Ôn tập cuối kỳ - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

chương 6: Đạo đức: nhấn mạnh các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người việtnam trong thời đại mới (đạo đức cách mạng), mỗi chuẩn mực đạo đức phải có đánh giá cái mới của HCM là gì so với đạo đức của dân tộc ta hay thế giới. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Thông tin:
12 trang 6 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Ôn tập cuối kỳ - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

chương 6: Đạo đức: nhấn mạnh các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người việtnam trong thời đại mới (đạo đức cách mạng), mỗi chuẩn mực đạo đức phải có đánh giá cái mới của HCM là gì so với đạo đức của dân tộc ta hay thế giới. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

25 13 lượt tải Tải xuống
Nguyễn Thành Phát nghe cô dặn cuối kì nên soạn
chương 6: Đạo đức: nhấn mạnh các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người việt
nam trong thời đại mới (đạo đức cách mạng), mỗi chuẩn mực đạo đức phải có
đánh giá cái mới của HCM là gì so với đạo đức của dân tộc ta hay thế giới, mỗi cái
đều phải có liên hệ với thực tế hiện nay, chung cho xã hội và bản thân. Đạo đức xã
hội ta hiện nay đã thực hiện theo tư tưởng đạo đức HCM tới mức độ nào? Cái gì
tốt cái gì chưa, để cho những đạo đức đó đi vào đời sống, trở thành lối sống trong
XH thì có những biện pháp gì, bản thân chúng ta phải phấn đấu làm sao. đảng ta
có quan tâm đến chuyện đó không, quan tâm bằng những chính sách gì (VD để
tăng cường dđ cho xã hội nhìn chung đảng ta có những nghị quyết gần đây liên
quan đến con người, đến đạo đức chẳng hạn nghị quyết đại hội 12: xây dựng con
người vn phát triển toàn diện, đó là những con người biết yêu gia đình, yêu tổ
quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả, đảng ta hết sức nhấn mạnh
tới đạo đức từ trong gd tới xh vì hiện nay xu hướng cnguoi bị vô cảm, coi nhẹ
chuẩn mực đạo đức quý giá truyền thống, ích kỉ cá nhân. Vì vậy đảng ta hiện nay
đang tiếp tục tổ chức nhwuxng phong trào học tập làm theo tư tưởng hcm có đề
cập trong đại hội 12 hay nghị quyết 33 xây dựng phát triển con ng vn trong thời đại
mới cũng rất nhấn mạnh tới xd đạo đức nhwung ko coi thường tài năng.
Bài làm:
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân
loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, ta có thể dễ dàng nhận ra những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người
Việt Nam trong thời đại mới hay còn gọi là đạo đức Cách mạng luôn được Hồ Chí
Minh đề cập đến và xem trọng. Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, những chuẩn
mực về cách ứng xử của con người với nhau trong các quan hệ giữa người với người
và với tổ chức trong xã hội, là giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất nhân cách của con
người. Trong sự nghiệp Cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao và quan tâm hàng đầu
đến vấn đề đạo đức xuyên suốt sự nghiệp của người. “Người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Có
thể thấy những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
luôn được đề cao và được bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua bốn phẩm chất
chung cơ bản như sau:
Một là, “Trung với nước, hiếu với dân”.
Hai là, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Ba là, “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình”.
Bốn là, “Tinh thần quốc tế trong sáng”.
Thứ nhất, đối với tổ quốc cần phải “Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo
đức cách mạng cơ bản nhất, quan trọng nhất, bao trùm nhất. Phẩm chất này được hiểu
là mỗi con người Việt Nam phải có lòng tận trung với nước, tân hiếu với dân. Nghĩa là
tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng, coi yêu nước gắn với yêu
Chủ nghĩa Xã hội. Nếu trước đây, “trung” và “hiếu” có ý nghĩa hạn hẹp là trung với
vua, hiếu với cha mẹ thì đến với tư tưởng HCM, “trung” và “hiếu” không dừng lại ở
đó mà trên cở sở “nước là của dân, dân là chủ nhân của nước” thì trung và hiếu còn là
vì toàn thể nhân dân Việt Nam, đây là điểm sáng mới trong hệ tư tưởng này so với đạo
đức của dân tộc ta trước đây. Cán bộ, đảng viên tự nguyện làm công bộc, đầy tớ trung
thành của nhân dân, “lấy nhân dân làm gốc” và phát huy hết sức quyền làm chủ của
nhân dân lao động. Với bản thân, em luôn luôn trung thành với Tổ quốc Việt Nam, đặt
hết niềm tin và hướng cao ý chí của mình và Đảng và Nhà nước ta, một lòng trung
thành hết mực và phấn đấu học tập, noi theo tấm gương vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, lấy đại cuộc làm trọng và sẽ nguyện hết sức mình vì Tổ quốc Việt Nam thiêng
liêng.
Thứ hai, đối với chính mình cần phải “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Theo
quan niệm truyền thống “cần” được hiểu đơn giản là cần cù siêng năng, chăm chỉ làm
việc. Còn ở tư tưởng HCM, “cần” được hiểu sâu rộng hơn: cần cù, siêng năng, lao
động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh,
không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ
thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Có “cần” thì bản thân
mới tiến, gia đình mới hạnh phúc ấm no, đất nước quê hương mới phát triển. Với
Người, “cần” thì phải song hành cùng “kiệm”. “Kiệm”, nhân gian nôm na là tiết kiệm
tiền của cho bản thân, nhưng Người lại có suy nghĩ rộng hơn, bao quát cho toàn dân
tộc: kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm của dân, của nước, của
bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không
bừa bãi, không phô trương, hình thức, …”. Người còn căn dặn kĩ rằng: “Cần với kiệm
phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không kiệm thì “làm chừng
nào xào chừng ấy”. Liêm được hiểu theo truyền thống là trong sạch, phải giữ cho lòng
mình trong sạch. Còn ở đây, Người dạy liêm là trong sạch, không tham lam địa vị,
tiền của, danh tiếng, không tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm,
ham tiến bộ; khi gặp việc khó không được nản lòng, không được dễ dàng từ bỏ mà
phải luôn tìm cách để vượt quá. Còn “Chính” là ngay thẳng đúng đắn. Với Người,
“chính” là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn không chỉ với mình mà còn với với
người, với việc. Đối với mình không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập và có cầu
tiến, phát huy những điều hay, sửa đổi những điều chưa hợp lý. Đối với người không
nịnh hót người trên, khinh thường người dưới. Liêm là phẩm chất của người cán bộ thi
hành công vụ. Chí công vô tư nghĩa thuần là sự công bằng, không thiên vị, giải quyết
công việc theo lẽ phải, xuất phát từ lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá
nhân. Còn đối với HCM, Chí công vô tư được hiểu sâu sắc hơn là việc gì cũng phải
công bình, chính trực, không nên vì tư huệ hay tư thù. Mình có quyền dùng người thì
phải dùng người có tài năng, làm được việc. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng
bào, chớ lên mặt làm quan cách mạng. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu
khó học tập, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân
mình. Đối với người: không nịnh nọt người trên, không xem khinh người dưới; luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; không dối trá lừa lọc. Đối với
việc: để công việc lên trên việc nhà. Đã phụ trách công việc gì thì quyết làm cho kì
được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn nguy hiểm, việc thiện dù nhỏ mấy
cũng làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh. Ở độ tuổi thanh niên, em luôn cố hết mình
học tập và giữ cho mình “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” đúng như những gì
Bác dạy. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuy trẻ nhưng vẫn phải giữ mình sao cho đúng đắn
với chuẩn mực đạo đức mà Người dạy.
Thứ ba, với mọi người phải: “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình”. Người
dạy chúng ta rõ hơn về quan điểm này, phải luôn yêu thương con người, “sống với
nhau có tình có nghĩa”, và phải đối xử với nhau như anh em, bạn bè, đồng chí, thân ái
giúp nhau cùng tiến bộ. Em luôn trân trọng những lời dạy quý báu của Người và thực
hiện nó cho thật tốt, dành tình yêu thương và quan tâm những người xung quanh, sống
có tình nghĩa để mọi người cũng sẽ yêu thương lại mình, có vậy thì cuộc sống mới
hạnh phúc, đất nước luôn tràn ngập tiếng cười.
Thứ tư, mở rộng quan hệ yêu thương con người đối với toàn nhân loại, người cách
mạng phải có “Tinh thần quốc tế trong sáng”. Theo Hồ Chí Minh, “giúp bạn là tự giúp
mình”, Người luôn đề cao tinh thần quốc tế, là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương
vô sản đều là anh em, là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những
người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Em luôn tích cực hội
nhập những giá trị đẹp của tinh hóa văn hóa nhân loại, luôn hướng mình về người
khác để tạo sự thân thiện khiến mọi người đều cảm thấy thoải mái, cùng nhau giúp đỡ
vì mục tiêu cao cả chính là hòa bình, ấm no, hạnh phúc.
Trên là bốn phẩm chất đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong thời đại mới, luôn đi
cùng và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đạo đức xã hội ta hiện nay đã thực hiện
theo tư tưởng đạo đức HCM rất tích cực và trong sáng. Luôn lấy tấm gương của
Người mà noi theo, nhiều hội nghị, diễn thuyết với tinh thần “học tập và làm theo tấm
gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” ra đời giúp truyền bá tư tưởng tốt đẹp của
Người đến với toàn thân người dân Việt Nam. Tuy vẫn còn nhiều mặt tiêu cực trong
xã hội cần được loại trừ như lối sống sa hoa, đi ngược lại với đạo đức truyền thống
của dân tộc, tình trạng tư lợi, ỷ mạnh hiếp yếu vẫn còn diễn biến phức tạp, thế hệ học
sinh sinh viên còn rụt rè, e dè, cập nhật thông tin còn hạn chế, trong đó cũng có bản
thân em. Để cho những đạo đức đó đi vào đời sống, trở thành lối sống trong XH thì có
những biện pháp nhất định. Chẳng hạn đối với việc xây dựng Đảng và Nhà nước, Mỗi
cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự ý thức, tiếp tục phấn đấu rèn luyện, không
được chủ quan lơ là, ngủ yên trên chiến thắng,... Đối với thế hệ học sinh, sinh viên và
cả bản thân em, chúng ta phải phấn đấu học tập hơn nữa, noi theo tấm gương sáng của
Người, rèn luyện những đức tính tốt đẹp của dân tộc mình, giữ gìn bản thân trong
sạch, kiên quyết chống lại những điều tiêu cực, lên án những hành vi làm trái với đạo
đức, chống lại Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta luôn quan tâm đến việc thực hiện đúng
với đạo đức cách mạng, nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức, xây đi đối với
chống, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời, quan tâm nhân dân bằng những chính sách cụ
thể như để tăng cường đạo đức cho xã hội nhìn chung đảng ta có những nghị quyết
gần đây liên quan đến con người, đến đạo đức chẳng hạn nghị quyết đại hội 12: xây
dựng con người vn phát triển toàn diện, đó là những con người biết yêu gia đình, yêu
tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả, đảng ta hết sức nhấn mạnh
tới đạo đức từ trong gd tới xh vì hiện nay xu hướng cnguoi bị vô cảm, coi nhẹ chuẩn
mực đạo đức quý giá truyền thống, ích kỉ cá nhân. Vì vậy đảng ta hiện nay đang tiếp
tục tổ chức nhwuxng phong trào học tập làm theo tư tưởng hcm có đề cập trong đại
hội 12 hay nghị quyết 33 xây dựng phát triển con ng vn trong thời đại mới cũng rất
nhấn mạnh tới xd đạo đức nhwung ko coi thường tài năng.
chương 3: Động lực của chủ nghĩa xã hội việt nam: phân tích tư tưởng hcm về
động lực của chủ nghĩa xã hội vn, để phát huy các động lực đó trong gđ mới hiện
nay chúng ta phải tận dụng,phát huy các nguồn động lực đó ntn, kể cả đảng nhà
nc chăm lo ntn, bản thân minh phải ntn
Bài làm:
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH, đây là giai đoạn đầu của hình thái kinh
tế - xã hội chủ nghĩa cộng sản. CNXH là một xã hội tiến bộ, một xã hội do nhân dân
lao động làm chủ. Đề cao giá trị “ấm no, tự do, hạnh phúc”, không còn áp bức bóc lột,
quyền lợi của cá nhân và tập thể thống nhất, hướng đến cuộc sống con người an yên,
xã hội phát triển toàn diện.Việc tiến lên CNXH là 1 tất yếu khách quan, HCM từng
nói “sớm hoặc muôn các dân tộc đều sẽ đi lên CNXH”, và từ thực tiễn xh VN, HCM
nhận thức bản chất của CNXH phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của dân tộc ta. Với
mục tiêu CNXH ở việt nam là xây dựng đc chế độ dân chủ thật sự cũng như nền kt
ptrien cao gắn mật thiết với mục tiêu về chính trị, xây dựng đc nền vh mang tính dân
tộc, đại chúng và tiếp thu tinh hoa vh nhân loại cùng với mục tiêu quan hệ xh là bảo
đảm dân chủ, công bằng, văn minh, những động lực của CNXH ở VN được phát hiện
về cả vật chất lẫn tinh thần, bên trong lẫn bên ngoài (nội sinh lẫn ngoại sinh) và cả các
mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,...Nội lực là các nguồn động lực bên trong như con
người, kinh tế, văn hóa xã hội,... tác động trực tiếp để quá trình xây dựng XHCN,
ngoài các động lực bên trong theo HCM, phải kết hợp được với ngoại lực là sức mạnh
thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước phải gắn liền với chủ nghĩa
quốc tế của giai cấp công nhân, phải sử dụng tốt các thành quả khoa học - kĩ thuật thế
giới.
HCM khẳng định, tất cả các động lực trên đều vô cùng quan trọng và có mối quan hệ
mật thiết với nhau, tuy nhiên giữ vai trò quyết định chính là nội lực dân tộc, là con
người, là nhân dân lao động, nòng cốt là công – nông – tri thức. Hồ Chí Minh thường
xuyên quan tâm đến lợi ích chính đáng, thiết thân của họ: đồng thời chăm lo bồi
dưỡng sức dân vì thúc đẩy quá trình cách mạng XHCN vẫn phải đảm bảo lợi ích nhân
dân, dân chủ của dân, sức mạnh đoàn kết dân tộc.
Theo Người, dân chủ là quyền, là lợi ích mà dân nhân xứng đáng được hưởng, bởi lẽ
“địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Văn kiện Đại hội XII tiếp tục khẳng định: "Mọi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích
của nhân dân”. Có thể thấy lợi ích nhân dân và dân chủ luôn song hành cùng nhau, là
cơ sở, tiền đề của nhau quyện thành nguồn động lực mạnh mẽ nhất. Nguồn động lực
này tuy mạnh nhưng chỉ được phát huy qua hoạt động của cộng động, của những
người dân Việt Nam. Vì vậy trong các chiến lược phát triển, Đảng và Nhà nước luôn
đề cao tinh thần người dân Việt Nam hòa nhập cộng đồng, phát huy sức mạnh đoàn
kết toàn dân cùng nhau cố gắng vì mục tiêu XHCN.
Bác khẳng định: “Đảng như người cầm lái, người cầm lái có vững thì thuyền mới
chạy”. Nguồn động lực này xuất phát từ việc cần phải tăng cường sức mạnh của các tổ
chức chính trị như Đảng Cộng Sản, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc dân tộc,... Dưới ánh
sáng cầm quyền của Đảng, Nhà nước đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, do
đó với tư cách là các tổ chức quần chúng cần phải nổ lực hơn nữa để sức mạnh đại
diện cho nhân dân ta càng được phát huy, hoạt động vì lợi ích nhân dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, bởi đó
chính là nhân tố đảm bảo cho thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta. Người nói: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng.
Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường”. Vì vậy bên cạnh, xây
dựng phát huy thì chúng ta cũng phải phòng và chống, cảnh giác trước những âm mưu
tạo phản, phá hoại đi công sức thành quả cách mạng của ta.
Bên cạnh đó, con người Việt Nam cũng là nguồn động lực to lớn góp phần thúc đẩy
quá trình Cách mạng XHCN ngày càng hoàn thiện. Phát huy sức mạnh con người việt
nam chính là phát huy sức mạnh của toàn Đảng toàn dân. để con người việt nam trở
thành con người của chủ nghĩa xã hội, trước hết là người cầm quyền phải biết dùng
người, kích thích và phát huy cái đức và cái tài trong mỗi người. “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” đó là con người có lòng
nồng nàn yêu nước, trong sáng về đạo đức, tinh thông về trí lực. Vậy để hiện thực hóa
nguồn động lực này, mỗi người cần phải có ý thức làm chủ nhà nước, có tinh thần tập
thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình,...đồng thời
cùng nhau chống lại những tư tưởng xấu xa như chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô,
lãng phí, bảo thủ,...
Như vậy, những động lực của CNXH đã được làm sáng tỏ và để phát huy các động
lực đó trong gđ mới hiện nay chúng ta phải tận dụng,phát huy các nguồn động lực đó
một cách thông minh, có kế hoạch, đảng nhà nuoc luôn chăm lo cho bộ máy chính trị
lẫn người dân của mình rất tốt, luôn tạo cơ hội để dân được phát triển bản thân, kết nối
cộng đồng bằng nhiều chính sách, hoạt động xã hội. Là người dân Việt Nam có lòng
nồng nàn yêu nước, có trái tim luôn hướng về ánh sáng cùa Đảng, em luôn vận dụng
và phát huy các nguồn động lực ấy, cố gắng học tập, trao dồi kiến thức, giữ đạo đức
luôn thanh cao trong sạch, yêu thương con người và đoàn kết với nhân dân ta vượt qua
những tình huống khó khăn như Đại dịch hiện nay, Đảng và Nhà nước đã hết sức
chuẩn bị và quan tâm đến người dân, luôn đề ra các chỉ thị giúp cho việc chống dịch
ngày càng hiệu quả, vậy nên ta phải tuân thủ các chính sách, chỉ thị mà đảng đưa ra để
cùng nhau chiến thắng đại dịch.
chương 2: Phân tích các tiền đề lí luận dẫn tới tư tưởng hcm (có tiền đề lluan và
tiền đề cá nhân) trong đó nói tới vai trò của từng tiền đề lí luận đối vs việc hình
thành tư tưởng hcm
Bài làm:
Với thực tiễn Việt Nam trong những năm cuối TK XIX đầu XX, vừa là thuộc địa Pháp
vừa thất bại trong các phong trào yêu nước, đã đưa ra các yêu cầu cấp bách của xã hội
việt nam. Từ đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành, Người đã ra đi tìm đường. Bên cạnh đó
thực tiễn thế giới lúc ấy cũng có những chuyển biến nổi bật, nhất là cách mạng tháng
10 Nga thành công và việc ra đời của quốc tế III đã khiến HCM quyết định lựa chọn
con đường giải phóng dân tộc = cách mạng vô sản. Những tiền đề lí luận và tiền đề cá
nhân hay nhân tố chủ quan HCM đã dẫn tới tư tưởng HCM. Trong đó 3 tiền đề cơ bản
vầ quan trọng nhất là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN, tinh hóa văn hóa
nhân loại và cuối cùng nhưng rất quan trọng đó là Chủ nghĩa Mac-lenin.
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta”. Từ ngàn
đời xưa, chủ nghĩa yêu nước là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đây là tinh
thần cao cả giúp dân tộc ta vượt qua mọi hiểm nguy, thách thức suốt ngàn năm lịch sử,
là cơ sở tạo dưng nên 1 nước Việt Nam tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Người
sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước,
được lan truyền cùng việc đối diện với cảnh áp bức bóc lột của đế quốc, tay sai đối với
nhân dân nên từ rất sớm HCM có được tinh thần yêu nước, thương dân. Có thể thấy
đây là nền tảng tư tưởng, là điểm xuất phát và động lực to lớn thúc đẩy HCM ra đi tìm
đường cứu nước. Vì yêu nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người không ngại từ
bỏ những điều riêng tư cá nhân mà lo cho sự nghiệp chung của tổ quốc. Đặc biệt
HCM biết khơi dậy tinh thần yêu nước cho cả dân tộc Việt Nam đứng lên tự giải
phóng mình. Giá trị truyền thống còn ở tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết
tương thân, tương ái, khoan dung, trọng nghĩa tình. Người Việt sống thủy chung, tình
nghĩa với nhau, kính trọng và ngưỡng mộ những người có công với dân, với nước.
Lòng nhân ái ở HCM thể hiện trong qua trình tìm đường cứu nước, chứng kiến cảnh
các dân tộc thuộc địa trên khắp thế giới bị áp bức bóc lột. Người vô cùng thường xót
đồng cảm, nuôi ý chí quyết tâm tìm con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức toàn
thế giới. Kế thừa, phát huy truyền thống này, Bác Hồ nhấn mạnh 4 chữ “đồng”: “Dân
ta xin nhớ chữ đồng/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.”. Dân tộc Việt Nam
là dân tộc cần cù, hiếu học, sáng tạo, tinh thần lạc quan trước nghịch cảnh, luôn hướng
về tương lai tươi sáng để tiếp thục phấn đấu. Trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc, dân
ta luôn biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của nhân loại
thành những giá trị riêng của mình. Đó là cơ sở, là tiền đề lí luận đầu tiên dẫn đến tư
tưởng HCM.
Về tiền đề tinh hoa văn hóa nhân loại, với tư tưởng tiếp thu, học hỏi, hòa nhập nhưng
không hòa tan của Hồ Chủ tịch, Người tiếp thu tư tưởng và văn hóa phương Đông về
những điều hay lẽ phải, những đạo làm người của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo luôn
răn dạy chúng ta hướng đến điều tốt lành, một tươi lai tươi sáng không có chiến tranh,
không có kẻ thù. “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái những điều
hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Từ nhỏ người đã sớm được tiếp cận với
chữ nho và các nhà nho yêu nước, đạo Phật cũng được du nhập vào nước ta từ rất
sớm, nên Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc về tư duy, hành
động, ứng xử của Phật giáo. Người luôn trân trọng và phát triển những điều hay lẽ
phải mà mình học được khi tiếp cận với Lão giáo, sống gắn bó với cây cỏ thiên nhiên,
bảo vệ môi trường,... Bên cạnh đó người còn tiếp thu ca tư tưởng và văn hóa phương
Tây, “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe 3 chữ Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác
ái”. Bác không hề có ác cảm với những người dân phương Tây, trái lại luôn tiếp thu
học hỏi họ từ văn hóa khai sáng đến văn hóa phục hưng. Trên con đường phiêu diêu
bốn bể năm châu tìm con đường cứu nước, HCM đã sống, hoạt động, nghiên cứu lí
luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa,... tại nhiều nước cường quốc trên tg như
Mỹ, Anh, Pháp, Nga,...
Bước tiến vượt bậc của HCM trong tiền đề lí luận dẫn đến tư tưởng HCM chính là
Chủ nghĩa Mác Lênin. “Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là cẩm nang thần kỳ, là
kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới
CNXH và CNCS”.Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân – giai cấp tiên tiến nhất. Đây chính là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến
TTHCM, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận của HCM. Chủ nghĩa
Maclenin đã tạo ra sự chuyển biến trong tư tưởng của người từ yêu nước truyền thống
đến yêu nước theo lập trường vô sản, giúp hcm xác định đúng đắn con đường cách
mạng việt nam: giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Tiếp thu chủ nghĩa Mac
leenin, Bác đã trở thành người cộng sản với tầm tóc trí tuệ lớn, hiểu biết sâu sắc về
kho tàng tri thức nhân loại. Trong thời đại mới, người không những vận dụng sáng tạo
mà còn bổ sung, phat triển chủ nghĩa Mac lenin làm trở nên phong phú, áp dụng vào
các vấn đề lớn nhỏ từ xây dựng con người con đến xây dựng tổ quốc.
Từ những tiền đề lí luận này đã nâng HCM lên một vị thế mới: từ một người đi tìm
đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam. Là một nét son
vàng chói lọi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, giúp cho đất nước Việt Nam có thể gìn
giữ được độc lập dân tộc, giúp cho nhân dân Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ,
bước lên xây dựng và phát triển CNXH.
chương 4: Nhà nước pháp quyền trong sạch vững mạnh, tư tưởng hcm về nhà
nước pháp quyền trong sạch vững mạnh (2 ý: 1 là nhà nước pháp quyền sau đó
hcm rất quan tâm làm cho nhà nc ta phải trong sạch vững mạnh vững mạnh ->
liên hệ vs nhà nước ta hiện nay có đc vậy chưa? để đc đúng là nhà nc pháp quyền
trong sạch bững mạnh cần phải cải cách bổ sung những gì )
Bài làm:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định Nhà nước ta là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”.
Vì vậy để xây dựng một đất nước cường thịnh, để đời sống nhân dân được ấm no hạnh
phúc, thì Nhà nước Việt Nam cần phải xây dựng nền tảng pháp lý bền vững, là một
nhà nước pháp quyền, hợp hiến, hợp pháp. Việc giành chính quyền và tuyên bố độc
lập nhằm tạo địa vị hợp pháp cho Chính phủ Cách mạng lâm thời. Ngay sau khi đọc
bản “Tuyên ngôn độc lập” và trong phiên họp đầu tiên của CPLT, HCM đã đề nghĩa
phải tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu nhằm bầu cư quốc
hội, lập chính phủ chính thức, từ đó là tiền đề để xây dựng Hiến pháp theo đúng như
một Nhà nước pháp quyền hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất
nước và xã hội của nhân dân được Đảng ta đúc kết thành cơ chế điều hành đất nước
với chủ trương: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Cơ chế này đã
phát huy được tính chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo dựng nguồn lực
mạnh mẽ xây dựng tổ quốc hiện đại đến ngày nay. Dù đặt nhân dân làm hàng đầu
nhưng vẫn phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực của luật pháp: “Nghiêm chỉnh thực
hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế độ
và pháp luật của Nhà nước”
Bên cạnh đó, một nhà nước thượng tôn pháp luật cũng được tư tưởng HCM đề cập
bằng việc bộ máy nhà nước đặc biệt chú trọng việc quản lý bằng Hiến pháp và pháp
luật. dân chủ phải đi đôi với pháp luật thì chính quyền mới mạnh mẽ, quyền dân chủ
của nhân dân được bảo đảm bằng pháp luật. Muốn vậy thì nước ta cần phải hoàn thiện
hệ thống pháp luật, chăm lo đưae PL vfo cuộc sống và thực thi pháp luật 1 cách
nghiêm minh. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và pháp luật, Người luôn
nhắc nhở, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, làm
sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám
nói, dám làm. Tư tưởng HCM về nhà nước pháp quyền luôn nêu cao tính nghiêm
minh của pháp luật, khuyết khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của nhà
nước, giám sát quá trình nhà nước thực thi pháp luật,... Ngoài ra nhà nước còn phải
tôn trọng, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, chăm lo đến lợi ích của mọi
người, đó là nhà nước “pháp quyền nhân nghĩa”, pháp luật có tính nhân văn, khuyến
thiện. Do đó pháp luật đã xóa bỏ những luật pháp tàn bạo, hà khắc của chính quyền
cũ.
Bên cạnh xây dựng nhà nước Pháp quyền, HCM rất quan tâm làm cho nhà nc ta phải
trong sạch vững mạnh vững mạnh. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước là điều tất yếu.
Đảng cầm quyền cần có trách nhiệm kiểm soát quyền lực Nhà nước. Nghị viện nhân
dân cò quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ”. Ngoài ra Đảng cần chú ý phát huy
vai trò kiểm soát quyền lực cùa nhân dân. Do dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà
nước nên nếu không có nhân dân giúp sức, thì đảng ko làm đc gì hết. Trong quá trình
điều hành nhà nước cũng phải vướng những điều tiêu cực, do đó cần phải có biên
pháp phòng chống tiêu cực trong nhà nước. Cần phải nâng cao tinh thần đề phòng và
khắc phục các tiêu cực như bệnh đặc quyền đặc lợi, bệnh quan liêu, lãng phí, tư túng
kiêu ngạo chia rẽ nội bộ.
Những biện pháp phòng chống tiêu cực như nâng cao trình độ dân chủ trong xã hội,
một nhà nước dân chủ lấy dân là trọng thì sẽ không để diễn ra những điều tiêu cực làm
tổn hại đến lợi ích nhân dân. Pháp luật của nhà nước, kỷ luật của đảng phải nghiêm
minh, khắc khe thì nhân dân mới không dám làm sai trái, ảnh hưởng đến người khác.
Kết hợp pháp luật và giáo dục đạo đức là điều cần thiết và quan trọng, cho người dân
tiếp cận với pháp luật ngay từ nhỏ để dễ dàng thực thi và kiểm soát. Cán bộ phải làm
gương thi hành pháp luật thì người dân mới có ý thức thực hiện trách nghiệm, nghĩa
vụ của mình. Huy động sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước trong đấu tranh chống tiêu
cực xã hội, chỉ cần có lòng yêu nước, tinh thần vì nước quên thân, không ngại gian
khó thì mọi người đều sẽ tránh được những tiêu cực rình rập, một lòng vì nhân dân đất
nước.
Nhà nước ta hiện nay đã và đang hoàn thiện dần để đạt được mục tiêu nhà nước pháp
quyền trong sạch vững mạnh. để đc đúng như vậy thì mỗi người dân cần phải nắm
vững mục tiêu là tôn trọng, bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả vì
độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân. kết xây dựng nhà nước đi
liền với khắc phục được những mặt tiêu cực của các nhà nước kiểu cũ, đồnh thời tăng
cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Luôn đề phòng và chủ động,
kiên quyết chống tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu. Nâng cao chất lượng đội ngũ
trong các cơ quan quyền lực của Nhà nước về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong
cách, năng lực lãnh đạo, quản lý để có thể làm tấm gương cho người dân noi theo.
chương 6: quuan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại: trong sách cũ
nằm trong tính chất của nền vh mới vn, nhấn mạnh quan điểm hcm về xây dựng
nền vh vn làm sao để bảo đảm tính dân tộc đồngh thời tiên tiến ko lạc hậu, muốn v
phải khôi phục vốn cũ quý báo của dân tộc theo tinh thần cũ mà tốt thì kế thừa duy
trì phát triển và cái gì cũ mà ko tốt thì bỏ đi, cũ mà ko xấu nhưng lạc hậu thì phải
sửa chữa cho hợp lí -> quan điểm hcm về xây dựng nền vh phải giữ đc đặc tính
dân tộc, bản sắc dân tộc nhưng mà muốn giữ thì phải khôi phục vốn cũ quý báu để
chọn lọc cái gì hay cái gì tốt để học và kế thừa, ko hay thì bỏ, ko hợp lí thì
sửa .đồng thời với việc giữ gìn bản sắc vh dân tộc thì phải tiesp thu những giá trị
tinh goa vh nhân loại học cái hay cái tốt của thế giới cũng phải chọn lọc cái gì hay
cái gì tốt có lợi thì ta học và tiếp thu để góp phần phát triển đất nước chúng ta, làm
cho vh nước ta theo kịp vs vh nhân loại đem lại nhwuxng lợi ích thiết thực cho đời
sống và cái gì hay có lợi nhưung ko hợp vs dân tộc ta thì ta phải sửa đổi cho hợp lí
( VD mình tham gia nhiều công ước quốc tế, nhiều vấn đề thuộc về văn hóa thế
giới vd như hcm rất ca ngợi tinh thần dân chủ nhưng tuy nhiên dân chủ áp dụng
vào thực tiễn nc ta yêu cầu các ng dân phải dám tranh luận phát biểu, đóng góp ý
kiến cho cấp trên, cho lãnh đạo và ng lớn hơn mình,... nhưng phải giữ cái sự lễ
phép, lịch sự trong lời ăn tiếng nói trong cách hành xử sao cho phù hợp với chuẩn
mực đạo đức của dân tộc ta, góp ý cũng phải cho dễ nghe, lịch sử chứ ko đc nói
chuyện chen ngang mất lịch sử. nói chuyện hỗn láo. cái gì ko phù hợp ko cần thiết
vs thời đại thì ko tiếp thu.
Bài làm:
Do trong bối cảnh UNESCO chưa được thành lập, cả nước ta đang dành tâm trí và tập
trung cho nhiệm vụ giai phải dân tộc, khái niệm văn hóa chưa được công nhận chính
thức, nhưng HCM đã có nhiều (cụ thể là bốn) cách tiếp nhận chủ yếu về văn hóa.
Người từng nhấn mạnh về ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn”. Có thể thấy theo TTHCM, Khái niệm văn hóa đề cập đến cấu
trúc, nguồn gốc, động cơ và mục đích của văn hóa. VH thể hiện trình độ con người
trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, và với bản thân. Do đó
quan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại cũng được xác định rõ ràng.
Mối quan hệ giữa giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại là
phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc, đó là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại.
Văn hóa thể hiện “đặc tính dân tộc”, “cốt cách dân tộc”, là những giá trị văn hóa bền
vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy phải giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc bằng việc khôi phúc vốn cũ quý báu của dân tộc đồng thời phát triển
văn hóa dân tộc bằng cách học tập văn hóa tiên tiến của các quốc gia, dân tộc khác
trên thế giới. Đây chính là nền văn hóa mới, kế thừa tinh hoa dân tộc ta đồng thời học
hỏi những điều tốt đẹp của các dân tộc khác. Tiếp biến văn hóa là một qua luật của
văn hóa. HCM luôn thận trọng chắt lọc ra tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu, làm
quý hơn cho văn hóa Việt Nam, xây dựng văn hóa ta với tinh thần dân chủ, chọn lọc
tiếp thu ở phạm vi bao hàm từ Đông sang Tây, từ ngàn xưa đến hiện tại, ở mọi khía
cạnh cuộc sống. Theo quan điểm hcm về xây dựng nền văn hóa việt nam làm sao để
bảo đảm tính dân tộc đồng thời tiên tiến ko lạc hậu. Muốn vậy ta phải khôi phục vốn
cũ quý báo của dân tộc theo tinh thần cũ mà tốt thì kế thừa duy trì phát triển, cái gì cũ
mà ko tốt thì bỏ đi, cũ mà ko xấu nhưng lạc hậu thì phải sửa chữa cho hợp lí.Đấy là
quan điểm hcm về xây dựng nền vh phải giữ đc đặc tính dân tộc, bản sắc dân tộc.
Đồng thời với việc giữ gìn bản sắc vh dân tộc thì phải tiếp thu những giá trị tinh goa
vh nhân loại học cái hay cái tốt của thế giới cũng phải chọn lọc cái gì hay cái gì tốt có
lợi thì ta học và tiếp thu để góp phần phát triển đất nước chúng ta, làm cho vh nước ta
theo kịp vs vh nhân loại đem lại những lợi ích thiết thực cho đời sống và cái gì hay có
lợi nhưng ko hợp vs dân tộc ta thì ta phải sửa đổi cho hợp lí. Ví dụ, chúng ta đã tham
gia nhiều công ước quốc tế, nhiều vấn đề thuộc về văn hóa thế giới như hcm rất ca
ngợi tinh thần dân chủ nhưng tuy nhiên dân chủ áp dụng vào thực tiễn nc ta yêu cầu
các ng dân phải dám tranh luận phát biểu, đóng góp ý kiến cho cấp trên, cho lãnh đạo
và ng lớn hơn mình,... nhưng phải giữ cái sự lễ phép, lịch sự trong lời ăn tiếng nói
trong cách hành xử sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức của dân tộc ta, góp ý
cũng phải cho dễ nghe, lịch sử chứ ko đc nói chuyện chen ngang mất lịch sử. nói
chuyện hỗn láo. cái gì ko phù hợp ko cần thiết vs thời đại thì ko cần phải tiếp thu.
Để giữ gìn những truyền thống tốt đẹp ấy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách, tổ chức nhiều hoạt động, giảng dạy về những điều hay lẽ phải mà dân tộc ta đã
gìn giữ và lưu truyền từ ngàn đời, đồng thời có nhwuxng biện pháp xử lí các thành
phần cố tình chà đạp văn hóa, phá hoại đi thành quả của dân tộc. Là thế hệ sinh viên
Việt Nam năng động sáng tạo, em luôn cố gắng phát huy tinh thần học hỏi, luôn dành
trong tim tấm lòng yêu nước chân chính, không ngừng tiếp thu kiến thức, văn hóa đẹp
đẻ từ bạn bè 5 châu để làm giàu đẹp hơn nền văn hóa đất Việt.
| 1/12

Preview text:

Nguyễn Thành Phát nghe cô dặn cuối kì nên soạn
chương 6: Đạo đức: nhấn mạnh các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người việt
nam trong thời đại mới (đạo đức cách mạng), mỗi chuẩn mực đạo đức phải có
đánh giá cái mới của HCM là gì so với đạo đức của dân tộc ta hay thế giới, mỗi cái
đều phải có liên hệ với thực tế hiện nay, chung cho xã hội và bản thân. Đạo đức xã
hội ta hiện nay đã thực hiện theo tư tưởng đạo đức HCM tới mức độ nào? Cái gì
tốt cái gì chưa, để cho những đạo đức đó đi vào đời sống, trở thành lối sống trong
XH thì có những biện pháp gì, bản thân chúng ta phải phấn đấu làm sao. đảng ta
có quan tâm đến chuyện đó không, quan tâm bằng những chính sách gì (VD để
tăng cường dđ cho xã hội nhìn chung đảng ta có những nghị quyết gần đây liên
quan đến con người, đến đạo đức chẳng hạn nghị quyết đại hội 12: xây dựng con
người vn phát triển toàn diện, đó là những con người biết yêu gia đình, yêu tổ
quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả, đảng ta hết sức nhấn mạnh
tới đạo đức từ trong gd tới xh vì hiện nay xu hướng cnguoi bị vô cảm, coi nhẹ
chuẩn mực đạo đức quý giá truyền thống, ích kỉ cá nhân. Vì vậy đảng ta hiện nay
đang tiếp tục tổ chức nhwuxng phong trào học tập làm theo tư tưởng hcm có đề
cập trong đại hội 12 hay nghị quyết 33 xây dựng phát triển con ng vn trong thời đại
mới cũng rất nhấn mạnh tới xd đạo đức nhwung ko coi thường tài năng.
Bài làm:
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân
loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, ta có thể dễ dàng nhận ra những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của người
Việt Nam trong thời đại mới hay còn gọi là đạo đức Cách mạng luôn được Hồ Chí
Minh đề cập đến và xem trọng. Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, những chuẩn
mực về cách ứng xử của con người với nhau trong các quan hệ giữa người với người
và với tổ chức trong xã hội, là giá trị cốt lõi tạo nên phẩm chất nhân cách của con
người. Trong sự nghiệp Cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao và quan tâm hàng đầu
đến vấn đề đạo đức xuyên suốt sự nghiệp của người. “Người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Có
thể thấy những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
luôn được đề cao và được bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua bốn phẩm chất chung cơ bản như sau:
Một là, “Trung với nước, hiếu với dân”.
Hai là, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Ba là, “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình”.
Bốn là, “Tinh thần quốc tế trong sáng”.

Thứ nhất, đối với tổ quốc cần phải “Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo
đức cách mạng cơ bản nhất, quan trọng nhất, bao trùm nhất. Phẩm chất này được hiểu
là mỗi con người Việt Nam phải có lòng tận trung với nước, tân hiếu với dân. Nghĩa là
tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng, coi yêu nước gắn với yêu
Chủ nghĩa Xã hội. Nếu trước đây, “trung” và “hiếu” có ý nghĩa hạn hẹp là trung với
vua, hiếu với cha mẹ thì đến với tư tưởng HCM, “trung” và “hiếu” không dừng lại ở
đó mà trên cở sở “nước là của dân, dân là chủ nhân của nước” thì trung và hiếu còn là
vì toàn thể nhân dân Việt Nam, đây là điểm sáng mới trong hệ tư tưởng này so với đạo
đức của dân tộc ta trước đây. Cán bộ, đảng viên tự nguyện làm công bộc, đầy tớ trung
thành của nhân dân, “lấy nhân dân làm gốc” và phát huy hết sức quyền làm chủ của
nhân dân lao động. Với bản thân, em luôn luôn trung thành với Tổ quốc Việt Nam, đặt
hết niềm tin và hướng cao ý chí của mình và Đảng và Nhà nước ta, một lòng trung
thành hết mực và phấn đấu học tập, noi theo tấm gương vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, lấy đại cuộc làm trọng và sẽ nguyện hết sức mình vì Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng.
Thứ hai, đối với chính mình cần phải “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Theo
quan niệm truyền thống “cần” được hiểu đơn giản là cần cù siêng năng, chăm chỉ làm
việc. Còn ở tư tưởng HCM, “cần” được hiểu sâu rộng hơn: cần cù, siêng năng, lao
động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh,
không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ
thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”. Có “cần” thì bản thân
mới tiến, gia đình mới hạnh phúc ấm no, đất nước quê hương mới phát triển. Với
Người, “cần” thì phải song hành cùng “kiệm”. “Kiệm”, nhân gian nôm na là tiết kiệm
tiền của cho bản thân, nhưng Người lại có suy nghĩ rộng hơn, bao quát cho toàn dân
tộc: kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm của dân, của nước, của
bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không
bừa bãi, không phô trương, hình thức, …”. Người còn căn dặn kĩ rằng: “Cần với kiệm
phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không kiệm thì “làm chừng
nào xào chừng ấy”. Liêm được hiểu theo truyền thống là trong sạch, phải giữ cho lòng
mình trong sạch. Còn ở đây, Người dạy liêm là trong sạch, không tham lam địa vị,
tiền của, danh tiếng, không tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm,
ham tiến bộ; khi gặp việc khó không được nản lòng, không được dễ dàng từ bỏ mà
phải luôn tìm cách để vượt quá. Còn “Chính” là ngay thẳng đúng đắn. Với Người,
“chính” là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn không chỉ với mình mà còn với với
người, với việc. Đối với mình không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập và có cầu
tiến, phát huy những điều hay, sửa đổi những điều chưa hợp lý. Đối với người không
nịnh hót người trên, khinh thường người dưới. Liêm là phẩm chất của người cán bộ thi
hành công vụ. Chí công vô tư nghĩa thuần là sự công bằng, không thiên vị, giải quyết
công việc theo lẽ phải, xuất phát từ lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá
nhân. Còn đối với HCM, Chí công vô tư được hiểu sâu sắc hơn là việc gì cũng phải
công bình, chính trực, không nên vì tư huệ hay tư thù. Mình có quyền dùng người thì
phải dùng người có tài năng, làm được việc. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng
bào, chớ lên mặt làm quan cách mạng. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu
khó học tập, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân
mình. Đối với người: không nịnh nọt người trên, không xem khinh người dưới; luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; không dối trá lừa lọc. Đối với
việc: để công việc lên trên việc nhà. Đã phụ trách công việc gì thì quyết làm cho kì
được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn nguy hiểm, việc thiện dù nhỏ mấy
cũng làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh. Ở độ tuổi thanh niên, em luôn cố hết mình
học tập và giữ cho mình “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” đúng như những gì
Bác dạy. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuy trẻ nhưng vẫn phải giữ mình sao cho đúng đắn
với chuẩn mực đạo đức mà Người dạy.
Thứ ba, với mọi người phải: “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình”. Người
dạy chúng ta rõ hơn về quan điểm này, phải luôn yêu thương con người, “sống với
nhau có tình có nghĩa”, và phải đối xử với nhau như anh em, bạn bè, đồng chí, thân ái
giúp nhau cùng tiến bộ. Em luôn trân trọng những lời dạy quý báu của Người và thực
hiện nó cho thật tốt, dành tình yêu thương và quan tâm những người xung quanh, sống
có tình nghĩa để mọi người cũng sẽ yêu thương lại mình, có vậy thì cuộc sống mới
hạnh phúc, đất nước luôn tràn ngập tiếng cười.
Thứ tư, mở rộng quan hệ yêu thương con người đối với toàn nhân loại, người cách
mạng phải có “Tinh thần quốc tế trong sáng”. Theo Hồ Chí Minh, “giúp bạn là tự giúp
mình”, Người luôn đề cao tinh thần quốc tế, là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương
vô sản đều là anh em, là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những
người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Em luôn tích cực hội
nhập những giá trị đẹp của tinh hóa văn hóa nhân loại, luôn hướng mình về người
khác để tạo sự thân thiện khiến mọi người đều cảm thấy thoải mái, cùng nhau giúp đỡ
vì mục tiêu cao cả chính là hòa bình, ấm no, hạnh phúc.
Trên là bốn phẩm chất đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong thời đại mới, luôn đi
cùng và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đạo đức xã hội ta hiện nay đã thực hiện
theo tư tưởng đạo đức HCM rất tích cực và trong sáng. Luôn lấy tấm gương của
Người mà noi theo, nhiều hội nghị, diễn thuyết với tinh thần “học tập và làm theo tấm
gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” ra đời giúp truyền bá tư tưởng tốt đẹp của
Người đến với toàn thân người dân Việt Nam. Tuy vẫn còn nhiều mặt tiêu cực trong
xã hội cần được loại trừ như lối sống sa hoa, đi ngược lại với đạo đức truyền thống
của dân tộc, tình trạng tư lợi, ỷ mạnh hiếp yếu vẫn còn diễn biến phức tạp, thế hệ học
sinh sinh viên còn rụt rè, e dè, cập nhật thông tin còn hạn chế, trong đó cũng có bản
thân em. Để cho những đạo đức đó đi vào đời sống, trở thành lối sống trong XH thì có
những biện pháp nhất định. Chẳng hạn đối với việc xây dựng Đảng và Nhà nước, Mỗi
cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự ý thức, tiếp tục phấn đấu rèn luyện, không
được chủ quan lơ là, ngủ yên trên chiến thắng,... Đối với thế hệ học sinh, sinh viên và
cả bản thân em, chúng ta phải phấn đấu học tập hơn nữa, noi theo tấm gương sáng của
Người, rèn luyện những đức tính tốt đẹp của dân tộc mình, giữ gìn bản thân trong
sạch, kiên quyết chống lại những điều tiêu cực, lên án những hành vi làm trái với đạo
đức, chống lại Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta luôn quan tâm đến việc thực hiện đúng
với đạo đức cách mạng, nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức, xây đi đối với
chống, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời, quan tâm nhân dân bằng những chính sách cụ
thể như để tăng cường đạo đức cho xã hội nhìn chung đảng ta có những nghị quyết
gần đây liên quan đến con người, đến đạo đức chẳng hạn nghị quyết đại hội 12: xây
dựng con người vn phát triển toàn diện, đó là những con người biết yêu gia đình, yêu
tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả, đảng ta hết sức nhấn mạnh
tới đạo đức từ trong gd tới xh vì hiện nay xu hướng cnguoi bị vô cảm, coi nhẹ chuẩn
mực đạo đức quý giá truyền thống, ích kỉ cá nhân. Vì vậy đảng ta hiện nay đang tiếp
tục tổ chức nhwuxng phong trào học tập làm theo tư tưởng hcm có đề cập trong đại
hội 12 hay nghị quyết 33 xây dựng phát triển con ng vn trong thời đại mới cũng rất
nhấn mạnh tới xd đạo đức nhwung ko coi thường tài năng.
chương 3: Động lực của chủ nghĩa xã hội việt nam: phân tích tư tưởng hcm về
động lực của chủ nghĩa xã hội vn, để phát huy các động lực đó trong gđ mới hiện
nay chúng ta phải tận dụng,phát huy các nguồn động lực đó ntn, kể cả đảng nhà
nc chăm lo ntn, bản thân minh phải ntn
Bài làm:
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH, đây là giai đoạn đầu của hình thái kinh
tế - xã hội chủ nghĩa cộng sản. CNXH là một xã hội tiến bộ, một xã hội do nhân dân
lao động làm chủ. Đề cao giá trị “ấm no, tự do, hạnh phúc”, không còn áp bức bóc lột,
quyền lợi của cá nhân và tập thể thống nhất, hướng đến cuộc sống con người an yên,
xã hội phát triển toàn diện.Việc tiến lên CNXH là 1 tất yếu khách quan, HCM từng
nói “sớm hoặc muôn các dân tộc đều sẽ đi lên CNXH”, và từ thực tiễn xh VN, HCM
nhận thức bản chất của CNXH phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của dân tộc ta. Với
mục tiêu CNXH ở việt nam là xây dựng đc chế độ dân chủ thật sự cũng như nền kt
ptrien cao gắn mật thiết với mục tiêu về chính trị, xây dựng đc nền vh mang tính dân
tộc, đại chúng và tiếp thu tinh hoa vh nhân loại cùng với mục tiêu quan hệ xh là bảo
đảm dân chủ, công bằng, văn minh, những động lực của CNXH ở VN được phát hiện
về cả vật chất lẫn tinh thần, bên trong lẫn bên ngoài (nội sinh lẫn ngoại sinh) và cả các
mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,...Nội lực là các nguồn động lực bên trong như con
người, kinh tế, văn hóa xã hội,... tác động trực tiếp để quá trình xây dựng XHCN,
ngoài các động lực bên trong theo HCM, phải kết hợp được với ngoại lực là sức mạnh
thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước phải gắn liền với chủ nghĩa
quốc tế của giai cấp công nhân, phải sử dụng tốt các thành quả khoa học - kĩ thuật thế giới.
HCM khẳng định, tất cả các động lực trên đều vô cùng quan trọng và có mối quan hệ
mật thiết với nhau, tuy nhiên giữ vai trò quyết định chính là nội lực dân tộc, là con
người, là nhân dân lao động, nòng cốt là công – nông – tri thức. Hồ Chí Minh thường
xuyên quan tâm đến lợi ích chính đáng, thiết thân của họ: đồng thời chăm lo bồi
dưỡng sức dân vì thúc đẩy quá trình cách mạng XHCN vẫn phải đảm bảo lợi ích nhân
dân, dân chủ của dân, sức mạnh đoàn kết dân tộc.
Theo Người, dân chủ là quyền, là lợi ích mà dân nhân xứng đáng được hưởng, bởi lẽ
“địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Văn kiện Đại hội XII tiếp tục khẳng định: "Mọi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích
của nhân dân”. Có thể thấy lợi ích nhân dân và dân chủ luôn song hành cùng nhau, là
cơ sở, tiền đề của nhau quyện thành nguồn động lực mạnh mẽ nhất. Nguồn động lực
này tuy mạnh nhưng chỉ được phát huy qua hoạt động của cộng động, của những
người dân Việt Nam. Vì vậy trong các chiến lược phát triển, Đảng và Nhà nước luôn
đề cao tinh thần người dân Việt Nam hòa nhập cộng đồng, phát huy sức mạnh đoàn
kết toàn dân cùng nhau cố gắng vì mục tiêu XHCN.
Bác khẳng định: “Đảng như người cầm lái, người cầm lái có vững thì thuyền mới
chạy”. Nguồn động lực này xuất phát từ việc cần phải tăng cường sức mạnh của các tổ
chức chính trị như Đảng Cộng Sản, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc dân tộc,... Dưới ánh
sáng cầm quyền của Đảng, Nhà nước đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, do
đó với tư cách là các tổ chức quần chúng cần phải nổ lực hơn nữa để sức mạnh đại
diện cho nhân dân ta càng được phát huy, hoạt động vì lợi ích nhân dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, bởi đó
chính là nhân tố đảm bảo cho thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta. Người nói: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng.
Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường”. Vì vậy bên cạnh, xây
dựng phát huy thì chúng ta cũng phải phòng và chống, cảnh giác trước những âm mưu
tạo phản, phá hoại đi công sức thành quả cách mạng của ta.
Bên cạnh đó, con người Việt Nam cũng là nguồn động lực to lớn góp phần thúc đẩy
quá trình Cách mạng XHCN ngày càng hoàn thiện. Phát huy sức mạnh con người việt
nam chính là phát huy sức mạnh của toàn Đảng toàn dân. để con người việt nam trở
thành con người của chủ nghĩa xã hội, trước hết là người cầm quyền phải biết dùng
người, kích thích và phát huy cái đức và cái tài trong mỗi người. “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” đó là con người có lòng
nồng nàn yêu nước, trong sáng về đạo đức, tinh thông về trí lực. Vậy để hiện thực hóa
nguồn động lực này, mỗi người cần phải có ý thức làm chủ nhà nước, có tinh thần tập
thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình,...đồng thời
cùng nhau chống lại những tư tưởng xấu xa như chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham ô, lãng phí, bảo thủ,...
Như vậy, những động lực của CNXH đã được làm sáng tỏ và để phát huy các động
lực đó trong gđ mới hiện nay chúng ta phải tận dụng,phát huy các nguồn động lực đó
một cách thông minh, có kế hoạch, đảng nhà nuoc luôn chăm lo cho bộ máy chính trị
lẫn người dân của mình rất tốt, luôn tạo cơ hội để dân được phát triển bản thân, kết nối
cộng đồng bằng nhiều chính sách, hoạt động xã hội. Là người dân Việt Nam có lòng
nồng nàn yêu nước, có trái tim luôn hướng về ánh sáng cùa Đảng, em luôn vận dụng
và phát huy các nguồn động lực ấy, cố gắng học tập, trao dồi kiến thức, giữ đạo đức
luôn thanh cao trong sạch, yêu thương con người và đoàn kết với nhân dân ta vượt qua
những tình huống khó khăn như Đại dịch hiện nay, Đảng và Nhà nước đã hết sức
chuẩn bị và quan tâm đến người dân, luôn đề ra các chỉ thị giúp cho việc chống dịch
ngày càng hiệu quả, vậy nên ta phải tuân thủ các chính sách, chỉ thị mà đảng đưa ra để
cùng nhau chiến thắng đại dịch.
chương 2: Phân tích các tiền đề lí luận dẫn tới tư tưởng hcm (có tiền đề lluan và
tiền đề cá nhân) trong đó nói tới vai trò của từng tiền đề lí luận đối vs việc hình
thành tư tưởng hcm
Bài làm:
Với thực tiễn Việt Nam trong những năm cuối TK XIX đầu XX, vừa là thuộc địa Pháp
vừa thất bại trong các phong trào yêu nước, đã đưa ra các yêu cầu cấp bách của xã hội
việt nam. Từ đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành, Người đã ra đi tìm đường. Bên cạnh đó
thực tiễn thế giới lúc ấy cũng có những chuyển biến nổi bật, nhất là cách mạng tháng
10 Nga thành công và việc ra đời của quốc tế III đã khiến HCM quyết định lựa chọn
con đường giải phóng dân tộc = cách mạng vô sản. Những tiền đề lí luận và tiền đề cá
nhân hay nhân tố chủ quan HCM đã dẫn tới tư tưởng HCM. Trong đó 3 tiền đề cơ bản
vầ quan trọng nhất là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN, tinh hóa văn hóa
nhân loại và cuối cùng nhưng rất quan trọng đó là Chủ nghĩa Mac-lenin.
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta”. Từ ngàn
đời xưa, chủ nghĩa yêu nước là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đây là tinh
thần cao cả giúp dân tộc ta vượt qua mọi hiểm nguy, thách thức suốt ngàn năm lịch sử,
là cơ sở tạo dưng nên 1 nước Việt Nam tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Người
sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước,
được lan truyền cùng việc đối diện với cảnh áp bức bóc lột của đế quốc, tay sai đối với
nhân dân nên từ rất sớm HCM có được tinh thần yêu nước, thương dân. Có thể thấy
đây là nền tảng tư tưởng, là điểm xuất phát và động lực to lớn thúc đẩy HCM ra đi tìm
đường cứu nước. Vì yêu nước, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người không ngại từ
bỏ những điều riêng tư cá nhân mà lo cho sự nghiệp chung của tổ quốc. Đặc biệt
HCM biết khơi dậy tinh thần yêu nước cho cả dân tộc Việt Nam đứng lên tự giải
phóng mình. Giá trị truyền thống còn ở tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết
tương thân, tương ái, khoan dung, trọng nghĩa tình. Người Việt sống thủy chung, tình
nghĩa với nhau, kính trọng và ngưỡng mộ những người có công với dân, với nước.
Lòng nhân ái ở HCM thể hiện trong qua trình tìm đường cứu nước, chứng kiến cảnh
các dân tộc thuộc địa trên khắp thế giới bị áp bức bóc lột. Người vô cùng thường xót
đồng cảm, nuôi ý chí quyết tâm tìm con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức toàn
thế giới. Kế thừa, phát huy truyền thống này, Bác Hồ nhấn mạnh 4 chữ “đồng”: “Dân
ta xin nhớ chữ đồng/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.”. Dân tộc Việt Nam
là dân tộc cần cù, hiếu học, sáng tạo, tinh thần lạc quan trước nghịch cảnh, luôn hướng
về tương lai tươi sáng để tiếp thục phấn đấu. Trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc, dân
ta luôn biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của nhân loại
thành những giá trị riêng của mình. Đó là cơ sở, là tiền đề lí luận đầu tiên dẫn đến tư tưởng HCM.
Về tiền đề tinh hoa văn hóa nhân loại, với tư tưởng tiếp thu, học hỏi, hòa nhập nhưng
không hòa tan của Hồ Chủ tịch, Người tiếp thu tư tưởng và văn hóa phương Đông về
những điều hay lẽ phải, những đạo làm người của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo luôn
răn dạy chúng ta hướng đến điều tốt lành, một tươi lai tươi sáng không có chiến tranh,
không có kẻ thù. “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái những điều
hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Từ nhỏ người đã sớm được tiếp cận với
chữ nho và các nhà nho yêu nước, đạo Phật cũng được du nhập vào nước ta từ rất
sớm, nên Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc về tư duy, hành
động, ứng xử của Phật giáo. Người luôn trân trọng và phát triển những điều hay lẽ
phải mà mình học được khi tiếp cận với Lão giáo, sống gắn bó với cây cỏ thiên nhiên,
bảo vệ môi trường,... Bên cạnh đó người còn tiếp thu ca tư tưởng và văn hóa phương
Tây, “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe 3 chữ Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác
ái”. Bác không hề có ác cảm với những người dân phương Tây, trái lại luôn tiếp thu
học hỏi họ từ văn hóa khai sáng đến văn hóa phục hưng. Trên con đường phiêu diêu
bốn bể năm châu tìm con đường cứu nước, HCM đã sống, hoạt động, nghiên cứu lí
luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa,... tại nhiều nước cường quốc trên tg như Mỹ, Anh, Pháp, Nga,...
Bước tiến vượt bậc của HCM trong tiền đề lí luận dẫn đến tư tưởng HCM chính là
Chủ nghĩa Mác Lênin. “Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là cẩm nang thần kỳ, là
kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới
CNXH và CNCS”.Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân – giai cấp tiên tiến nhất. Đây chính là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến
TTHCM, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận của HCM. Chủ nghĩa
Maclenin đã tạo ra sự chuyển biến trong tư tưởng của người từ yêu nước truyền thống
đến yêu nước theo lập trường vô sản, giúp hcm xác định đúng đắn con đường cách
mạng việt nam: giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Tiếp thu chủ nghĩa Mac
leenin, Bác đã trở thành người cộng sản với tầm tóc trí tuệ lớn, hiểu biết sâu sắc về
kho tàng tri thức nhân loại. Trong thời đại mới, người không những vận dụng sáng tạo
mà còn bổ sung, phat triển chủ nghĩa Mac lenin làm trở nên phong phú, áp dụng vào
các vấn đề lớn nhỏ từ xây dựng con người con đến xây dựng tổ quốc.
Từ những tiền đề lí luận này đã nâng HCM lên một vị thế mới: từ một người đi tìm
đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam. Là một nét son
vàng chói lọi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, giúp cho đất nước Việt Nam có thể gìn
giữ được độc lập dân tộc, giúp cho nhân dân Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ,
bước lên xây dựng và phát triển CNXH.
chương 4: Nhà nước pháp quyền trong sạch vững mạnh, tư tưởng hcm về nhà
nước pháp quyền trong sạch vững mạnh (2 ý: 1 là nhà nước pháp quyền sau đó
hcm rất quan tâm làm cho nhà nc ta phải trong sạch vững mạnh vững mạnh ->
liên hệ vs nhà nước ta hiện nay có đc vậy chưa? để đc đúng là nhà nc pháp quyền
trong sạch bững mạnh cần phải cải cách bổ sung những gì )
Bài làm:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định Nhà nước ta là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”.
Vì vậy để xây dựng một đất nước cường thịnh, để đời sống nhân dân được ấm no hạnh
phúc, thì Nhà nước Việt Nam cần phải xây dựng nền tảng pháp lý bền vững, là một
nhà nước pháp quyền, hợp hiến, hợp pháp. Việc giành chính quyền và tuyên bố độc
lập nhằm tạo địa vị hợp pháp cho Chính phủ Cách mạng lâm thời. Ngay sau khi đọc
bản “Tuyên ngôn độc lập” và trong phiên họp đầu tiên của CPLT, HCM đã đề nghĩa
phải tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu nhằm bầu cư quốc
hội, lập chính phủ chính thức, từ đó là tiền đề để xây dựng Hiến pháp theo đúng như
một Nhà nước pháp quyền hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất
nước và xã hội của nhân dân được Đảng ta đúc kết thành cơ chế điều hành đất nước
với chủ trương: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Cơ chế này đã
phát huy được tính chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo dựng nguồn lực
mạnh mẽ xây dựng tổ quốc hiện đại đến ngày nay. Dù đặt nhân dân làm hàng đầu
nhưng vẫn phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực của luật pháp: “Nghiêm chỉnh thực
hiện dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế độ
và pháp luật của Nhà nước”
Bên cạnh đó, một nhà nước thượng tôn pháp luật cũng được tư tưởng HCM đề cập
bằng việc bộ máy nhà nước đặc biệt chú trọng việc quản lý bằng Hiến pháp và pháp
luật. dân chủ phải đi đôi với pháp luật thì chính quyền mới mạnh mẽ, quyền dân chủ
của nhân dân được bảo đảm bằng pháp luật. Muốn vậy thì nước ta cần phải hoàn thiện
hệ thống pháp luật, chăm lo đưae PL vfo cuộc sống và thực thi pháp luật 1 cách
nghiêm minh. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và pháp luật, Người luôn
nhắc nhở, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, làm
sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám
nói, dám làm. Tư tưởng HCM về nhà nước pháp quyền luôn nêu cao tính nghiêm
minh của pháp luật, khuyết khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của nhà
nước, giám sát quá trình nhà nước thực thi pháp luật,... Ngoài ra nhà nước còn phải
tôn trọng, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người, chăm lo đến lợi ích của mọi
người, đó là nhà nước “pháp quyền nhân nghĩa”, pháp luật có tính nhân văn, khuyến
thiện. Do đó pháp luật đã xóa bỏ những luật pháp tàn bạo, hà khắc của chính quyền cũ.
Bên cạnh xây dựng nhà nước Pháp quyền, HCM rất quan tâm làm cho nhà nc ta phải
trong sạch vững mạnh vững mạnh. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước là điều tất yếu.
Đảng cầm quyền cần có trách nhiệm kiểm soát quyền lực Nhà nước. Nghị viện nhân
dân cò quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ”. Ngoài ra Đảng cần chú ý phát huy
vai trò kiểm soát quyền lực cùa nhân dân. Do dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà
nước nên nếu không có nhân dân giúp sức, thì đảng ko làm đc gì hết. Trong quá trình
điều hành nhà nước cũng phải vướng những điều tiêu cực, do đó cần phải có biên
pháp phòng chống tiêu cực trong nhà nước. Cần phải nâng cao tinh thần đề phòng và
khắc phục các tiêu cực như bệnh đặc quyền đặc lợi, bệnh quan liêu, lãng phí, tư túng
kiêu ngạo chia rẽ nội bộ.
Những biện pháp phòng chống tiêu cực như nâng cao trình độ dân chủ trong xã hội,
một nhà nước dân chủ lấy dân là trọng thì sẽ không để diễn ra những điều tiêu cực làm
tổn hại đến lợi ích nhân dân. Pháp luật của nhà nước, kỷ luật của đảng phải nghiêm
minh, khắc khe thì nhân dân mới không dám làm sai trái, ảnh hưởng đến người khác.
Kết hợp pháp luật và giáo dục đạo đức là điều cần thiết và quan trọng, cho người dân
tiếp cận với pháp luật ngay từ nhỏ để dễ dàng thực thi và kiểm soát. Cán bộ phải làm
gương thi hành pháp luật thì người dân mới có ý thức thực hiện trách nghiệm, nghĩa
vụ của mình. Huy động sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước trong đấu tranh chống tiêu
cực xã hội, chỉ cần có lòng yêu nước, tinh thần vì nước quên thân, không ngại gian
khó thì mọi người đều sẽ tránh được những tiêu cực rình rập, một lòng vì nhân dân đất nước.
Nhà nước ta hiện nay đã và đang hoàn thiện dần để đạt được mục tiêu nhà nước pháp
quyền trong sạch vững mạnh. để đc đúng như vậy thì mỗi người dân cần phải nắm
vững mục tiêu là tôn trọng, bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả vì
độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân. kết xây dựng nhà nước đi
liền với khắc phục được những mặt tiêu cực của các nhà nước kiểu cũ, đồnh thời tăng
cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Luôn đề phòng và chủ động,
kiên quyết chống tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu. Nâng cao chất lượng đội ngũ
trong các cơ quan quyền lực của Nhà nước về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong
cách, năng lực lãnh đạo, quản lý để có thể làm tấm gương cho người dân noi theo.
chương 6: quuan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại: trong sách cũ
nằm trong tính chất của nền vh mới vn, nhấn mạnh quan điểm hcm về xây dựng
nền vh vn làm sao để bảo đảm tính dân tộc đồngh thời tiên tiến ko lạc hậu, muốn v
phải khôi phục vốn cũ quý báo của dân tộc theo tinh thần cũ mà tốt thì kế thừa duy
trì phát triển và cái gì cũ mà ko tốt thì bỏ đi, cũ mà ko xấu nhưng lạc hậu thì phải
sửa chữa cho hợp lí -> quan điểm hcm về xây dựng nền vh phải giữ đc đặc tính
dân tộc, bản sắc dân tộc nhưng mà muốn giữ thì phải khôi phục vốn cũ quý báu để
chọn lọc cái gì hay cái gì tốt để học và kế thừa, ko hay thì bỏ, ko hợp lí thì
sửa .đồng thời với việc giữ gìn bản sắc vh dân tộc thì phải tiesp thu những giá trị
tinh goa vh nhân loại học cái hay cái tốt của thế giới cũng phải chọn lọc cái gì hay

cái gì tốt có lợi thì ta học và tiếp thu để góp phần phát triển đất nước chúng ta, làm
cho vh nước ta theo kịp vs vh nhân loại đem lại nhwuxng lợi ích thiết thực cho đời
sống và cái gì hay có lợi nhưung ko hợp vs dân tộc ta thì ta phải sửa đổi cho hợp lí
( VD mình tham gia nhiều công ước quốc tế, nhiều vấn đề thuộc về văn hóa thế
giới vd như hcm rất ca ngợi tinh thần dân chủ nhưng tuy nhiên dân chủ áp dụng
vào thực tiễn nc ta yêu cầu các ng dân phải dám tranh luận phát biểu, đóng góp ý
kiến cho cấp trên, cho lãnh đạo và ng lớn hơn mình,... nhưng phải giữ cái sự lễ
phép, lịch sự trong lời ăn tiếng nói trong cách hành xử sao cho phù hợp với chuẩn
mực đạo đức của dân tộc ta, góp ý cũng phải cho dễ nghe, lịch sử chứ ko đc nói
chuyện chen ngang mất lịch sử. nói chuyện hỗn láo. cái gì ko phù hợp ko cần thiết
vs thời đại thì ko tiếp thu.
Bài làm:
Do trong bối cảnh UNESCO chưa được thành lập, cả nước ta đang dành tâm trí và tập
trung cho nhiệm vụ giai phải dân tộc, khái niệm văn hóa chưa được công nhận chính
thức, nhưng HCM đã có nhiều (cụ thể là bốn) cách tiếp nhận chủ yếu về văn hóa.
Người từng nhấn mạnh về ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày
về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó
tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn”. Có thể thấy theo TTHCM, Khái niệm văn hóa đề cập đến cấu
trúc, nguồn gốc, động cơ và mục đích của văn hóa. VH thể hiện trình độ con người
trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, và với bản thân. Do đó
quan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại cũng được xác định rõ ràng.
Mối quan hệ giữa giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại là
phải lấy văn hóa dân tộc làm gốc, đó là điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại.
Văn hóa thể hiện “đặc tính dân tộc”, “cốt cách dân tộc”, là những giá trị văn hóa bền
vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy phải giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc bằng việc khôi phúc vốn cũ quý báu của dân tộc đồng thời phát triển
văn hóa dân tộc bằng cách học tập văn hóa tiên tiến của các quốc gia, dân tộc khác
trên thế giới. Đây chính là nền văn hóa mới, kế thừa tinh hoa dân tộc ta đồng thời học
hỏi những điều tốt đẹp của các dân tộc khác. Tiếp biến văn hóa là một qua luật của
văn hóa. HCM luôn thận trọng chắt lọc ra tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu, làm
quý hơn cho văn hóa Việt Nam, xây dựng văn hóa ta với tinh thần dân chủ, chọn lọc
tiếp thu ở phạm vi bao hàm từ Đông sang Tây, từ ngàn xưa đến hiện tại, ở mọi khía
cạnh cuộc sống. Theo quan điểm hcm về xây dựng nền văn hóa việt nam làm sao để
bảo đảm tính dân tộc đồng thời tiên tiến ko lạc hậu. Muốn vậy ta phải khôi phục vốn
cũ quý báo của dân tộc theo tinh thần cũ mà tốt thì kế thừa duy trì phát triển, cái gì cũ
mà ko tốt thì bỏ đi, cũ mà ko xấu nhưng lạc hậu thì phải sửa chữa cho hợp lí.Đấy là
quan điểm hcm về xây dựng nền vh phải giữ đc đặc tính dân tộc, bản sắc dân tộc.
Đồng thời với việc giữ gìn bản sắc vh dân tộc thì phải tiếp thu những giá trị tinh goa
vh nhân loại học cái hay cái tốt của thế giới cũng phải chọn lọc cái gì hay cái gì tốt có
lợi thì ta học và tiếp thu để góp phần phát triển đất nước chúng ta, làm cho vh nước ta
theo kịp vs vh nhân loại đem lại những lợi ích thiết thực cho đời sống và cái gì hay có
lợi nhưng ko hợp vs dân tộc ta thì ta phải sửa đổi cho hợp lí. Ví dụ, chúng ta đã tham
gia nhiều công ước quốc tế, nhiều vấn đề thuộc về văn hóa thế giới như hcm rất ca
ngợi tinh thần dân chủ nhưng tuy nhiên dân chủ áp dụng vào thực tiễn nc ta yêu cầu
các ng dân phải dám tranh luận phát biểu, đóng góp ý kiến cho cấp trên, cho lãnh đạo
và ng lớn hơn mình,... nhưng phải giữ cái sự lễ phép, lịch sự trong lời ăn tiếng nói
trong cách hành xử sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức của dân tộc ta, góp ý
cũng phải cho dễ nghe, lịch sử chứ ko đc nói chuyện chen ngang mất lịch sử. nói
chuyện hỗn láo. cái gì ko phù hợp ko cần thiết vs thời đại thì ko cần phải tiếp thu.
Để giữ gìn những truyền thống tốt đẹp ấy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách, tổ chức nhiều hoạt động, giảng dạy về những điều hay lẽ phải mà dân tộc ta đã
gìn giữ và lưu truyền từ ngàn đời, đồng thời có nhwuxng biện pháp xử lí các thành
phần cố tình chà đạp văn hóa, phá hoại đi thành quả của dân tộc. Là thế hệ sinh viên
Việt Nam năng động sáng tạo, em luôn cố gắng phát huy tinh thần học hỏi, luôn dành
trong tim tấm lòng yêu nước chân chính, không ngừng tiếp thu kiến thức, văn hóa đẹp
đẻ từ bạn bè 5 châu để làm giàu đẹp hơn nền văn hóa đất Việt.