là một hoạt động của con người
mà thực chất là nghệ sĩ thông qua một số kí hiệu bên ngoài có ý thức truyền cho
những người khác bị nhiễm những tình cảm này, cùng thể nghiệm chúng”.
2.2.2. Học thuyết “Tổng sinh lực và sinh lực thừa”
Nói tới nghệ thuật là nói tới năng lực. Hơn thế, đó không phải là một năng lực bình
thường, mà là năng lực ưu tú. Muốn có năng lực ưu tú lại phải có dư năng lực bình
thường. Vấn đề là ở chỗ, khi nào con người đã có dư năng lực bình thường và xuất
hiện năng lực ưu tú để làm nghệ thuật?
Để giải đáp vấn đề này, chỉ có cách là trở ngược lại thời nguyên thủy và căn cứ vào
các di vật văn hoá mà người xưa để lại, theo nguyên tắc: “Trước mắt chúng ta có
những lực lượng bản chất đã được đối tượng hóa của con người, lực lượng bản chất
ấy tồn tại những hình thức, những đối tượng vật chất, xa lạ, hữu ích”.
Từ đó có thể thấy xu hướng phát triển của con người là mong muốn mỗi ngày mình
có thêm nhiều quyền lực hơn đối với tự nhiên. Muốn vậy, không có con đường nào
khác là phải hoàn thiện công cụ lao động. Muốn hoàn thiện công cụ lao động thì
phải gia tăng năng lực trí tuệ. Năng lực cơ bắp của con người bao giờ cũng có giới
hạn. Còn năng lực trí tuệ thì vô hạn. 6
Công cụ lao động đầu tiên của con người là cái rìu đá, chính là các hòn đá tự nhiên
mà con người lượm lấy để xé thịt, đào củ; sau đó họ tăng năng lực trí tuệ vào, đem
mài các rìu đá cho sắc hơn, nhọn hơn và thuận tiện hơn. Tăng thêm năng lực suy
nghĩ, họ chế ra cái khoan đá để khoan rìu, tạo ra cái rìu có thể tra cán gỗ, làm cho
tầm tay của người nguyên thuỷ vươn xa hơn, mạnh hơn. Nhờ vậy, từ một công cụ
cơ bản (cái rìu đá được lượm ở ven núi, chân suối, do mưa, bão vỡ ra từ những tảng
đá) con người dùng suy nghĩ chế ra hàng loạt các công cụ khác như khoan đá, cưa
đá v.v. . để làm một cái rìu mới hoàn toàn không có trong tự nhiên.
Giai đoạn quan trọng này – giai đoạn chế tạo ra công cụ để làm công cụ được coi là
người biết làm “công nghiệp nặng nguyên thuỷ”, tức là biết tạo ra khả năng tự do, tạo ra sinh lực thừa.
Quan sát các “công xưởng” làm đá như ở Tràng Kênh (Hải Phòng) – do khảo cổ
học phát hiện, chúng ta thấy bên cạnh các rìu đá, các khoan đá; ta thấy các vòng
đeo tay, các hạt chuỗi, điều đó chứng tỏ thời kỳ đồ đá ở nước ta đã xuất hiện đời
sống thẩm mỹ và nghệ thuật. Ở các vách hang, như hang Đồng Nội có các hình vẽ
người và thú có khoảng mười hai nghìn năm tuổi.
Từ đó có thể rút ra kết luận: Bất cứ ai cũng có một tổng sinh lực nhất định. Tổng
sinh lực này có thể tính bằng thu nhập, bằng năng lực sản xuất v.v. . Đơn giản nhất
có thể tính bằng thời gian. Một người thợ đá trung bình phải làm cả ngày mới xong
năm chiếu rìu mà tộc trưởng giao cho (một hình thức khoán sơ khai nhất). Người
thợ đá giỏi chỉ trong nửa ngày đã làm xong năm chiếc rìu. Còn nửa ngày anh ta
được tự do. Có tự do là có sinh lực thừa, có sinh lực thừa là có ngẫu hứng. Thế là
anh thợ đá giỏi lấy nửa ngày còn lại làm những chiếc vòng đá cực đẹp. Chiếc rìu đá
là thực dụng (để đáp ứng nhu cầu sống), còn chiếc vòng đá là thẩm mỹ để thỏa mãn
nhu cầu tinh thần, nhu cầu của sự biểu hiện tự do – không để ăn, để mặc, mà để làm
đẹp – nghệ thuật ra đời từ đó.
Nghệ thuật ra đời là do xuất hiện sinh lực thừa, do nhu cầu biểu đạt tự do sáng tạo
của con người. Quy luật này không chỉ đúng với nguyên thuỷ, mà đúng với mọi
thời đại. Xã hội càng văn minh, năng suất lao động càng cao, nhu cầu hưởng thụ cái
đẹp càng nhiều (Trước đây xã hội ta làm việc sáu ngày trong tuần, nay chỉ làm việc
có năm ngày, do đó, nhu cầu du lịch, giải trí, xem nghệ thuật đã tăng lên rất nhiều).
Như vậy, sự ra đời của nghệ thuật là do nhiều nguyên nhân: có nguyên nhân “Bắt
chước”, có yếu tố “Du hí” – giải trí, vui chơi, có nhu cầu “Biểu hiện”, có yếu tố
“Ma thuật” và cả “kỹ thuật” nữa, nhưng nguồn gốc cơ bản nhất của nghệ thuật là do
xuất hiện sinh lực thừa, từ đó tạo ra tự do sáng tạo và nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ.
Thuyết “Tổng sinh lực và sinh lực thừa” là thuyết lý giải nguồn gốc nghệ thuật một
cách khoa học nhất, đầy đủ nhất. Thuyết này tiếp thu tất cả các thuyết trước đây,
nhưng đã đưa các thuyết đó vào hệ thống của mình để làm nổi bật nguồn gốc cơ 7
bản nhất của nghệ thuật. Thuyết này dựa trên luận cứ cho rằng, nghệ thuật xuất hiện
khi con người đã đạt tới một trình độ sáng tạo trong lao động bền bỉ đến mức đã
làm ra được sinh lực thừa – một nguồn sinh lực trên mức đáp ứng nhu cầu sống
sinh học, làm nảy sinh nhu cầu sống thẩm mỹ (sống đẹp), khi đó nghệ thuật từ cái
thực dụng bước ra, tạo nên một hiện tượng độc đáo chỉ riêng loài người mới có.
2.3. Chức năng, quá trình, vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội
2.3.1. Chức năng xã hội của nghệ thuật
“Chức năng xã hội của nghệ thuật có sự kết hợp hữu cơ của hai thành tố: một là,
khả năng vốn có do bản chất của nghệ thuật quy định; hai là, nhiệm vụ của nghệ thuật đối
với yêu cầu xã hội” [4]. Cách phân chia 1:
- 3 Chức năng chung: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ
- 4 Chức năng riêng: thưởng thức, nhận thức, giáo dục, giao lưu
(Khoa Triết học, 2004, Giáo trình Mỹ học đại cương)
Cách phân chia 2 Một số chức năng cơ bản (vốn có) của nghệ thuật bao gồm [4], [8]:
Chức năng nhận thức: Tác phẩm nghệ thuật là chỉnh thể chân - thiện - mỹ trọn
vẹn. Nghệ thuật là sự tập trung lý tưởng con người, nó nhận thức thế giới bằng các
cảm quan - cảm xúc mạnh mẽ, đi vào chiều sâu nội tâm đối tượng; phát hiện các
quy luật tình cảm rất riêng của con người. Chính vì vậy, lượng tri thức thẩm mỹ
phong phú có thể đi sâu và mở rộng thế giới tinh thần phong phú của con người và
quan hệ giữa con người với nhận thức thế giới [4, tr.252].
Chức năng giáo dục – tổ chức xã hội: Nghệ thuật giáo dục lý tưởng xã hội, lý
tưởng đạo đức, bằng cách nêu gương, tạo ra những mẫu mực, những cách sống,
những kinh nghiệm hành động và ứng xử. Mặt khác, nó đóng vai trò quan trọng khi
đóng góp vào việc cổ vũ, tập hợp quần chúng chung quanh một ngọn cờ chính trị
hoặc tạo ra những bề thế cho những tổ chức xã hội – nhà nước (tiếng hát của những
đoàn biểu tình, tiếng kèn xông trận, tiếng quốc thiều, những trang hoàng lộng lẫy
ngày quốc tế, ngày hội,. .)
Chức năng thẩm mỹ: Có thể nói mọi chức năng của nghệ thuật đều là chức năng
thẩm mỹ vì bản thân nghệ thuật là một hoạt động thẩm mỹ nhưng cũng cần phân
tích riêng một vài khía cạnh đặc biệt về mặt thẩm mỹ: đó là giáo dục thẩm mỹ cho
con người bao gồm giáo dục ý thức (lý tưởng, tình cảm, thị hiếu, thẩm mỹ) gọi
chung là mỹ cảm, và giáo dục hoạt động sáng tạo thẩm mỹ (kỹ năng, kỹ xảo về
sáng tạo cái đẹp và nghệ thuật).
Chức năng thông tin – giao tiếp: Tất cả các chức năng khác đều phải thông qua
chức năng này để phát huy tác dụng, vì sự sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng là quan 8
hệ tương ứng giữa thông báo và tiếp nhận. Nhờ có chức năng thông tin này, nghệ
thuật thực hiện mục tiêu giáo dục, nhận thức và thẩm mỹ, thực hiện một sự giao
tiếp giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng xã hội. Đây chính là điều kiện tạo ra sự
tri ân mà văn học phương đông đề cập tới.
Chức năng giải trí: Giải trí là một nhu cầu tất yếu vừa mang tính sinh lý vừa mang
tính tâm lý. Nghệ thuật là một trong những phương tiện giải trí chủ yếu. Khi cuộc
sống bận rộn, căng thẳng và đơn điệu, con người cần đến giải trí, và nghệ thuật là
hình thức giải trí cao cấp và phong phú nhất.
Các chức năng có liên quan chặt chẽ với nhau và hợp thành một tổng lực tạo nên
sức mạnh của nghệ thuật, nó phản ánh tính đa diện của cơ cấu nghệ thuật, tính đa
nghĩa của hình tượng nghệ thuật. Những chức năng trên quy tụ lại sẽ thực hiện
nhiệm vụ tổng hợp của nghệ thuật đã từng nêu ra từ đầu: Nghệ thuật thực hiện mô
hình hóa toàn diện cuộc sống. (Lâm Vinh, 2002).
2.3.2. Quá trình hoạt động của nghệ thuật
2.3.2.1. Quá trình hoạt động của nghệ thuật
Hoạt động nghệ thuật diễn ra trong quá trình liên tục gồm bốn khâu cơ bản [4, tr.332 - 337]:
Cuộc sống - nghệ sỹ - tác phẩm - công chúng. Quá trình đó vận động không ngừng
theo tiến trình lịch sử xã hội, nó phát triển biện chứng từ thấp lên cao cả về đối
tượng phản ánh lẫn trình độ phản ánh của chủ thể sáng tạo. Giữa quá trình đó có
khâu đánh giá - phê bình nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ.
Cuộc sống quy định tình cảm ý nghĩ, tư tưởng của nghệ sỹ. Tài năng và tư tưởng, lý
tưởng của nghệ sỹ quy định chất lượng tác phẩm nghệ thuật. Chất lượng của tác
phẩm nghệ thuật có ý nghĩa rộng lớn, là sức mạnh lôi cuốn công chúng. Trong quá
trình thưởng thức, công chúng (công chúng nghệ thuật) đối chiếu chất lượng thẩm
mỹ của tác phẩm với cuộc sống (thực tế) và có sự lựa chọn để tiếp nhận hay phản
bác nhằm nâng cao đời sống tinh thần của mình, xây dựng cuộc sống mới. Đánh giá,
phê bình nghệ thuật là góp phần vào việc nâng cao khả năng cảm thụ và khả năng
sáng tạo ngày một cao hơn. Đánh giá nghệ thuật liên quan đến cả bốn khâu: cuộc
sống, nghệ sỹ, tác phẩm và công chúng; nghĩa là phân tích cuộc sống, đánh giá tác
phẩm, gợi mở hướng cảm thụ nghệ thuật, khơi gợi hứng sáng tạo của nghệ sỹ. 9
Hình 2.1. Sơ đồ quá trình hoạt động nghệ thuật gồm bốn khâu cơ bản (Nguồn: Khoa Triết học, 2004, tr.333)
Nếu biểu diễn quá trình hoạt động nghệ thuật trên một đường thẳng, ta thấy quá trình đó
gồm hai giai đoạn chủ yếu:
Sáng tạo nghệ thuật và cảm thụ nghệ thuật, giữa hai giai đoạn đó là đánh giá - phê bình:
Hình 2.2. Sơ đồ quá trình hoạt động nghệ thuật gồm bốn khâu cơ bản (Nguồn: Khoa Triết học, 2004, tr.334)
Hai giai đoạn sáng tạo và cảm thụ có một khâu chung là tác phẩm, chúng được liên
kết bởi khâu tác phẩm, hay có thể nói, trong quá trình hoạt động nghệ thuật, tác
phẩm nghệ thuật là trung tâm. Tác phẩm là khâu kết thúc giai đoạn thứ nhất (sáng
tạo), đồng thời mở ra giai đoạn hai (cảm thụ), nó là trụ điểm của hoạt động nghệ thuật.
Hai giai đoạn sáng tạo và cảm thụ có một khâu chung là tác phẩm, chúng được liên
kết bởi khâu tác phẩm, hay có thể nói, trong quá trình hoạt động nghệ thuật, tác
phẩm nghệ thuật là trung tâm. Tác phẩm là khâu kết thúc giai đoạn thứ nhất (sáng 10
tạo), đồng thời mở ra giai đoạn hai (cảm thụ), nó là tụ điểm của hoạt động nghệ thuật.
Thông qua quan hệ tác phẩm - công chúng, nội dung tư tưởng - thẩm mỹ của hình
tượng nghệ thuật được tồn tại khách quan trong cuộc sống, nghĩa là không có quan
hệ này thì tác phẩm nghệ thuật chưa thể hiện được đời sống của nó, mặc dù nó tồn
tại trong hiện thực. Chỉ thông qua công chúng, tác phẩm mới thực hiện được sức
sống của nó tới con người, phát huy tác dụng các chức năng xã hội của nghệ thuật.
Quan hệ nghệ sỹ - tác phẩm - công chúng dù ở các loại nghệ thuật hiện thực, lãng
mạn hay siêu thực,. .trực tiếp hay gián tiếp đều chịu sự chi phối của cuộc sống một
cách rõ rệt. Bởi trước hết, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, là sản phẩm của
sự phản ánh thế giới hiện thực vào đầu óc con người. Song điều rõ ràng hơn là nhu
cầu thẩm mỹ - nguồn gốc nảy sinh ra sáng tạo nghệ thuật và cảm thụ nghệ thuật bắt
nguồn từ cuộc sống và trở về phục vụ cuộc sống. Khi cuộc sống thay đổi, thế giới
hiện thực thay đổi thì tất cả các hoạt động sống (trong đó có sáng tạo nghệ thuật và
cảm thụ nghệ thuật) cũng thay đổi.
2.3.2.2. Những điểm giống nhau giữa nghệ sỹ và công chúng ở khâu trung tâm - tác
phẩmNói tới nghệ thuật là phải có tính sáng tạo, vì mọi hoạt động của nghệ thuật ở mức
độ nào cũng đều có sự sáng tạo. Hoạt động của nghệ sỹ và hoạt động của người
cảm thụ đều có tính chủ động, tích cực và sáng tạo. Thưởng thức nghệ thuật là
thưởng thức - sáng tạo.
Nghệ sỹ nhận thức cuộc sống hiện thực công chúng nhận thức tác phẩm do nghệ sỹ
tạo ra, nghĩa là nhận thức hiện thực thứ hai. Nghệ sỹ cải tạo hiện thực để sáng tạo ra
tác phẩm; còn công chúng thông qua tác phẩm nghệ thuật để cải tạo chính mình.
Nghệ sỹ sáng tạo một cách say mê, tự giác; công chúng hào hứng và tự nguyện- đến với tác phẩm.
Mối quan hệ của hai giai đoạn sáng tạo và cảm thụ có sự thống nhất trong một quá
trình. Trong một tác phẩm, bao giờ người sáng tạo cũng mở ra hướng cảm thụ theo
khả năng “giải mã” của công chúng, gợi mở cho công chúng cảm nhận tư tưởng tác
phẩm, nghĩa là tư tưởng của tác giả được công chúng bàn luận và thương thức. Tài
năng của nghệ sỹ là gợi mở, khám phá những ý tưởng, làm cho công chúng thấy
được cái đẹp ẩn kín trong đời sống nghệ thuật, cái hàm ẩn sâu xa và rộng lớn của tác phẩm.
2.3.2.3. Những khác biệt giữa sáng tạo và cảm thụ trong khâu tác phẩm
Các quan hệ của nghệ sỹ với hiện thực, công chúng với tác phẩm,. . đều là quan hệ
thẩm mỹ. Song, khách thể của hai quan hệ này không đồng nhất; nếu nghệ sỹ phản
ánh đời sống hiện thực thì công chúng chỉ tiếp xúc với “hiện thực thứ hai” do nghệ
sỹ tạo ra trong tác phẩm, một đối tượng có tính tín hiệu do kết quả của sự phản ánh 11
hiện thực đem lại là một mô hình lý tưởng được khách thể hóa. Quan hệ của nghệ
sỹ với - thế giới hiện thực mang lại thông tin về thế giới hiện thực. Còn quan hệ
công chúng - tác phẩm bắt gặp hai lớp thông tin: lớp hiện thực - tín hiệu, và lớp ý
tưởng được khái quát trên tín hiệu. Nói cách khác, trong quá trình, sáng tạo, nghệ sỹ
vừa xây dựng hình tượng trong ý thức, tự vật thể hóa hình tượng thành tác phẩm.
Còn ở sự cảm thụ thì thông qua tín hiệu, người cảm thụ tinh thần hóa chính hình
tượng đó vào trong trí tưởng tượng của mình. Kết quả mà nghệ sỹ hằng đạt tới là
tạo ra những giá trị thẩm mỹ mới. Trong khi đó, đối với người thưởng thức thì nhu
cầu thẩm mỹ được thỏa mãn, sức mạnh của giá trị thẩm mỹ sẽ triển khai các chức năng xã hội của nó.
Tất nhiên, cả hai loại hoạt động này đều nhằm một mục đích chung là nhận thức,
sáng tạo và cải tạo con người - xã hội theo những lý tưởng thẩm mỹ nhất định,
Chính vì vậy, nhân tố khởi nguồn và kết thúc của toàn bộ chu trình đều là đời sống
hiện thực. Và dĩ nhiên, ở đằng sau của chu trình đó, đời sống con người - xã hội
không còn nguyên như cuộc sống ban đầu. Nghệ thuật chân chính, tác phẩm nghệ
thuật có giá trị đích thực bao giờ cũng phản ánh, cải tạo cuộc sống con người, hoàn
thiện con người, từng bước nâng cao đời sống con người, thúc đẩy sự phát triển xã hội.
2.3.2.4. Quan hệ giữa sáng tạo và cảm thụ (tác phẩm - công chúng thông qua đánh giá
phê bình nghệ thuật
Tham gia một cách đầy đủ và có ý nghĩa đối với đời tình nghệ thuật và hoạt động
đánh giá, phê bình nghệ thuật. Hoạt động này liên quan mật thiết tới tất cả các khâu
của hoạt động nghệ thuật, từ cuộc sống đến nghệ sỹ, từ tác phẩm cho đến công
chúng thưởng thức. . Chính vì vậy, đánh giá - phê bình nghệ thuật có ý nghĩa rộng
lớn và rất cần thiết đối với sự phát triển của nền nghệ thuật và phát triển đời sống thẩm mỹ của xã hội.
Thông qua việc cảm thụ, phân tích, lý giải, gợi mở, bình giá tác phẩm nghệ thuật -
khâu trung tâm của hoạt động nghệ thuật - đánh giá, phê bình nghệ thuật gắn kết
trực tiếp với hai giai đoạn cơ bản của; hoạt động nghệ thuật: sáng tạo nghệ thuật và
cảm thụ nghệ thuật; nó trở thành cầu nối giữa nghệ sỹ và công chúng thường thức.
Căn cứ theo yêu cầu xã hội, yêu cầu cuộc sống con người, hoạt động đánh giá, phê
bình nghệ thuật vừa là nơi phát tín hiệu xuôi về phía công chúng, soi sáng cho họ
cảm thụ, vừa phát tín hiệu ngược về phía nghệ sỹ; nó thông báo giá trị thực tế của
tác phẩm nghệ thuật, đánh giá quỹ đạo vận động của đời sống tác phẩm nghệ thuật
trong xã hội. Phê bình, đánh giá nghệ thuật có trách nhiệm đề xuất ý kiến cho các
nhà hoạch định chiến lược phát triển văn hóa - nghệ thuật của Đảng và Nhà nước.
Có thể nói, đánh giá, phê bình nghệ thuật có vị trí và vai trò định hướng trong hoạt
động nghệ thuật xã hội. 12
2.3.3. Vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội
Về mặt tinh thần: nghệ thuật nói riêng, văn hóa nói chung “là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.
Về mặt vật chất, các lĩnh vực nghệ thuật thuộc nhóm các ngành công nghiệp sáng
tạo, nói rộng hơn là nền kinh tế sáng tạo – tạo ra của cải và là nguồn thu nhập rất lớn.
2.4. Phân loại nghệ thuật
Trong thế giới nghệ thuật có rất nhiều dạng tồn tại của các tác phẩm nghệ thuật: một
tòa lâu đài, một bộ tiểu thuyết, một pho tượng, một bản nhạc, một bức tranh,. . Xuất
phát từ đặc trưng phản ánh, các phương tiện tạo hình - biểu hiện khác nhau và do
các phương thức tồn tại khác nhau, người ta phân các dạng tồn tại của nghệ thuật
thành các loại hình, thể loại khác nhau. [4, tr. 284 -288]
Cho đến nay, người ta thường quy ra bảy loại hình cơ bản của nghệ thuật: kiến trúc,
điêu khắc, âm nhạc, hội họa, văn chương, sân khấu, điện ảnh. Ngoài ra, còn có trang
trí, múa, xiếc, nhiếp ảnh, mỹ thuật công nghiệp, truyền hình nghệ thuật, v.v…
Mỗi loại hình nghệ thuật lại có nhiều loại thể khác nhau. Loại hình văn chương gồm
các loại thể: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, thơ, kịch bản,. .Loại hình sân khấu Việt
Nam có các loại thể: tuồng, chèo, cải lương, kịch nói. .Trong âm nhạc có nhạc dân
gian, nhạc thính phòng, giao hưởng, opera,. .
Con người nhận thức thế giới bằng nhiều phương thức khác nhau. Nghệ thuật là một
phương thức nhận thức độc đáo, không có loại nhận thức nào có thể thay, thế được
nó. Riêng trong nghệ thuật thì các loại hình, loại thể cũng chính là những hình thức
phản ánh đặc thù mà các loại hình, loại thể khác không thể thay thế được. Văn
chương không thể thay thế được hội họa, kiến trúc không thể thay thế được âm
nhạc. . Đó là lý do đầu tiên của sự hình thành và tồn tại của các loại hình, loại thể nghệ thuật.
Sự phát triển và tồn tại của các loại hình, loại thể còn do tính đa dạng, muôn màu,
muôn vẻ của thế giới khách quan, của đối tượng - khách thể phản ánh thẩm mỹ,
cũng như tính đa sắc thái, đa cung bậc, đa góc độ của các giác quan của chủ thể sáng
tạo nghệ thuật quy định. Âm thanh không thể thay thế được màu sắc, ngôn từ không
thể thay thế được hình khối. Hơn nữa, tính phong phú của các phương tiện vật chất -
kỹ thuật đem lại nhiều khả năng tạo hình - biểu hiện khác nhau cũng là cơ sở để con
người (nghệ sỹ) đi sâu khám phá các khía cạnh sâu thẳm của cuộc sống, của tâm
hồn. Sự chiếm hữu không gian (kiến trúc, điêu khắc) đi đến chiếm lĩnh thời gian
(âm nhạc), tiến lên chiếm lĩnh màu sắc (khi kỹ nghệ chế biến màu ra đời), rồi đến
chiếm lĩnh không gian - thời gian trên màn hình (khi kỹ thuật điện ảnh xuất hiện).
Mọi loại hình, loại thể đều có cuộc sống độc lập, có sức mạnh phản ánh, khám phá
riêng, do đó nó đáp ứng được các yêu cầu thẩm mỹ khác nhau. Quá trình vận động
và phát triển của chúng còn phụ thuộc vào nhu cầu lịch sử - xã hội từng thời đại, cho 13
nên các loại hình, thể loại phát triển không đồng đều. Có loại hình bị mất đi, có loại
hình mới xuất hiện, và sẽ còn xuất hiện các loại hình khác khi nhu cầu thẩm mỹ
ngày càng đa dạng, trí tuệ, khoa học - kỹ thuật ngày càng phát triển,. .
Dựa vào đặc điểm phản ánh, tồn tại và khả năng tác động đến người cảm thụ khác
nhau, người ta phân các loại hình nghệ thuật thành các nhóm khác nhau. Chẳng hạn:
- Các ngành nghệ thuật thực - Kiến trúc - Nghệ thuật không dụng - Mỹ thuật ứng dụng
gian (nghệ thuật thị
- Các ngành nghệ thuật thuần - Điêu khắc giác) túy (tạo hình) - Hội họa - Đồ họa
-Các lĩnh vực nghệ thuật mới
- Nhiếp ảnh nghệ thuật,… - Nghệ thuật ngôn ngữ - Văn học
- Nghệ thuật thời gian - Nghệ thuật âm thanh - Thơ (nghệ thuật thính - Âm nhạc giác)
Các nghệ thuật thị cảm - Vũ đạo - Nghệ thuật không (biểu diễn) - Điện ảnh gian và thời gian - Truyền hình
(nghệ thuật tổng hợp) - Tạp kỹ - Xiếc
Nguồn: Nguyễn Xuân Tiên (2014)
Cần lưu ý rằng cách phân chia trên đây chỉ mang tính tương đối, dựa trên một số đặc
trưng nổi bật nào đó của các loại hình, do đó không tránh khỏi sự phiến diện. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Giải thích ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương pháp nghiên cứu Nghệ thuật học
2. Diễn giải khái niệm, nguồn gốc, chức năng, quy trình, vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội
3. Phân loại các loại hình nghệ thuật. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Vương Anh (16/07/2014), Nghĩ về công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam.
https://tapchicongsan.org.vn/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/28170/nghi-
ve-cong-nghiep-sang-tao-o-viet-nam.aspx
2. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII ngày 01/02/2021 của Đảng.
4. Khoa Triết học (2004), Giáo trình Mỹ học đại cương, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội.
5. Đỗ Văn Khang (2001), Nghệ thuật học, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 324 trang. 14
6. Đỗ Văn Khang (2004), Mỹ học Mác- Lênin, Nxb. Đại học Sư phạm, 377 trang.
7. Phạm Quang Trung (2005), Giáo Trình Mỹ Học Đại Cương, Nxb. Đà Lạt, 45 Trang.
8. Lâm Vinh (2002), Mỹ học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
9. Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, tr.1193
10. Department of Communications and the Arts (1994), Creative Nation: Commonwealth
Cultural Policy, Australian Government Publishing Service, Canberra. Online Access
Archived in PANDORA electronic collection.
https://webarchive.nla.gov.au/awa/20031203235148/http://www.nla.gov.au/creative.na tion/contents.html
11. OECD (2021), Economic and social impact of cultural and creative sectors - Note for
Italy G20 Presidency Culture Working Group. https://www.oecd.org/cfe/leed/OECD- G20-Culture-July-2021.pdf
12. UCF Libraries (Jun 5, 2023), ART 5284 - Design Theory & Methods.
https://guides.ucf.edu/c.php?g=141273&p=5199113
13. UNESCO (2022), Reshaping policies for creativity: addressing culture as a global
public good. ISBN 978-92-3-100503-9, 328 pages.
https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000380474.locale=en 15
CHƯƠNG 3: MỸ THUẬT
3.1. Khái niệm
Mỹ thuật là “nghệ thuật của cái đẹp”. Theo Hán - Việt từ điển “mỹ” nghĩa là “đẹp”;
“mỹ thuật” là “cái nghệ - thuật cốt để biểu hiện cái mỹ - tình của người, như thi ca, âm
nhạc, đồ họa, điêu khắc (beaux-arts)”. Hiện nay người ta dùng từ “mỹ thuật” để chỉ các
loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc hay nghệ thuật thực dụng
như mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc…
Theo một cách nhìn khác, từ “mỹ thuật” (có nghĩa là đẹp và nghệ thuật) chỉ cái đẹp
do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được. Chính vì lý do này
mà người ta dùng từ “nghệ thuật thị giác” để nói về mỹ thuật. Ví dụ: vẻ đẹp của một bức
tranh, một pho tượng hay giá trị mỹ thuật của một công trình kiến trúc.
Theo nghĩa hàn lâm1: Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp khác nhau, nó phụ thuộc
vào sự hiểu biết, khiếu thẩm mỹ và ý thích của riêng từng người. Do đó, quan niệm về
mỹ thuật cũng rất đa dạng, phong phú và phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, môi trường sống,
phong tục tập quán văn hóa, xã hội. . của mỗi quốc gia, dân tộc hay tộc người. Tuy nhiên,
một tác phẩm được đánh giá là có phần mỹ thuật biểu hiện tốt thì ít nhiều tác phẩm đó
phải có âm vang về tính kinh viện, hàn lâm.
Theo từ điển từ vựng mỹ học của Étienne Souriau -1990, tiêu chuẩn mỹ thuật mang
tính kinh viện gồm có: nhạy cảm, mang tới cho người thưởng thức nhiều cảm xúc; diễn
đạt tốt không gian, thời gian trong tranh; mức độ diễn tả đạt tới một trong các loại hình
mỹ thuật. Ví dụ: thông qua ngôn ngữ tạo hình, tác giả diễn đạt thành công một tác phẩm
mang tính triết lý sâu sắc, cho dù các hình tượng trong tranh được thể hiện theo phong
cách trừu tượng hoặc tượng trưng hay siêu thực.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, định nghĩa mỹ thuật là: “Ngành nghệ thuật phản ánh
cái đẹp bằng màu sắc, đường nét, hình khối: triển lãm mỹ thuật; Có tính nghệ thuật, hợp
với thẩm mỹ: cách trình bày, trang trí rất mỹ thuật”.
Từ “mỹ thuật” được dùng khi phân biệt những ngành lớn của hội hoạ: mỹ thuật
tranh giá vẽ, mỹ thuật công nghiệp, mỹ thuật trang trí. .; mỗi ngành có một đặc thù riêng
về kỹ thuật thể hiện và giá trị sử dụng.
Trên thế giới, và ở Việt Nam, xưa kia những người hoạt động trong ngành thường
chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật mang tính hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ
thuật với thủ công mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng. Tuy nhiên ngày nay đã có một cách
nhìn bao quát hơn với sự thừa nhận sự góp mặt trong làng mỹ thuật có cả kiến trúc, mỹ
thuật ứng dụng, một số loại hình nghệ thuật mới…
1 Hàn lâm có nghĩa chỉ văn đàn, học thuật, chỉ sự quy tụ các văn nhân học giả. Khi ta nói vấn đề gì đó có
“tính hàn lâm” tức là nói vấn đề đó có tính “bác học” không mang tính “dân gian” hay “bình dân”.
Nghệ thuật hàn lâm là nghệ thuật dành cho giới mộ điệu có kiến thức chuyên sâu, khác với nghệ thuật bình dân. 16
Mỹ thuật (nghệ thuật thị giác) bao gồm một số lĩnh vực:
- Hội họa: nghệ thuật tạo hình trên bề mặt hai chiều ảo một cách trực tiếp. Các tác
phẩm hội họa mang tính độc bản. Hội họa được coi là mảng quan trọng của mỹ thuật.
- Đồ họa: là nghệ thuật tạo hình trên bề mặt hai chiều ảo một cách gián tiếp qua các
kỹ thuật in ấn, vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao.
- Điêu khắc: là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai
chiều (chạm nổi hay còn gọi là phù điêu).
- Kiến trúc: là nghệ thuật thể hiện hình khối trong không gian ba chiều, được sử
dụng cả không gian bên trong và bên ngoài, đáp ứng nhu cầu sử dụng, bền vững và đẹp.
- Mỹ thuật ứng dụng: là nghệ thuật quảng cáo và làm đẹp cho các sản phẩm tiêu
dùng của con người trong đời sống của xã hội. Nó mang tính ích dụng và đẹp.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta còn có những xu hướng mỹ thuật mới,
đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960 và gần đây bao gồm:
- Nghệ thuật Sắp đặt (Installation Art)
- Nghệ thuật Biểu diễn (Performance Art)
- Nghệ thuật Hình thể (Body Art)
- Nghệ thuật Đại chúng (Pop Art)
- Nghệ thuật Đa phương tiện (Multimedia Art)…
Như vậy: Mỹ thuật là nghệ thuật thị giác, dùng ngôn ngữ đường nét, hình khối, màu
sắc… để phản ánh hiện thực khách quan của con người - xã hội lên tác phẩm nghệ thuật
thông qua cách tạo hình, chất liệu đặc thù của điêu khắc, hội họa, đồ họa, kiến trúc, mỹ
thuật ứng dụng. .; được sắp xếp thuận mắt, ưa nhìn làm tôn lên vẻ đẹp, chủ đề nội dung
tư tưởng với mục đích là thỏa mãn nhu cầu sử dụng, thẩm mỹ cho con người, đồng thời
góp phần làm cho con người - xã hội ngày một hoàn thiện hơn.
3.2. Khái lược lịch sử mỹ thuật
3.2.1. Khái quát chung
Ngay từ buổi bình minh của lịch sử phát triển nhân loại, mỹ thuật đã là người bạn
đồng hành gắn bó với con người. Lịch sử mỹ thuật, do đó luôn gắn liền với lịch sử văn
hoá của con người. Con người là chủ thể sáng tạo của nghệ thuật và tên tuổi của các nghệ
sĩ gắn liền với các trào lưu nghệ thuật, đồng thời đã làm cho sự sống trở nên kỳ diệu bằng
những tác phẩm của mình.
Mỹ thuật nguyên thủy ra đời từ giai đoạn đầu của hạ kỳ đồ đá cũ (từ 40,000 đến
35,000 năm trước công nguyên) đến hết giai đoạn cuối hạ kỳ đồ đá cũ (từ 25.000 đến
12.000 năm TCN). Trên cơ sở tín ngưỡng, ma thuật và tường thuật lại cuộc sống. Trong
giai đoạn này các vật dụng làm ra chủ yếu đáp ứng nhu cầu sử dụng, tồn tại trong cuộc
sống, không nhằm nhu cầu thẩm mỹ. Nhưng trong các đồ trang sức, gốm cũng đã xuất
hiện các yếu tố thẩm mỹ. 17 Các tác phẩm tiêu biểu:
- Điêu khắc: như tượng thần vệ nữ ở Willendorf, phù điêu cao ở Laussel…
- Hội họa: tranh trong các hang động vẽ hình của các thú vật ở hang Altamira (Tây
Ban Nha), Saphô, Lascaux (Pháp),…
Kiến trúc: Chủ yếu là các công trình kiến trúc “Phòng đá” trong các hang động
người nguyên thủy sống.
Trải qua một thời kỳ gián đoạn rất dài cho tới 4.000 năm trước công nguyên mới
xuất hiện những nền văn minh cổ đại.
Nếu ở thời nguyên thủy, nghệ thuật còn mang tính sơ lược, khái quát hình tượng các
thú vật, thì hội hoạ Hy Lạp cổ đã khám phá ra vẻ đẹp của con người và con người trở
thành đối tượng chính của nghệ thuật, triết học Hy Lạp. Con người được thi vị hoá với
cái vỏ là những vị thần nhưng thực chất bên trong là hình ảnh con người hoàn thiện, toàn mỹ.
Sự suy tàn của đế quốc La Mã bắt đầu từ thế kỷ thứ II và thực sự chấm dứt vào thế
kỷ thứ V, đã mở đầu cho thời kỳ thống trị của tôn giáo kéo dài 10 thế kỷ. Trong bối cảnh
đó, hội hoạ trở thành phương tiện giáo dục ý thức tôn giáo ưu việt cho dân chúng, nhà thờ
được trang hoàng rực rỡ bằng những câu truyện trong kinh thánh. Nghệ thuật hội hoạ
chứa đầy giá trị hình thức và thần bí đến mức cao nhất, nó chỉ phản ánh những sự kiện
ghi trong kinh thánh và không dính líu gì tới bất kỳ khái niệm tự nhiên nào. Thật ra, “đêm
trường Trung cổ” này không hoàn toàn là thời kỳ nghèo nàn về mặt nghệ thuật, mà nó đã
mang mầm mống của những thay đổi phi thường đang ẩn mình trong lòng của người theo
Cơ đốc giáo, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của nền nghệ thuật Gothique.
Thời kỳ Gothique chiếm trọn 3 thế kỷ cuối của thời Trung cổ (từ thế kỷ XII - XV)
và ảnh hưởng của nó lan toả khắp châu Âu, với những thánh đường mái vòm, cửa sổ kính
màu rực rỡ. Một thế kỷ sau đó, hội hoạ Gothique ra đời đã bị phép phối cảnh và ảo ảnh
của không gian thật làm say mê, một không gian thanh tịnh, màu sắc tươi mát và vẻ đẹp
của thế giới hữu tình, thế giới mà các họa sĩ tiền bối phần lớn chỉ nhìn thấy dưới dạng
đường nét hai chiều và ít tính vật chất.
Thời kỳ Phục hưng, ra đời ở Ý vào cuối thế kỷ XIII, sau đó lan toả khắp châu Âu và
đạt đến cực điểm vào thế kỷ XV. Do xác lập được hệ thống lý luận giải phẫu học và luật
viễn cận, đã làm cho hội hoạ có được những thành tựu mà trước đó không hề có. Đối với
nghệ thuật Phục hưng, toàn thể vũ trụ đã trở thành đối tượng của nó, trong đó con người
không chỉ được biết tới bằng hình thể mà ở cả phần tâm hồn và lý tưởng hành động. Các
nghệ sĩ Phục hưng đã tự chuyển mình với mong muốn tiếp nối truyền thống Hy - La cổ
đại và tin rằng, chỉ có sự nghiên cứu thời đại hoàng kim Hy - La, kết hợp với chủ nghĩa
nhân văn mới mẻ, mới có thể đưa con người đến với sự vĩ đại và hiểu biết. Những nghệ sĩ
thiên tài của nghệ thuật hội hoạ như Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael đã có ảnh 18
hưởng sâu sắc trong nhiều lĩnh vực mỹ thuật, không những thời đó mà cả cho đến ngày nay.
Trải qua nhiều thăng trầm, sau thời Phục hưng các trường phái thay phiên nhau ra
đời như trường phái Tân cổ điển, Lãng mạn… cho đến khi thời kỳ Ấn tượng ra đời giữa
thế kỷ XIX, đã đánh dấu một khúc quanh không thể đảo ngược. Các hoạ sĩ Ấn tượng
quan niệm thực tế vật chất chính là cái thế giới bên ngoài mà họ muốn vẽ, bằng cách cố
thu giữ những tác động biến đổi không ngừng của ánh sáng, màu sắc và làm cho cảm giác
của khoảnh khắc thoáng qua hiện thành hình thể. Sau thời kỳ Ấn tượng là rất nhiều
những trường phái khác, mỗi trường phái có quan niệm riêng của mình, nhưng nhìn
chung thì nhiều thế hệ hoạ sĩ đều mong muốn phá vỡ các mối liên hệ ràng buộc bằng một
cách khác, họ thể hiện không chỉ cái họ quan sát mà cả cái họ cảm thấy. Hội hoạ bước
vào thời kỳ thử nghiệm kỹ thuật “hình không còn là diễn biến trong tự nhiên, mà là cái
thuộc về ý tưởng” (Gauguin2), phái Dã thú, phái Biểu hiện nhấn mạnh hội hoạ chủ quan,
phái Lập thể phủ định luật xa gần, phái Siêu thực lấy tâm lý học tiềm thức làm nền
tảng… và các trường phái này mở ra cho những toan tính táo bạo, triệt để hơn mà các thế
hệ sau tiếp tục tìm tòi và thể hiện.
3.2.2. Một số nền mỹ thuật tiêu biểu phương Đông
Khái niệm về các thuật ngữ “Phương Đông”, “Phương Tây” cho đến nay cũng chỉ
mang ý nghĩa tương đối. Có những nước có nền văn minh khá lâu đời, trước công nguyên
hàng chục thế kỷ; nhưng cũng có một số nước nghệ thuật tạo hình mới chỉ phát triển
trong vài thế kỷ trở lại đây. Ở đây, chúng ta chỉ tìm hiểu một số nước tiêu biểu như:
Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc. .
3.2.2.1 Mỹ thuật Lưỡng Hà cổ đại (từ 4.000- 700 năm TCN)
Lưỡng Hà là khu vực nằm giữa sông Tigris và Euphrates, hiện nay là vùng đất của
Iraq. Khu vực này mang những ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, phổ biến
nhất là người Sumer, Assyria, Babylon.
Từ sự ảnh hưởng của nền văn hóa, tôn giáo và sự di dân đã tạo nên những nền văn
minh đầu tiên tại đây và bắt đầu hình thành những lối kiến trúc, công trình xây dựng
thành phố, quốc gia đầu tiên. Kiến trúc
Kiến trúc Lưỡng Hà mang tính tôn giáo và các vị thần sâu sắc. Người Lưỡng Hà rất
tôn kính các vị thần và thường xây dựng nên những đền đài để thờ cúng các vị thần. Vật
liệu chủ yếu trong các công trình kiến trúc tại đây là gạch và bùn đất. Gạch nung là loại
gạch đã được phát triển từ thời kỳ này và ứng dụng vào những công trình xây dựng. Tuy
2 Gauguin, tên đầy đủ Eugène Henri Paul Gauguin(1848 - 1903)là danh họa nổi tiếng người Pháp. Năm 1888, cùng
với họa sĩ Bernard, Paul Gauguin đã sáng lập ra một trường phái hội họa mới mang tên Tượng Trưng (Symbolism)
với nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Chúng ta từ đâu tới? Chúng ta là ai? Chúng ta đi về đâu?”. Đồng thời ông còn
là người tiên phong mở đường và đặt nền móng cho sự ra đời, phát triển của nhiều trào lưu hội họa hiện đại. 19
nhiên vì nguyên vật liệu khan hiếm nên các loại gạch bùn được sử dụng phổ biến hơn.
Người ta cũng ứng dụng loại gạch này để xây dựng nhà ở cho riêng mình.
Kiến trúc Lưỡng Hà đơn giản với những phong cách thiết kế không cầu kỳ. Bên
cạnh đó những công trình được xây dựng theo từng giai cấp và địa vị xã hội. Những
người lao động nghèo thường ở trong căn nhà nhỏ không có cửa sổ và những người có
địa vị cao sống trong nhà được thiết kế theo hình dạng chữ U có thiết kế vườn lớn ở giữa.
Điểm tiêu biểu trong lối kiến trúc của Lưỡng Hà chính là đền Ziggurats. Kiểu kiến
trúc này được xây dựng với những hình dạng giống kim tự tháp, những bức tranh tường,
tranh khảm được ứng dụng vào việc trang trí, thể hiện một lối kiến trúc đặc sắc cho thời kỳ này.
Một số công trình tiêu biểu: - Vườn treo Babylon.
- Các đền vua Atxuytbanipan, đền vua Sargon II. - Đài chiêm tinh Ziggurat. Điêu khắc
Điêu khắc là môn nghệ thuật làm vinh dự nhất cho Lưỡng Hà, vì trong số di tích
điêu khắc còn lại đến nay, nhiều tác phẩm là tuyệt tác của mỹ thuật thế giới. Khác với
nhiều dân tộc thời cổ, người Lưỡng Hà không phải chỉ dùng mỹ thuật để phục vụ tín
ngưỡng, đề tài chính của họ là sự kiện lịch sử như những trận chiến thắng, những cuộc lễ
ở triều đình hay sinh hoạt của nhà vua, những cuộc săn dã thú… Hình tượng về tín
ngưỡng chiếm một tỉ lệ nhỏ trong mỹ thuật.
Hình người trong điêu khắc Lưỡng Hà không phải mặt ưu việt nhưng khi thể hiện
hình dã thú thì đó là đỉnh cao của nghệ thuật diễn tả thú vật trong nền mỹ thuật thế giới.
Một số tác phẩm tiêu biểu
- Sư tử cái bị thương, giữa thế kỷ VII, hiện nay ở bảo tàng Quốc gia nước Anh.
- Tượng đầu người mình bò có cánh ở vườn treo Babylon
- Bia Diều hâu, bia Naram-Sin hiện đang trưng bày ở bảo tàng Louvre ở Paris Hội họa
Hội họa trong nghệ thuật Lưỡng Hà không nổi bật nhiều. Hội họa ở đây chỉ dùng để
trang trí và tô điểm cho kiến trúc nhưng nó thiếu phối cảnh và kém sắc độ, chỉ có
các màu đỏ, xanh và trắng. Sử dụng kỹ thuật ủ được đánh giá cao trong các bức tranh
khảm và gạch trang trí. Các chủ đề lặp lại nhiều nhất được sử dụng trong nghệ thuật
Lưỡng Hà là những cảnh hiến tế, nghi lễ và chiến tranh rất chân thực.
Các bức tranh được tìm thấy từ nghệ thuật Lưỡng Hà là tranh vẽ động vật, hình học,
quái vật và người có đầu động vật được sử dụng để trang trí trong các ngôi nhà và đền thờ.
Nền Mỹ thuật Lưỡng Hà chấm dứt đồng thời với nền mỹ thuật Ai Cập cổ trên ba thế
kỷ trước công nguyên. Nền mỹ thuật Lưỡng Hà có những ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài 20