



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58562220
GIỚI HẠN CHƯƠNG TRÌNH ÔN THI MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN
CHƯƠNG 1: ĐCSVN ra đời và lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền
1. Cương lĩnh đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng: Nội dung và ý nghĩa. • Nội dung: •
Mục tiêu chiến lược: xác định rõ mẫu thuẫn giữa dtVN với đế quốc + chủ trương
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản • Nhiệm vụ: + Chính trị:
- Đánh đế quốc và phong kiến
- Làm cho VN độc lập giải phóng dân tộc là nhiệm vụ đầu tiên + Xã hội:
- Dân chúng được tự do tổ chức - Nam nữ bình quyền
- Phổ thông giáo dục theo công nông hóa + Kinh tế: - Thủ tiêu quốc trái
- Thâu ruộng đất, chia lại cho dân nghèo - Mở mang CN-NGÔN NGỮ •
Con đường CMVN trải qua hai giai đoạn: CM tư sản dân quyền và CMXHCN. Hai
giai đoạn này kế tiếp nhau, “không có bức tường nào ngăn cách” 🡪 2 ND cơ bản
của CM gpdt là dân tộc (chống đế quốc) và dân chủ (chống PK) Trong đó, nhiệm
vụ hàng đầu: gpdt chống đế quốc •
Lực lượng tham gia CM: công nhân, nông dân, các lực lượng khác.
Đảng phải thu phục được đại bộ phận giai cấp mình; thu phục được dân cày, hết
sức liên lạc vơi tiểu tư sản, trí thức, trung nông; phú nông, trung tiểu địa chủ và tư
bản An Nam thì CM phải lợi dụng, ít lâu làm họ đứng trung lập. •
Phát huy được truyền thống yêu nước của dân tộc ta; từ đó, xây dựng được khối đại
đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện được nhiệm vụ hàng đầu Phương pháp CM: bạo
lực quần chúng (chính trị + vũ trang) Đoàn kết quốc tế:
+ CMVN liên lạc mất thiết và trở thành 1 bộ phận CM thế giới
+ đoàn kết các dân tộc bị áp bức
+ Đoàn kết các giai cấp vô sản trên thế giới
Vai trò lãnh đạo của Đảng:
+ Đảng là đội tiên phong của giai cấp tư sản
+ Phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng • Ý nghĩa: •
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của CMVN. •
Thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm,
tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX
Chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc
biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc lOMoAR cPSD| 58562220 •
Xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời
xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng
để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra.
2. Bối cảnh lịch sử và nội dung, ý nghĩa nghị quyết HNTW 8 (5/1941); nội dung và ý
nghĩa Chỉ thị 12/3/1945; nội dung và ý nghĩa HN toàn quốc của Đảng (1315/8/45).
1. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của chủ trương chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng (thể hiện tại HNTW lần thứ 8 - 5/1941).
a. Hoàn cảnh lịch sử •
Ngày 1/9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. •
Ở châu Âu, Pháp tham chiến, chính phủ Pháp thực hiện chính sách thù địch đối
với các lực lượng tiến bộ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa trong đó có Đông Dương. •
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức. Ở Đông Dương, Toàn quyền Đơcu thực hiện
chính sách vơ vét sức người, sức của Đông Dương để dốc vào cuộc chiến tranh. •
Tháng 9/1940, Nhật vượt biên giới Việt – Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp
nhanh chóng đầu hàng. Nhật sử dụng bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh
tế phục vụ cho chiến tranh, đàn áp cách mạng… •
Ở Việt Nam, bên cạnh đảng phái thân Pháp còn có đảng phái thân Nhật như: Đại
Việt, Phục Quốc… ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh, sức mạnh Nhật Bản,
thuyết Đại Đông Á, dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp. Việt Nam đặt dưới ách
thống trị của Nhật – Pháp. •
Đầu 1945, phát xít Đức bị thất bại nặng nề (châu Âu), ở châu Á – Thái Bình
Dương, Nhật liên tục thất bại. •
Ở Đông Dương, ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Lợi dụng cơ hội đó, các
đảng phái chính trị ở Việt Nam tăng cường hoạt động. Quần chúng nhân dân sục
sôi khí thế, sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa
b. Nội dung: Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, NAQ về nước
và làm việc tại Cao Bằng. Tháng 5/1941, NAQ chủ trì Hội nghị lần thứ tám BCH
TW Đảng với vấn đề chính là nhận định cuộc CM trước mắt của VN là cuộc
CMGPDT, lập Mặt trận Việt Minh. Trung ương bầu đồng chí Trường Chinh làm
tổng bí thư. Hội nghị nêu rõ những nội dung quan trọng như sau: •
Thứ nhất, hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu phải được giải quyết là mâu
thuẫn giữa dân tộc VN với đế quốc phát xít Pháp - Nhật. •
Thứ hai, khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược”. TW Đảng
khẳng định: “Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương
làm CMGPDT”. Để làm được điều đó, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải
đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. •
Thứ ba, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương,
thi hành chính sách “dân tộc tự quyết” → Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi
nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết từng dân tộc, đồng
thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung.
Thứ tư, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc. lOMoAR cPSD| 58562220 •
Thứ năm, sau khi CM thành công sẽ thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa theo tinh thần dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung cả toàn thể dân tộc”. •
Thứ sáu, Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm
của Đảng và nhân dân. Hội nghị còn xác định những điều kiện chủ quan, khách
quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa.
c. Ý nghĩa: Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) đã: •
Hoàn thành chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, khắc
phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 •
Khẳng định lại đường lối CMGPDT đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng và Lý luận CMGPDT của NAQ •
Đó là ngọn cờ dẫn đường cho toàn dân VN đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực
lượng, tiến lên trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do.
2. Nội dung và ý nghĩa của Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta”, ngày 12/3/1945. a. Hoàn cảnh •
Đầu năm 1945, Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đang đi vào giai đoạn kết thúc,
phát xít Đức thua ở châu Âu, Nhật thua ở Thái Bình Dương. •
Với sự chuẩn bị từ trước, ngày 9/3/1945, Nhật nổ súng đảo chính lật đổ Pháp,
độc chiếm Đông Dương. Pháp chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng •
Chính phủ Bảo Đại - Trần Trọng Kim được Nhật tạo ra với cái bánh vẽ “độc
lập” để phục vụ cho nền thống trị của chủ nghĩa phát xít. •
Dự đoán đúng tình hình, ngay trước lúc Nhật nổ súng lật đổ Pháp, Tổng Bí thư
Trường triệu tập Hội nghị Ban Thường vụ TW Đảng họp mở rộng tại làng Đình
Bảng để phân tích tình hình và đề ra chủ trương chiến lược mới.
b. Nội dung: Ngày 12/3/1945, Ban thường vụ TW Đảng ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta” với những nội dung chính như sau: •
Kẻ thù cụ thể và duy nhất trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật
từ đó đề ra khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho “đánh đuổi phát xít
Nhật - Pháp” từ đó đưa ra khẩu hiệu thành lập chính quyền cách mạng Đông Dương. •
Hội nghị xác định đây là thời kỳ tiền khởi nghĩa. Từ đó chủ trương phát động
phong trào kháng chiến cứu nước mạnh mẽ rồi từ đó phát động toàn dân kháng chiến. •
Hội nghị quyết định thay đổi mọi hình thức tuyên truyền cổ động tổ chức và đấu
tranh cho thời kỳ mới thời kỳ tiền khởi nghĩa nhằm động viên và tập dượt quần
chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. •
Hội nghị nhận định phương châm đấu tranh lúc này là phát động chiến tranh du
kích giải phóng từng vùng mở rộng căn cứ địa cách mạng để chủ động đánh
Nhật và sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi có điều kiện. Hội nghị nhận
định hoàn cảnh thuận lợi để tiến hành tổng khởi nghĩa. c. Ý nghĩa lOMoAR cPSD| 58562220
Chỉ thị quyết định phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm
tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa, đồng thời sẵn sàng chuyển lên tổng khởi nghĩa
ngay khi có đủ điều kiện •
Thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt kiên quyết kịp thời nhạy bén của Đảng trong
hoàn cảnh lịch sử mới. •
Là kim chỉ nam cho mọi hành động của các cơ sở Đảng, Việt Minh và quần
chúng nhân dân trong cao trào kháng Nhật cứu nước.
Là văn kiện có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể thúc đẩy tình thế cách mạng chín muồi góp
phần thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945.
Nội dung và ý nghĩa HN toàn quốc của Đảng (13-15/8/45) 3. Một số
kinh nghiệm về lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi nổi bật
và vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, là mốc son chói lọi trong lịch
sử ngàn năm của dân tộc ta. Đó chính là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu
tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi đó đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm
quý báu mãi mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam trên con đường đổi mới, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó có các bài học chủ yếu là:
Thứ nhất, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến.
Ngay từ khi Đảng ta mới thành lập, trong “Chính cương vắn tắt” do lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc khởi thảo đã khẳng định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là:
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Chính
từ phương hướng đó, trong quá trình lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giành chính quyền,
xuất phát từ thực tế nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn dân tộc
là mâu thuẫn chủ yếu, nổi lên hàng đầu, Đảng đã linh hoạt trong giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, giữa chống đế quốc và phong kiến, trong đó xác
định đặt nhiệm vụ giành độc lập dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ đấu tranh giai cấp thực
hiện từng bước thích hợp ở từng giai đoạn, tùy thuộc vào tiến trình giải phóng dân tộc.
Chính sự linh hoạt trong giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chống đế quốc và phong
kiến trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã đáp ứng đúng
nguyện vọng thiêng liêng, cấp bách của toàn dân tộc và đã giúp cho Đảng huy động
được sức mạnh của toàn dân tộc cùng quyết tâm chống thực dân Pháp và phát xít Nhật,
làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thứ hai, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn
dân tộc dựa trên nền tảng vững chắc của khối liên minh công - nông, đấu tranh vì độc lập, tự do.
Thấm nhuần và phát triển sáng tạo luận điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của
quần chúng Nhân dân trong lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân và phát huy
truyền thống đoàn kết của dân tộc, ngay từ khi mới thành lập và lãnh đạo Nhân dân
đấu tranh cách mạng, Đảng đã rất chú trọng việc xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất.
Từ năm 1930 đến năm 1941, qua nhiều chặng đường thể nghiệm xây dựng mặt trận
dân tộc thống nhất, đặc biệt với sự ra đời của mặt trận Việt Minh (năm 1941) đã đảm
bảo cho khối đại đoàn kết dân tộc được tạo dựng vững chắc và sâu rộng. Với chủ trương
đúng đắn là “liên hiệp hết thảy các tầng lớp Nhân dân, không phân biệt tôn giáo và xu
hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành
độc lập...”[1], cùng phương thức tổ chức đa dạng, phong phú, mặt trận Việt Minh đã
trở thành hạt nhân quy tụ, tập hợp các giai cấp, tầng lớp Nhân dân đứng vào hàng ngũ
của mình để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít
Nhật, giành chính quyền về tay Nhân dân.
Thứ ba, kịp thời nắm bắt thời cơ, chủ động, sáng tạo tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền.
Thời cơ là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong nghệ thuật chỉ đạo cách mạng.
Muốn có thời cơ thì phải biết tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến thì phải tận dụng và tranh
thủ thời cơ, không được bỏ lỡ. Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám
1945 là một minh chứng sinh động về sự nhạy bén trong nhận định và chỉ đạo chớp
thời cơ khởi nghĩa của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, việc nắm bắt thời cơ được thể hiện ngay khi Đảng đưa ra những dự
báo về tình thế cách mạng để dân tộc Việt Nam vùng lên giành chính quyền về tay
Nhân dân. Khi phát xít Nhật nổ súng lật đổ thực dân Pháp ở Đông Dương (ngày
9/3/1945), với chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày
12/3/1945), Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng đã nhận định tình hình và
dự đoán hai tình huống có thể diễn ra: thứ nhất là, quân đồng minh vào Đông Dương
đánh Nhật; thứ hai là, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Và tình hình đã diễn ra đúng
như dự đoán thứ hai của Đảng ta, ngày 14/8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng
đồng minh vô điều kiện đã khiến cho quân Nhật ở Đông Dương hoang mang cực độ,
đồng thời chính phủ thân Nhật ở Việt Nam cũng tỏ ra hoàn toàn tê liệt. Đến đây, kẻ thù
của cách mạng Việt Nam đã suy yếu, không còn có khả năng thống trị như cũ được lOMoAR cPSD| 58562220
nữa, thời cơ “ngàn năm có một” cho chúng ta giành chính quyền đã xuất hiện, đòi hỏi
chúng ta phải hành động mau lẹ và kiên quyết. Nếu không kịp thời phát động tổng khởi
nghĩa giành chính quyền thì “vạn năm” cũng không thể được bởi lúc này quân Tưởng
và Anh đang sẵn sàng nhảy vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất
là để thực hiện âm mưu mới của chủ nghĩa đế quốc trên danh nghĩa đồng minh. Trước
tình thế vô cùng khẩn cấp và thuận lợi đó, Đảng đã quyết định phát động toàn dân đứng
lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền và chỉ từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, với sự
kết hợp linh hoạt các hình thức, phương pháp đấu tranh cả đấu tranh chính trị và đấu
tranh vũ trang, tuyên truyền kết hợp với bạo lực cách mạng, nhằm phân hóa, cô lập kẻ
thù, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi một cách nhanh, gọn, không đổ nhiều
máu và thành công triệt để.
Thứ tư, xây dựng Đảng vững mạnh, trung thành vô hạn với dân tộc và giai cấp. Khi
Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lúc đó Đảng ta mới 15 tuổi, với gần 5.000 đảng viên,
nhưng đã lãnh đạo toàn dân tộc làm cuộc cách mạng giành thắng lợi. Thành công đó là
nhờ Đảng được xây dựng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, vững mạnh về chính trị, tư tưởng,
tổ chức và đạo đức. Đảng đã nắm vững thời cơ, kiên định, giương cao ngọn cờ độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, định ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn. Đặc
biệt, Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, sẵn sàng chiến đấu hy
sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân; luôn gắn bó mật thiết
với Nhân dân, được Nhân dân tin tưởng và đi theo. Nhờ đó, khi Đảng kêu gọi Nhân
dân đứng lên làm cuộc cách mạng thì muôn người như một, đoàn kết thành sức mạnh
vô cùng to lớn đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc bước vào
kỷ nguyên mới độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa dân tộc Việt Nam
đứng vào hàng ngũ những dân tộc tiên phong trong đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Kỷ niệm 77 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh ngày 2/9, chúng ta càng nhận
thức đầy đủ trách nhiệm của các thế hệ hôm nay trong việc vận dụng và phát triển
những bài học kinh nghiệm quý giá của Cách mạng Tháng Tám vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hóa ngày nay, để từ đó tiếp tục xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI,
nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như mục tiêu Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.
CHƯƠNG 2: Giai đoạn 1945-1975
1. Hoàn cảnh lịch sử đất nước ta sau CM tháng Tám.
a. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
Khó khăn: Sau cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối
đầu với rất nhiều khó khăn, thử thách:
Khó khăn thứ nhất là sự hiện diện của các quân đội nước ngoài trên đất nước ta.
Khó khăn thứ hai là sự chống phá của các tổ chức phản động người Việt như
Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt…
Khó khăn thứ ba là khó khăn về mặt kinh tế. Chế độ mới tiếp quản một di sản
kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
Khó khăn thứ tư là khó khăn về mặt văn hoá - xã hội. Hậu quả của chính sách
ngu dân của thực dân Pháp là 95% dân số không biết chữ. Các tệ nạn xã hội hết sức nặng nề.
Khó khăn thứ năm thuộc lĩnh vực ngoại giao. Lúc này, chưa có một nước nào
trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Có thể nói rằng, vận mệnh dân tộc lúc này như ''ngàn cân treo sợi tóc''. Thuận lợi
Hệ thống chính quyền cách mạng đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương.
Lòng tin và sự ủng hộ rất lớn của nhân dân dành cho Đảng, mặt trận Việt Minh và Hồ Chủ Tịch.
Lực lượng vũ trang nhân dân đang phát triển mạnh.
Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Hồ Chủ Tịch.
2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng, bảo vệ chính quyền CM (1945- 1946) và ý nghĩa.
a. Sự lãnh đạo của Đảng: Trước tình hình hoạt động ráo riết của các loại kẻ thù, Đảng và
Nhà nước Việt Nam mới thực hiện sách mềm dẻ o:
lược vừa nguyên tắc, vừa •
Đối với các tổ chức, đảng phái
phản động, Nhà nước ban hành một loạt sắc lệnh: giải tán Đại Việt Quốc gia xã
hội Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng, giải tán “Việt Nam Hưng quốc thanh
niên” và “Việt Nam Ái quốc thanh niên” •
Thiết lập các tòa án quân sự, giải thể các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương. •
Đối với Pháp và Tưởng, lúc tạm hòa với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp,
lúc tạm hòa với Pháp để đẩy nhanh Tưởng ra khỏi đất nước. •
Thực hiện sách lược trên đã đặt các đảng phái, tổ chức phản động ra ngoài vòng
pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn áp bọn phản cách mạng, tranh thủ thời
gian củng cố lực lượng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, chuẩn bị cho
cuộc kháng chiến lâu dài. lOMoAR cPSD| 58562220
Để tăng cường thực lực cách mạng, Nhà nước Việt Nam mới rất quan tâm đến
việc phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm các đoàn thể
cứu quốc, gồm các lực lượng yêu nước và tiến bộ.
Cùng với việc xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước các cấp là việc củng cố thực lực cách mạng. b.
Kết quả, ý nghĩa: Cuộc đấu tranh thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc
của Đảng giai đoạn 1945-1946 đã diễn ra rất gay go, quyết liệt trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao và đã giành được những
kết quả hết sức to lớn. •
Về chính trị - xã hội: Đã xây dựng được nền móng cho một chế độ xã hội mới -
chế độ dân chủ nhân dân với đầy đủ các yếu tố cấu thành cần thiết. •
Về kinh tế, văn hóa: Đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói, xóa bỏ
các thứ thuế vô lý của chế độ cũ. Cuối năm 1945, nạn đói cơ bản được đẩy lùi,
năm 1946 đời sống nhân dân được ổn định và có cải thiện. Phong trào diệt dốt,
bình dân học vụ được thực hiện sôi nổi. Cuối năm 1946, cả nước đã có thêm 2.5
triệu người biết đọc, biết viết. •
Về bảo vệ chính quyền cách mạng: Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh
chiếm Sài Gòn và mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các tỉnh Nam Bộ, Đảng đã
kịp thời lãnh đạo nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến và phát động phong
trào Nam tiến chi viện Nam Bộ, ngăn không cho quân Pháp đánh ra Trung Bộ và Bắc Bộ •
Ý nghĩa của những thành quả đấu tranh nói trên là đã bảo vệ được nền độc lập
của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được những nền móng
đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới, chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
chuẩn bị được những điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó.
3. Nội dung, ý nghĩa HNTW 15 (1/1959); Nội dung, ý nghĩa HNTW12 (12/1965).
1. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị Trung ương lần thứ 15
(1/1959) về cách mạng miền Nam.
a. Hoàn cảnh lịch sử •
Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đã giành được thắng lợi nhưng
theo hiệp định Giơnevơ đã ký kết thì đất nước tạm thời chia cắt làm 2 miền lấy
vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. •
Miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng và bước vào công cuộc khôi phục kinh
tế, thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
nhằm tạo tiền đề đưa miền Bắc từng bước quá độ lên CNXH. •
Miền Nam đã bị đế quốc Mỹ độc chiếm để biến nơi đây thành thuộc địa kiểu
mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Mỹ Diệm đã tiến hành cuộc chiến tranh đơn lOMoAR cPSD| 58562220
phương đẫm máu chống lại nhân dân miền Nam trong tay không có vũ khí. Cách
mạng miền Nam bị tổn thất rất nặng nề. b. Nội dung •
Về mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam: •
Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ , giai cấp địa chủ
phong kiến và bọn tư sản mại bản.
Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa với con đường tư bản chủ nghĩa ở
miền Bắc. Tuy tính chất khác nhau, hai mâu thuẫn cơ bản có mối quan hệ biện
chứng và tác động lẫn nhau
Về đối tượng cách mạng: Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. •
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam: Giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc và tay sai. •
Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đánh đổ tập đoàn thống trị độc
tài Ngô Đình Diệm, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc. •
Về phương pháp cách mạng: Dùng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực
phản cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Con đường
phát triển của cách mạng miền Nam có thể phát triển theo 2 hướng: •
Thứ nhất là tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. •
Thứ hai là tiến hành đấu tranh vũ trang lâu dài để giành thắng lợi cuối cùng. •
Về vấn đề mặt trận: Hội nghị chủ trương cần phải thành lập một mặt trận dân
tộc thống nhất riêng ở miền Nam để tập hợp lực lượng chống đế quốc và tay sai. •
Về công tác xây dựng Đảng ở miền Nam: Hội nghị chỉ rõ: sự tồn tại và trưởng
thành của Đảng bộ miền Nam là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng miền
Nam. Vì vậy phải xây dựng Đảng bộ miền Nam thật vững mạnh để đủ sức lãnh
đạo trực tiếp cách mạng miền Nam. c. Ý nghĩa •
Là một bước ngoặt về phương pháp cách mạng, đáp ứng những nhu cầu cấp
bách của cách mạng miền Nam. •
Đường lối này đã mở đường cho cách mạng miền Nam phát triển, đã xoay
chuyển cục diện cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công.
Đường lối thể hiện rõ bản lĩnh tự chủ, sáng tạo và ý chí cách mạng của Đảng ta
trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.
2. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị Trung ương lần thứ 12
(12/1965) về kháng chiến chống Mỹ trên phạm vi cả nước.
a. Hoàn cảnh lịch sử •
Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
ở miền Nam Việt Nam. Đây là một hình thức chiến tranh trong chiến lược toàn
cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ, biểu hiện là đưa quân Mỹ và quân đồng minh lOMoAR cPSD| 58562220
vào trực tiếp tham chiến, quân đội Sài Gòn đóng vai trò hỗ trợ quân Mỹ và thực hiện bình định •
Đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và
hải quân ở miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. b.
Nội dung: Chiến tranh lan rộng ra cả nước và đã đặt vận mệnh của
dân tộc ta trước những thách thức nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Hội nghị
lần thứ 12 (12/1965) của BCH TW Đảng đã phát động kháng chiến chống Mỹ
cứu nước trên phạm vi toàn quốc. Nội dung đường lối kháng chiến trong giai đoạn này bao gồm:
Quyết tâm chiến lược: Phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong
toàn quốc, coi chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc
Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế
quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền
Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. •
Phương châm chiến lược: Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh
càng mạnh, tập trung lực lượng, tranh thủ thời cơ •
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công,
kiên quyết tiến công và tiếp tục tiến công, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị •
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh
tế và quốc phòng, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá
hoại của Mỹ, tích cực chuẩn bị đề phòng để đánh bại địch trong trường hợp
chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước •
Về mối quan hệ và nhiệm vụ cách mạng của hai miền: Miền Nam là tiền
tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn → Giải phóng miền Nam và bảo vệ miền
Bắc. Cần ra sức tăng cường lực lượng cho miền Bắc về mọi mặt, nhất là kinh tế
và quốc phòng, nhằm đảm bảo chi viện đắc lực cho miền Nam, đồng thời tiếp
tục xây dựng CNXH nhằm phát huy tối đa vai trò của hậu phương với tiền tuyến.
c. Ý nghĩa: Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12/1965) đã thể hiện tư tưởng nắm
vững, giương cao ngọn cờ độc lập và CNXH, tiếp tục tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng của Đảng và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân,
toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính trong hoàn cảnh mới, là cơ sở để
Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi vẻ vang.
CHƯƠNG 3: Giai doạn 1975 - 2021 lOMoAR cPSD| 58562220
1. Các bước đột phá về kinh tế thực hiện qua hai giai đoạn 1979-1981 và 19841986.
a. Giai đoạn 1979 - 1981 •
Hội nghị TW 6 (8-1979) là bước đột phá đầu tiên đổi mới kinh tế của Đảng với
chủ trương khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong
cải tạo XHCN, phá bỏ những rào cản đề cho “sản xuất bung ra” •
Chính phủ ra quyết định (10/1979) về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai
hoang, phục hóa được miễn thuế, trả thù lao và được sử dụng toàn bộ sản phẩm;
quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự do đưa
sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường. •
Nông nghiệp: Sản lượng lương thực bình quân từ 13.4 triệu tấn/năm thời kỳ
1976-1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kỳ 1981-1985; những hiện tượng tiêu
cực, lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm đi đáng kể do thực hiện Chỉ thị lOMoAR cPSD| 58562220
số 100 - CT/TW (1/1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong
các hợp tác xã nông nghiệp. •
Công nghiệp: sau khi ban hành Quyết định số 25-CP (1/1981) về quyền chủ động sản xuất
kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh và Quyết định số 26-
CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán,lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền
thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công
nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7.5%.
b. Giai đoạn 1984 - 1986
Về cơ cấu sản xuất: •
Tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn về cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư theo hướng
thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ,
việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ, chú
trọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quả nhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu
phát triển của nông nghiệp. •
Tập trung lực lượng, trước hết là vốn và vật tự, thực hiện cho ba chương trình quan
trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu. •
Về cải tạo XHCN: •
Phải biết lựa chọn bước đi và hình thức thích hợp trên quy mô cả nước cũng như
từng vùng, từng lĩnh vực, phải đi qua những bước trung gian, quá độ từ thấp lên
đến cao, từ quy mô nhỏ đến trung bình, rồi tiến lên quy mô lớn. •
Nhận thức đúng đắn đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là nền kinh
tế có cơ cấu nhiều thành phần, đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng
sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động, phải sử
dụng đúng đắn các thành phần kinh tế. •
Về cơ chế quản lý kinh tế: •
Đổi mới kế hoạch hóa theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo của các quy luật
kinh tế XHCN, đồng thời sử dụng đúng đắn các quy luật của quan hệ hàng hóa - tiền tệ. •
Làm cho các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh. •
Phân biệt chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý sản
xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế. 2. ĐH VI (12/1986)
- Một số bài học kinh nghiệm được đại hội VI tổng kết •
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy
dân làm gốc,” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Trong điều kiện đảng cầm quyền, phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa
Đảng và nhân dân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc
phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh
đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương, chính
sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân
lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan
liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy
yếu sức mạnh của Đảng. lOMoAR cPSD| 58562220 •
Hai là, Đảng phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành vi theo quy luật
khách quan. Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng
ta trước hết phải biến hóa nhận thức, thay đổi tư duy. Phải nhận thức đúng đắn
và hành vi tương thích với mạng lưới hệ thống quy luật khách quan, trong đó
những quy luật đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối can đảm và
mạnh mẽ phương hướng tăng trưởng chung của xã hội . •
Ba là, phải biết phối hợp sức mạnh của dân tộc bản địa với sức mạnh của thời
đại trong điều kiện kèm theo mới. Trong hàng loạt sự nghiệp cách mạng của
mình, tất cả chúng ta phải đặc biệt quan trọng coi trọng phối hợp những yếu tố
dân tộc bản địa và quốc tế, những yếu tố truyền thống lịch sử và thời đại, sử
dụng tốt mọi năng lực lan rộng ra quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế tài chính
và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để Giao hàng công cuộc kiến thiết xây dựng
chủ nghĩa xã hội và luôn luôn làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế của mình
so với những nước bạn bè và bầu bạn. •
Bốn là, phải thiết kế xây dựng Đảng ngang tầm trách nhiệm chính trị của một
đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân thực thi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Để bảo vệ cho Đảng ta làm tròn thiên chức lịch sử vẻ vang vẻ vang đó, yếu tố
cấp bách là tăng cường sức chiến đấu và nâng cao năng lượng chỉ huy, năng
lượng tổ chức triển khai thực tiễn của Đảng .
- Nội dung đổi mới về kinh tế được nêu tại ĐH VI và ý nghĩa.
a. Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội 6 đề ra •
Một là, đổi mới cơ cấu ktế, thực hiện chính sách ktế nhiều thành phần. Bố trí
cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, thực hiện cho đc 3 chương trình mục
tiêu về lương thực thực phẩm hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. •
Hai là, đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính,
bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN.
Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý là xd cơ chế mới phù hợp với quy luật
khách quan và phù hợp với trình độ phát triển của nền ktế. Xác định 2 đặc trưng
quan trọng của cơ chế quản lý mới, đó là tính kế hoạch và sử dụng đúng qhệ
hàng hoá tiền tệ. Thực chất của cơ chế mới về quản lý ktế là cơ chế kế hoạch hoá
theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. •
Ba la, để thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về bộ máy nhà nước
Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính ktế với chức năng quản lý SXKD, kết
hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Nhà nước
thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể.
XD chiến lược kinh tế XH và cụ thể hoá chiến lược đó thành những kế hoạch phát triển ktế XH. •
Bốn là, về mở rộng và nâng cao hiệu quả ktế đối ngoại.
Công bố chính sách khuyến khích nc ngoài đầu tư vào nc ta dưới nhiều hình thức,
nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi lOMoAR cPSD| 58562220
đôi với việc công bố luật đầu tư cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện
thuận lợi cho người nc ngoài và việt kiều vào nc ta để hợp tác kinh doanh. •
Năm là, tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng. Để
tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng phải đổi mới về
nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới đội
ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác b. Ý nghĩa •
Đại hội đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để. Đó là sự
kết tinh trí tuệ của toàn Đảng toàn dân và cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm
cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. •
Đường lối đổi mới do Đại hội 6 đề ra thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, khả
năng tổng kết và tổ chức thực tiễn của Đảng mở ra thời kỳ mới of sự nghiệp CM
nc ta trên con đường đi lên CNXH. 3. ĐH VII (6/1991)
- Nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH được thông qua tại ĐH VII (1991)
Cưỡng lĩnh nêu ra 6 đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN mà nhân dân ra đang xây dựng
Do nhân dân lao động làm chủ “Do nhân dân lao động làm chủ.
Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và chế độ công hữu về các TLSX chủ yếu.
Có nền VH tiên tiến, đâm đà bản sắc dân tộc.̣
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng
theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân. 9 chưa thật sự phù hợp vì đh 7 nêu ra là phát triển mạnh KT tư nhân biến KT
tư nhân thành động lực phát triển KT. Tuy nhiên không bóc lột không phải tư nhân nên
khó tránh khỏi tình trạng bóc lột con ng)
Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới •
Điểm khác về 3, 4, 6 so với trc 1986 •
Khẳng định quá độ lên cnxh là một qtrinh nhiều chặng đường Cương lĩnh cũng nêu rõ quan điểm về 3qd Xây dựng hệ thống ctri
Xd nhà nươc xhcn của dân do dân vì dân
Xây dựng mặt trận tổ quốc Vn và các đoàn thể nhân dâng
- Nêu ra 5 bài học lớn:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn
kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58562220 4. ĐH VIII (6/1996)
- Các quan điểm CNH-HĐH được nêu tại ĐH VIII (6/1996)
Trong ĐH 8 năm 1996, lần đầu tiên Đảng nêu lên 6 quan điểm về CNH, HĐH trong
thời kỳ đổi mới gồm: •
1) Giữ vững độc lập, tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính và đi
đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. •
2) CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. •
3) Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. •
4) Khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH. Kết hợp CN truyền
thống và CN hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. •
5) Lấy hiệu quả kinh tế làm chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa
chọn dự án đầu tư và công nghệ. •
6) Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh. •
Xây dựng Đảng xứng tầm với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, là vấn đề có ý nghĩa
quyết định hàng đầu, quyết định tới việc đẩy mạnh CNH, HĐH. Đảng phải tiếp
tục đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, khắc phục biểu
hiện yếu kém. Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ •
Trong những kỳ đại hội sau này, những quan điểm trên được bổ sung và phát triển,
điều chỉnh cho phù hợp vs hoàn cảnh đất nước cũng như sự tác động của hoàn
cảnh khách quan, nhưng quan điểm 3 và qđ 4 vẫn được kế thừa và duy trì cho đến
kỳ đại hội gần nhất (ĐH 12). •
nguồn lực con người giữ vai trò quyết định và quan trọng nhất. •
- Vì con người là chủ thể của toàn bộ qtr CNH-HĐH: trong thực tiễn, ở VN, năm
1960 chúng ta chủ trương CNH hướng nội và thiên về CN nặng, chủ thể quyết
định mô hình, nội dung tiến hành là do con ng quyết định. •
- Ngoài ra, con người còn là khách thể tức là đối tượng mà CNH-HĐH hướng vào
để khai thác của quốc gia đó ở 2 khía cạnh: thể lực & trí lực. •
- Con người là đối tượng thụ hưởng duy nhất và toàn bộ kết quả của qtr CNH-
HĐH, chúng phục vụ cho con người.
Qđ 4 vẫn kế thừa, phát triển. Chúng ta vẫn luôn nhấn mạnh vai trò của KHCN
(phân tích vai trò: trong CN, tăng năng suất, mẫu mã phong phú đa dạng, hạ giá
thành, tăng kn cạnh tranh của sp; nói rộng ra, KHCN làm thay đổi toàn bộ k chỉ
trong CN mà còn ở các ngành nghề khác trong nền kt quốc dân nói chung, đưa
nền kt nông nghiệp lạc hậu trở thành nền kt công nghiệp hiện đại văn minh).
- CNH-HĐH diễn ra bao trùm trên tất cả mọi lĩnh vực của kt đời sống, từ quản lý
dịch vụ, kt xã hội cho đến (các mặt khác). Bản chất của CNH-HĐH là việc chuyển
từ sử dụng lđ thủ công là chính sang sử dụng lđ 1 cách phổ biến nhưng phải kết
hợp vs phương tiện, công nghệ tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất xã hội thặng dư cao. lOMoAR cPSD| 58562220
- Vì vậy NCH-HĐH đóng vai trò vô cùng quan trọng bla bla... KHCN và giáo dục
là động lực, then chốt của CNH-HĐH. ...
=> Cần đầu tư cho KHCN, có những chính sách để kích thích, phát triển mạnh
KHCN: Hiện tại đầu tư cho KHCN còn nhiều hạn chế và bất cập nhưng đã có
những thành tựu đáng ghi nhận: xd những khu CN- công nghệ cao, những phòng
thí nghiệm lớn vs thiết bị hiện đại, các trường nghiên cứu KHKT và thực hành...
(nội sinh->cần vốn...bất cập)........
- Quan điểm đổi mới về văn hóa của ĐH VIII và HN TƯ 5 khóa VIII (1998)
Nền văn hóa tiên tiến o Là nền văn hóa thể hiện tinh thần yêu nước, tiến bộ,
nền tảng là CN Mác Lênin, TTHCM, hướng tới con người và giải phóng
con người 🡪 hoàn toàn phù hợp Có tinh thần dân chủ Tính nhân văn
Tiên tiến ko chỉ ở ND mà còn ở hình thức truyền tải nội dung đó (Đầu tư CSVC)
Thể hiện ở tư tưởng, thành tựu GD&ĐT, trình độ KHCN •
Đậm đà bản sắc VH dân tộc •
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn
kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng
nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng
tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tinh giản dị trong lối sống… •
Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện
mang tính dân tộc độc đáo. Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với
mở rộng giao lưu qte, giao lưu VH nhưng ko để VH nước ngoài làm
lu mờ VH Việt Nam tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong VH các dtoc khác. •
Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong
phong tục, tập quán, lề thói cũ. •
Đặt ra những thử thách thì có những gp gì ? (VD: Ngày càng nhiều
văn hóa du nhập vào VN, vừa có những VH tiến bộ, hiện đại nhưng
cũng có những văn hóa đồi trụy, đi ngược thuần phong mỹ tục => Cần
tỉnh táo để không để những VH ấy tràn lan rộng rãi, ảnh hưởng đến
nhận thức người VN đặc biệt là lứa trẻ…) 5. ĐH IX (6/2001)
- Nội dung tiếp tục đổi mới về kinh tế và đổi mới về đối ngoại và ý nghĩa Nội dung ĐH IX
Tiếp tục đổi mới về kinh tế:
+ Chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong TKQĐ lên CNXH. Đây là điểm
rất mới so vơi strc đây vì lần đầu tiên trong một văn kiện Đảng xác định rõ mô hình
KT tổng quát mà ta theo đuổi: KTTT ĐHXHCN => Tư duy và nhận thức mới của Đảng.
+ KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế HH nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; có nhiều hình
thức SH, nhiều thành phần KT, nhiều hình thức phân phối, chủ yếu phân phối theo lOMoAR cPSD| 58562220
kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và
các nguồn lực khác vào SX, KD và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. - Về đối ngoại:
+ Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động HNKTQT. ĐH 8 chỉ nhắc đến việc đẩy mạnh
HNKTQT còn đh 9 nêu lên sự chủ động, yêu cầu tích cực tham gia đàm phán với các
tổ chức quốc tế mà ta muốn gia nhập (WTO), chủ động điều chỉnh luật pháp chính
sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
+ Thực hiện nhất quán đường lối ĐN độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các QHQT. => Tận dụng nguồn lực
+ Phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. (đtac chiến lc, toàn diện, chiến lược toàn diện)
+ Chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Ý nghĩa 6. ĐH XI (2011)
- Cương lĩnh bổ sung và phát triển được thông qua tại ĐH XI (2011).
Thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)
với 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp; có nền VN tiên tiến, đậm
đà BSDT; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân
tộc trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước
pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐCS lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với các nước trên thế giới.
Nội dung ĐH XI a. Về kinh tế
- Duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát
triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo
- Đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.
- Phát triển bền vững các vùng và địa phương. Tập trung ưu tiên phát triển trước các
vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng bứt phá và dẫn dắt sự phát triển
- Nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các
chính sách tài chính, tiền tệ. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều
rộng sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở khai thác, sử
dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và các thành tựu khoa học và công nghệ tiên
tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng
hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng.
- Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững. Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất
sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu,
năng lượng, nước, đồng thời giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô
nhiễm, bảo vệ chất lượng môi trường, sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững b. Về xã hội
- Đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững; tạo việc làm bền vững;
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. lOMoAR cPSD| 58562220
- Ổn định quy mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số.
- Phát triển văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam.
- Phát triển bền vững các đô thị, xây dựng nông thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng.
- Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề
nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước, vùng và địa phương
- Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức
khỏe; bảo đảm an toàn thực phẩm; cải thiện điều kiện và vệ sinh môi trường lao động.
- Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
c. Về tài nguyên và môi trường
- Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất
- Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước
- Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản - Bảo vệ
môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển - Bảo vệ và phát triển rừng
- Giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp
- Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại
- Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học
- Giảm thiểu tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai Chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020
Ba đột phá chiến lược: Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, trọng tâm là tạo lập môi trường
cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực CLC; Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại. Định hướng
phát triển KT- XH: Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; thực hiện tốt chức năng của
NN, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa NN với TT; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
lãng phí; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.
Từ chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
(thể hiện trong Cương lĩnh Đại hội XI - 2011), theo anh/chị, Việt Nam cần có các giải pháp gì
để bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc trong bối cảnh hội nhập?
Thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn, quán triệt sâu sắc hơn đường lối về “xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trở thành “nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực
phát triển bền vững đất nước”; về mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng văn hóa với xây dựng con
người, phát triển “văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển
văn hóa”. Trên cơ sở đường lối chung của Đảng, tiếp tục nghiên cứu, làm rõ nội dung phát triển văn
hóa, cơ chế vận hành các mối quan hệ giữa văn hóa với con người và các lĩnh vực khác trong xã hội,
phương pháp ứng dụng, giải quyết trong thực tế các nhiệm vụ phát triển văn hóa và con người.
Thứ hai, chú trọng nhiều hơn, thiết thực hơn việc tổ chức thực hiện đường lối của Đảng về xây dựng
văn hóa, phát triển con người Việt Nam. Trong tổ chức thực hiện, phải tiến hành đồng bộ các khâu,
từ cụ thể hóa đường lối, xây dựng các chính sách, xây dựng và hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy,
đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, phương thức quản lý của các cơ quan nhà nước, cho
đến việc bảo đảm nguồn lực con người, đầu tư tài chính, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, các điều kiện
liên quan. Ví dụ, để thực hiện được việc “đặt văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, lOMoAR cPSD| 58562220
an ninh, đối ngoại”, vấn đề không chỉ là hiểu rõ quan điểm, đầu tư tài chính là đủ, mà trước hết phải
có thể chế rõ ràng, đầy đủ, có quyết tâm chính trị, có các biện pháp cụ thể... Muốn xây dựng một khu
công nghiệp, thực hiện một dự án phát triển kinh tế, phải quy định ràng buộc việc giải quyết được
các yêu cầu về văn hóa, con người, như nhà ở, trường học, nhà trẻ, dịch vụ y tế, khu vui chơi, giải
trí... Muốn quản lý tốt thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng mới, không thể không
quy định rõ các điều kiện phát thông tin, quyền và trách nhiệm người phát tin... Thứ ba, xây dựng và
thực hiện chiến lược phát triển toàn diện về văn hóa trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển
của đất nước, phù hợp với các điều kiện cụ thể của thời kỳ mới, đặc biệt là sự phát triển vũ bão của
mạng in-tơ-nét và các mạng truyền thông xã hội. Sớm nghiên cứu, xác định hệ thống giá trị văn hóa
và con người Việt Nam làm cơ sở, chỗ dựa cho việc xây dựng các chuẩn mực văn hóa trong chính trị,
trong kinh tế, trong các cộng đồng dân cư... Có chính sách phát triển toàn diện các trụ cột văn hóa,
như xây dựng đời sống văn hóa mới; thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, văn học, nghệ thuật; xây dựng
môi trường văn hóa tích cực; phát triển công nghiệp văn hóa; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống; phát triển thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao.
Thứ tư, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, có
nhân cách, lối sống tốt đẹp, có kỹ năng lao động sáng tạo và khát vọng phát triển vươn lên mạnh mẽ.
Tăng cường thực hành dân chủ, bảo vệ quyền con người, lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời
với nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ với đất nước, giữ nghiêm trật tự, kỷ cương xã hội. Phát
triển đồng bộ các yếu tố, điều kiện bảo đảm cho con người có điều kiện phát triển toàn diện, được
hưởng thụ các phúc lợi, dịch vụ ngày càng tốt hơn, như gia đình, hệ thống giáo dục, hệ thống y tế,
các công trình phúc lợi về văn hóa, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí...
Thứ năm, phát triển nền công nghiệp văn hóa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và tính chất văn
hóa Việt Nam, cùng với việc xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh. Thúc đẩy các hoạt động giao
lưu nhân dân, hợp tác văn hóa quốc tế với tinh thần chủ động hội nhập quốc tế và tiếp thu có chọn
lọc các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, truyền bá rộng rãi các giá trị văn hóa tốt đẹp của Việt Nam ra thế giới.
Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước đang bước vào một thời kỳ mới, đó là sự phát triển mạnh
mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự vận động hết sức mau lẹ của các tiến trình kinh
tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, sự biến động nhanh chóng trong các mối quan hệ, kết nối khu vực
và toàn cầu... Tình hình đó đặt ra những yêu cầu cao về bản lĩnh chính trị, khát vọng phát triển, đổi
mới sáng tạo. Trong điều kiện ấy, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát
triển con người toàn diện, càng có ý nghĩa to lớn, quan trọng. Bởi, đó chính là tăng cường nền tảng
tinh thần, sức mạnh nội sinh, bệ đỡ bền vững nhất cho sự phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh hội nhập, việc gìn giữ các giá trị văn hóa không phải là bảo quản nó trong tủ kính; mà
cần gắn với việc phát huy để làm tỏa sáng các giá trị ấy trong đời sống. Theo đó, du lịch được xem là
một giải pháp nhằm mở hướng cho việc khai thác và phát huy giá trị nguồn tài nguyên nhân văn.
Đồng thời, du lịch không chỉ là ngành kinh tế dịch vụ xuất khẩu tại chỗ có giá trị cao và thu hút nhiều
lao động; mà còn giúp những giá trị văn hóa của dân tộc được thấm sâu, được lan tỏa trong nước và
quốc tế. Về với xứ Thanh, nơi núi biếc như bia đá đã ghi tạc nhiều cái tên như Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê
Lợi... cùng biết bao anh hùng, nhân sĩ mà sự nghiệp lẫy lừng của họ đã viết lên những trang sử chói
ngời trong lịch sử dân tộc. Về với xứ Thanh, nơi nước biếc mây trời tô điểm vô vàn cảnh sắc tươi
đẹp, để có những trải nghiệm đáng nhớ và để có những giây phút bình yên. Đồng thời, để thêm khát
vọng giàu đẹp cho quê hương xứ sở và cũng là để nền văn hiến Việt Nam mãi lấp lánh trong dòng
chảy văn minh nhân loại. lOMoAR cPSD| 58562220
Mở cửa, hội nhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa, văn minh của
nhân loại, đồng thời phải bảo vệ, bảo toàn các giá trị tốt đẹp, cao quý, bản sắc dân tộc của nền văn
hóa Việt Nam. Ở đây, trong văn hóa dân tộc thể hiện phép biện chứng giữa sức mạnh nội sinh và năng
lực tiếp nhận, đón nhận, hay nói cách khác, phụ thuộc vào chính bản lĩnh, sức mạnh của dân tộc ta
trong tiến trình hội nhập và giao lưu quốc tế. "Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao
lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác".
Cần phải tiếp tục khẳng định đây là nguyên tắc, đồng thời là bản lĩnh của dân tộc ta trong quá trình
thực hiện giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế. Ở đây, hội nhập và giao lưu để vừa bảo vệ, làm bền
vững hơn các bản sắc văn hóa, vừa làm phong phú hơn, giàu có hơn, hiện đại hơn bản sắc đó và toàn
bộ nền văn hóa của chúng ta.
Để có thể tiếp thu những thành tựu, tinh hoa, các giá trị văn hóa của bên ngoài mà vẫn giữ được chủ
quyền và bản sắc văn hóa dân tộc, làm đậm đà hơn cốt cách, tâm hồn dân tộc trong quá trình, giao
lưu, tiếp nhận, kinh nghiệm lịch sử lâu dài của dân tộc Việt Nam đã chỉ ra rằng, các yếu tố nội sinh
về văn hóa của chúng ta phải giữ vai trò quyết định. Nội lực của chúng ta càng mạnh, chúng ta càng
có nhiều cơ hội và khả năng để tiếp nhận, chọn lọc và hợp tác, có nghĩa là nội lực đó sẽ chỉ phối các
quan hệ với các yếu tố ngoại sinh, quyết định chọn lọc và tiếp nhận các yếu tố đó, đồng thời có đủ
trình độ, bản lĩnh để "đồng hoá" các yếu tố đến từ bên ngoài trở thành nhân tố của chính nền văn hóa
dân tộc, thành chất xúc tác cho sự phát triển hiện đại hơn nền văn hóa đó. 7. ĐH XII (2016)
- Một số bài học KN được ĐH XII tổng kết qua 30 năm dổi mới.
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ
nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý
nghĩa sống còn. Quá trình đổi mới, bên cạnh những cơ hội, luôn xuất hiện những vấn đề
mới, những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân phải chủ
động, không ngừng sáng tạo.
Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa
xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Xây dựng đất
nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh ngày nay là một sự nghiệp vô
cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật để có một
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự nghiệp cách
mạng đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải kiên định, kiên trì mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đổi mới không phải là xa rời Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là
nhận thức đúng, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo học thuyết, tư tưởng đó,
lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, làm cơ sở
phương pháp luận quan trọng nhất để phân tích tình hình, hoạch định và hoàn thiện