lOMoARcPSD| 61531626
NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN
Câu 1: Khái quát chính sách cai trị của Pháp và hệ quả của nó đối với Việt
Nam?
quốc gia Đông Nam Á nằm vị trí địa chính trị quan trọng của Châu Á, Viêt
Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc
chay đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thực
dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 1-9-1858 và từ đó từng
bước thôn tính Việt Nam. Đó là giai đoạn thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam đã
lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Trước hành động xâm lược của Pháp,
triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp đến ngày 6-6-1884 với hiệp ước
Patenotre đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc
địa, dân tavong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.
Sau khi xâm lược thôn tính toàn bộ nước ta, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị
chuyên chế, hà khắc và tàn bạo. Chế độ phong kiến suy tàn đã công khai câu kết và
làm tay sai cho thực dân Pháp. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp
tay sai ngày càng gay gắt, khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc ngày
càng trở nên bức thiết. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực
dân, tước bỏ quyền lực đối nội đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn.
Đồng thời với việc dùng lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước
của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền
thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai.
Pháp thực hiện chính sách chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc
gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác
nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được thành lập ngày 17-10-
1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Chế độ cai trị, bóc lột khắc của thực
dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam “chế độ độc tài chuyên chế nhất, cùng
khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời
xưa”. Năm 1852, Pháp đã lập nhà Côn Đảo đgiam cầm những người Việt Nam
yêu nước chống Pháp.
Về kinh tế, từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc
địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) do toàn quyền Đông
Dương Paul Dou mer thực hiện khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu
đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng Đông Dương nói chung
thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vét tài
lOMoARcPSD| 61531626
nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế
khóa nặng nề.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân phản động bảo thủ nhằm
biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa và cung cấp nguyên vật liệu
cho chúng. Cùng với những thủ đoạn đó là thực hiện chính sách độc quyền về kinh
tế trên tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Đặt ra nhiều thứ
thuế (thuế thân, thuế chợ, thuế đò…). Duy trì phương thức sản xuất phong kiến
lạc hậu nhằm mục đích bóc lột tối đa kìm hãm nền kinh tế của nước trong vòng lạc
hậu. Thực dân Pháp thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất bản chủ
nghĩa.
Do sự du nhập của phương thức sản xuất bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt
Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô
thị mới, những trung tâm kinh tế tụ điểm dân mới. Nhưng thực dân Pháp không
du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức bản chủ nghĩa vào nước ta, vẫn
duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột bản
và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể
phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị
kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa bản phương Tây, từ năm 1858
thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đánh chiếm
được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những
cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hóa.
Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Việt Nam, chúng đã khai thác khoáng sản
của đất nước ta. Bộ máy cai trị được hình thành. Chúng xây dựng các nhà máy điện,
nước, xi măng, dệt, ..., lập các đồn điền, mở mang đường xá để vét tài nguyên
bóc lột sức lao động của người dân nước ta.
Thực dân Pháp muốn biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá cung cấp
nguyên nhiên liệu cho Pháp nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho bản Pháp. Vào giai
đoạn đầu, thực dân Pháp chỉ mới chú trong vào hai lĩnh vực chủ yếu là nông nghiệp
và khai mỏ.
Nông nghiệp: Năm 1897, Pháp ép triều Nguyễn kí điều ước “nhượng” quyền “khai
khẩn đất hoang” cho chúng. Ngay sau đó, Pháp tăng cường cướp đoạt đất đai, lập
các khu đồn điền lớn đtrồng cao su, thứ cây công nghiệp Pháp coi trọng khi đó.
lOMoARcPSD| 61531626
Công nghiệp: chú trọng khai thác mỏ than và kim loại. Tuy nhiên Pháp không xây
nhà máy luyện kim tại Việt Nam, tất cả kim loại khai thác được chở về Pháp. Phần
lớn các xí nghiệp khai mỏ nằm trong tay những tập đoàn tư bản Pháp. Phương thức
hoạt động tận dụng nhân công lao động rẽ mạt, sao cho chi phí sản xuất giảm
xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.
Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông hiện đại, vừa phục vụ làm
ăn lâu dài, vừa nhằm mục đích quân sự.
Thương nghiệp: Việt Nam trở thành thị trường độc quyền của bản Pháp, Pháp độc
quyền thu thuế xuất nhập khẩu. Tất cả hàng hóa Việt Nam mà Pháp cần đều phải ưu
tiên xuất sang Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác, những hàng hóa
Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các nước khác thì Việt Nam
vẫn phải mua của Pháp.
Tiến hành chính sách khai thác để cướp đoạt tài nguyên, bóc lột công rẻ mạc, mở
rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của tư bản Pháp, độc quyền về kinh tế để dễ bề ve
vét, độc hành về thuế phát hành giấy bạc, duy thình thức bóc lột phong kiến,
kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong vòng lạc hậu, làm cho kinh tế nước ta phụ thuộc
vào kinh tế Pháp.
Đặc biệt chúng độc quyền về muối, rượu và thuốc phiện:
Về muối: Muối là một trong những thứ nhu yếu phẩm, đặc biệt lại là một sản phẩm
vô cùng quan trọng trong miếng ăn của người Việt Nam, là thành phần vô cùng cần
thiết trong việc dự trữ thực phẩm, chế biến món ăn và nấu ăn. Muốn muối cá, muối
thịt, làm nước mắm, muối dưa cải hay muối chua các thứ rau, tất cả đều phải
muối. Kho cá, kho thịt, làm xôi, nấu cơm nếp, ăn cháo trắng lót lòng cũng phải
muối. Nói tóm lại, bất kỳ món ăn nào cũng phải muối. Chính thế đối với
người Việt Nam, muối trở thành một sản phẩm cùng quan trọng không khác
gạo. Hơn nữa, nước ta không có mỏ muối. Vì thế, tất cả muối tiêu thụ ở nước ta đều
được sản xuất qua phương pháp gạn lọc nước biển bằng cách để cho nước bốc hơi
bay đi hết, chất muối lắng xuống dưới rồi gom lại thành từng thúng đem đi bán.
Do tình trạng này, chỉ những vùng ven biển có bãi cát lài lài, thoai thoải bằng bằng
mới điều kiện để sản xuât muối. Những vùng bờ biến dốc đứng không điều
kiện sản xuất muối. Những yếu tố này đã khiến cho muối trở nên khan hiếm ở trên
thị trường. Biết được những yếu tố quan trọng này, các nlàm chính sách thuế khóa
trong chính quyền Liên Minh Pháp Vatican nghĩ ngay đến biện pháp nắm độc
quyền phân phối muối. Qua chính sách đánh thuế bất nhân này, chúng đã thu vơ v
lOMoARcPSD| 61531626
ngân quỹ của Liên Minh Pháp Vatican một khỏan tiền khổng lồ thể đủ trả lương
cho 50% công chức ở Đông Dương.
Về rượu: Trong thực tế, rượu đã được coi như khá quan trọng trong nếp sống văn
hóa của bất kỳ hội nào dù văn minh hay lạc hậu. Với các quốc gia Đông Phương
chịu ảnh hưởng của nền văn minh Khổng Mạnh, rượu đã trở thành một trong những
yếu tố cùng quan trọng trong nếp sống văn hóa của người dân. Cũng vì thế
rượu hiện diện trong hầu hết các ngày lễ, đám cưới, đám tang, cúng tế và những cuộc
hôi ngộ giữa các bạn bè thân thiết hay trong những bữa tịêc kẻ ở tiễn người đi hoặc
trong bữa cơm vui đón mừng người đi xa trở về, tất cả cũng đều phải rượu.
nước ta, rượu cũng cùng quan trọng, trong thời xưa, bất bất kỳ làng xóm nào cũng
có một hay hai gia đình sinh sống bằng nghề nấu rượu, rượu trở thành sản phẩm rất
thông dụng, không bao giờ khan hiếm. Biết rõ tính cách quan trọng của rượu trong
nếp sống văn hóa của người Việt Nam là như vậy, với chủ trương cố hữu nắm trọn
quyền kiểm sóat tất cả mọi ngành sinh họat trong hội, Giáo Hội La thực
dân Pháp bèn quyết định nắm độc quyền sản xuất và phân phối ợu, rồi ỡng bách
nhân dân ta hàng năm phải tiêu thụ số lượng ruợu theo đúng chỉ tiêu chúng đã
đề ra. Với việc nắm trong tay độc quyền sản xuất rượu trong nước, thực dân Pháp
không chỉ thu về lợi nhuận hàng năm, còn khả năng không chế và đầu độc
nhân dân ta.
Về thuốc phiện: Thuốc phiện bị coi như một sản phẩm tác hại cùng nguy
hiểm cho những người hút gia đình họ. Thế nhưng, từ khi dân ta rơi vào ách thống
trị của Liên Minh Pháp Vatican, thuốc phiện lại do chính quyền chủ động nhập
cảng, thiết lập các sở biến chế, tổ chức hệ thống phân phối, khuyên khích mở các
tiệm hút tiệm bán công khai cho khách hàng tiêu thụ, rồi nắm độc quyền buôn
bán sản phẩm này. Như vậy là chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho khá nhiều
người mà đa số thuộc thành phần khá giả dễ dàng a dua đua đòi rồi sa ngã vào tình
trạng nghiện ngập, làm hư hại cả cuộc đời. Nhìn rộng ra, nếu quốc gia có quá nhiều
người nghiện hút thuốc phiện như vậy, thì dân nước sẽ không còn ý chí đấu tranh để
tự tồn, để mặc cho ngoại nhân thao túng tự tung tự tác. Hậu quả quốc gia đó sẽ
lụn bại, suy vong rồi sớm muộn cũng rơi vào cảnh lệ thuộc nước ngoài. Tuy nhiên,
thiết nghĩ rằng, ngoài chủ trương làm tiêu tan ý chí đấu tranh của dân tộc Việt Nam,
Liên Minh Pháp – Vatican còn có chính sách độc quyền nhập cảng lậu và phân phối
thuốc phiện vừa để lấy tiền chi phi cho bộ máy cai trị tại
Đông Dương, vừa để trả lương hậu cho công chức người Pháp trong bộ máy cai
trị này với mục đích khích lhọ tích cực thẳng tay đàn áp bóc lột dân ta.chế
đầu độc nhân dân ta.
lOMoARcPSD| 61531626
Về văn hóa, chịu ảnh hưởng cả hai chiều tiến bộ lạc hậu, văn hóa Việt Nam
chuyển biến theo hướng hiện đại hóa, Âu hóa, Pháp hóa, đẩy lùi nền văn hóa phong
kiến Việt Nam cổ truyền.
Các trào lưu tư tưởng, khoa học-kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật phương tây điều
kiện tràn vào Việt Nam. Các ngành văn học, nghệ thuật, kiến trúc, ...đã những
chuyển biến mới về nội dung, phương pháp sáng tác. Các yếu tố văn hóa truyền
thống, văn hóa mới tiến bộ và nô dịch cùng tồn tại, đan xen, đấu tranh với nhau.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kìm m dịch nhân dân ta về văn hoá gây
tâm tự ti vong bản, giam hãm và đầu độc nhân dân ta trong bể tăm tối, làm cho
nhân dân ta ngu để dễ bề cai trị. Pháp đã thi hành những thủ đoạn: khuyến khích các
tệ nạn hội, các luồng văn hoá ngoại lai đồi trụy nhằm đầu độc nhân dân Việt Nam;
xây dựng nhà nhiều hơn trường học bệnh viện, ngăn chặn sự ảnh hưởng của
văn hoá tiến bộ vào Việt Nam kể cả văn hoá tiến bộ Pháp. Hệ quả là làm cho xã hội
Việt Nam hơn 90% người dân bị mù chữ. Trong lòng xã hội Việt Nam đã có những
chuyển biến sâu sắc.
Về giáo dục, cho đến năm 1919, Pháp vẫn duy trì chế độ giáo dục thời phong kiến,
song trong một số thi có thêm môn tiếng Pháp. Về sau do nhu cầu học tập của con
em quan chức thực dân cũng để tạo một lớp người bản xứ phục vụ cho việc cai
trị chính quyền pháp ở Đông Dương bắt đầu mở trường học mới cùng một số cơ sở
văn hóa, y tế. Tháng 12/1917, toàn quyền Đông Dương lập hội đồng vấn du học
chính Đông Dương với chức năng đề ra những quy chế cho ngành giáo dục
Hệ thống giáo dục phổ thông được mở rộng gồm các cấp: Bậc Ấu học xã, thôn
(dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ); Bậc Tiểu học ở phủ, huyện (dạy chữ Hán và Quốc
ngữ, chữ Pháp môn tự nguyện); Bậc Trung học tỉnh (dạy chữ Hán, Quốc ngữ,
chữ Pháp bắt buộc). Mô hình giáo dục hiện đại đang hình thành ở Đông Dương
sở xuất bản in ấn xuất hiện ngày càng nhiều với hàng chục tờ báo, tạp chí chữ
Pháp và chữ quốc ngữ. Nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí,văn hóa,... để phục vụ
công cuộc khai thác và thống trị của chúng. Ưu tiên xuất bản các sách báo theo chủ
trương '' Pháp- Việt đề huề''.
Bên cạnh đó, Pháp duy trì chính sách hạn chế phát triển giáo dục. Duy trì “văn hóa
làng” theo hướng theo hướng “bần cùng hóa” “ngu dân hóa” duy trì những
thói hư tật xấu.
lOMoARcPSD| 61531626
Mục tiêu của Pháp thông qua giáo dục phong kiến, Thực dân Pháp muốn tạo ra
một lớp người chỉ biết phục tùng. Triệt để sử dụng phong kiến Nam triều, dùng người
Việt trị người Việt, kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để dễ bề cai trị.
Tóm lại thực dân Pháp thực hiện chính sách cực kỳ phản động trên tất cả các mặt
kinh tế-chính trị-xã hội nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp. Việt Nam đã
biến đổi từ một hội phong kiến thành một hội thuộc địa nửa phong kiến, mất
hẳn quyền độc lập, phụ thuộc vào nước Pháp về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá.
Xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản:
+ Một là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm
lược Pháp và bọn tay sai.
+ Hai là: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân, với
giai cấp địa chủ phong kiến.
→ Chủ nghĩa đế quốc Pháp tay sai phản động là mâu thuẫn chủ yếu. Mâu thuẫn
đó ngày càng trở nên sâu sắc và gay gắt. Giải quyết các mâu thuẫn đó để mở đường
cho đất nước phát triển yêu cầu bản bức thiết của cách mạng nước ta lúc bấy
giờ.
Với các chính sách chuyên chế về chính trị với bộ máy đàn áp cùng nặn. Dùng
chính sách cai trị trực tiếp, duy trì bộ máy chính quyền phong kiến ttrung ương
xuống địa phương làm tay sai đắc lực cho chúng. Thực hiện chính sách chia đtrị
chúng chia đất ớc ta ra thành 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, với mỗi kỳ chúng
lại thực hiện một chế đchính trị riêng. Thủ tiêu mọi quyền dân chủ của nhân dân
Việt Nam, đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta.
Bằng các ý tưởng thâm độc xấu xa thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực
dân phản động bảo thủ nhằm biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế
thừa cung cấp nguyên vật liệu cho chúng. Thực hiện chính sách độc quyền về
kinh tế trên tất cả c ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Đặt ra nhiều
thứ thuế vô lý (thuế thân, thuế chợ, thuế đò…). Duy trì phương thức sản xuất phong
kiến lạc hậu nhằm mục đích bóc lột tối đa kìm hãm nền kinh tế của nước trong vòng
lạc hậu. Thực dân Pháp thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản ch
nghĩa.
Cùng với chính sách m hãm dịch nhân dân ta về văn hoá gây tâm tự ty
vong bản, giam hãm đầu độc nhân dân ta trong bề tăm tối, làm cho nhân dân ta
ngu đdễ bề cai trị. Khuyến khích các tệ nạn hội, các luồng văn hoá ngoại lai đồi
lOMoARcPSD| 61531626
trụy nhằm đầu độc nhân dân Việt Nam. Xây dựng nhà nhiều hơn trường học
bệnh viện. Ngăn chặn sự nh hưởng của văn htiến bộ vào Việt Nam kể cả văn hoá
tiến bộ Pháp.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61531626
NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN
Câu 1: Khái quát chính sách cai trị của Pháp và hệ quả của nó đối với Việt Nam?
Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa lí chính trị quan trọng của Châu Á, Viêt
Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc
chay đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thực
dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 1-9-1858 và từ đó từng
bước thôn tính Việt Nam. Đó là giai đoạn thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam đã
lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Trước hành động xâm lược của Pháp,
triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp và đến ngày 6-6-1884 với hiệp ước
Patenotre đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc
địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.
Sau khi xâm lược và thôn tính toàn bộ nước ta, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị
chuyên chế, hà khắc và tàn bạo. Chế độ phong kiến suy tàn đã công khai câu kết và
làm tay sai cho thực dân Pháp. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp
và bè lũ tay sai ngày càng gay gắt, khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc ngày
càng trở nên bức thiết. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực
dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn.
Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước
của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền
thuộc địa
, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai.
Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc
gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác
nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được thành lập ngày 17-10-
1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực
dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vô cùng
khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời
xưa”. Năm 1852, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.
Về kinh tế, từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc
địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) do toàn quyền Đông
Dương Paul Dou mer thực hiện và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu
đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung
thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài lOMoAR cPSD| 61531626
nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân phản động và bảo thủ nhằm
biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa và cung cấp nguyên vật liệu
cho chúng. Cùng với những thủ đoạn đó là thực hiện chính sách độc quyền về kinh
tế trên tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Đặt ra nhiều thứ
thuế vô lý (thuế thân, thuế chợ, thuế đò…). Duy trì phương thức sản xuất phong kiến
lạc hậu nhằm mục đích bóc lột tối đa kìm hãm nền kinh tế của nước trong vòng lạc
hậu. Thực dân Pháp thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt
Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô
thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nhưng thực dân Pháp không
du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn
duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản
và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể
phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị
kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ năm 1858
thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đánh chiếm
được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những
cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hóa.
Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Việt Nam, chúng đã khai thác khoáng sản
của đất nước ta. Bộ máy cai trị được hình thành. Chúng xây dựng các nhà máy điện,
nước, xi măng, dệt, ..., lập các đồn điền, mở mang đường xá để vơ vét tài nguyên và
bóc lột sức lao động của người dân nước ta.
Thực dân Pháp muốn biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và cung cấp
nguyên nhiên liệu cho Pháp nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp. Vào giai
đoạn đầu, thực dân Pháp chỉ mới chú trong vào hai lĩnh vực chủ yếu là nông nghiệp và khai mỏ.
Nông nghiệp: Năm 1897, Pháp ép triều Nguyễn kí điều ước “nhượng” quyền “khai
khẩn đất hoang” cho chúng. Ngay sau đó, Pháp tăng cường cướp đoạt đất đai, lập
các khu đồn điền lớn để trồng cao su, thứ cây công nghiệp mà Pháp coi trọng khi đó. lOMoAR cPSD| 61531626
Công nghiệp: chú trọng khai thác mỏ than và kim loại. Tuy nhiên Pháp không xây
nhà máy luyện kim tại Việt Nam, tất cả kim loại khai thác được chở về Pháp. Phần
lớn các xí nghiệp khai mỏ nằm trong tay những tập đoàn tư bản Pháp. Phương thức
hoạt động là tận dụng nhân công lao động rẽ mạt, sao cho chi phí sản xuất giảm
xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.
Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông hiện đại, vừa phục vụ làm
ăn lâu dài, vừa nhằm mục đích quân sự.
Thương nghiệp: Việt Nam trở thành thị trường độc quyền của tư bản Pháp, Pháp độc
quyền thu thuế xuất nhập khẩu. Tất cả hàng hóa Việt Nam mà Pháp cần đều phải ưu
tiên xuất sang Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác, những hàng hóa mà
Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các nước khác thì Việt Nam vẫn phải mua của Pháp.
Tiến hành chính sách khai thác để cướp đoạt tài nguyên, bóc lột công rẻ mạc, mở
rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của tư bản Pháp, độc quyền về kinh tế để dễ bề ve
vét, độc hành về thuế và phát hành giấy bạc, duy trì hình thức bóc lột phong kiến,
kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong vòng lạc hậu, làm cho kinh tế nước ta phụ thuộc vào kinh tế Pháp.
Đặc biệt chúng độc quyền về muối, rượu và thuốc phiện:
Về muối: Muối là một trong những thứ nhu yếu phẩm, đặc biệt lại là một sản phẩm
vô cùng quan trọng trong miếng ăn của người Việt Nam, là thành phần vô cùng cần
thiết trong việc dự trữ thực phẩm, chế biến món ăn và nấu ăn. Muốn muối cá, muối
thịt, làm nước mắm, muối dưa cải hay muối chua các thứ rau, tất cả đều phải có
muối. Kho cá, kho thịt, làm xôi, nấu cơm nếp, ăn cháo trắng lót lòng cũng phải có
muối. Nói tóm lại, bất kỳ món ăn nào cũng phải có muối. Chính vì thế mà đối với
người Việt Nam, muối trở thành một sản phẩm vô cùng quan trọng không khác gì
gạo. Hơn nữa, nước ta không có mỏ muối. Vì thế, tất cả muối tiêu thụ ở nước ta đều
được sản xuất qua phương pháp gạn lọc nước biển bằng cách để cho nước bốc hơi
bay đi hết, chất muối lắng xuống ở dưới rồi gom lại thành từng thúng đem đi bán.
Do tình trạng này, chỉ những vùng ven biển có bãi cát lài lài, thoai thoải bằng bằng
mới có điều kiện để sản xuât muối. Những vùng bờ biến dốc đứng không có điều
kiện sản xuất muối. Những yếu tố này đã khiến cho muối trở nên khan hiếm ở trên
thị trường. Biết được những yếu tố quan trọng này, các nhà làm chính sách thuế khóa
trong chính quyền Liên Minh Pháp – Vatican nghĩ ngay đến biện pháp nắm độc
quyền phân phối muối. Qua chính sách đánh thuế bất nhân này, chúng đã thu vơ về lOMoAR cPSD| 61531626
ngân quỹ của Liên Minh Pháp – Vatican một khỏan tiền khổng lồ có thể đủ trả lương
cho 50% công chức ở Đông Dương.
Về rượu: Trong thực tế, rượu đã được coi như khá quan trọng trong nếp sống văn
hóa của bất kỳ xã hội nào dù là văn minh hay lạc hậu. Với các quốc gia Đông Phương
chịu ảnh hưởng của nền văn minh Khổng Mạnh, rượu đã trở thành một trong những
yếu tố vô cùng quan trọng trong nếp sống văn hóa của người dân. Cũng vì thế mà
rượu hiện diện trong hầu hết các ngày lễ, đám cưới, đám tang, cúng tế và những cuộc
hôi ngộ giữa các bạn bè thân thiết hay trong những bữa tịêc kẻ ở tiễn người đi hoặc
trong bữa cơm vui đón mừng người đi xa trở về, tất cả cũng đều phải có rượu. Ở
nước ta, rượu cũng vô cùng quan trọng, trong thời xưa, bất bất kỳ làng xóm nào cũng
có một hay hai gia đình sinh sống bằng nghề nấu rượu, rượu trở thành sản phẩm rất
thông dụng, không bao giờ khan hiếm. Biết rõ tính cách quan trọng của rượu trong
nếp sống văn hóa của người Việt Nam là như vậy, với chủ trương cố hữu nắm trọn
quyền kiểm sóat tất cả mọi ngành sinh họat trong xã hội, Giáo Hội La Mã và thực
dân Pháp bèn quyết định nắm độc quyền sản xuất và phân phối rượu, rồi cưỡng bách
nhân dân ta hàng năm phải tiêu thụ số lượng ruợu theo đúng chỉ tiêu mà chúng đã
đề ra. Với việc nắm trong tay độc quyền sản xuất rượu trong nước, thực dân Pháp
không chỉ thu về lợi nhuận hàng năm, mà còn có khả năng không chế và đầu độc nhân dân ta.
Về thuốc phiện: Thuốc phiện bị coi như là một sản phẩm có tác hại vô cùng nguy
hiểm cho những người hút và gia đình họ. Thế nhưng, từ khi dân ta rơi vào ách thống
trị của Liên Minh Pháp – Vatican, thuốc phiện lại do chính quyền chủ động nhập
cảng, thiết lập các cơ sở biến chế, tổ chức hệ thống phân phối, khuyên khích mở các
tiệm hút và tiệm bán công khai cho khách hàng tiêu thụ, rồi nắm độc quyền buôn
bán sản phẩm này. Như vậy là chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho khá nhiều
người mà đa số thuộc thành phần khá giả dễ dàng a dua đua đòi rồi sa ngã vào tình
trạng nghiện ngập, làm hư hại cả cuộc đời. Nhìn rộng ra, nếu quốc gia có quá nhiều
người nghiện hút thuốc phiện như vậy, thì dân nước sẽ không còn ý chí đấu tranh để
tự tồn, để mặc cho ngoại nhân thao túng tự tung tự tác. Hậu quả là quốc gia đó sẽ
lụn bại, suy vong rồi sớm muộn cũng rơi vào cảnh lệ thuộc nước ngoài. Tuy nhiên,
thiết nghĩ rằng, ngoài chủ trương làm tiêu tan ý chí đấu tranh của dân tộc Việt Nam,
Liên Minh Pháp – Vatican còn có chính sách độc quyền nhập cảng lậu và phân phối
thuốc phiện vừa để lấy tiền chi phi cho bộ máy cai trị tại
Đông Dương, vừa để trả lương hậu hĩ cho công chức người Pháp trong bộ máy cai
trị này với mục đích khích lệ họ tích cực thẳng tay đàn áp và bóc lột dân ta.chế và đầu độc nhân dân ta. lOMoAR cPSD| 61531626
Về văn hóa, chịu ảnh hưởng ở cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, văn hóa Việt Nam
chuyển biến theo hướng hiện đại hóa, Âu hóa, Pháp hóa, đẩy lùi nền văn hóa phong
kiến Việt Nam cổ truyền.
Các trào lưu tư tưởng, khoa học-kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật phương tây có điều
kiện tràn vào Việt Nam. Các ngành văn học, nghệ thuật, kiến trúc, ...đã có những
chuyển biến mới về nội dung, phương pháp sáng tác. Các yếu tố văn hóa truyền
thống, văn hóa mới tiến bộ và nô dịch cùng tồn tại, đan xen, đấu tranh với nhau.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kìm hãm và nô dịch nhân dân ta về văn hoá gây
tâm lý tự ti vong bản, giam hãm và đầu độc nhân dân ta trong bể tăm tối, làm cho
nhân dân ta ngu để dễ bề cai trị. Pháp đã thi hành những thủ đoạn: khuyến khích các
tệ nạn xã hội, các luồng văn hoá ngoại lai đồi trụy nhằm đầu độc nhân dân Việt Nam;
xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnh viện, ngăn chặn sự ảnh hưởng của
văn hoá tiến bộ vào Việt Nam kể cả văn hoá tiến bộ Pháp. Hệ quả là làm cho xã hội
Việt Nam hơn 90% người dân bị mù chữ. Trong lòng xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến sâu sắc.
Về giáo dục, cho đến năm 1919, Pháp vẫn duy trì chế độ giáo dục thời phong kiến,
song trong một số kì thi có thêm môn tiếng Pháp. Về sau do nhu cầu học tập của con
em quan chức thực dân và cũng để tạo một lớp người bản xứ phục vụ cho việc cai
trị chính quyền pháp ở Đông Dương bắt đầu mở trường học mới cùng một số cơ sở
văn hóa, y tế. Tháng 12/1917, toàn quyền Đông Dương lập hội đồng tư vấn du học
chính Đông Dương với chức năng đề ra những quy chế cho ngành giáo dục
Hệ thống giáo dục phổ thông được mở rộng gồm các cấp: Bậc Ấu học ở xã, thôn
(dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ); Bậc Tiểu học ở phủ, huyện (dạy chữ Hán và Quốc
ngữ, chữ Pháp là môn tự nguyện); Bậc Trung học ở tỉnh (dạy chữ Hán, Quốc ngữ,
chữ Pháp bắt buộc). Mô hình giáo dục hiện đại đang hình thành ở Đông Dương
Cơ sở xuất bản in ấn xuất hiện ngày càng nhiều với hàng chục tờ báo, tạp chí chữ
Pháp và chữ quốc ngữ. Nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí,văn hóa,... để phục vụ
công cuộc khai thác và thống trị của chúng. Ưu tiên xuất bản các sách báo theo chủ
trương '' Pháp- Việt đề huề''.
Bên cạnh đó, Pháp duy trì chính sách hạn chế phát triển giáo dục. Duy trì “văn hóa
làng” theo hướng theo hướng “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” và duy trì những thói hư tật xấu. lOMoAR cPSD| 61531626
Mục tiêu của Pháp là thông qua giáo dục phong kiến, Thực dân Pháp muốn tạo ra
một lớp người chỉ biết phục tùng. Triệt để sử dụng phong kiến Nam triều, dùng người
Việt trị người Việt, kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để dễ bề cai trị.
Tóm lại thực dân Pháp thực hiện chính sách cực kỳ phản động trên tất cả các mặt
kinh tế-chính trị-xã hội nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp. Việt Nam đã
biến đổi từ một xã hội phong kiến thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mất
hẳn quyền độc lập, phụ thuộc vào nước Pháp về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá.
Xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản:
+ Một là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm
lược Pháp và bọn tay sai.
+ Hai là: mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân, với
giai cấp địa chủ phong kiến.
→ Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tay sai phản động là mâu thuẫn chủ yếu. Mâu thuẫn
đó ngày càng trở nên sâu sắc và gay gắt. Giải quyết các mâu thuẫn đó để mở đường
cho đất nước phát triển là yêu cầu cơ bản và bức thiết của cách mạng nước ta lúc bấy giờ.
Với các chính sách chuyên chế về chính trị với bộ máy đàn áp vô cùng nặn. Dùng
chính sách cai trị trực tiếp, duy trì bộ máy chính quyền phong kiến từ trung ương
xuống địa phương làm tay sai đắc lực cho chúng. Thực hiện chính sách chia để trị
chúng chia đất nước ta ra thành 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, với mỗi kỳ chúng
lại thực hiện một chế độ chính trị riêng. Thủ tiêu mọi quyền dân chủ của nhân dân
Việt Nam, đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta.
Bằng các ý tưởng thâm độc xấu xa thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực
dân phản động và bảo thủ nhằm biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế
thừa và cung cấp nguyên vật liệu cho chúng. Thực hiện chính sách độc quyền về
kinh tế trên tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Đặt ra nhiều
thứ thuế vô lý (thuế thân, thuế chợ, thuế đò…). Duy trì phương thức sản xuất phong
kiến lạc hậu nhằm mục đích bóc lột tối đa kìm hãm nền kinh tế của nước trong vòng
lạc hậu. Thực dân Pháp thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Cùng với chính sách kìm hãm và nô dịch nhân dân ta về văn hoá gây tâm lý tự ty
vong bản, giam hãm và đầu độc nhân dân ta trong bề tăm tối, làm cho nhân dân ta
ngu để dễ bề cai trị. Khuyến khích các tệ nạn xã hội, các luồng văn hoá ngoại lai đồi lOMoAR cPSD| 61531626
trụy nhằm đầu độc nhân dân Việt Nam. Xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và
bệnh viện. Ngăn chặn sự ảnh hưởng của văn hoá tiến bộ vào Việt Nam kể cả văn hoá tiến bộ Pháp.