lOMoARcPSD| 58702377
I. NGUỒN GỐC VÀ KHÁI NIỆM CỦA TRIẾT HỌC 1. Nguồn gốc của triết học
Trit hc ra đi vào khong t th k VIII đn th k VI tr.CN với những thành tựu rực rỡ trong
các nền trit hc cổ đại Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp.
a. Nguồn gốc nhận thức
Về mặt lịch sử, trit lý đầu tiên của con ngưi là tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy
mang tính ri rạc, hồ, phi logic... dùng để gii thích th giới. Đỉnh cao những câu chuyện
thần thoạinhững tôn giáo sơ khai: Tô tem giáo, Bái vật giáo, Saman giáo.
Trit hc là hình thức tư duy lý luận đầu tiên có thể thay th, suy gim và thu hẹp phạm vi của
các tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thủy.
Trit hc chỉ xuất hiện khi duy của con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa trừu
tượng hóa, khả năng rút ra cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện ợng riêng lẻ. b.
Nguồn gốc xã hội
Trit hc ra đi khi nền sn xuất xã hội đã sự phát triển, lực lượng sn xuất phát triển, công cụ
lao động được ci tin dẫn đn có sự phân công lao động và xã hội phân chia thành giai cấp, tầng
lớp khác nhau.
Lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay, trí thức xuất hiện với tính cách là một tầng lớp
xã hội, có vị th xã hội xác định. Tầng lớp này có điều kiện và nhu cầu nghiên cứu, có năng lực hệ
thống hóa các quan niệm, quan điểm thành hc thuyt, lý luận.
Như vậy, trit hc chỉ ra đi khi xã hội loài ngưi đã đạt đn một trình độ tương đối cao về sản
xuất xã hội, phân công lao động hội hình thành, của cải tương đối thừa dư, tư hữu hóa tư liệu
sản xuất được luật định, giai cấp phân hóa rõ và mạnh, nhà nước ra đời.
2. Khái niệm triết học
C phương Đông phương Tây trit hc đã hoạt động tinh thần bậc cao, hình thức nhận
thức có trình tru tượng hóa và khí quát hóa rất cao.
nhiều định nghĩa về trit hc, nhưng các định nghĩa thương bao hàm những nội dung chủ
yu sau:
- Trit hc là một hình thái xã hội ý chí.
- Khách thể khám phá của trit hc là th giới (gồm c th giới bên trong bên ngoài con
ngưi trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó.
- Trit hc gii thích tất c mi sự vật, hiện tượng, qtrình và quan hệ của th giới, với mục
đích tìm ra những quy luật phổ bin nhất chi phối, quy định và quyt định sự vận động của th giới,
của con ngưi và của tư duy.
- Với cách loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa hc sự khác biệt với tôn
giáo, tri thức trit hc mang tính hệ thống, logic và tru tượng về th giới, bao gồm những nguyên
tắc cơ bn, những đặc trưng bn chất và những quan điểm nền tng về mi tồn tại.
- Trit hc là hạt nhân của th giới quan.
Tóm lại với những nội dung đã nêu trên, trit hc Mác – Lênin ra đi và định nghĩa về triết
lOMoARcPSD| 58702377
học là hệ thống quan điểm luận chung nhất về thế giới vị trí con người trong thế giới đó,
khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
3. Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan
Th giới quan thể định nghĩa rằng: “Thế giới quan khái niệm chỉ hệ thống các tri thức,
quan điểm, tình cảm, niềm tin, tưởng xác định về thế giới về vị trí của con người (bao gồm
cả cá nhân, hội và nhân loại) trong thế giới đó. Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ,
giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động nhận thức của con người”.
Nói trit hc là hạt nhân lý luận của th giới quan bởi:
- Thứ nhất, bn thân trit hc chính là th giới quan.
- Thứ hai, trong các th giới quan trit hc bao gi cũng là thành phần quan trng, đóng vai
trò là nhân tố cốt lõi.
- Thứ ba, trong nhiều loại th giới quan thì trit hc bao gi cũng có nh hưởng và chi phối,
dù không thể tự giác.
- Thứ tư, th giới quan trit hc sẽ quy định các th giới quan và quan niệm khác như th.
Th giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của các loại th giới quan đã tng trong lịch
sử đòi hỏi th giới phi được xem xét dựa trên những nguyên về mối liên hệ phổ bin
nguyên lý về sự phát triển. Th giới quan duy vật biện chứng bao gồm tri thức khoa hc, niềm tin
và lý tưởng cách mạng.
Th giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trng trong cuộc sống bởi:
- Thứ nhất, những vấn đề được trit hc đặt ra và tìm gii đáp là những vấn đề của th giới
quan.
- Thứ hai, th giới quan là đúng đắn là tiền đề quan trng để xác lập phương thức tư duy hợp
lý và nhân sinh quan tích cực trong khám phá và chinh phục th giới.
Trình độ phát triển của th giới quan tiêu chí đánh giá sự phát triển của mỗi nhân cũng
như mỗi cộng đồng xã hội nhất định.
Với cách hạt nhân lý luận, trit hc chi phối mi th giới quan, ngưi ta chú ý
tha nhận điều đó hay không.
II. VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VÀ BIỆN CHỨNG, SIÊU HÌNH 1. Những vấn
đề cơ bản của triết học
Trong trit hc, trước khi gii quyt vấn đề cụ thể của mình, nó bộc phi gii quyt một vấn đề
ý nghĩa nền tng và là điểm xuất phát để gii quyt các vấn đề còn lại đó chính vấn đề v
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời cho hai câu hỏi lớn:
- Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nàotrước, cái nào có sau, cái nào quyt định
cái nào?
- Mặt thứ hai: Con ngưi có kh năng nhận thức được th giới hay không?
2. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy vật
lOMoARcPSD| 58702377
Ý thức, tinh thần, ý niệm, cm giác là cái có
trước giới tự nhiên.
Vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyt
định ý thức của con ngưi.
Tha nhận tính thứ nhất của ý thức; ý thức là
cái có trước và sn sinh ra giới tự nhiên
Tha nhận tính thứ nhất của vật chất; vật chất
là cái có trước và quyt định ý thức.
Gii thích mi sự vận động của th giới đều t
nguyên nhân tinh thần, sự sáng tạo của th lực
siêu nhiên nào đó.
Gii thích mi sự vận động của th giới đều
đn t nguyên nhân vật chất.
Nhận thức phin diện, tuyệt đối hóa; gắn liền
với lợi ích của giai cấp thống trị. Là nền tng,
lý luận của quan điểm – lý tưởng của giai cấp
thống trị và các hc thuyt tôn giáo.
Nguồn gốc nhận thức dựa trên căn cứ khoa
hc, thực tiễn. Gắn liền với lợi ích của lực
lượng tin bộ.
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: phủ nhận
ý sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ
nghĩa duy tâm chủ qua khẳng định mi sự vật,
hiện tượng chỉ là phức hợp của cm giác.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: coi thứ
tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập
với con ngưi. Thực thể tinh thần khách quan
này được gi như ý niệm, tinh thần tuyệt đối,
lý tính th giới…
- Chủ nghĩa duy vật chất phác: tuy mang
nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác; đồng
nhất vật chất với một số chất cụ thể nhưng lấy
giới tự nhiên để gii thích sự vận động của th
giới. - Chủ nghĩa duy vật siêu hình: chịu sự tác
động của phương pháp tư duy siêu hình, cơ
giới – phương pháp nhìn th giới như một cỗ
máy lớn, mỗi bộ phận lại tồn tại biệt lập.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng: khắc
phục được các hạn ch của các chủ nghĩa duy
vật trước đó; phn ánh hiện thức đúng như
chính bn thân nó.
3. Biện chứng và siêu hình
Phương pháp siêu hình
Phương pháp biện chứng
Nhận thức sự vật ở trạng thái cô lập, tách ri,
không vận động, phát triển.
Xem xét sự vật trong mối liên hệ, sự vận động
và bin đổi không ngng.
Hợp lý trong khoa hc cơ hc cổ điển. Song
chỉ tác dụng trong phạm vi nhất định bởi hiện
thực hách quan, không ri rạc.
Quá trình vận động thay đôi c lượng và chất
của các sự vật, hiện tượng. Nguồn gốc của sự
vận động, thay đổi đó là sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập trong nội tại sự vật, hiện tượng.
Chỉ nhìn thấy sự vật riêng biệt mà không thấy
được mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy.
Thấy được sự tồn tại, phát triển, suy vong.
Chỉ thấy được sự tồn tại mà không thấy được
sự phát sinh và tiêu vong.
Nhìn thấy được c trạng thái tính, trạng thái
động của sự vật.
Chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của sự vất mà
Va thấy được cái riêng biệt, va thấy được sự
lOMoARcPSD| 58702377
quên mất sự vận động của chúng.
tác động qua lại.
III. NGUỒN GỐC RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC 1. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời
triết học Mác
a. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự củng cố và phát triển của phương thức sn xuất tư bn chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng
công nghiệp.
+) Trit hc Mác ra đi vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sn xuất do tác động của cuộc cách mạng ng nghiệp, làm cho phương thức sản xuất bản
chủ nghĩa được củng cố vững chắc.
+) Sự phát triển của chủ nghĩa tư bn làm cho những mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và
bộc lộ ngày càng rệt, những xung đột giữa vô sn tư sn đã trở thành những cuộc đấu tranh
giai cấp.
Sự xuất hiện của giai cấp vô sn trên vũ đài lịch sử với tính chất là một lực lượng chính trị, xã
hội độc lập đã trở thành nhân tố quan trng cho sự ra đi trit hc Mác.
+) Giai cấp sn cũng đã đi theo giai cấp tư sn trong cuộc đấu tranh lật đổ ch độ phong
kin.
+) Khi ch độ bn chủ nghĩa được xác lập, giai cấp sn trở thành giai cấp thống trị
hội và giai cấp vô sn là giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sn với tư sn vốn mang tính chất đối
kháng càng phát triển, trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
Tiêu biểu như: cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831; phong trào Hin chương
Anh vào cuối những năm 30 th k XIX, “phong trào cách mạng sn to lớn đầu tiên, thật
sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”; cuộc đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi (Đức).
+) Giai cấp vô sn xuất hiện trên vũ đài lịch sử là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh
cho nền dân chủ và tin bộ xã hội.
Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác
+) Thực tiễn xã hội nói chung và thực tiễn cách mạng vô sn, đòi hỏi phải được soi sáng bởi
lý luận nói chung và triết học nói riêng.
+) Sự xuất hiện giai cấp vô sản đã tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tin bộ và cách
mạng mới.
+) Thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt để nhất trong lịch sử
b. Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên
* Nguồn gốc lý luận
C.Mác và Ph.Ăngghen đã k tha những thành tựu trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Trong
đó trực tip là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp.
Triết học cổ điển Đức: Những “hạt nhân hợp lý” trong trit hc của hai nhà trit hc tiêu biểu
lOMoARcPSD| 58702377
Hegel và Feuerbach, là nguồn gốc lý luận trực tip của trit hc Mác. C.Mác và Ph.Ăngghen đã
phê phán và gạt bỏ chủ nghĩa duy tâm, đánh giá cao và tiếp thu tư tưởng biện chứng của triết học
Hegel để xây dựng thành công phép biện chứng duy vật; C.Mác Ph.Ăngghen phê phán những
hạn chế về phương pháp siêu hình, quan điểm duy tâm về hội, song đánh giá cao vai trò
tưởng duy vật của Feuerbach khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, không phụ thuộc vào ý thức
của con ngưi.
Kinh tế chính trị cổ điển Anh: K tha ci tạo kinh t chính trị hc với những đại biểu xuất
sắc là A. Smith và Đ.Ricacđô không những làm nguồn gốc để xây dựng hc thuyt kinh t là nhân
tố không thể thiu được trong sự hình thành phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của triết
học Mác.
Chủ nghĩa hội không tưởng Pháp: Đây là nguồn gốc luận trực tip của hc thuyt Mác về
chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa xã hội khoa hc. Với những đại biểu nổi ting như Saint Simon (Xanh
Ximông) Charles Fourier (Sáclơ Phuriê). Tinh thần nhân đạo những quan điểm đúng đắn của
các nhà CNXH không ởng về đặc trưng của hội tương lai đã trở thành một trong những tiền
đề lý luận trực tip cho sự ra đi của luận khoa hc về CNXH và tiền đề quan trng cho chủ
nghĩa duy vật lịch sử trong trit hc Mác.
* Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong những thập k đầu th k XIX, khoa hc tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh
quan trng. Ph.Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành trit hc duy
vật biện chứng gồm có: Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào thuyết tiến
hóa. Đây là những thành tựu khoa hc đã bác bỏ tư duy siêu hình trong nhận thức th giới và quan
điểm thần hc; khẳng định tính đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về th giới vật chất
cùng, vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyển hoá; khẳng định tính khoa hc của quan điểm duy
vật biện chứng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Trit hc Mác
Tiền đề khoa h
c tự nhiên
Điều kiện KTXH Tây Âu
giữa th
k
XIX
Nguồn gốc lý luận
GCVS
bước
lên vũ
đài
chính
trị
Nhu cầu
lý luận
của thực
tiễn CM
Củng
cố và
phát
triển
PTSX
TBCN
H
thuy
t
ti
n hóa
của
ĐácUyn
H
thuy
t
về t
bào
Định
luật b
o
toàn và
chuyển
hóa
năng
lượng
Tri
t
h
c
cổ
điển
Đức
Kinh
t
chính
trị cổ
điển
Anh
CNXH
Không
tưởng
Pháp
lOMoARcPSD| 58702377
Sơ đồ: Điều kiện ra đời triết học Mác
c. Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học Mác
Biểu hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, C.Mác Ph.Ăngghen những thiên tài kiệt xuất sự kt hợp nhuần nhuyễn
sâu sắc những phẩm chất tinh tuý và uyên bác nhất của nhà bác hc và nhà cách mạng.
Thứ hai, C.Mác Ph.Ăngghen đều sớm tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho cuộc đấu
tranh vì hạnh phúc của nhân loại.
Thứ ba, C.Mác Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển lập trường từ dân chủ cách mạng
và nhân đạo chủ nghĩa sang lập trường giai cấp công nhân và nhân đạo cộng sản. X
Thứ tư, C. Mác Ph. Ăngghen hai người cùng tưởng, người bạn nhất mực chung thủy,
người đồng chí trợ lực gắn bó mật thiết trong sự nghiệp chung sự nghiệp đấu tranh gii phóng con
ngưi, gii phóng giai cấp và gii phóng nhân loại.
IV. CHỨC NĂNG CỦA TRIẾT HỌC 1. Chức năng thế giới quan
Trit hc Mác - Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng
sản.
- Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng
+) Định hướng cho con người nhận thức đúng đắn th giới hiện thực.
+) Giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mi hoạt động. T đó giúp
con ngưi xác định thái độ và c cách thức hoạt động của mình.
+) Nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con ngưi. Th giới quan đúng đắn chính tiền đề
để xác lập nhân sinh quan tích cực.
+) Là cơ sở khoa hc để đấu tranh với các loại th giới quan duy tâm, th giới quan tôn giáo,
phn khoa hc.
2. Chức năng phương pháp luận
Trit hc Mác - Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất cho
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng
+) phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học trang bị cho con ngưi hệ thống
những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
+) Trit hc Mác - Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật
làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con ngưi phát triển tư duy khoa hc, đó là tư duy ở cấp độ
phạm trù, quy luật.
+) Tuy nhiên, trong hoạt động nhận thức hoạt động thực tiễn không được xem thường hoặc
tuyệt đối hoá phương pháp luận triết học.
V. VẬT CHẤT - Ý THỨC 1. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đã đưa ra
định nghĩa về vật chất như sau:
lOMoARcPSD| 58702377
“Vật chất một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác”.
a. Nội dung cơ bản của định nghĩa
Thứ nhất, vật chất thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không lệ
thuộc vào ý thức.
Nói đn vật chất nói đn tất c những đã và đang hiện hữu thực sự, tồn tại bên ngoài ý thức
của con ngưi.
Mi sự vật, hiện tượng dù tồn tại trong tự nhiên hay hội đều những đối tượng khách quan,
tồn tại độc lập với ý thức của con ngưi. hội loài ngưi cũng một dạng tồn tại đặc biệt của
vật chất.
Thứ hai, vật chất cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người
cảm giác.
Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức và biểu hiện các đặc tính của chúng dưới dạng các
“thực thể”.Các “thực thể” này khi trực tip hoặc gián tip tác động vào các giác quan sẽ đem lại
cho con ngưi những cm giác.
Không phi mi sự vật, hiện tượng, quá trình trong th giới khi tác động lên giác quan của con
ngưi đều được giác quan con ngưi nhận bit. Tuy nhiên nu các sự vật, hiện tượng tồn tại khách
quan, không phụ thuộc vào ý thức con ngưi thì nó vẫn thuộc về th giới vật chất.
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
Các hiện tượng tinh thần (cm giác, tư duy, ý thức...) luôn luôn có nguồn gốc t các hiện tượng
vật chất những có được trong c hiện tượng tinh thần chẳng qua cũng chỉ chép lại, chụp
lại, là bn sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan.
Trong th giới vật chất không không thể bit, chỉ những cái đã bit những cái
chưa bit. Cùng với sự phát triển khoa hc, các giác quan của con ngưi ngày càng được “nối dài”,
giới hạn nhận thức của các thi đại bị vượt qua chứ không phi vật chất bị mất đi như chủ nghĩa
duy tâm quan niệm.
b. Ý nghĩa phương pháp luận quan niệm vật chất của triết học Mác - Lênin
Gii quyt triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bn của trit hc trên lập trưng của chủ nghĩa duy
vật biện chứng.
Cung cấp nguyên tắc th giới quan và phương pháp luận khoa hc để đấu tranh chống lại chủ
nghĩa duy tâm, thuyt không thể bit, chủ nghĩa duy vật siêu hình...
Trong nhận thức thực tiễn, đòi hỏi con ngưi phi quán triệt nguyên tắc khách quan xuất
phát t hiện thực khách quan, tôn trng khách quan, nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật
khách quan...
sở khoa hc cho việc xác định vật chất trong nh vực hội đó là các điều kiện sinh
hoạt vật chất và các quan hệ vật chất xã hội...
lOMoARcPSD| 58702377
c. Phương thức tồn tại của vật chất
Phương thức tồn tại của vật chất là cách thức tồn tại và hình thức tồn tại của vật chất.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Vận động cách thức tồn tại, đồng thời là hình
thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là hình thưc tồn tại của vật chất”.
* Vận động
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất:
+) Là thuộc tính cố hữu của vật chất, tồn tại vĩnh viễn, không thể tạo ra và tiêu diệt. Mi dạng
tồn tại của vật chất đều vận động.
+) Vận động của vật chất là tự thân và mang tính phổ bin.
+) Vật chất chỉ có thể được nhận thức thông qua quá trình vận động của chúng.
- Những hình thức vận động cơ bản của vật chất:
+) Ph.Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức: cơ hc, vật lý, hóa hc, sinh hc, xã hội.
+) Phân chia các hình thức vận động giúp xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa hc.
+) Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách ri nhau. Cần thấy được
mỗi liên hệ giữa các hình thức vận động, va phân biệt được sự khác biệt giữa chúng.
- Vận động và đứng im:
+) Trạng thái đứng im trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối
quan hệ điều kiện cụ thể, hình thức tồn tại thực sự của vật chất điều kiện cho sự vận
động chuyển hóa của vật chất.
+) Đứng im chỉ nh tạm thi, chỉ xy ra trong một mối quan hệ, hình thức thi điểm
nào đó nhất định chứ không phi toàn bộ hình thức vận động.
+) Đứng im chỉ một trạng thái của vận động – vận động trong trạng thái thăng bằng, ổn định
tương đối; “chứng thực” cho hình thức tồn tại thực sự của vật chất, điều kiện cho sự vận động
chuyển hóa của vật chất.
+) Không có đứng im, vật chất không thể tồn tại và phát triển.
* Không gian và thời gian
Không gian hình thức tồn tại của vật chất xét theo mặt qung tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kt
cấu và sự tác động lẫn nhau.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài diễn bin, sự k tip của
các quá trình.
“Trong thế giới, không ngoài vật chất đang vận động vật chất đang vận động không
thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình tách ri không gian - thi gian ra thành hai khái
niệm riêng biệt, th nhưng khẳng định không gian – thi gian là một thể thống nhất; tách ri không
gian, thi gian với vận động vật chất, là cơ sở lý luận chống lại các quan niệm duy tâm.
d. Tính thống nhất về vật chất của thế giới
- Thứ nhất, tồn tại của th giới là tiền đề cho sự thống nhất của th giới.
- Thứ hai, th giới thống nhất ở tính vật chất, bn chất của th giới là vật chất.
lOMoARcPSD| 58702377
“Tính thống nhất thực sự của thế giới tính vật chất của nó, tính vật chất này được chứng
mình không phải bằng vài ba lời khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, bằng sự phát triển lâu i
và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”.
2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức theo chủ nghĩa duy vật biện chứng
C.Mác khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất
được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biên đi ở trong đó”. Dựa vào các thành
tựu khoa hc tự nhiên đã đúc rút ra được nguồn gốc và bn chất của ý thức. 2.1. Nguồn gốc của ý
thức
a. Nguồn gốc tự nhiên
* Bộ óc người:
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc ngưi, là chức năng của bộ
óc, là kt qu hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc.
Bộ óc ngưi có cấu trúc phức tạp và tinh vi, bao gồm khong 14 -15 t t bào thần kinh. Các t
bào này liên hệ với nhau và với các giác quan để thu nhận xử thông tin t th giới khách quan
tác động vào não bộ.
Mối quan hệ giữa bộ óc ngưi và th giới khách quan: Để hình thành ý thức phi có mối quan
hệ giữa bộ óc ngưi và th giới khách quan t đó tạo ra quá trình phản ánh.
Phản ánh thuộc nh phổ bin của mi vật chất, sự tái tạo những đặc điểm giữa hai hệ
thống vật chất trong sự tác động qua lại của chúng.
Các hình thức của phn ánh:
+) Phản ánh vật lý, phản ánh hóa học là hình thức phn ánh thấp nhất, đặc trưng cho th giới
tự nhiên vô sinh, mang tính thụ động, không có định hướng, lựa chn.
+) Phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh, biểu hiện tính kích thích tính
cm ứng.
+) Phản ánh tâm phn ánh của động vật hệ thần kinh trung ương được thực hiện thông
qua cơ ch phn xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trưng sống.
+) Phản ánh năng động sáng tạo hình thức phn ánh cao nhất, chỉ con ngưi được
thực hiện thông qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não ngưi khi th giới khách quan
tác động lên các giác quan của con ngưi. Sự phn ánh năng động sáng tạo này được gi là ý thức.
Như vậy, sự xuất hiện bộ óc ngưi năng lực phn ánh hiện thực khách quan cùng nguồn
gốc tự nhiên của ý thức.
b. Nguồn gốc hội
* Lao động:
- Là quá trình con ngưi tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sn phẩm phục vụ cho nhu
cầu tồn tại và phát triển của mình.
- Vai trò của lao động:
lOMoARcPSD| 58702377
+) Thứ nhất, nhờ có lao động con người tách ra khỏi giới động vật. Con vật chỉ bit sử dụng
những sn phẩm sẵn có trong giới tự nhiên, còn con ngưi thì nh lao động bắt giới tự nhiên phục
vụ mục đích của mình.
+) Thứ hai, nh có lao động con ngưi tác động vào th giới khách quan, bắt th giới bộc lộ
những thuộc tính, những kt cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất
định và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc con ngưi, hình thành dần những tri thức nói riêng
và ý thức nói chung.
+) Thứ ba, thông qua lao động con ngưi cũng làm bin đổi cấu trúc của cơ thể người.
* Ngôn ngữ:
- hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. xuất hiện trở thành “vỏ vật chất”
của tưduy; hiện thực trực tip của ý thức; phương thức để ý thức tồn tại với cách là sn
phẩm xã hội - lịch sử.
- Vai trò của ngôn ngữ:
+) Thứ nhất, ngôn ngữ va phương tiện giao tip, đồng thi va công cụ của duy
nhằm khái quát hóa, tru tượng hoá hiện thực.
+) Thứ hai, nh ngôn ngữ mà con ngưi có thể trao đổi, k tha những tri thức t th hệ này
sang th hệ khác.
+) Thứ ba, ý thức là một hiện tượng có tính xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi
hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Tóm lại, lao động ngôn ngữ hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc của
loài vượn người thành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người.
2.2. Bản chất của ý thức
“Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, quá trình phản ánh tích
cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người”.
Ý thức tồn tại phi cm tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nó phn ánh luôn tồn tại cm
tính. Ý thức cái vật chất bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc của con ngưi được ci
bin đi trong đó. Kt qu của sự phn ánh bị nh hưởng bởi nhiều yu tố: đối tượng phn ánh,
điều kiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ th phn ánh.
Ý thức đặc tính ch cực, sáng tạo sáng tạo đặc trưng bản chất của ý thức. Ý thức
không phi kt qu của sự phn ánh ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động th giới khách quan mà
kt qu của quá trình phn ánh tích cực, định hướng, mục đích rệt. Tính sáng tạo của ý
thức thể hiện ở chỗ ý thức có kh năng tạo ra tri thức mới về sự vật trên cơ sở những cái đã có,
thể dự báo tương lai, tạo ra những huyền thoại, gi thuyt... Ý thức gắn với hoạt động thực tiễn của
hội, thông qua các hoạt động thực tiễn con ngưi làm bin đổi th giới vật chất, làm mang
đậm tính con ngưi. Tích cực tìm hiểu, tích lũy sự hiểu bit về mi sự vật, hiện tượng nền tng
để con ngưi ci bin th giới hiện thực khách quan.
Phn ánh là quá trinh thống nhất của ba mặt:
lOMoARcPSD| 58702377
- Một, trao đổi thông tin giữa chủ th và đối tượng phn ánh. Đây là quá trình hai chiều
tính chn lc và định hướng.
- Hai, là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình nh tinh thần. Đây là quá trình
mã hóa lại các đối tượng vật chất thành ý tưởng tinh thần phi vật chất trong bộ óc.
- Ba, chuyển hóa hình t tư duy ra hiện thực khách quan. Tức quá trình bin các ý
tưởng thành các hoạt động thực tiễn tác động trở lại hiện thực.
Như vậy, phản ảnh sáng tạo là hai mặt bn chất cơ bn của ý thức. Ý thức là hình thức phn
ánh cao nhất riêng của óc ngưi về hiện thực khách quan dựa trên sở thực tiễn lịch sử -
hội.
2.3. Kết cấu của ý thức
* Các lớp cấu trúc của ý thức:
Muốn cái tạo sự vật, con ngưi phi hiểu bit sâu sắc về nó. Ý thức con ngưi còn thể
xuất hiện tri thức”. Nội dung phương thứ tồn tại bn của ý thức là tri thức. Ý thức không
bao hàm, không dựa vào tri thức thì chỉ là cái vỏ rỗng. Tuy nhiên, không thể đồng nhất ý thức với
sự hiểu bit, tri thức về svật. Tri thức nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên, xã
hội, con ngưi…; nhiều cấp độ khác nhau như: tri thức cm tính tri thức tính, tri tức
tiền khoa hc và tri thức khoa hc…
Tình cảm, dựa trên đặc trưng bn của ý thức sự ny sinh thái độ đối với đối tượng phn
ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người
với người quan hệ giữa người với thế giới khách quan. Tình cm là một trong những “động lực
quan trng trong hoạt động con ngưi; sự hòa trộn của tình cm với ý thức tạo nên sự bền vững
trong niềm tin thúc đẩy con ngưi tạo ra các hành vi xã hội trong th giới.
Để thể nhận thức, chủ thể cần phi một “ý chí” cao để vượt qua các khó khăn. Ý chí chính
những cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi con người vào hoạt động
để có thể vượt qua mọi trở ngại, đạt mục đích đề ra. Để nhận thức được vai trò, vị trí của các nhân
tố cấu thành ý thức và mối quan hệ giữa chúng cần con ngưi luôn hc tập, rèn luyện, bồi dưỡng
nâng cao tri thức, tình cm, niềm tin trong nhận thức và ci tạo th giới.
* Các cấp độ của ý thức:
“Tự ý thức” ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế
giới bên ngoài. Trong quá trình nhận thức, con ngưi có thể tự phân biệt, đối lập mình với th giới
thông qua các mối quan hệ, qua đó con ngưi tự ý thức nh thực thtư duy độc lập, tự đánh
giá năng lực và hiểu bit của bn thân với th giới và điều chỉnh hành vi của bn thân tác động tới
th giới quan. Tự ý thức không chỉ nhân còn các nhóm xã hội khác nhau, nhằm khẳng
định cái tôi thuần túy, trừu tượng trống rỗng.
Tiềm thức những hoạt động tâm diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý thức. Thực chất,
tiềm thức là những tri thức đã trở thành bn năng, kỹ năng nằm sâu trong tầng ý thức của chủ thể,
là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Tiền thức gắn chặt chẽ với duy chính xác, được lặp lại nhiều
lOMoARcPSD| 58702377
lần giúp gim ti đầu óc khi thực hiện các hoạt động lặp lại vẫn đm bo độ chính xác cao
chặt chẽ cần thit của tư duy khoa hc.
Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phai do lý trí điều khiển, nằm ngoài phạm vi của lý
trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó. Chúng điều khiển hành vi chủ thể thông
qua bn năng, thói quen… thông qua phn xạ không điều kiện. Trong đi sống hội, những
hành vi do bn năng thực hiện thông qua sự lặp đi lặp lại các hành vi đó đn mức hình thành thói
quen và khin chúng được thực hiện một cách tự động ngay c khi không có sự điều khiển của
trí. Ngoài ra, vô thức biểu hiện ra thành nhiều hiện tượng khác nhau như ham muốn, giấc mơ, nói
nhịu… tất c chúng đều giúp gim đi sự quá tại cho bộ óc; thức là trạng thái tâm lý ý thức
tầng sâu, có vai trò to lớn trong đi sống, hoạt động của con ngưi.
* Trí tuệ nhân tạo (đọc thêm)
3. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan điểm trit hc Mác - Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó
vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
* Vật chất quyết định ý thức:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
+) Con ngưi do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức - một thuộc tính
của bộ óc con ngưi - cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra.
+) Vật chất i trước, còn ý thức cái sau; vật chất tính thứ nhất, còn ý thức
tính thứ hai. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức.
+) Bộ óc người một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, cơ quan phn ánh để hình thành
ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phn ánh hiện
thực khách quan.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.
+) Ý thức trong nội dung của chẳng qua kt qu của sự phn ánh hiện thực khách
quan vào trong đầu óc con ngưi.
+) Th giới khách quan, trước ht chủ yu hoạt động thực tiễn tính hội - lịch sử
của loài ngưi là yu tố quyt định nội dung mà ý thức phn ánh.
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức:
+) Phn ánh của con ngưi mang tính tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn.
+) Thực tiễn hoạt động vật chất tính ci bin th giới của con ngưi - là cơ sở để hình
thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con ngưi va phn ánh, va sáng tạo, phn ánh để
sáng tạo và sáng tạo trong phn ánh.
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.
+) Mi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình bin đổi của vật chất; vật
chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phi thay đổi theo.
lOMoARcPSD| 58702377
+) Trong đi sống xã hội, vai trò quyt định của vật chất đối với ý thức được biểu hiện ở vai
trò của kinh t đối với chính trị, đi sống vật chất đối với đi sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với
ý thức xã hội.
* Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, ý thức là sự phn ánh th giới vật chất vào trong đầu óc con ngưi, do vật chất sinh
ra, nhưng khi đã ra đi thì ý thức “đời sống” riêng, quy luật vận động, phát triển riêng,
không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất.
Thứ hai, stác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực.
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiệnchỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của con người; nó
thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại. Khi
phn ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể
hình thành nên những lý luận định hướng đúng đắn và ngược lại.
Thứ , xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất trong thời đại
ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ý nghĩa phương pháp luận
Trong mi hoạt động nhận thức thực tiễn đòi hỏi phi tôn trọng tính khách quan kt hợp với
phát huy tính năng động chủ quan. Biểu hiên: Phải tôn trọng tính khách quan:
- Mi chủ trương, đưng lối, k hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phi xuất phát t thực t khách
quan, t những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Phi tôn trng vành động theo quy luật khách
quan.
- Nhận thức sự vật hiện tượng phi chân thực, đúng đắn, trách hồng hoặc bôi đen đối
tượng.
- Nhận thức, ci tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung, phi xuất t chính bn thân sự vật hiện
tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó.
Phải phát huy tính năng động chủ quan:
- Phi phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con ngưi, chống
tư tưởng, thái độ thụ động,  lại, ngồi ch, bo thủ, trì trệ, thiu tính sáng tạo.
- Phi coi trng vai trò của ý thức, coi trng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trng
giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phi giáo dục nâng cao trình độ tri thức khoa hc, củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí
cách mạng cho cán bộ, đng viên và nhân dân nói chung, nhất là trong điều kiện hiện nay.
- Để thực hiện nguyên tắc tôn trng tính khách quan kt hợp phát huy tính năng động chủ
quan, chúng ta phi nhận thức gii quyt đúng đắn các quan hệ lợi ích, phi bit kt hợp hài hòa
lợi ích nhân, lợi ích tập thể, lợi ích hội; phi động trong sáng, thái độ thật sự khách
quan, khoa hc.
lOMoARcPSD| 58702377
VI. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ HAI NGUYÊN LÝ 1. Hai loại hình biện chứng
Phép biện chứng có thể hiểu: Thứ nhất,phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ qua lại lẫn
nhau, sự vận động phát triển của bn thân c sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập bên
ngoài ý thức con ngưi; Thứ hai,phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ và sự vận động, bin
đổi của chính quá trình phn ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con ngưi.
Ở nghĩa thứ hai, phép biện chứng có thể hiểu là “xem xét những sự vật, hiện tượng và sự phản
ánh của chúng trong tư tưởng thông mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau của chúng trong
sự rằng buộc, phát sinh và tiêu vong của chúng”.
Dựa vào hai định nghĩa trên, có thể chia phép biện chứng thành biện chứng khách quan và biện
chứng chủ quan (phép biện chứng).
- Biến chứng khách quan là biện chứng của bn thân th giới tồn tại khách quan, độc lập với
ý thức con ngưi.
- Biện chứng chủ quan là sự phn ánh biện chứng khách quan vào đầu óc con ngưi, là biện
chứng của chính quá trình nhận thức, là biện chứng của tư duy phn ánh hiện thực khách quan vào
bộ óc của con ngưi.
Giữa biện chứng khách quan biện chứng chủ quan mối quan hệ thống nhất với nhau. Biện
chứng khách quan quy định biện chứng chủ quan, tức là n thân sự vật, hiện tượng trong th giới
tồn tại như nà thì nhận thức của con ngưi về chúng cũng phi đúng như th.
Sự độc lập tương đối giữa biện chứng chủ quan và biện chứng khách quan được thể hiện ở sự
không trùng khít của các hiện tượng, sự vật dược phn ánh trong nhận thức con ngưi. Nhận thức
cũng cần phi tuân theo sự sáng tạo của con ngưi. 2. Hai ngyên lý của phép biện chứng duy
vật
a. Các mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm:
Mối liên hệ: một phạm trù trit hc dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định nh
hưởng lẫn nhau giữa các yu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.
Mối liên hệ phổ biến: dùng để chỉ tính phổ bin của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng
của th giới, đồng thi cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của th
giới.
* Tính chất của mối liên hệ phổ biến:
Tính khách quan của các mối liên hệ: các mối liên hệ tồn tại bên ngoài ý thức, không phụ thuộc
vào ý thức, con người chỉ thể nhận thức vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực
tiễn của mình.
Tính phổ biến của các mối liên hệ: bất cứ ở đâu trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều có vô vàn
các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa
của các sự vật, hiện tượng.
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: Sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian
khác nhau, thi gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện cũng khác nhau.
lOMoARcPSD| 58702377
* Ý nghĩa phương pháp luận :
T tính khách quan và phổ bin của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn cần phi có quan điểm toàn diện:
- Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất
của tất c các mặt, các bộ phận, các yu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó.
- Thứ hai, chủ thể phi rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yu của đối tượng đó nhận
thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại.
- Thứ ba, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phi có quan điểm lịch sử, cụ thể; cần
xem
xét đối tượng này trong mối quan hệ với đối tượng khác và với môi trưng xung quanh, tức là cần
nghiên cứu c những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán tương lai
- Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phin diện, một chiều, chỉ thấy mặt này
không thấy mặt khác; hoặc chú ý đn nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn tri, không thấy mặt
bn chất của đối tượngnên dễ rơi vào thuật nguỵ biện (đánh tráo các mối liên hệ bn thành không
bn hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chit trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược
nhau vào một mối liên hệ phổ bin)
b. Nguyên lý về sự Phát triển
* Khái niệm phát triển:
Phát triển quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ
chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.
Phát triển là vận động nhưng không phi mi vận động đều là phát triển, mà chỉ vận động nào
theo khuynh hướng đi lên thì thì mới là phát triển.
* Tính chất của phát triển:
Phát triển có tính khách quan: nguồn gốc của nó nằm trong chính bn thân sự vật, hiện tượng,
chứ không phi do tác động t bên ngoài đặc biệt không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ
quan của con ngưi.
Phát triển có tính phổ biến: phát triển thể hiện ở tất c các sự vật, hiện tượng, ở tất c các giai
đoạn, các quá trình.
Phát triển có tính kế thừa, sự vật, hiện tượng mới ra đi không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ
định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng.
Phát triển tính đa dạng, phong phú; tuy sự phát triển diễn ra trong mi lĩnh vực tự nhiên,
xã hội và tư duy, nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Tính
đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thi gian, vào các yu tố,
điều kiện tác động lên sự phát triển đó...
* Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nắm được bản chất, nắm được khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng thì phải
tự giác tuân thủ nguyên tắc phát triển.
lOMoARcPSD| 58702377
Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng bin đổi của
nó.
Thứ hai, phải có quan điểm lịch sử cụ thể, tức là cần nhận thức rằng phát triển là quá trình tri
qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình
thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
Thứ ba, phi sớm phát hiện ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho phát
triển; chống lại quan điểm bo thủ, trì trệ, định kin.
Thứ , trong quá trình thay th đối tượng cũ bằng đối tượng mới phi bit k tha các yu tố
tích cực t đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới.
VII. CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PBCDV
- Định nghĩa phạm trù:Phạm trù là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là
những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất các đối tượng hiện
thực”. Phạm trù trit hc giúp con ngưi suy ngẫm những chất liệu đã thu nhận được trong quá
trình nhận thức và ci bin hiện thực, chỉ ra những đặc trưng cơ bn nhất của khách thể.
- Bản chất phạm trù: Các phạm trù kt qu của qtrình nhận thức của con ngưi, hình
nh chủ quan của th giới khách quan. Nhưng th giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý
thức của con ngưi, còn luôn vận động, phát triển, chuyển hóa lẫn nhau để thể phn ánh
đúng và đầy đủ những sự vật, hiện tượng. Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật
không phi một hệ thống đóng kín, bất bin, thưng xuyên được bổ sung bằng những
phạm trù mới cùng với sphát triển của thực tiễn của nhận thức khoa hc. 1. Các cặp phạm
trù: CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG – CÁI ĐƠN NHẤT
a. Khái niệm phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định.
Cái đơn nhất phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn một sự
vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.
Cái chung phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những quan
hệ,...tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất* Cái
chung, cái đơn nhất chỉ biểu hiện và tồn tại bên trong cái riêng:
C cái chung và cái đơn nhất đều không tồn tại độc lập, tự thân, vì chúng chỉ là thuộc tính nên
cần phi gắn bó với đối tượng xác định, chỉ có cái riêng mới tồn tại độc lập.
Cái riêng thể bao hàm cái chung nhưng cái chung không bao gi bao hàm cái riêng. Cái
chung cái đơn nhất chtồn tại bên trong cái riêng, như là các mặt của cái riêng liên hệ chặt
chẽ với nhau.
Không có cái chung, cái đơn nhất nào tồn tại khách quan độc lập bên ngoài cái riêng.
Mi cái riêng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập, va cái đơn nhất, va là cái chung.
Thông qua những đặc tính không lặp lại của mình, cái riêng thể hiện cái đơn nhất; thông qua
những đặc tính lặp lại một cách phổ bin ở những đối tượng khác, cái riêng thể hiện là cái chung.
lOMoARcPSD| 58702377
* Cái riêng cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung; ngược lại, cái chung cái bộ
phận,nhưng sâu sắc hơn cái riêng:
Cái riêng là cái toàn bộ, vì nó bao gồm c một tập thể sống động, bao gồm c cái chung và cái
đơn nhất. Cái chung chỉ bộ phận, một phần của cái riêng, bên cạnh cái chung thì bất kỳ đối
tượng nào cũng có cái đơn nhất. Tức là bên cạnh những thứ lặp lại thì mi sự vật đều có những thứ
không lặp lại, là cái duy nhất chỉ có ở sự vật đó.
Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung trước ht thể hiện các mối liên hệ lẫn nhau trong
một thể thống nhất gồm các mặt, các yu tố đơn lẻ vốn trong một sự vật, hiện tượng này ác
mặt, các yu tố được lặp lại trong các sự vật, hiện tượng khác. Theo đó, cái chung cũng
gắn liền với bn chất, quy định phương hướng tồn tại phát triển của cái riêng. Một cái chung
được tách ra để kt hợp với cái đơn nhất khác sẽ tạo ra một chỉnh thể mới, đặc sắc, phát triển hơn.
Cái chung gắn liền với bn chất nên nó quy định chiều sâu của sự vật.
Sự vật luôn chịu tác động bởi mối quan hệ khách quan giữa cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Hai sự vật riêng biệt thể được xem giống nhau nu xem xét những cái chung giữa chúng.
Nhưng chúng sẽ khác nhau hoàn toàn nu cùng xem xét trên phương diện cái đơn nhất.
* Cái đơn nhất cái chung thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sựvật:
Trong khi là những mặt của cái riêng, cái đơn nhất cái chung không đơn gin tồn tại trong
cái riêng, mà gắn bó hữu cơ với nhau và trong những điều kiện xác định, chúng có thể chuyển hóa
vào nhau. Cái riêng “chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đn cái chung” và có kh năng chuyển hóa
những điều kiện phù hợp thành cái riêng bất kỳ khác.
Trong hiện thực, cái đơn nhất ban đầu xuất hiện với bn chất cái mới chỉ một sự vật,
một kt cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kt cấu vật chất khác. Nguyên bn của
cái mới bao gi cũng cái đơn nhất. Để phát triển sự vật thì cái đơn nhất phi phát triển với cái
chung khác để tạo ra một cái riêng riêng biệt. Theo thi gian, cái mới hoàn thiện dần thay th i
để trở thành cái chung, cái phổ bin (Quá trình cái đơn nhất chuyển hóa thành cái chung: Sự
phát triển của sự vật).
Theo chiều hướng khác, nu cái lúc đầu cái chung, cái phổ bin nhưng không phù hợp với
thi đại, hoàn cnh nên dần mất đi và trở thành cái đơn nhất (Quá trình cái chung chuyển hóa thành
đơn nhất: Cái mới ra đời thay thế cái cũ).
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, cần phi nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn. Không nhận thức được cái chung thì trong thực tiễn khi gii quyt mỗi cái riêng, mỗi
trưng hợp cụ thể sẽ nhất định vấp phi những sai lầm, mất phương hướng. Muốn nắm được cái
chung thì cần phi xuất phát t những cái riêng, bởi cái chung không tồn tại trìu tượng ngoài những
cái riêng.
lOMoARcPSD| 58702377
Thứ hai, cần phi cụ thể hcái chung trong mỗi hoàn cnh, điều kiện cụ thể; khắc phục bệnh
giáo điều, siêu hình, máy móc hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng i chung để gii quyt mỗi
trưng hợp cụ thể.
Thứ ba, trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất”
thể bin thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” thể bin thành “cái đơn nhất”, nên trong
hoạt động thực tiễn thể cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” lợi cho con
người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”.
2. Cặp phạm trù NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ
a. Khái niệm phạm trù nguyên nhân, kết quả
Nguyên nhân phạm trù triết học chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hoặc giữa các sự vật với nhau, gây nên những biến đổi nhất định.
Kết quả là phạm trù triết học chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác lẫn nhau giữa các
mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
* Mối liên hệ nhân - quả có tính khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu:
- Tính khách quan: Mối liên hệ nhân - qu là cái vốn của bn thân sự vật, không phụ thuộc
vào ý thức của con ngưi.
- Tính tất yếu: Nguyên nhân cái sinh ra kt qu, vì vậy, nguyên nhân bao gi cũng trước
kt qu, kt qu bao gi cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Tuy nhiên, quan hệ nhân qu là quan hệ
sn sinh chứ không phi cái có trước là nguyên nhân của cái sau. ng một nguyên nhân nhất
định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kt qu như nhau.
- Tính phổ biến: Mi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, hội duy đều được gây nên
bởi những nguyên nhân nhất định, trong đó có c những nguyên nhân chưa được nhận thức.
* Trong hiện thực, mối liên hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp:
- Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kt qu và một kt qu có thể do một hoặc
nhiều nguyên nhân tạo nên.
- Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đn sự hình thành một kt qu có thể diễn ra theo
các chiều hướng thuận (các nguyên nhân tác động cùng chiều), nghịch (các nguyên nhân tác động
khác chiều) khác nhau đều nh hưởng đn sự hình thành kt qu nhưng vị trí, vai trò của
chúng là khác nhau.
Trong quá trình vận động, phát triển, nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kt qu, kt qu lại
trở thành nguyên nhân chúng nằm trong sự tương tác biện chứng. vật chất tận, do đó,
chuỗi nhân - qu là vô cùng, không có bắt đầu và không có kt thúc.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, vì mối liên hệ nhân qu có tính khách quan, tất yu nên trong nhận thức và thực tiễn
không thể phủ nhận quan hệ nhân - qu.
Thứ hai, vì mối liên hệ nhân qu có tính tất yu nên khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện
tượng cần tìm ở các sự vật, sự kiện, mối liên hệ đã xy ra trước khi sự vật, hiện tượng đó xuất hiện.
lOMoARcPSD| 58702377
Thứ ba, vì mối liên hệ nhân qu rất phức tạp, đa dạng nên cần phi có quan điểm toàn diện và
lịch sử - cụ thể trong phân tích, gii quyt và ứng dụng quan hệ nhân - qu.
3. Cặp phạm trù TẤT NHIÊN – NGẪU NHIÊN
a. Khái niệm phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên
Tất nhiên phạm trù trit hc dùng đchỉ mối liên hệ bn chất, do nguyên nhân bn bên
trong sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiện nhất định phi xy ra đúng như th chứ không
thể khác.
Ngẫu nhiên phạm trù trit hc dùng để chỉ mối liên hệ không bn chất, do nguyên nhân, hoàn
cnh bên ngoài quy định nên thể xuất hiện, thể không xuất hiện; có thể xuất hiện th này hoặc
xuất hiện th khác.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại khách quan trong sự thống nhất hữu cơ, độc lập với ý thức
con ngưi và có vị trí nhất định trong sự tồn tại của sự vật. Tất nhiên bao gi cũng vạch đưng đi
cho mình thông qua vô số ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ
sung cho tất nhiên.Tất nhiên đóng vai trò chi phối sự phát triển, còn ngẫu nhiên có thể làm cho sự
phát triển ấy diễn ra nhanh hay chậm.
Tất nhiên ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất biện chứng với nhau. Không cái tất nhiên
thuần túy ngẫu nhiên thuần túy. Cái tất nhiên bao gi cũng vạch đưng đi cho mình thông qua
số cái ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên hình thức biểu hiện của tất nhiên, cái bổ sung cho tất
nhiên.
Tất nhiên ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ thưng xuyên thay đổi, phát
triển và trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, tất nhiên nhất định phi xy ra đúng như th nên hoạt động thực tiễn cần phi dựa
vào tất nhiên chứ không thể dựa vào ngẫu nhiên như vậy, nhiệm vụ của khoa hc tìm cho được
mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan.
Thứ hai, tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần túy nên trong hoạt động nhận thứ chỉ thể
chỉ ra được tất nhiên bằng cách nghiên cứu những ngẫu nhiên mà tát nhiên phi đi qua.
Thứ ba, ngẫu nhiên có nh hướng đn nhịp độ phát triển, thậm chí thê làm cho tin trình phát
triển của sự vật, hiện tượng bin đối đột ngột; do vậy, không nên bỏ qua ngẫu nhiên phi
những phương án dự phòng trưng hợp các sự cố ngẫu nhiên xuất hiện bất ng.
Thứ tư, ranh giới tự nhiên giữa tất nhiên với ngẫu nhiên chỉ là tương đối nên sau khi nhận thức
được các điều kiện có thể tạo ra sự chuyển hóa trên, có thể tạo ra điều kiện thuận li để bin ngẫu
nhiên phù hợp với thực tiễn thành tất nhiên và tất nhiên không phù hợp thực tiễn thành ngẫu nhiên.
4. Cặp phạm trù NỘI DUNG – HÌNH THỨC
a. Khái niệm phạm trù nội dung, hình thức
lOMoARcPSD| 58702377
Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể tất cả các mặt, yếu tố tạo nên sự vật, hiện
tượng.
Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện phát triển của sự
vật, hiện tượng ấy; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành nội
dung của sự vật, hiện tượng và không chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài, mà còn là cái thể hiện cấu
trúc bên trong của sự vật, hiện tượng.
Nhiều khi con người gặp khó khăn trong nhận thức rành mạch nội dung của một đối tượng nào
đó nhầm lẫn với cấu trúc của nó. Trong trường hợp này ràng sự giao thoa, thâm nhập
lẫn nhau giữa nội dung hình thức, hình thức khi đó được gọi hình thức nội dung (hình thức
bên trong). Kiểu hình thức này cái đơn nhất. Nhưng cũng hình thức chung cho nhiều hình
thức riêng, nó là cái chung.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau. vậy, không có
một hình thức nào không chứa đựng nội dung, đồng thi không có nội dung nào lại không tồn tại
trong một hình thức nhất định. Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức và cùng
một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Mối quan hệ giữa nội dung hình thức mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyt
định hình thức hình thức tác động trở lại nội dung. Khuynh hướng chủ đạo của nội dung
khuynh hướng bin đổi, còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng. Nội
dung thay đổi bắt buộc hình thức phi thay đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên, không phi bất cứ lúc
nào cũng sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung hình thức. Nội dung quyt định hình thức nhưng
hình thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại nội dung. Hình thức phù hợp với nội dung
thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Nu hình thức không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của
nội dung.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, hình thức của sự vật, hiện tượng là do nội dung của nó quyt định, là kt qu những
thay đổi của nội dung và để đáp ứng những thay đổi đó thì sự thay đổi hình thức phi dựa vào
những thay đổi thích hợp của nội dung quyt định nó; do vậy, muốn bin đổi sự vật, hiện tượng thì
trước ht phi tác động, làm thay đổi nội dung của nó.
Thứ hai, hình thức chỉ thúc đẩy nội dung phát triên khi phù hợp với nội dung nên để thúc
đẩy sự vật, hiện tượng phát triển nhanh, cần chú ý theo dõi mối quan hệ giữa nội dung đang phát
triển với hình thức ít thay đổi, khi giữa nội dung hình thức xuất hiện sự không phù hợp thì
trong những điều kiện nhất định phi can thiệp vào tin trình khánh quan, đem lại sự thay đổi cần
thit về hình thức để nó trở nên phù hợp với nội dung đã phát triển vào bo đm cho nội dung phát
triển hơn nữa, không bị hình thức cũ kìm hãm.
Thứ ba, một nội dung có thể nhiều hình thức thể hiện ngược lại nên cần sử dụng mi hình
thức có thể có, mới cũng như cũ, kể c việc phi ci bin các hình thức vốn có, lấy hình thức này
bổ sung, thay th cho hình thức kia để làm co bất kỳ hình thức nào cũng trở thành công cụ phục vụ
nội dung mới. Phê phán thái độ chỉ tha nhận các hình thức cũ, bo thủ, trì trệ, chỉ muốn làm theo

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58702377
I. NGUỒN GỐC VÀ KHÁI NIỆM CỦA TRIẾT HỌC 1. Nguồn gốc của triết học
Triết học ra đời vào khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr.CN với những thành tựu rực rỡ trong
các nền triết học cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp.
a. Nguồn gốc nhận thức
Về mặt lịch sử, triết lý đầu tiên của con người là tư duy huyền thoại và tín ngưỡng nguyên thủy
mang tính rời rạc, mơ hồ, phi logic... dùng để giải thích thế giới. Đỉnh cao là những câu chuyện
thần thoại
những tôn giáo sơ khai: Tô tem giáo, Bái vật giáo, Saman giáo.
Triết học là hình thức tư duy lý luận đầu tiên có thể thay thế, suy giảm và thu hẹp phạm vi của
các tư duy huyền thoại và tôn giáo nguyên thủy.
Triết học chỉ xuất hiện khi tư duy của con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa và trừu
tượng hóa, có khả năng rút ra cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. b.
Nguồn gốc xã hội

Triết học ra đời khi nền sản xuất xã hội đã sự phát triển, lực lượng sản xuất phát triển, công cụ
lao động được cải tiến dẫn đến có sự phân công lao động và xã hội phân chia thành giai cấp, tầng lớp khác nhau.
Lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay, trí thức xuất hiện với tính cách là một tầng lớp
xã hội, có vị thế xã hội xác định. Tầng lớp này có điều kiện và nhu cầu nghiên cứu, có năng lực hệ
thống hóa các quan niệm, quan điểm thành học thuyết, lý luận.
Như vậy, triết học chỉ ra đời khi xã hội loài người đã đạt đến một trình độ tương đối cao về sản
xuất xã hội, phân công lao động xã hội hình thành, của cải tương đối thừa dư, tư hữu hóa tư liệu
sản xuất được luật định, giai cấp phân hóa rõ và mạnh, nhà nước ra đời
.
2. Khái niệm triết học
Cả ở phương Đông và phương Tây triết học đã là hoạt động tinh thần bậc cao, là hình thức nhận
thức có trình trừu tượng hóa và khí quát hóa rất cao.
Có nhiều định nghĩa về triết học, nhưng các định nghĩa thương bao hàm những nội dung chủ yếu sau:
- Triết học là một hình thái xã hội ý chí.
- Khách thể khám phá của triết học là thế giới (gồm cả thế giới bên trong và bên ngoài con
người trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó.
- Triết học giải thích tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình và quan hệ của thế giới, với mục
đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định và quyết định sự vận động của thế giới,
của con người và của tư duy.
- Với tư cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học và sự khác biệt với tôn
giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, logic và trừu tượng về thế giới, bao gồm những nguyên
tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất và những quan điểm nền tảng về mọi tồn tại.
- Triết học là hạt nhân của thế giới quan.
Tóm lại với những nội dung đã nêu trên, triết học Mác – Lênin ra đời và định nghĩa về triết lOMoAR cPSD| 58702377
học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là
khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
3. Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan
Thế giới quan có thể định nghĩa rằng: “Thế giới quan là khái niệm chỉ hệ thống các tri thức,
quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con người (bao gồm
cả cá nhân, xã hội và nhân loại) trong thế giới đó. Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ,
giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động nhận thức của con người”.

Nói triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan bởi:
- Thứ nhất, bản thân triết học chính là thế giới quan.
- Thứ hai, trong các thế giới quan triết học bao giờ cũng là thành phần quan trọng, đóng vai
trò là nhân tố cốt lõi.
- Thứ ba, trong nhiều loại thế giới quan thì triết học bao giờ cũng có ảnh hưởng và chi phối, dù không thể tự giác.
- Thứ tư, thế giới quan triết học sẽ quy định các thế giới quan và quan niệm khác như thế.
Thế giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của các loại thế giới quan đã từng có trong lịch
sử vì nó đòi hỏi thế giới phải được xem xét dựa trên những nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển. Thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm tri thức khoa học, niềm tin
và lý tưởng cách mạng.
Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống bởi:
- Thứ nhất, những vấn đề được triết học đặt ra và tìm giải đáp là những vấn đề của thế giới quan.
- Thứ hai, thế giới quan là đúng đắn là tiền đề quan trọng để xác lập phương thức tư duy hợp
lý và nhân sinh quan tích cực trong khám phá và chinh phục thế giới.
Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí đánh giá sự phát triển của mỗi cá nhân cũng
như mỗi cộng đồng xã hội nhất định.
Với tư cách là hạt nhân lý luận, triết học chi phối mọi thế giới quan, dù người ta có chú ý và
thừa nhận điều đó hay không.
II. VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VÀ BIỆN CHỨNG, SIÊU HÌNH 1. Những vấn
đề cơ bản của triết học
Trong triết học, trước khi giải quyết vấn đề cụ thể của mình, nó bộc phải giải quyết một vấn đề
có ý nghĩa nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề còn lại – đó chính là vấn đề về
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời cho hai câu hỏi lớn:
- Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
2. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật lOMoAR cPSD| 58702377
Ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm giác là cái có
Vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết trước giới tự nhiên.
định ý thức của con người.
Thừa nhận tính thứ nhất của ý thức; ý thức là
Thừa nhận tính thứ nhất của vật chất; vật chất
cái có trước và sản sinh ra giới tự nhiên
là cái có trước và quyết định ý thức.
Giải thích mọi sự vận động của thế giới đều từ
Giải thích mọi sự vận động của thế giới đều
nguyên nhân tinh thần, sự sáng tạo của thế lực
đến từ nguyên nhân vật chất. siêu nhiên nào đó.
Nhận thức phiến diện, tuyệt đối hóa; gắn liền
Nguồn gốc nhận thức dựa trên căn cứ khoa
với lợi ích của giai cấp thống trị. Là nền tảng,
học, thực tiễn. Gắn liền với lợi ích của lực
lý luận của quan điểm – lý tưởng của giai cấp lượng tiến bộ.
thống trị và các học thuyết tôn giáo. -
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: phủ nhận -
Chủ nghĩa duy vật chất phác: tuy mang
ý sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ
nặng tính trực quan, ngây thơ, chất phác; đồng
nghĩa duy tâm chủ qua khẳng định mọi sự vật,
nhất vật chất với một số chất cụ thể nhưng lấy
hiện tượng chỉ là phức hợp của cảm giác.
giới tự nhiên để giải thích sự vận động của thế -
Chủ nghĩa duy tâm khách quan: coi thứ giới. - Chủ nghĩa duy vật siêu hình: chịu sự tác
tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập động của phương pháp tư duy siêu hình, cơ
với con người. Thực thể tinh thần khách quan
giới – phương pháp nhìn thế giới như một cỗ
này được gọi như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới…
máy lớn, mỗi bộ phận lại tồn tại biệt lập. -
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: khắc
phục được các hạn chế của các chủ nghĩa duy
vật trước đó; phản ánh hiện thức đúng như chính bản thân nó.
3. Biện chứng và siêu hình Phương pháp siêu hình Phương pháp biện chứng
Nhận thức sự vật ở trạng thái cô lập, tách rời,
Xem xét sự vật trong mối liên hệ, sự vận động
không vận động, phát triển.
và biến đổi không ngừng.
Hợp lý trong khoa học cơ học cổ điển. Song
Quá trình vận động thay đôi cả lượng và chất
chỉ tác dụng trong phạm vi nhất định bởi hiện
của các sự vật, hiện tượng. Nguồn gốc của sự
thực hách quan, không rời rạc.
vận động, thay đổi đó là sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập trong nội tại sự vật, hiện tượng.
Chỉ nhìn thấy sự vật riêng biệt mà không thấy
Thấy được sự tồn tại, phát triển, suy vong.
được mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy.
Chỉ thấy được sự tồn tại mà không thấy được
Nhìn thấy được cả trạng thái tính, trạng thái
sự phát sinh và tiêu vong. động của sự vật.
Chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của sự vất mà
Vừa thấy được cái riêng biệt, vừa thấy được sự lOMoAR cPSD| 58702377
quên mất sự vận động của chúng. tác động qua lại.
III. NGUỒN GỐC RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC 1. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác
a. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp.
+) Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, làm cho phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa được củng cố vững chắc
.
+) Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và
bộc lộ ngày càng rõ rệt, những xung đột giữa vô sản và tư sản đã trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử với tính chất là một lực lượng chính trị, xã
hội độc lập đã trở thành nhân tố quan trọng cho sự ra đời triết học Mác.
+) Giai cấp vô sản cũng đã đi theo giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến.
+) Khi chế độ tư bản chủ nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã
hội và giai cấp vô sản là giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang tính chất đối
kháng càng phát triển, trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
Tiêu biểu như: cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyông (Pháp) năm 1831; phong trào Hiến chương
ở Anh vào cuối những năm 30 thế kỷ XIX, là “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật
sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị”; cuộc đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi (Đức).
+) Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh
cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác
+) Thực tiễn xã hội nói chung và thực tiễn cách mạng vô sản, đòi hỏi phải được soi sáng bởi
lý luận nói chung và triết học nói riêng.
+) Sự xuất hiện giai cấp vô sản đã tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tiến bộ và cách mạng mới.
+) Thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt để nhất trong lịch sử
b. Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên
* Nguồn gốc lý luận
C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Trong
đó trực tiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Triết học cổ điển Đức: Những “hạt nhân hợp lý” trong triết học của hai nhà triết học tiêu biểu lOMoAR cPSD| 58702377
Hegel và Feuerbach, là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác. C.Mác và Ph.Ăngghen đã
phê phán và gạt bỏ chủ nghĩa duy tâm, đánh giá cao và tiếp thu tư tưởng biện chứng của triết học
Hegel
để xây dựng thành công phép biện chứng duy vật; C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán những
hạn chế về phương pháp siêu hình, quan điểm duy tâm về xã hội
, song đánh giá cao vai trò tư
tưởng duy vật của Feuerbach khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Kinh tế chính trị cổ điển Anh: Kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất
sắc là A. Smith và Đ.Ricacđô không những làm nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế là nhân
tố không thể thiếu được trong sự hình thành và phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: Đây là nguồn gốc lý luận trực tiếp của học thuyết Mác về
chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa xã hội khoa học. Với những đại biểu nổi tiếng như Saint Simon (Xanh
Ximông) và Charles Fourier (Sáclơ Phuriê).
Tinh thần nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của
các nhà CNXH không tưởng về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền
đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của lý luận khoa học về CNXH và là tiền đề quan trọng cho chủ
nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác.
* Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh
quan trọng. Ph.Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy
vật biện chứng gồm có: Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào thuyết tiến
hóa.
Đây là những thành tựu khoa học đã bác bỏ tư duy siêu hình trong nhận thức thế giới và quan
điểm thần học; khẳng định tính đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về thế giới vật chất vô
cùng, vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyển hoá; khẳng định tính khoa học của quan điểm duy
vật biện chứng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Điều kiện KTXH Tây Âu giữa th ế k ỷ XIX Nguồn gốc lý luận
Tiền đề khoa h ọ c tự nhiên Củng GCVS Nhu cầu Tri ế t Kinh CNXH Định H ọ c H ọ c cố và bước lý luận h ọ c t ế Không luật b ả o thuy ế t thuy ế t phát lên vũ của thực cổ chính tưởng toàn và về t ế ti ế n hóa triển đài tiễn CM điển trị cổ Pháp chuyển bào của PTSX chính Đức điển hóa ĐácUyn TBCN trị Anh năng lượng Triết học Mác lOMoAR cPSD| 58702377
Sơ đồ: Điều kiện ra đời triết học Mác
c. Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học Mác
Biểu hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, C.Mác và Ph.Ăngghen là những thiên tài kiệt xuất có sự kết hợp nhuần nhuyễn và
sâu sắc những phẩm chất tinh tuý và uyên bác nhất của nhà bác học và nhà cách mạng.
Thứ hai, C.Mác và Ph.Ăngghen đều sớm tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho cuộc đấu
tranh vì hạnh phúc của nhân loại.
Thứ ba, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển lập trường từ dân chủ cách mạng
và nhân đạo chủ nghĩa sang lập trường giai cấp công nhân và nhân đạo cộng sản. X
Thứ tư, C. Mác và Ph. Ăngghen là hai người cùng tư tưởng, người bạn nhất mực chung thủy,
người đồng chí trợ lực gắn bó mật thiết trong sự nghiệp chung sự nghiệp đấu tranh giải phóng con
người, giải phóng giai cấp và giải phóng nhân loại.
IV. CHỨC NĂNG CỦA TRIẾT HỌC 1. Chức năng thế giới quan
Triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản.
- Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng
+) Định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực.
+) Giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động. Từ đó giúp
con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình.
+) Nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề
để xác lập nhân sinh quan tích cực.
+) Là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, thế giới quan tôn giáo, phản khoa học.
2. Chức năng phương pháp luận
Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất cho
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng
+) phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học trang bị cho con người hệ thống
những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
+) Triết học Mác - Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật
làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.
+) Tuy nhiên, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn không được xem thường hoặc
tuyệt đối hoá phương pháp luận triết học.
V. VẬT CHẤT - Ý THỨC 1. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đã đưa ra
định nghĩa về vật chất như sau: lOMoAR cPSD| 58702377
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác”.

a. Nội dung cơ bản của định nghĩa
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không lệ
thuộc vào ý thức.
Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự, tồn tại bên ngoài ý thức của con người.
Mọi sự vật, hiện tượng dù tồn tại trong tự nhiên hay xã hội đều là những đối tượng khách quan,
tồn tại độc lập với ý thức của con người. Xã hội loài người cũng là một dạng tồn tại đặc biệt của vật chất.
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác.
Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức và biểu hiện các đặc tính của chúng dưới dạng các
“thực thể”.Các “thực thể” này khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại
cho con người những cảm giác.
Không phải mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khi tác động lên giác quan của con
người đều được giác quan con người nhận biết. Tuy nhiên nếu các sự vật, hiện tượng tồn tại khách
quan, không phụ thuộc vào ý thức con người thì nó vẫn thuộc về thế giới vật chất.
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
Các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức...) luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng
vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp
lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan.
Trong thế giới vật chất không có gì là không thể biết, chỉ có những cái đã biết và những cái
chưa biết. Cùng với sự phát triển khoa học, các giác quan của con người ngày càng được “nối dài”,
giới hạn nhận thức của các thời đại bị vượt qua chứ không phải vật chất bị mất đi như chủ nghĩa duy tâm quan niệm.
b. Ý nghĩa phương pháp luận quan niệm vật chất của triết học Mác - Lênin
Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống lại chủ
nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình...
Trong nhận thức và thực tiễn, đòi hỏi con người phải quán triệt nguyên tắc khách quan – xuất
phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng khách quan, nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan...
Là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hộiđó là các điều kiện sinh
hoạt vật chất và các quan hệ vật chất xã hội... lOMoAR cPSD| 58702377
c. Phương thức tồn tại của vật chất
Phương thức tồn tại của vật chất là cách thức tồn tại và hình thức tồn tại của vật chất.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Vận động là cách thức tồn tại, đồng thời là hình
thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là hình thưc tồn tại của vật chất”. * Vận động
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất:
+) Là thuộc tính cố hữu của vật chất, tồn tại vĩnh viễn, không thể tạo ra và tiêu diệt. Mọi dạng
tồn tại của vật chất đều vận động.
+) Vận động của vật chất là tự thân và mang tính phổ biến.
+) Vật chất chỉ có thể được nhận thức thông qua quá trình vận động của chúng.
- Những hình thức vận động cơ bản của vật chất:
+) Ph.Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học, xã hội.
+) Phân chia các hình thức vận động giúp xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa học.
+) Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau. Cần thấy được
mỗi liên hệ giữa các hình thức vận động, vừa phân biệt được sự khác biệt giữa chúng.
- Vận động và đứng im:
+) Trạng thái đứng im là trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối
quan hệ và điều kiện cụ thể, là hình thức tồn tại thực sự của vật chất và là điều kiện cho sự vận
động chuyển hóa của vật chất.
+) Đứng im chỉ có tính tạm thời, chỉ xảy ra trong một mối quan hệ, hình thức và thời điểm
nào đó nhất định chứ không phải toàn bộ hình thức vận động.
+) Đứng im chỉ một trạng thái của vận động – vận động trong trạng thái thăng bằng, ổn định
tương đối; “chứng thực” cho hình thức tồn tại thực sự của vật chất, là điều kiện cho sự vận động
chuyển hóa của vật chất.
+) Không có đứng im, vật chất không thể tồn tại và phát triển.
* Không gian và thời gian
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét theo mặt quảng tính, sự cùng tồn tại, trật tự, kết
cấu và sự tác động lẫn nhau.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình.
“Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không
thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình tách rời không gian - thời gian ra thành hai khái
niệm riêng biệt, thế nhưng khẳng định không gian – thời gian là một thể thống nhất; tách rời không
gian, thời gian với vận động vật chất, là cơ sở lý luận chống lại các quan niệm duy tâm.
d. Tính thống nhất về vật chất của thế giới
- Thứ nhất, tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới.
- Thứ hai, thế giới thống nhất ở tính vật chất, bản chất của thế giới là vật chất. lOMoAR cPSD| 58702377
“Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng
mình không phải bằng vài ba lời khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng sự phát triển lâu dài
và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”.

2. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức theo chủ nghĩa duy vật biện chứng
C.Mác khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất
được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biên đi ở trong đó”. Dựa vào các thành
tựu khoa học tự nhiên đã đúc rút ra được nguồn gốc và bản chất của ý thức. 2.1. Nguồn gốc của ý thức
a. Nguồn gốc tự nhiên * Bộ óc người:
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ
óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc.
Bộ óc người có cấu trúc phức tạp và tinh vi, bao gồm khoảng 14 -15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế
bào này liên hệ với nhau và với các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan tác động vào não bộ.
Mối quan hệ giữa bộ óc người và thế giới khách quan: Để hình thành ý thức phải có mối quan
hệ giữa bộ óc người và thế giới khách quan từ đó tạo ra quá trình phản ánh.
Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi vật chất, là sự tái tạo những đặc điểm giữa hai hệ
thống vật chất trong sự tác động qua lại của chúng.
Các hình thức của phản ánh:
+) Phản ánh vật lý, phản ánh hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho thế giới
tự nhiên vô sinh, mang tính thụ động, không có định hướng, lựa chọn.
+) Phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh, biểu hiện ở tính kích thích và tính cảm ứng.
+) Phản ánh tâm lý là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện thông
qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.
+) Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất, chỉ có ở con người được
thực hiện thông qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan
tác động lên các giác quan của con người. Sự phản ánh năng động sáng tạo này được gọi là ý thức.
Như vậy, sự xuất hiện bộ óc người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan cùng là nguồn
gốc tự nhiên của ý thức.
b. Nguồn gốc xã hội * Lao động:
- Là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu tồn tại và phát triển của mình. - Vai trò của lao động: lOMoAR cPSD| 58702377
+) Thứ nhất, nhờ có lao động con người tách ra khỏi giới động vật. Con vật chỉ biết sử dụng
những sản phẩm sẵn có trong giới tự nhiên, còn con người thì nhờ lao động bắt giới tự nhiên phục
vụ mục đích của mình.
+) Thứ hai, nhờ có lao động con người tác động vào thế giới khách quan, bắt thế giới bộc lộ
những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất
định và các hiện tượng ấy tác động vào bộ óc con người, hình thành dần những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
+) Thứ ba, thông qua lao động con người cũng làm biến đổi cấu trúc của cơ thể người. * Ngôn ngữ:
- Là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Nó xuất hiện trở thành “vỏ vật chất”
của tưduy; là hiện thực trực tiếp của ý thức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản
phẩm xã hội - lịch sử.
- Vai trò của ngôn ngữ:
+) Thứ nhất, ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời vừa là công cụ của tư duy
nhằm khái quát hóa, trừu tượng hoá hiện thực.
+) Thứ hai, nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi, kế thừa những tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác.
+) Thứ ba, ý thức là một hiện tượng có tính xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã
hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Tóm lại, lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc của
loài vượn người thành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người.
2.2. Bản chất của ý thức
“Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích
cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người”.
Ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm
tính. Ý thức là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc của con người và được cải
biến đi ở trong đó. Kết quả của sự phản ánh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh,
điều kiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thế phản ánh.
Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo và sáng tạo là đặc trưng bản chất của ý thức. Ý thức
không phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động thế giới khách quan mà nó là
kết quả của quá trình phản ánh tích cực, có định hướng, có mục đích rõ rệt. Tính sáng tạo của ý
thức thể hiện ở chỗ ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật trên cơ sở những cái đã có, có
thể dự báo tương lai, tạo ra những huyền thoại, giả thuyết... Ý thức gắn với hoạt động thực tiễn của
xã hội, thông qua các hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi thế giới vật chất, làm nó mang
đậm tính con người. Tích cực tìm hiểu, tích lũy sự hiểu biết về mọi sự vật, hiện tượng là nền tảng
để con người cải biến thế giới hiện thực khách quan.
Phản ánh là quá trinh thống nhất của ba mặt: lOMoAR cPSD| 58702377
- Một, là trao đổi thông tin giữa chủ thế và đối tượng phản ánh. Đây là quá trình hai chiều có
tính chọn lọc và định hướng.
- Hai, là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Đây là quá trình
mã hóa lại các đối tượng vật chất thành ý tưởng tinh thần phi vật chất trong bộ óc.
- Ba, là chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan. Tức là quá trình biến các ý
tưởng thành các hoạt động thực tiễn tác động trở lại hiện thực.
Như vậy, phản ảnh sáng tạo là hai mặt bản chất cơ bản của ý thức. Ý thức là hình thức phản
ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội.
2.3. Kết cấu của ý thức
* Các lớp cấu trúc của ý thức:
Muốn cái tạo sự vật, con người phải có hiểu biết sâu sắc về nó. Ý thức con người còn có thể
xuất hiện “tri thức”. Nội dung và phương thứ tồn tại cơ bản của ý thức là tri thức. Ý thức không
bao hàm, không dựa vào tri thức thì chỉ là cái vỏ rỗng. Tuy nhiên, không thể đồng nhất ý thức với
sự hiểu biết, tri thức về sự vật. Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên, xã
hội, con người…; và có nhiều cấp độ khác nhau như: tri thức cảm tính và tri thức lý tính, tri tức
tiền khoa học và tri thức khoa học…
Tình cảm, dựa trên đặc trưng cơ bản của ý thức là sự nảy sinh thái độ đối với đối tượng phản
ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người
với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan.
Tình cảm là một trong những “động lực”
quan trọng trong hoạt động con người; sự hòa trộn của tình cảm với ý thức tạo nên sự bền vững
trong niềm tin thúc đẩy con người tạo ra các hành vi xã hội trong thế giới.
Để có thể nhận thức, chủ thể cần phải có một “ý chí” cao để vượt qua các khó khăn. Ý chí chính
là những cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi con người vào hoạt động
để có thể vượt qua mọi trở ngại, đạt mục đích đề ra.
Để nhận thức được vai trò, vị trí của các nhân
tố cấu thành ý thức và mối quan hệ giữa chúng cần con người luôn học tập, rèn luyện, bồi dưỡng
nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin trong nhận thức và cải tạo thế giới.
* Các cấp độ của ý thức:
“Tự ý thức” là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế
giới bên ngoài. Trong quá trình nhận thức, con người có thể tự phân biệt, đối lập mình với thế giới
thông qua các mối quan hệ, qua đó con người tự ý thức mình là thực thể tư duy độc lập, tự đánh
giá năng lực và hiểu biết của bản thân với thế giới và điều chỉnh hành vi của bản thân tác động tới
thế giới quan. Tự ý thức không chỉ có ở cá nhân mà còn ở các nhóm xã hội khác nhau, nhằm khẳng
định cái tôi thuần túy, trừu tượng trống rỗng.
Tiềm thức là những hoạt động tâm lý diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý thức. Thực chất,
tiềm thức là những tri thức đã trở thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong tầng ý thức của chủ thể,
là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Tiền thức gắn bó chặt chẽ với tư duy chính xác, được lặp lại nhiều lOMoAR cPSD| 58702377
lần giúp giảm tải đầu óc khi thực hiện các hoạt động lặp lại mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao và
chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học.
Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phai do lý trí điều khiển, nằm ngoài phạm vi của lý
trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó. Chúng điều khiển hành vi chủ thể thông
qua bản năng, thói quen… thông qua phản xạ không điều kiện. Trong đời sống xã hội, có những
hành vi do bản năng thực hiện thông qua sự lặp đi lặp lại các hành vi đó đến mức hình thành thói
quen và khiến chúng được thực hiện một cách tự động ngay cả khi không có sự điều khiển của lý
trí. Ngoài ra, vô thức biểu hiện ra thành nhiều hiện tượng khác nhau như ham muốn, giấc mơ, nói
nhịu… tất cả chúng đều giúp giảm đi sự quá tại cho bộ óc; vô thức là trạng thái tâm lý – ý thức ở
tầng sâu, có vai trò to lớn trong đời sống, hoạt động của con người.
* Trí tuệ nhân tạo (đọc thêm)
3. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó
vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.
* Vật chất quyết định ý thức:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
+) Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức - một thuộc tính
của bộ óc con người - cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra.
+) Vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là
tính thứ hai. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức.
+) Bộ óc người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành
ý thức. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.
+) Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong đầu óc con người.
+) Thế giới khách quan, trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có tính xã hội - lịch sử
của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản ánh.
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức:
+) Phản ánh của con người mang tính tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn.
+) Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình
thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để
sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh.
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.
+) Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật
chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo. lOMoAR cPSD| 58702377
+) Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được biểu hiện ở vai
trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội.
* Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh
ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng,
không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất
.
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực.
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của con người; nó
có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại. Khi
phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể
hình thành nên những lý luận định hướng đúng đắn và ngược lại.
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại
ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Ý nghĩa phương pháp luận
Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải tôn trọng tính khách quan kết hợp với
phát huy tính năng động chủ quan. Biểu hiên:̣ Phải tôn trọng tính khách quan:
- Mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phải xuất phát từ thực tế khách
quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
- Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, trách tô hồng hoặc bôi đen đối tượng.
- Nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung, phải xuất từ chính bản thân sự vật hiện
tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó.
Phải phát huy tính năng động chủ quan:
- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người, chống
tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo.
- Phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng
giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học, củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí
cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nói chung, nhất là trong điều kiện hiện nay.
- Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ
quan, chúng ta phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích, phải biết kết hợp hài hòa
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học. lOMoAR cPSD| 58702377
VI. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ HAI NGUYÊN LÝ 1. Hai loại hình biện chứng
Phép biện chứng có thể hiểu: Thứ nhất, là phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ qua lại lẫn
nhau, sự vận động và phát triển của bản thân các sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập bên
ngoài ý thức con người; Thứ hai, là phạm trù dùng để chỉ những mối liên hệ và sự vận động, biến
đổi của chính quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người.
Ở nghĩa thứ hai, phép biện chứng có thể hiểu là “xem xét những sự vật, hiện tượng và sự phản
ánh của chúng trong tư tưởng thông mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau của chúng trong
sự rằng buộc, phát sinh và tiêu vong của chúng”.

Dựa vào hai định nghĩa trên, có thể chia phép biện chứng thành biện chứng khách quan và biện
chứng chủ quan (phép biện chứng).
- Biến chứng khách quan là biện chứng của bản thân thế giới tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người.
- Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đầu óc con người, là biện
chứng của chính quá trình nhận thức, là biện chứng của tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người.
Giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan có mối quan hệ thống nhất với nhau. Biện
chứng khách quan quy định biện chứng chủ quan, tức là ản thân sự vật, hiện tượng trong thế giới
tồn tại như nà thì nhận thức của con người về chúng cũng phải đúng như thế.
Sự độc lập tương đối giữa biện chứng chủ quan và biện chứng khách quan được thể hiện ở sự
không trùng khít của các hiện tượng, sự vật dược phản ánh trong nhận thức con người. Nhận thức
cũng cần phải tuân theo sự sáng tạo của con người. 2. Hai ngyên lý của phép biện chứng duy vật
a. Các mối liên hệ phổ biến * Khái niệm:
Mối liên hệ: là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.
Mối liên hệ phổ biến: dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng
của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới.
* Tính chất của mối liên hệ phổ biến:
Tính khách quan của các mối liên hệ: các mối liên hệ tồn tại bên ngoài ý thức, không phụ thuộc
vào ý thức, con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
Tính phổ biến của các mối liên hệ: bất cứ ở đâu trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều có vô vàn
các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa
của các sự vật, hiện tượng.
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: Sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian
khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện cũng khác nhau. lOMoAR cPSD| 58702377
* Ý nghĩa phương pháp luận :
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện:
- Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất
của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó.
- Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận
thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại.
- Thứ ba, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể; cần xem
xét đối tượng này trong mối quan hệ với đối tượng khác và với môi trường xung quanh, tức là cần
nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán tương lai
- Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này
mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt
bản chất của đối tượngnên dễ rơi vào thuật nguỵ biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không
cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược
nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
b. Nguyên lý về sự Phát triển
* Khái niệm phát triển:
Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ
chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.
Phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển, mà chỉ vận động nào
theo khuynh hướng đi lên thì thì mới là phát triển.
* Tính chất của phát triển:
Phát triển có tính khách quan: nguồn gốc của nó nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng,
chứ không phải do tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con người.
Phát triển có tính phổ biến: phát triển thể hiện ở tất cả các sự vật, hiện tượng, ở tất cả các giai đoạn, các quá trình.
Phát triển có tính kế thừa, sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ
định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng.
Phát triển có tính đa dạng, phong phú; tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên,
xã hội và tư duy, nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Tính
đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố,
điều kiện tác động lên sự phát triển đó...
* Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nắm được bản chất, nắm được khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng thì phải
tự giác tuân thủ nguyên tắc phát triển. lOMoAR cPSD| 58702377
Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng biến đổi của nó.
Thứ hai, phải có quan điểm lịch sử cụ thể, tức là cần nhận thức rằng phát triển là quá trình trải
qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình
thức, phương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho nó phát
triển; chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.
Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kế thừa các yếu tố
tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới.
VII. CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PBCDV
- Định nghĩa phạm trù:
Phạm trù là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là
những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất các đối tượng hiện
thực”.
Phạm trù triết học giúp con người suy ngẫm những chất liệu đã thu nhận được trong quá
trình nhận thức và cải biến hiện thực, chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất của khách thể.
- Bản chất phạm trù: Các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhưng thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lập với ý
thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển, chuyển hóa lẫn nhau để có thể phản ánh
đúng và đầy đủ những sự vật, hiện tượng. Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứng duy vật
không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà nó thường xuyên được bổ sung bằng những
phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận thức khoa học. 1. Các cặp phạm
trù: CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG – CÁI ĐƠN NHẤT

a. Khái niệm phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định.
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ vốn có ở một sự
vật, hiện tượng (một cái riêng) nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những quan
hệ,...tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng (nhiều cái riêng) khác.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất* Cái
chung, cái đơn nhất chỉ biểu hiện và tồn tại bên trong cái riêng:
Cả cái chung và cái đơn nhất đều không tồn tại độc lập, tự thân, vì chúng chỉ là thuộc tính nên
cần phải gắn bó với đối tượng xác định, chỉ có cái riêng mới tồn tại độc lập.
Cái riêng có thể bao hàm cái chung nhưng cái chung không bao giờ bao hàm cái riêng. Cái
chung và cái đơn nhất chỉ tồn tại bên trong cái riêng, như là các mặt của cái riêng và liên hệ chặt chẽ với nhau.
Không có cái chung, cái đơn nhất nào tồn tại khách quan độc lập bên ngoài cái riêng.
Mọi cái riêng đều là sự thống nhất của các mặt đối lập, vừa là cái đơn nhất, vừa là cái chung.
Thông qua những đặc tính không lặp lại của mình, cái riêng thể hiện ở cái đơn nhất; thông qua
những đặc tính lặp lại một cách phổ biến ở những đối tượng khác, cái riêng thể hiện là cái chung. lOMoAR cPSD| 58702377
* Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung; ngược lại, cái chung là cái bộ
phận,nhưng sâu sắc hơn cái riêng:
Cái riêng là cái toàn bộ, vì nó bao gồm cả một tập thể sống động, bao gồm cả cái chung và cái
đơn nhất. Cái chung chỉ là bộ phận, là một phần của cái riêng, bên cạnh cái chung thì bất kỳ đối
tượng nào cũng có cái đơn nhất. Tức là bên cạnh những thứ lặp lại thì mọi sự vật đều có những thứ
không lặp lại, là cái duy nhất chỉ có ở sự vật đó.
Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung trước hết thể hiện các mối liên hệ lẫn nhau trong
một thể thống nhất gồm các mặt, các yếu tố đơn lẻ vốn có trong một sự vật, hiện tượng này và ác
mặt, các yếu tố được lặp lại ở nó và trong các sự vật, hiện tượng khác. Theo đó, cái chung cũng
gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng. Một cái chung
được tách ra để kết hợp với cái đơn nhất khác sẽ tạo ra một chỉnh thể mới, đặc sắc, phát triển hơn.
Cái chung gắn liền với bản chất nên nó quy định chiều sâu của sự vật.
Sự vật luôn chịu tác động bởi mối quan hệ khách quan giữa cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Hai sự vật riêng biệt có thể được xem là giống nhau nếu xem xét những cái chung giữa chúng.
Nhưng chúng sẽ khác nhau hoàn toàn nếu cùng xem xét trên phương diện cái đơn nhất.
* Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sựvật:
Trong khi là những mặt của cái riêng, cái đơn nhất và cái chung không đơn giản tồn tại trong
cái riêng, mà gắn bó hữu cơ với nhau và trong những điều kiện xác định, chúng có thể chuyển hóa
vào nhau. Cái riêng “chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung” và có khả năng chuyển hóa ở
những điều kiện phù hợp thành cái riêng bất kỳ khác.
Trong hiện thực, cái đơn nhất ban đầu xuất hiện với bản chất là cái mới chỉ có ở một sự vật,
một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác. Nguyên bản của
cái mới bao giờ cũng là cái đơn nhất. Để phát triển sự vật thì cái đơn nhất phải phát triển với cái
chung khác để tạo ra một cái riêng riêng biệt. Theo thời gian, cái mới hoàn thiện dần thay thế cái
cũ để trở thành cái chung, cái phổ biến (Quá trình cái đơn nhất chuyển hóa thành cái chung: Sự
phát triển của sự vật
).
Theo chiều hướng khác, nếu cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến nhưng không phù hợp với
thời đại, hoàn cảnh nên dần mất đi và trở thành cái đơn nhất (Quá trình cái chung chuyển hóa thành
đơn nhất: Cái mới ra đời thay thế cái cũ).
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn. Không nhận thức được cái chung thì trong thực tiễn khi giải quyết mỗi cái riêng, mỗi
trường hợp cụ thể sẽ nhất định vấp phải những sai lầm, mất phương hướng. Muốn nắm được cái
chung thì cần phải xuất phát từ những cái riêng, bởi cái chung không tồn tại trìu tượng ngoài những cái riêng. lOMoAR cPSD| 58702377
Thứ hai, cần phải cụ thể hoá cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể; khắc phục bệnh
giáo điều, siêu hình, máy móc hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng cái chung để giải quyết mỗi trường hợp cụ thể.
Thứ ba, trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất”
có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”, nên trong
hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con
người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”.

2. Cặp phạm trù NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ
a. Khái niệm phạm trù nguyên nhân, kết quả

Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hoặc giữa các sự vật với nhau, gây nên những biến đổi nhất định.
Kết quả là phạm trù triết học chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác lẫn nhau giữa các
mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
* Mối liên hệ nhân - quả có tính khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu:
- Tính khách quan: Mối liên hệ nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc
vào ý thức của con người.
- Tính tất yếu: Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, vì vậy, nguyên nhân bao giờ cũng có trước
kết quả, kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Tuy nhiên, quan hệ nhân quả là quan hệ
sản sinh chứ không phải cái có trước là nguyên nhân của cái có sau. Cùng một nguyên nhân nhất
định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau.
- Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều được gây nên
bởi những nguyên nhân nhất định, trong đó có cả những nguyên nhân chưa được nhận thức.
* Trong hiện thực, mối liên hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp:
- Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc
nhiều nguyên nhân tạo nên.
- Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo
các chiều hướng thuận (các nguyên nhân tác động cùng chiều), nghịch (các nguyên nhân tác động
khác chiều) khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau.
Trong quá trình vận động, phát triển, nguyên nhân có thể chuyển hóa thành kết quả, kết quả lại
trở thành nguyên nhân – chúng nằm trong sự tương tác biện chứng. Vì vật chất là vô tận, do đó,
chuỗi nhân - quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn
không thể phủ nhận quan hệ nhân - quả.
Thứ hai, vì mối liên hệ nhân quả có tính tất yếu nên khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện
tượng cần tìm ở các sự vật, sự kiện, mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng đó xuất hiện. lOMoAR cPSD| 58702377
Thứ ba, vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên cần phải có quan điểm toàn diện và
lịch sử - cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân - quả.
3. Cặp phạm trù TẤT NHIÊN – NGẪU NHIÊN
a. Khái niệm phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên

Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân cơ bản bên
trong sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác.
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân, hoàn
cảnh bên ngoài quy định nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này hoặc xuất hiện thế khác.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại khách quan trong sự thống nhất hữu cơ, độc lập với ý thức
con người và có vị trí nhất định trong sự tồn tại của sự vật. Tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi
cho mình thông qua vô số ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên là là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ
sung cho tất nhiên.Tất nhiên đóng vai trò chi phối sự phát triển, còn ngẫu nhiên có thể làm cho sự
phát triển ấy diễn ra nhanh hay chậm.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất biện chứng với nhau. Không có cái tất nhiên
thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy. Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua
vô số cái ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên, là cái bổ sung cho tất nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà thường xuyên thay đổi, phát
triển và trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hóa cho nhau.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, tất nhiên nhất định phải xảy ra đúng như thế nên hoạt động thực tiễn cần phải dựa
vào tất nhiên chứ không thể dựa vào ngẫu nhiên như vậy, nhiệm vụ của khoa học là tìm cho được
mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan.
Thứ hai, tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần túy nên trong hoạt động nhận thứ chỉ có thể
chỉ ra được tất nhiên bằng cách nghiên cứu những ngẫu nhiên mà tát nhiên phải đi qua.
Thứ ba, ngẫu nhiên có ảnh hướng đến nhịp độ phát triển, thậm chí có thê làm cho tiến trình phát
triển của sự vật, hiện tượng biến đối đột ngột; do vậy, không nên bỏ qua ngẫu nhiên mà phải có
những phương án dự phòng trường hợp các sự cố ngẫu nhiên xuất hiện bất ngờ.
Thứ tư, ranh giới tự nhiên giữa tất nhiên với ngẫu nhiên chỉ là tương đối nên sau khi nhận thức
được các điều kiện có thể tạo ra sự chuyển hóa trên, có thể tạo ra điều kiện thuận lời để biến ngẫu
nhiên phù hợp với thực tiễn thành tất nhiên và tất nhiên không phù hợp thực tiễn thành ngẫu nhiên.
4. Cặp phạm trù NỘI DUNG – HÌNH THỨC
a. Khái niệm phạm trù nội dung, hình thức
lOMoAR cPSD| 58702377
Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể tất cả các mặt, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng.
Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện và phát triển của sự
vật, hiện tượng ấy; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành nội
dung của sự vật, hiện tượng và không chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài, mà còn là cái thể hiện cấu
trúc bên trong của sự vật, hiện tượng.

Nhiều khi con người gặp khó khăn trong nhận thức rành mạch nội dung của một đối tượng nào
đó mà nhầm lẫn với cấu trúc của nó. Trong trường hợp này rõ ràng có sự giao thoa, thâm nhập
lẫn nhau giữa nội dung và hình thức, và hình thức khi đó được gọi là hình thức nội dung (hình thức
bên trong). Kiểu hình thức này là cái đơn nhất. Nhưng cũng có hình thức chung cho nhiều hình
thức riêng, nó là cái chung.

b. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau. Vì vậy, không có
một hình thức nào không chứa đựng nội dung, đồng thời không có nội dung nào lại không tồn tại
trong một hình thức nhất định. Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức và cùng
một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyết
định hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung. Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là
khuynh hướng biến đổi, còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng. Nội
dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc
nào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức. Nội dung quyết định hình thức nhưng
hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Hình thức phù hợp với nội dung
thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Nếu hình thức không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, hình thức của sự vật, hiện tượng là do nội dung của nó quyết định, là kết quả những
thay đổi của nội dung và để đáp ứng những thay đổi đó thì sự thay đổi hình thức phải dựa vào
những thay đổi thích hợp của nội dung quyết định nó; do vậy, muốn biến đổi sự vật, hiện tượng thì
trước hết phải tác động, làm thay đổi nội dung của nó.
Thứ hai, hình thức chỉ thúc đẩy nội dung phát triên khi nó phù hợp với nội dung nên để thúc
đẩy sự vật, hiện tượng phát triển nhanh, cần chú ý theo dõi mối quan hệ giữa nội dung đang phát
triển với hình thức ít thay đổi, và khi giữa nội dung và hình thức xuất hiện sự không phù hợp thì
trong những điều kiện nhất định phải can thiệp vào tiến trình khánh quan, đem lại sự thay đổi cần
thiết về hình thức để nó trở nên phù hợp với nội dung đã phát triển vào bảo đảm cho nội dung phát
triển hơn nữa, không bị hình thức cũ kìm hãm.
Thứ ba, một nội dung có thể có nhiều hình thức thể hiện và ngược lại nên cần sử dụng mọi hình
thức có thể có, mới cũng như cũ, kể cả việc phải cải biến các hình thức vốn có, lấy hình thức này
bổ sung, thay thế cho hình thức kia để làm co bất kỳ hình thức nào cũng trở thành công cụ phục vụ
nội dung mới. Phê phán thái độ chỉ thừa nhận các hình thức cũ, bảo thủ, trì trệ, chỉ muốn làm theo