- Trang -1
ÔN T CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNINHI
CÂU 1: Khái niệm kinh tế chính trị Mác – Lênin? Phân biệt Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế? Ý
nghĩa của việc học tập học phần Kinh tế chính trị Mác – Lênin đối với sinh viên hiện nay? Theo em nội
dung nào có ý nghĩa nhất mà em có thể vận dụng trong thực tế.
*Khái niệm: Kinh tế chính trị Mác-Lênin là một trong những dòng lý thuyết kinh tế chính trị nằm trong dòng
chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác và Ph.Ăng gen và
V.I Lênin dựa cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học và kinh tế chính trị nhân loại trước đó.
*Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
- Quy luật kinh tế:
+ Là những mối liên hệ bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các hình tượng và quá trình kinh tế
+ Tồn tại khách quan
+ Con người có thể nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế
- Chính sách kinh tế:
+ Là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế
+ Mang tính chất chủ quan của con người, dược hình thành trên cơ sở vận dụng các quy luật
+ Con người có thể thay đổi chính sách kinh tế sao cho phù hợp với quy luật kinh tế
*Ý nghĩa của việc học tập học phần Kinh tế chính trị Mác – Lênin đối với sinh viên hiện nay:
+ Giúp người học có cơ sở lý luận và phương pháp luận nhằm học tập tốt các môn khoa học kinh tế khác
+ Cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho sự hình thành đường lối, chiến lược phát triển KT-XH và các
chính sách
+ Nó cũng giúp cho người học hiểu được các chính sách, chiến lược, qui hoạch do nhà nước đặt ra
+ Giúp người học hiểu được sự thay đổi của phương thức SX, các hình thái KT-XH là tất yếu khách quan,
quy luật của lịch sử; giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường XHCN mà ĐCSVN và nhân dân ta đã
lựa chọn, là phù hợp với quy luật khách quan, đi với dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh
*Nội dung nào có ý nghĩa nhất mà em có thể vận dụng trong thực tế?
Theo em chức năng tưởng kinh tế chính trị Mác Lênin nội dung ý nghĩa nhất mà em thể vận dụng
vào thực tế. Vì nó góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng mới cho người lao động tiến bộ, biết quý trọng thành
quả lao động của bản thân và xã hội, yêu chuộng tự do, hòa bình, củng cố niềm tin cho sự phấn đấu dân giàu,
nước mạnh, hội dân chủ, công bằng, văn minh, ngoài ra còn góp phần xây dựng tưởng khoa học cho
những chủ thể có mong muốn thực hành xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa
bỏ những áp lực, bất công giữa con người và con người.
CÂU 2: Hàng hoá là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và cho dụ? Vì sao nói hai thuộc tính
của hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau? So sánh sự giống khác nhau giữa hàng hóa
thông thường và hàng hóa sức lao động?
*Khái niệm hàng hóa: sản phẩm của lao động thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thong qua
trao đổi, mua bán.
*Hai thuộc tính của hàng hoá:
- Giá trị sử dụng:
+ Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp.
- Trang -2
+ Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa:
Giá trị sử dụng được phát triển trong quá trình phát triển tiến bộ khoa học – kĩ thuật của lực lượng sản xuất.
Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự
nhiên của vật thể hàng hóa quyết định.
Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu
dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào.
VD: Gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, máy móc để sản xuất, phương tiện để đi lại.
- Giá trị hàng hóa:
+ Khái niệm: giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, nó
biểu hiện quan hệ của những người sản xuất và người trao đổi hàng hóa.
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại khi còn hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
+ Là 1 phạm trù khái niệm trừu tượng.
+ Giá trị trao đổi, trước hết biểu hiện là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi lẫn nhau giữa những giá trị
sử dụng khác nhau. Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc.
+ Giá trị HH: là hao phí lao động XH của người SXHH kết tinh trong HH, biểu hiện quan hệ giữa những người
SX trao đổi HH.
+ Chất: Lao động (sức lao động).
+ Lượng: Hao phí lao động sản xuất cần thiết được xác định bằng thời gian lao động hội cần thiết. Phụ thuộc
vào năng suất LĐ (NSLĐ tỉ lệ nghịch với lượng giá trị LĐ).
+ Cải tạo giá trị hàng hóa: lao động quá khứ và lao động sống.
VD: 10kg gạo sản xuất trong 6 giờ và 1m vải cũng sản xuất trong 6h. Trao đổi hai vật với nhau chính là trao
đổi 6 giờ lao động.
*Vì sao nói hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau?
- Mặt thống nhất:
+ Hai thuộc tính cùng tồn tại trong một loại hàng hóa.
+ Một vật khi muốn trở thành hàng hóa sẽ không thể thiếu bất kỳ thuộc tính nào trong hai thuộc tính.
- Mặt mâu thuẫn:
+ Thứ nhất, với giá trị sử dụng thì các hàng hóa sẽ không đồng nhất về chất bởi mỗi hàng hóa sẽ có công dụng
khác nhau. Ngược lại, với giá trị hàng hóa thì các hàng hóa sẽ đồng nhất về chất chúng đều được kết tinh
của lao động, lao động sẽ được vật hóa.
+ Thứ hai, quá trình hình thành lên giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là khác nhau về không gian và thời gian.
Cụ thể, giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong lĩnh vực
tiêu dùng. Do đó, nếu không thực hiện được giá trị hàng hóa (tức hàng hóa không bán được) thì sẽ không
thực hiện được giá trị sử dụng, đồng thời có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
*So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động?
- Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện
khi con người sử dụng hay tiêu dùng.
- Khác nhau:
+ Hàng hoá sức lao động: Là hàng hóa đặc biệt, bao hàm cả yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần.
- Trang -3
Hàng hóa sức lao động gắn liền với cơ thể sống của con người.
Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua.
Mua bán có thời hạn, mua đứt, bán đứt. Giá cả nhỏ hơn giá trị hoặc giá cả có thể tương đương với giá trị.
Giá trị sử dụng đặc biệt: là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.
Quá trình sử dụng hay tiêu dùng, là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời tạo ra một giá
trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động.
+ Hàng hóa thường:
Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau
Giá trị: cả yếu tố tinh thần, vật chất và lịch sử. Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất
Giá trị trao đổi, giá trị sử dụng thông thường: Là nguồn gốc của giá trị trao đổi: Biểu hiện của của cải
Hàng hóa thông thường thể đem ra trao đổi: Sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị
sử dụng của nó đều giảm dần theo thời gian.
CÂU 3: Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn
đề này ở Việt Nam hiện nay. Tại sao nói lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp bội?
*Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá:
- Lao động cụ thể:
+ Khái niệm: Lao động cụ thể lao động ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp riêng,
và kết quả riêng.
+ Đặc trưng của lao động cụ thể:
Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì càng tạo ra
nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau.
Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội. Cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ
thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân
công lao động xã hội.
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Giá trị sử dụng phạm trù vĩnh viễn, vì vậy lao động
cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền vối vật phẩm, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất
kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào.
Các hình thức phong phú đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển sự áp dụng
khoa học công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng tấm gương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế
khoa học – công nghệ ở mỗi thời đại.
Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do nó sản giờ cũng do hai nhân tố hợp
thành: vật chất lao động. Lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của các vật chất,
làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người.
VD: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích sản xuất cái bàn, cái ghế, đối tượng lao động là gỗ, phương
pháp của anh ta các thao tác về cưa, về bào, khoan, đục; phương tiện được sử dụng là cái cưa, cái đục, cái
bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế.
- Lao động trừu tượng:
+ Khái niệm: Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi đó là sự hao phí óc, sức thần kinh của sức cơ bắp
nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào, thì gọi là lao động trừu tượng.
+ Đặc trưng của lao động trừu tượng:
- Trang -4
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa, làm cơ sở cho sự ngang bằng trao đổi.
Giá trị của hàng hóa là một phạm trù lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa cũng là một
phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
VD: lao động của người thợ mộc lao động của người thợ may nếu xét về mặt lao cụ thể thì rất khác nhau
nhưng nếu gạt bỏ hết sự khác nhau ấy đi thì chúng một điểm chung đó là đều phải hao phí sức lực trí óc,
sức thần kinh của con người. Điểm chung đó là dù người thợ mộc hay người thợ may thì đều phải hao phí sức
lao động, có thể là trí óc, cơ bắp, thần kinh của con người.
*Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam hiện nay:
- Đã đem lại cho hoạc thuyết giá trị lao động một cơ sở khoa học thực sự:
+ Trước Mác đã có nhiều nhà lý luận khẳng định tạo ra giá trị, nhưng không biết mặt nào tạo ra giá trị.
+ Thiên tài của Mác, phát hiện ra mặt lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị hàng hóa.
- Giải thích các hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế: Sự vận động trái ngược giữa khốilượng của cải vật
chất ngày càng tang đi liền với khối lượng giá trị ngày càng giảm xuống hoặc không đổi.
- Đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho học thuyết giá tị thặng dư: giải thích nguồn gốc của giá trị thặng dư.
*Tại sao nói lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp bội:
Lao động phức tạp lao động giản đơn được nhân gấp bội lên vì trong cùng một đơn vị thời gian lao động
như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. Để cho các hàng hóa do
lao động giản đơn tạo ra thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá
trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
CÂU 4: Lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào? Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến
lượng giá trị của hàng hoá? Ý nghĩa của vấn đề này đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh hiện nay?
Là một chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh em sẽ quan tâm đến vấn đề nào?
*Lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào:
- Xét về mặt chất, giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa.
- Xét về mặt lượng thì lượng g/ ị của hàng hoá là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết tr
định.
- Muốn đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hoá, người ta dùng thước đo thời gian như: một giờ lao động
một ngày, lao động, một tuần lao động … Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng do thời gian lao động quyết
định.
- Thời gian lao động hội cần thiết thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điề ukiện binh
thường của hội, tức với một trinh độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình cường độ lao
động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
- Trên thực tế, thông thường thời gian lao động hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động biệt của
những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hoá nào đó trên thị trường.
*Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá:
- Năng suất lao động:năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
+ Có hai loại năng suất lao động:
Năng suất lao động cá biệt -> giá trị cá biệt
Năng suất lao động xã hội -> giá trị XH
- Trang -5
+ Giá tị của hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động phụ thuộc vào những yếu tố như:
Trình độ khéo léo (thành tựu) trung bình của từng công nhân
Mức độ phát triển của khoa học, công nghệ
Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, cong nghệ v sản xuấtào
Trình độ tổ chức quản lý
Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
Các điều kiện tự nhiên
=> Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thành các yếu tố trên
- Cường độ lao động: khái niệm nói lên mức độ lao động khẩn trương, năng lực của người lao động trong
cùng một thời gian lao động nhất định.
+ Tăng cường độ lao động thực chất cũng giống như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong
một đơn vị sản phẩm kéo dài.
+ Cường độ lao động ảnh hưởng đến sức khoẻ, thể chất, tâm lý, sự thành thạo của người lao động, công tác tổ
chức, kỹ thuật lao động.
- Tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động:
+ Lao động giản đơn: sự hao phí lao động 1 cách giản đơn bất người bình thường nào sức khoẻ
bình thường không cần qua đào tạo,huấn luyện chuyên môn,nghiệp vụ cũng có thể thực hiện được.VD:rửa bát,
quét nhà …
+ Lao động phức tạp: lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện đạt đến mức độ lành nghề nhất định
mới có thể tham gia lao động.
*Ý nghĩa của vấn đề này đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh hiện nay:
Tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năng suất lao động, đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại,
đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên
thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch
Bởi lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời
gian lao động như nhau. Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức
tạp đòi hỏi nhiều chất xám. Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề
và áp dụng những biện pháp tiên tiến.
*Là một chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh em sẽ quan tâm đến vấn đề nào:
+ Quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho
có lợi nhất.
+ Cạnh tranh lành mạnh
+ Nâng cao năng suất
+ Tính chất phức tạp của lao động
CÂU 5: Bản chất chức năng của tiền? Anh (chị) hãy đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình
trạng lạm phát của tiền Việt Nam hiện nay?
*Bản chất và chức năng của tiền?
- Bản chất: Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hang
hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng
hóa.
- Trang -6
- Chức năng của tiền:
+ Thước đo giá trị: Tiền được dùng để biểu hiện, đo lường giá trị của hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của hàng
hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Tiền tệ muốn là thước đo giá trị thì phải được quy định một đơn vị.
Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ có những tên gọi khác nhau.
+ Phương tiện lưu thông: Tiền là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá. Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu
thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông.
+ Phương tiện cất trữ: Có nghĩa là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Và cất trữ tiền cũng là một hình
thức cất trữ của cải.
+ Phương tiện thanh toán: Tiền được dùng làm phương tiện thanh toán, để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu
hàng… Có thể thanh toán bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản, thẻ tín dụng…
+ Tiền tệ thế giới: Khi xuất hiện quan hệ buôn bán giữa các quốc gia với nhau thì tiền làm chức năng tiền tệ
thế giới, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau. Việc đổi tiền của một quốc gia này thành tiền của một
quốc gia khác dựa trên tỷ giá hối đoái.
*Anh(chị) hãy đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng lạm phát của tiền Việt Nam hiện nay:
- Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông.
- Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng nhằm cân bằng với tiền trong lưu thông.
- Đi vay viện trợ nước ngoài.
- Cải cách tiền tệ.
CÂU 6: Khái niệm kinh tế thị trường? Vai trò của thị trường? Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta
hiện nay? Chỉ ra một số hạn chế của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay?
*Khái niệm kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu
sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
*Vai trò của thị trường:
- Một là, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển.
- Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạora cách thức phân bổ nguồn lực
hiệu quả trong nền kinh tế.
- Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế với nền kinh tế thế giới.QG
- Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường. Thị trường trở nên sống động bởi có sự vận
hành của cơ chế thị trường.
- Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của c quy luật kinh tế.
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức
lao động, thông tin, trí tuệ... trong nền kinh tế thị trường.
*Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta hiện nay: Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả
hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất lưu thông;
điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém.
*Chỉ ra một số hạn chế của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay:
- Môi trường kinh doanh chưa thật sự lành mạnh
- Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ
- Suy giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào bộ máy quản lý nhà nước
- Trang -7
CÂU 7: Phân tích yêu cầu, nội dung, tác dụng của quy luật giá trị? Nêu tác động của quy luật giá trị đến
nền kinh tế nước ta hiện nay? Anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào trong hoạt động sản xuất
kinh doanh.
*Phân tích yêu cầu, nội dung, tác dụng của quy luật giá trị:
- Yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa
là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của
phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, tức là giá cả thị trường
của hàng hóa
+ Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí
người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất
kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
- Nội dung của quy luật giá trị: Yêu cầu việc sản xuất trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao
động hội cần thiết (tức giá trị).Trong nền kinh tế hàng hóa, giá cả và giá trthường chênh lệch, cung lớn hơn
cầu thì giá cả sẽ cao hơn giá trị, cung quá cầu thì giá cả sthấp hơn giá trị, nhưng xét đến cùng, tổng giá cả
hàng hóa vẫn bằng tổng giá trị hàng hóa vì giá cả hàng hóa lúc lên bù lúc xuống và ngược lại. Giá trị hàng hóa
lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện
- Tác dụng của quy luật giá trị:
+ Điều tiết sản xuất, lưu thông mọi hàng hóa trên thị trường:
Nếu cung nhỏ hơn cầu: Giá cả lớn hơn giá trị hàng hóa, khi này hàng hóa sản xuất ra lãi, bán rất chạy,
Trường hợp giá của hàng hóa lại cao hơn giá trị của nó skhiến cho sản xuất mở rộng để tăng cung và ngược
lại.
Nếu cung lớn hơn cầu, hàng hóa được doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn so với nhu cầutiêu dùng của thị
trường, giá cả bán ra cũng sẽ thấp hơn giá trị của cũng khó bán, không sinh lời. Người sản xuất sẽ
ngừng hoặc giảm sản xuất, nếu như giá giảm thì nhu cầu hàng hóa tăng.
Nếu cung bằng cầu: Giá cả bằng giá trị, khi này nền kinh tế được gọi là bão hòa+ Tác động thứ hai của quy
luật giá trị là thúc đẩy cải tiến khoa học kỹ thuật, sản xuất hợp lý, tăng năng suất:
Với nền kinh tế hàng hóa, mỗi cá nhân sản xuất sẽ là một chủ thể có tính độc lập trong việc sản xuất. Sự độc
lập này khiến cho hao phí sức lao động của mỗi người khác nhau. Nếu sức hao tổn lao động của một
nhân nhỏ hơn hao phí lao động xã hội thì sẽ lợi thế sinh lợi nhuận cao. Nếu như nhà sản xuất hao
phí lao động cá nhân lớn hơn hao phí lao động xã hội thì khả năng thua lỗ sẽ cao hơn.
Doanh nghiệp sẽ phải giảm hao phí lao động cá nhân bằng hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội để có được
lợi thế trong vấn đề cạnh tranh, hạn chế rủi ro phá sản. Nếu muốn đạt được điều này, buộc các doanh nghiệp
phải cải tiến khoa học kỹ thuật cũng như tăng năng suất lao động.
+ Người sản xuất hàng hóa phân hóa thành giàu nghèo: Những người điều kiện sản xuất thuận lợi cùng
trình độ chuyên cao sẽ có hao phí lao động cá nhân thấp hơn hao phí lao động xã hội. Cũng từ đó mà họ sẽ có
thêm nhiều lợi nhuận trở nên giàu có. Ngược lại, với những người không có lợi thế cùng điều kiện thuận lợi
sẽ trở thành người nghèo trong xã hội.
*Tác động của quy luật giá trị đến nền kinh tế nước ta hiện nay:
- Trong lĩnh vực sản xuất:
+ Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
+ Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường Việt Nam.
+ Thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.
- Trang -8
- Trong lĩnh vực lưu thông:
+ Hình thành giá cả.
+ Về nguồn hàng lưu thông.
*Anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
nắm quy luật giá trị, khi kinh doanh một mặt hàng nào đó, phải biết xem được nơi nào khả năng bán được
hàng và có lãi rồi từ từ mở rộng, trong trường hợp ế hàng, phải có phương hướng thu hẹp mô hình kinh doanh
của mình lại
CÂU 8: Phân tích nội dung của quy luật cung cầu? Ý nghĩa của quy luật này đối với chủ thể kinh
doanh ở nước ta hiện nay? Cá nhân anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào.
*Phân tích nội dung của quy luật cung – cầu:
Quan hệ cung - cầu là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa những người sản
xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ.
1, Cung – cầu tác động lẫn nhau: khi cầu tăng lên, sản xuất, kinh doanh mở rộng, lượng cung hàng hóa tăng
lên và ngược lại, khi cầu giảm xuống, sản xuất, kinh doanh thu hẹp, lượng cung hàng hóa giảm xuống.
2, Cung cầu ảnh hưởng đến giá cả thị trường: Khi cung lớn hơn cầu, hoặc cung nhỏ hơn cầu đều ảnh hưởng
đến giá cả thị trường. Trường hợp cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường thường thấp hơn giá trị hàng hóa trong
sản xuất. Còn trường hợp cung nhỏ hơn cầu, giá cả thị trường thường cao hơn giá trị hàng hóa trong sản xuất.
Chỉ khi cung bằng cầu thì giá cả thị trường mới bằng giá trị hàng hóa trong sản xuất.
3, Giá cả thị trường ảnh hưởng đến cung – cầu:
+ Về phía cung: Khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, lượng cung tăng lên và ngược lại, khi
giá cả giảm xuống, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, lượng cung giảm xuống.
+ Về phía cầu: Khi giá cả giảm xuống thì cầu có xu hướng tăng lên và ngược lại.
- Các trường hợp cung cầu thường vận động không ăn khớp với nhau, nói cách khác, thường diễn ra thông
qua các trường hợp cung lớn hơn cầu hoặc cung nhỏ hơn cầu. Cung bằng cầu xảy ra chỉ là kết quả của việc san
bằng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị hàng hóa, thông qua quá trình cạnh tranh giữa người bán người
mua trên thị trường khi xét toàn bộ hàng hóa đem ra lưu thông.
Cầu là khối lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong một thời kỳ nhất định tương ứng với
giá cả và thu nhập xác định.
Cungkhối lượng hàng hóa, dịch vụ hiện có trên thị trường và chuẩn bị đưa ra thị trường trong một thời kì
nhất định, tương ứng mức giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất xác định.
Mối quan hệ cung cầu mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa
những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng
hoá, dịch vụ.
+ Cầu tăng => sản xuất mở rộng => cung tăng.
+ Cầu giảm => sản xuất thu hẹp => cung giảm.
Cung – cầu ảnh hưởng đến giá cả thị trường:
+ Cung = Cầu: giá cả = giá trị.
+ Cung > Cầu: giá cả < giá trị .
+ Cung < Cầu: giá cả > giá trị.
Giá cả thị trường ảnh hưởng đến cung – cầu:
- Trang -9
+ về phía cung: Khi giá cả tăng => cung tăng và ngược lại.
+ về phía cầu: Khi giá cả giảm => cầu tăng và ngược lại.
*Ý nghĩa của quy luật này đối với chủ thể kinh doanh ở nước ta hiện nay:
Việc nghiên cứu các quy luật kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Quy luật cung cầu
đòi hỏi nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng để
sản xuất các loại hàng hoá sao cho phù hợp, tránh tình trạng thừa hoặc thiếu hụt. Quy luật cạnh tranh đòi
hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh
để cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng chất lượng sản phẩm không giảm, nhằm tối thiểu hoá chi phí
và tối đa hoá lợi nhuận. Quy luật cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt
hơn, do đó nếu không tuân thủ các quy luật thì sẽ bị đào thải. Các doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm
chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Quy luật giá trị là nguyên
nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì, phân hoá giàu nghèo, những cuộc cạnh tranh không lành
mạnh…Chính vì thế Nhà nước ta cần phải nghiên cứu về quy luật giá trị để kích thích những hình thức kinh
doanh lành mạnh, đồng thời phải trừng trị những hình thức làm ăn phi pháp như: hàng giả, hàng kém chất
lượng, trốn thuế,…
*Cá nhân anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào:
Là một người tiêu dùng, để tiết kiệm được tiền, bản thân em sẽ tận dụng những lúc hàng hóa trên thị trường
nhiều, phù hợp với túi tiền, tránh việc tích trữ hàng hóa, dẫn đến cầu > cung, giá cả sẽ tăng.
CÂU 9: So sánh hai công thức H-T-H’ và T-H-T’? Phân tích mâu thuẫn trong công thức T-H- , từ đó T’
rút ra bản chất của tư bản?
*So sánh hai công thức H-T-H’ và T-H-T’:
+ Điểm giống nhau: cả hai sự vận động, đều do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi
giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau
là người mua và người bán.
+ Điểm khác nhau:
H-T-H T-H-T
Điểm mở đầu, kết thúc Hàng hóa, tiền đóng vai trò trung gian Tiền tệ, hàng hóa đóng vai trò trung gian
Trật tự hành vi Bán trước, mua sau Mua trước, bán sau
Mục đích
Mục đích của lưu thông hàng hoá
giản đơn giá trị sử dụng để thoả
mãn nhu cầu, nên các hàng hoá trao
đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau
Mục đích của lưu thông bản không phải vận động
giá trị sử dụng, giá trị, hơn nữa giá trị
tăng thêm. vậy, nếu số tiền thu về bằng số tiền
ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Do
đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên
công thức vận động đầy đủ của tư bản là T – H – T,
trong đó T’ = T + T. Số tiền trội hơn so với số tiền
đã ứng ra (T) được C. Mác gọi giá trị thặng .
Số tiền ứng ra ban đầu đã chuyển hoá thành tư bản
Giới hạn vận động
Sự vận động sẽ kết thúc giai đoạn
thứ hai, khi những người trao đổi
được giá trị sử dụng mà người đó cần
đến. Do đó sự vận động giới hạn
Sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự
lớn lên của giá trị là không có giới hạn
- Trang -10
*Phân tích mâu thuẫn trong công thức T-H- , từ đó rút ra bản chất của tư bản:T’
- Giá trị thặng dư được tạo ra ở đâu: Từ công thức T-H-T’ nhiều người lầm tưởng cả sản xuất và lưu thông đều
tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng trong mọi trường hợp tiền và lưu thông đều không tạo ra giá trị và giá
trị thặng dư. Nhưng giá trị thặng dư vẫn lớn lên đồng thời với lưu thông nên nảy sinh những mâu thuẫn.
- Trong lưu thông có thể xảy ra hai trường hợp:
+ Trao đổi ngang giá: hai bên trao đổi không được lợi về giá trị, chỉ được lợi về giá trị sử dụng
+ Trao đổi không ngang giá: gồm 3 trường hợp
Trường hợp 1: Bán cao hơn giá trị, khi đó được lợi khi bán nhưng mua bị thiệt vì người bán cũng đồng thời
là người mua
Trường hợp 2: Mua thấp hơn giá trị, khi đó được lợi khi là người bán và bị thiệt khi là người mua
Trường hợp 3: Mua rẻ bán đắt. Tổng giá trị toàn xã hội không tăng lên bởi vì số giá trị mà người này được
số giá trị mà người khác bị mất
- Vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.
- Kết luận:
+ Phải lấy quy luật nội tại của lưu thông bản để giải thích sự chuyển hóa của tiền thành bản, tức lấy
việc trao đổi ngang giá làm điểm xuất phát.
+ Sự chuyển hóa của người có tiền thành nhà bản phải tiến hành trong phạm vi lưu thông đồng thời lại
không phải trong lưu thông.
“Vậy tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất
hiện trong lưu thông và đồng thời không phải lưu thông”. Đó là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
CÂU 10: Vì sao sức lao động trở thành hàng hóa? Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động?
So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động?
*Sức lao động trở thành hàng hóa vì:
- Một người lao động phải được tự do về thân thể, do đó khả năng chi phối sức lao độngcủa mình. Sức
lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản con người có sức lao động đưa ra
bán.
- Hai người lao động bị tước đoạt hết liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong
điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
=> Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá.
*Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
- Giá trị hàng hóa sức lao động:
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra
sức lao động quyết định.
+ Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó người lao động phải
tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động do các bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của người lao động
- Trang -11
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua:
+ Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động.
+ Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử. Hơn thế, giá trị sử dụng
của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt không hàng hóa thông thường nào được, đó trong
khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn. Đây chính
là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có
* So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động:
- Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện
khi con người sử dụng hay tiêu dùng
- Khác nhau:
+ Hàng hoá sức lao động: Là hàng hóa đặc biệt, bao hàm cả yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần.
Hàng hóa sức lao động gắn liền với cơ thể sống của con người.
Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua.
Mua bán có thời hạn, mua đứt, bán đứt. Giá cả nhỏ hơn giá trị hoặc giá cả có thể tương đương với giá trị.
Giá trị sử dụng đặc biệt: là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.
Quá trình sử dụng hay tiêu dùng, là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời tạo ra một giá
trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động.
+ Hàng hóa thường:
Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau
Giá trị: cả yếu tố tinh thần, vật chất và lịch sử. Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất
Giá trị trao đổi, giá trị sử dụng thông thường: Là nguồn gốc của giá trị trao đổi: Biểu hiện của của cải
Hàng hóa thông thường thể đem ra trao đổi: Sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị
sử dụng của nó đều giảm dần theo thời gian.
CÂU 11: Bản chất giá trị thặng dư? Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Vì sao giá trị
thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối? Cho ví dụ?
*Bản chất giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư phản ánh rất rõ bản chất quan hệ bóc lột trong sản xuất. Giá trị thặng dư càng cao đồng nghĩa
với việc quan hệ bóc lột giữa người chủ và công nhân càng nặng.
Hay nói cách khác, tư bản chủ nghĩa ra sức bóc lột sức lao động của người công nhân để đẩy giá trị thặng dư
mình được lên mức cao nhất. Chính vậy, người giàu sẽ mãi giàu còn người nghèo vẫn smãi loay
hoay với cuộc sống thiếu thốn của mình.
*Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng tuyệt đối: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo
dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu
không đổi.
- Trang -12
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được từ việc kéo dài ngày lao động vượt giới hạn thời gian lao
động cần thiết. Ngày lao động kéo dài còn thời gian lao động cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động
thặng dư tăng lên. Phương pháp sản xuất giá trị thặng tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng
trong khi năng suất, giá trị thời gian lao động tất yếu không đổi. sở chung của chế độ bản chủ
nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản.
Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, NSLĐ còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà
tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột SLĐ công nhân làm thuê.
Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết liệt đòi rút ngắn ngày lao động nên
các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động vô thời hạn. Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn
đến mức bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
đối chính là tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời gian lao
động trong ngày nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.
2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời
gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong
điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa trên cơ
sở tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động hội mà đầu tiên là ở ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng
làm cho giá trị sức lao động giảm xuống. Từ đó thời gian lao động cần thiết cũng giảm. Khi độ dài ngày lao
động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản xuất giá
trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá
trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng lên trong điều kiện ngày lao động cường độ lao
động không đổi.
*Vì sao giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối? Cho ví dụ?
Cả hai đều giá trị thặng dư, đều kết quả bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê, đặc biệt
chúng đều dựa trên sở tăng năng suất lao động. (Ở đây bạn phải hiểu khái niệm tăng năng suất lao động
nghĩa là trong cùng một thời gian lao động như trước nhưng tổng sản phẩm tăng lên, nhưng tổng chi phí không
tăng (hoặc tăng ít) sao cho giá trị một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Nếu tổng sản phảm tăng, nhưng giá trị
một đơn vị sản phẩm không giảm đi mà vẫn giữ nguyên như trước, thì không phải tăng năng suất lao động.
Hai loại giá trị thặng dư này chỉ khác nhau ở chỗ: giá trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra do tăng năng suất lao
động cá biệt (trong một doanh nghiệp), còn giá trị thặng dư tương đối được tạo ra do tăng năng suất lao động
xã hội. Cụ thể là giá trị thặng dư tương đối được sản xuất ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại,
để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên sở tăng năng suất lao động xã hội, trong
điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Giá trị thặng siêu ngạch gía trị thặng thu được do tăng năng suất lao động cá biệt (trong một xí nghiệp),
làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
Ví dụ: Giá trị thị trường của 1 hàng hoá = 8c + 2v + 2m =12
Giá trị cá biệt do tăng năng suất = 7c + 2v + 2m = 11
Giá trị thặng dư siêu ngạch = 12 – 11 = 1
CÂU 12: Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt N ? Tính tất yếu khách quan của am
việc phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam? Anh chị hãy đưa ra nhận
định về những thành tựu và hạn chế của nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.
*Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN:
- Trang -13
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, sự quản lý của NNPQXHCN,do ĐCSVN lãnh đạo;
bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
*Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị
trường đồng thời góp phần từng bước xác lập một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, công
bằng, có sự điều tiết của nhà nước do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
- Phân tích tính tất yếu khách quan:
(1) Kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với tính quy luật phát triển của khách quan.
Kinh tế thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam những điều kiện cho sự hình
thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không mất đi mà còn phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu,
sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu hình thành kinh tế thị trường.Như vậy, sự lựa chọn mô hình KTTT định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
(2) KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế,xã hội của đất nước.
KTTT là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi
thị trường, là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh hiệu quả cao. Dưới tác động của các
quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ,
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm. Xét trên góc độ đó, sự phát triển
kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn là cơ sở vật chất tạo điều kiện thực hiện những mục tiêu XHCN.
(3) Mô hình KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn một XH
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sự tồn tại của kinh tế thị trường ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng cho sự phát triển của lực lượng sản
xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không
thể lựa chọn hình kinh tế thị trường bản chủ nghĩa, chỉ lựa chọn hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
*Anh chị hãy đưa ra nhận định về những thành tựu và hạn chế của nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.
Thành tựu: Thực tế cho thấy, việc phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam đã mang lại hiệu quả cao.
Qua gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã phát triển nhanh chóng. Từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu do hậu quả của
thời kỳ là thuộc địa, nông nghiệp lúa nước là chủ đạo, bị chiến tranh tàn phá mấy chục năm một phần do
những sai lầm của cơ chế quản kinh tế tập trung, bao cấp, hiện nay kinh tế nước ta đã vươn lên thành một
trong những nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực, có độ mở lớn hàng đầu thế giới và cũng có tốc độ tăng
trưởng nhanh hàng đầu thế giới.
Hạn chế: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập… Chất lượng
luật pháp chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp.Môi trường đầu kinh doanh chưa thực sự thông thoáng,
minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.
CÂU 13: Khái niệm thchế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa? Sự cần thiết phải hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa? Phân tích nội dung hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?
*Khái niệm thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hệ thống đường lối, chủ trương chiến lược, hệ thống
pháp luật, chính sách xác lập chế vận hành, điều chỉnh hành vi các quan hệ kinh tế của các chủ thể
liên quan đến hoạt động kinh tế, nhằm hướng tới thiết lập đồng bộ các yếu tố thị trường hiện đại theo hướng
góp phần thúc đẩy dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh
- Trang -14
*Sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Thứ nhất, do kinh tế thị trường mới được hình thành và đang phát triển, nên thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa đồng bộ.
- Thứ hai, hệ ống thể chế chưa đầy đủ. th
- Thứ ba, hệ thống thể chế còn kém hiệu lực (chưa đủ mạnh), hiệu quả thực thi chưa cao; chưa có đầy đủ các
loại thị trường và các yếu tố của thị trường, chất lượng của chúng còn ở trình độ thấp.
Chính vì vậy, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan
trong giai đoạn hiện nay.
*Phân tích nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
- Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ, trách nhiệm trong thủ tục hành chính để quyền tài sản được giao
dịch thông suốt. Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh
tế trong bảo vệ quyền tài sản.
Thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu,
thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình
đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật. Tạo điều kiện thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh
nhân Việt Nam thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lâp, tự chủ của nền kinh tế.
- Thứ hai, hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; hoàn thiện pháp luật về phí và lệ phí. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp theo chế thị trường, thể
chế bảo vệ nhà đầu tư.
Đẩy mạnh phát triển thị trường hàng hóa - dịch vụ; phát triển cân bằng, đồng bộ thị trường tài chính, đẩy mạnh
hợp tác công - tư, điều hành lãi suất phù hợp; đổi mới phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học, công nghệ, tăng
cường bảo hộ thực thi quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện pháp luật, chế, chính sách để phát triển và vận
hành thông suốt thị trường bất động sản; hoàn thiện chế, chính sách để phát triển đồng bộ, liên thông thị
trường lao động cả về quy mô, chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề.
- Thứ ba, hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội,quốc phòng,
an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nhanh và bền vững với phát triển xã hội bền vững, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội, tạo cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia bình đẳng và thụ hưởng công bằng thành quả
từ quá trình phát triển. Phát triển hthống an sinh hội, huy động sự tham gia của các tầng lớp Nhân dân,
cộng đồng xã hội thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Hoàn thiện thể chế về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển các khu kinh tế -
quốc phòng. Gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp quốc phòng, an ninh với công nghiệp dân sinh trong tổng thể
chính sách công nghiệp quốc gia. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền
quốc gia và nâng cao đời sống Nhân dân vùng biển.
- Thứ tư, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò
làm chủ của Nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực hoạch định đường
lối, chủ trương phát triển kinh tế - hội của Đảng; đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và phương thức hoạt
động của Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của cả h
thống chính trị.
- Trang -15
Nhà nước tập trung thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng tổ chức thực hiện pháp luật; đổi mới phương
thức quản lý nhà nước về kinh tế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán
và thực thi pháp luật; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh.
Phát huy vai trò giám sát, phản biện hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Bảo đảm mọi người đều được bình đẳng trong tiếp cận các hội, điều kiện phát triển, được tham gia và hưởng
lợi từ quá trình phát triển. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp vquyền con người, quyền công dân, quyền
và nghĩa vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp.
- Thứ năm, hoàn thiện thể chế đẩy mạnh nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật các thiết chế, cơ chế liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện
các cam kết quốc tế. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại, đầu tư, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiêp
phát triển thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp
luật quốc tế. Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong hợp tác kinh tế quốc tế, không
để lệ thuộc vào một số ít thị trường.
CÂU 14: Phân tích quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản? Để tăng khối lượng giá trị thặng dư
nhà tư bản cần phải sử dụng những biện pháp gì?
*Phân tích quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản:
- Tuần hoàn của tư bản:
TB công nghiệp (với nghĩa các ngành vật chất), trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức.SX
Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất.
+ Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá
trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
+ Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp
hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa trong giá trị của nó giá trị thặng dư.
Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp
với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
+ Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông: H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng
hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở
lại thị trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền.
Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của nhà tư bản
đã được thực hiện, bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Sự vận động của bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận độngtinh tuần hoàn: bản ứng ra dưới hình
thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục
được lặp đi, lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái
khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo GTTD.
- Chu chuyển của tư bản:
- Trang -16
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với cách là một quá trình định kỳ đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp
lại thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời
gian và lưu thông của . Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian và thời gian lưu thông.SX HH SX
+ Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. Thời
gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy
mô hoặc chất lượng các sản phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và
tình trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
+ Thời gian lưu thông thời gian tư bản nằm trong nh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông, tư bản không
làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra GTTD. Thời gian lưu thông
gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các nhân tố sau
đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của vận tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng được sản xuất ra
nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng chu chuyển không giống
nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau, người ta tính số vòng chu chuyển của các loại
bản đó trong một thời gian nhất định.
Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm. Ta có công thức số vòng
chu chuyển của tư bản như sau: n = CH/ch
Như vậy, tốc độ chu chuyển của bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển của bản. Muốn tăng
tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó.
*Để tăng khối lượng giá trị thặng dư nhà tư bản cần phải sử dụng những biện pháp gì:
- Kéo dài thời gian lao động trong ngày khi thời gian lao động cần thiết không đổi
- Tăng cường độ lao động khi ngày lao động không đổi
- Giảm giá trị sức lao động khi ngày lao động không đổi
CÂU 15: Lợi ích kinh tế gì? Bản chất biểu hiện của lợi ích kinh tế? Phân tích vai trò của lợi ích
kinh tế đối với các chủ thể kinh tế? Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế? Phân tích một
số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường?
*Lợi ích kinh tế là gì:
Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người.
VD: + Hoạt động đánh bắt cá -> lợi ích kinh tế là thủy hải sản đánh bắt được
+ Hoạt động buôn bán của các doanh nhân -> lợi ích kinh tế là lợi nhuận mà họ thu được .
*Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế:
- Xét về bản chất: Lợi ích phản ánh mục đích và động cơ của các giữa các chủ thể trong nền SX XH.KT QH
+ Các thành viên trong hội xác lập các quan hệ kinh tế với nhau trong quan hệ đó hàm chứa những lợi
ích kinh tế mà họ có thể có được.
+ Các quan hệ hội luôn mang tính lịch sử, do vậy, lợi ích kinh tế trong mỗi giai đoạn cũng phản ánh bản
chất xã hội của giai đoạn lịch sử đó.
Trong thời bao cấp: lợi ích kinh tế tư nhân gắn liền với tập thể (sở hữa tập thể) không tạo động lực cho người
lao động vì họ không được hưởng lợi ích kinh tế do chính họ tạo ra.
Kinh tế thị trường: lợi ích kinh tế tách rời, độc lập (sở hữa tư nhân)
- Trang -17
- Về biểu hiện: Gắn với các chủ thể kinh tế khác nhau là những lợi ích tương ứng:
+ Lợi ích của chủ doanh nghiệp trước hết là lợi nhuận
+ Lợi ích của các ngân hàng cho doanh nghiệp vay lợi tức -> lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế sẽ do
quan hệ sở hữu TLSX quyết định
+ Lợi ích của người lao động là thu nhập
*Phân tích vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế:
- Một là, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế - hội.
Con người tiến hành các hoạt động kinh tế là để thỏa mãn nhu cầu vật chất. Mức thu nhập càng cao thì mức độ
thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần càng tốt.
- Hai là, lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của các lợi ích khác.
+ Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và thực hiện lợi ích chính trị, lợi
ích xã hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể xã hội.
+ Lợi ích kinh tế mang tính khách quan là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
*Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế:
- Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Là phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người, lợi ích kinh tế trước hết phụ thuộc
vào số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, mà điều này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển LLSX.
- Thứ hai, địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Quan hệ sản xuất, trước hết quan hệ sở hữu về liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con
người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm
ngoài những quan hệ sản xuất và trao đối, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất và trao đổi, là hình
thức tồn tại và biêu hiện của các quan hệ sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế thị trường.
- Thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước.
Sự can thiệp của nhà nước vào nền KTTTtất yếu khách quan, bằng nhiều loại công cụ, trong đó có các chính
sách KT-XH. Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập
của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập thay đổi, phương thức và mức độ thỏa mãn
các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức là lợi ích quan hệ lợi ích KT KT giữa các chủ thể cũng thay đổi.
- Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế.
Bản chất của KTTT là mở cửa hội nhập. Khi mở cửa hội nhập, các có thể gia tăng lợi ích kinh tế từ thương QG
mại quốc tế, đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu
thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài. Đất nước có thề phát
triển nhanh hơn nhưng cũng phải đối mặt với các nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ... Điều đó
có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tác động mạnh mẽ và nhiều chiều đên lợi ích kinh tế của các chủ thể.
* Phân tích một số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường?
- Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Người lao động là người có đủ thể lực và trí lực để lao động, tức là có khả năng lao động. Khi họ bán sức lao
động sẽ nhận được tiền lương (hay tiền công) và chịu sự quản lỷ, điều hành của người sử dụng lao động. Bản
chất của tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động, chỉ đủ đê tái sản xuất sức lao động.
Người sử dụng lao động là chủ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn,
sử dụng lao động theo hợp đông lao động. Là người trả tiền mua hàng hóa sức lao động nên người sử dụng lao
động có quyền tổ chức, quản lý quá trình làm việc của người lao động.
- Trang -18
Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, người lao động và người sử dụng lao động đã thành lập các tổ chức riêng.
Công đoàn là tổ chức quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi NLĐ. Người sử dụng lao động có các nghiệp đoàn, hội
nghề nghiệp ... Trong xã hội hiện đại, đấu tranh giữa các bên cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
Những người SDLĐ có quan hệ lợi ích kinh tế chặt chẽ với nhau. Trong cơ chế thị trường, những người SDLĐ
vừa là đối tác, vừa là đối thủ của nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ.
Những người sử dụng lao động liên kết cạnh tranh với nhau trong ửng xử với người lao động, với những
người cho vay vốn, cho thu đất, với nhà nước, trong chiếm lĩnh thị trường...
Trong chế thị trường, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sừ dụng lao động làm cho họ cạnh
tranh với nhau quyết liệt. Hệ quả tất yếu là các các nhà doanh nghiệp có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội và
các rủi ro khác bị thua lỗ, phá sản... bị loại bỏ khỏi thương trường. Đông thời, những người thu được nhiều lợi
nhuận sẽ phát triển nhanh chóng. Quan hệ chặt chẽ về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động làm
cho họ trở thành đội ngũ doanh nhân. Trong cơ chế thị trường, đội ngũ này đóng góp quan trọng vào sự phát
triển kinh tế - xã hội nên cần được tôn vinh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
Trong nền KTTT, nhiều người muốn bán sức lao dộng. Để thực hiện lợi ích kinh tế của mình, người lao động
không chỉ phải quan hệ với người sử dụng lao dộng, mà còn phải quan hệ với nhau. Nếu có nhiều người bán
SLĐ, người lao động phải cạnh tranh với nhau. Hậu quả là tiền lương của người lao động bị giảm xuồng, một
bộ phận người lao động bị sa thải. Nếu những người lao động thông nhất được với nhau, họ thể thực hiện
được các yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với giới chủ (những người sử dụng lao động).
Để hạn chế mâu thuẫn lợi ích kinh tế trong nội bộ, đặc trưng với những người sử dụng lao động, những người
lao động đã thành lập tổ chức riêng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người lao động trong giải quyet
các mối quan hệ là rất cần thiết nhưng phải dựa trên các quy định của pháp luật.
Bốn là, quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội.
Trong chế thị trường, nhân tồn tại dưới nhiều hình thức. Người lao động, người sử dụng lao động
thành viên của hội nên mỗi người đều lợi ích nhân quan hệ chặt chẽ với lợi ích hội. Nếu
người lao động và người sử dụng lao động làm việc theo đúng các quy định của pháp luật thực hiện được
các lợi ích kinh tế của mình thì họ đã góp phàn phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội. Khi
lợi ích kinh tế của xã hội dược thực hiện, xã hội phát triển sẽ tạo lập môi trường thuận lợi để người lao động
và người sử dụng lao động thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình. Ngược lại, nếu giữa người lao động
và người sử dụng lao động này sinh mâu thuẫn không giải quyết được; hoặc người lao động và người sử dụng
lao dộng cộng tác với nhau là hàng giả, hàng nhái, trôn thuê... thì lợi ích kinh tế của xã hội sẽ bị tổn hại.
+ Lợi ích cá nhân là lợi ích của 1 thành viên trong xã hội khi tham gia vào hoạt động kinh tế.
+ Lợi ích nhóm: lợi ích của các cá nhân của tổ chức hoạt động trong cùng ngành cùng lĩnh vực có sự liên
kết với nhau để thể hiện tốt lợi ích riêng.
+ Lợi ích xã hội: Là tổng các lợi ích cá nhân. Lợi ích cá nhân được thực hiện sẽ làm phát triển nền kinh tế thực
hiện được lợi ích kinh tế của xã hội.
CÂU 16: Quan hệ lợi ích kinh tế là gì? Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế?
Phân tích vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích?
*Quan hệ lợi ích kinh tế là gì:
Quan hệ lợi ích kinh tế sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người, giữa các cộng đồng người,
giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc
gia với phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong mối liên hệ với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định.
- Trang -19
*Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế:
- Sự thống nhất của quan hệ lợi ích kinh tế:
+ Chúng thống nhất với nhau một chủ thể có thể trở thành bộ phận cấu thành của chủ thể khác. Do đó, lợi
ích của chủ thể này được thực hiện thì lợi ích của chủ thể khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp được thực hiện.
Chẳng hạn, mỗi cá nhân NLĐ có lợi ích riêng của mình, đồng thời các cá nhân đó lại là bộ phận cấu thành tập
thể doanh nghiệp và tham gia vào lợi ích tập thể dó. Doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả, lợi ích doanh
nghiệp càng được đảm bảo thì lợi ích NLĐ càng được thực hiện tốt: việc làm được đảm bảo, thu nhập ổn định
được nâng cao... Ngược lại, lợi ích người lao động càng được thực hiện tốt thì người lao động càng tích cực
làm việc, trách nhiệm với doanh nghiệp càng cao và từ đó lợi ích doanh nghiệp càng được thực hiện tốt.
+ Trong nền kinh tế thị trường, sản lượng đầu ra các yếu tố đầu vào đều được thực hiện thông qua thị trường.
Điều đó có nghĩa là, mục tiêu của các chủ thế chỉ được thực hiện trong mối quan hệ và phù hợp với mục tiêu
của các chủ thề khác. Như vậy, khi các chủ thể kinh tế hành động vì mục tiêu chung hoặc các mục tiêu thống
nhất với nhau thì các lợi ích kinh tế của các chủ chể đó thống nhất với nhau. Chẳng hạn, để thực hiện lợi ích
của mình, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, nâng cao chắt lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã sản phẩm... thì lợi
ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội thống nhất với nhau. Chủ doanh nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì
nền kinh tế, đất nước càng phát triển.
- Sự mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế:
+ Các quan hệ lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau vì các chủ thể kinh tế có thể hành động theo những phương
thức khác nhau đê thực hiện các lợi ích của mình. Sự khác nhau đó đến mức đối lập thì trở thành mâu thuẫn.
Ví dụ, vì lợi ích của mình, các cá nhân, doanh nghiệp có thể làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế... thì lợi ích của
cá nhân, doanh nghiệp và lợi ích hội mâu thuẫn với nhau. Khi đó, chủ doanh nghiệp càng thu được nhiều
lợi nhuận, lợi ích kinh tế của người tiêu dung, của xã hội càng bị tồn hại.
+ Lợi ích của những chủ thể kinh tế có quan hệ trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh cũng có thể mâu thuẫn với nhau vì tại một thời điềm kct quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là xác định.
Do đó, thu nhập của chủ thể này táng lên thì thu nhập của chủ thể khác giảm xuống. Chẳng hạn, tiền lưong của
người lao động bị bớt xên sẽ làm tăng lợi nhuận của chủ doanh nghiẹp; nhà nước giảm thuế sẽ làm lợi nhuận
doanh nghiệp tăng...
+ Khi có mâu thuẫn thì việc thực hiện lợi ích này có thể sẽ ngăn cản, thậm chí làm tồn hại đến các lợi ích khác.
Mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là cội nguồn của các xung đột xã hội. Do vậy, điều hoà mâu thuẫn giữa các lợi ích
kinh tế buộc các chủ thể phải quan tâm và trở thành chức năng quan trọng của nhà nước nhằm ồn định xã hội,
tạo động lực phát triền kinh tế - xã hội.
+ Trong các hình thức lợi ích kinh tế, lợi ích cá nhân là cơ sở, nền tảng của các lợi ích khác. Các nguyên nhân
chủ yếu là, thứ nhất nhu cầu cơ bản, song còn trước hết thuộc về các cá nhân, quyết định hoạt động của các cá
nhân; thứ hai, thực hiện lợi ích cá nhân là sơ sở để thực hiện các lợi ích khác vì cá nhân cấu thành nên tập thể,
giai cấp, ... “Dân giàu” thì “nước mạnh”. Do dó, lợi ích cá nhân chính đáng cần được XH PL tôn trọng, BV.
*Phân tích vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích:
- Để có sự hài hòa giữa các lợi ích kinh tế chỉ có kinh tế thị trường là không đù vì các lợi ích kinh tế luôn vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau, mà cần sự can thiệp của nhà nước. Bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh
tế sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ lợi ích kinh tế bằng các công cụ giáo dục, pháp luật, hành
chính, kinh tế... nhằm gia tăng thu nhập cho các chủ thề kinh tế; hạn chế mâu thuẫn, tăng cường sự thống nhất;
xử lý kịp thời khi có xung đột.
+ Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lọi ích của các chủ thế kinh tế.
+ Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội.
+ Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực dối với sự phát triển xã hội.
+ Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế.
- Trang -20
CÂU 17: Vì sao phải tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam? Nội dung công nghiệp hóa –
hiện đại hóa ở Việt Nam. Tác động của CNH – HĐH đối với nền kinh tế ở nước ta hiện nay.
*Vì sao phải tiến hành CNH – HĐH ở Việt Nam:
+ Yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng - kỹ thuật của công nghiệp chủ nghĩa xã hội.
+ Do yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật - công nghệ giữa nước ta với các nước
trong khu vực và thế giới.
+ Do yêu cầu phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của CNXH,
=> Đó là nội dung của tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa: bắt buộc phải xảy ra, không
phụ thuộc vào ý thức con người muốn hay không muốn.
*Nội dung CNH – HĐH ở Việt Nam:
a. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
- Thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội
- Áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào các ngành của nền kinh tế quốc dân.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
b. Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển đổi từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả và bất hợp lí, sang một cơ
cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả. Xu hướng của sự chuyển dịch này là đi từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp
lên cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp và dịch vụ hiện đại. Đi đôi với chuyển dịch cấu kinh tế phải chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
*Tác động của CNH – HĐH đối với nền kinh tế ở nước ta hiện nay:
- Xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và truyền thông.
+ Huy động mọi nguồn lực trong ngoài nước để phát triển (nhà nước, doanh nghiệp, người dân, nước ngoài).
+ Ứng dụng trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
+ Đẩy mạnh đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
+ Phát triển hạ tầng kết nối số đảm bảo an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện bình đẳng cho người dân
doanh nghiệp khi tiếp cận thông tin và nội dung số; phát triển cảm biến-bộ cảm biến, hệ thống điều khiển các
ứng dụng kinh doanh và CSKH, thu thập thông tin, dữ liệu hình thành HTDL lớn để phân tích và xử lý dữ liệu.
- Phát triển ngành công nghiệp sáng tạo.
+ Phát triển các ngành khí chế tạo, công nghiệp năng lượng, hóa chất, điện tử, công nghiệp vật liệu, chế
biến và hàng tiêu dùng.
+ Phát triển chọn lọc một số ngành, lĩnh vực CN HĐ và có tác động lan tỏa trong nền KT như CNTT, CNSH,
năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, CNMT, công nghiệp QPAN; phát triển các ngành như , hàng hải, DV DL
hàng không, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics và các DV hỗ trợ , khác.SX KD
+ Xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế.
- Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
cho XH và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, gia tăng giá trị hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường,
đẩy mạnh phân công LĐXH, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xây dựng nông thôn mới.
+ Ứng dụng công nghệ sinh học, thực hiện giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa; phát triển công, thương
nghiệp và dịch vụ phục vụ n/n, nông thôn; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ cho n/n và nông thôn.XD

Preview text:

ÔN THI CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
CÂU 1: Khái niệm kinh tế chính trị Mác – Lênin? Phân biệt Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế? Ý
nghĩa của việc học tập học phần Kinh tế chính trị Mác – Lênin đối với sinh viên hiện nay? Theo em nội

dung nào có ý nghĩa nhất mà em có thể vận dụng trong thực tế.
*Khái niệm: Kinh tế chính trị Mác-Lênin là một trong những dòng lý thuyết kinh tế chính trị nằm trong dòng
chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác và Ph.Ăng gen và
V.I Lênin dựa cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học và kinh tế chính trị nhân loại trước đó.
*Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
- Quy luật kinh tế:
+ Là những mối liên hệ bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các hình tượng và quá trình kinh tế + Tồn tại khách quan
+ Con người có thể nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế
- Chính sách kinh tế:
+ Là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế
+ Mang tính chất chủ quan của con người, dược hình thành trên cơ sở vận dụng các quy luật
+ Con người có thể thay đổi chính sách kinh tế sao cho phù hợp với quy luật kinh tế
*Ý nghĩa của việc học tập học phần Kinh tế chính trị Mác – Lênin đối với sinh viên hiện nay:
+ Giúp người học có cơ sở lý luận và phương pháp luận nhằm học tập tốt các môn khoa học kinh tế khác
+ Cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho sự hình thành đường lối, chiến lược phát triển KT-XH và các chính sách
+ Nó cũng giúp cho người học hiểu được các chính sách, chiến lược, qui hoạch do nhà nước đặt ra
+ Giúp người học hiểu được sự thay đổi của phương thức SX, các hình thái KT-XH là tất yếu khách quan, là
quy luật của lịch sử; giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường XHCN mà ĐCSVN và nhân dân ta đã
lựa chọn, là phù hợp với quy luật khách quan, đi với dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh
*Nội dung nào có ý nghĩa nhất mà em có thể vận dụng trong thực tế?
Theo em chức năng tư tưởng kinh tế chính trị Mác – Lênin là nội dung ý nghĩa nhất mà em có thể vận dụng
vào thực tế. Vì nó góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng mới cho người lao động tiến bộ, biết quý trọng thành
quả lao động của bản thân và xã hội, yêu chuộng tự do, hòa bình, củng cố niềm tin cho sự phấn đấu dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, ngoài ra còn góp phần xây dựng lý tưởng khoa học cho
những chủ thể có mong muốn thực hành xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa
bỏ những áp lực, bất công giữa con người và con người.
CÂU 2: Hàng hoá là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và cho ví dụ? Vì sao nói hai thuộc tính
của hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau? So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa

thông thường và hàng hóa sức lao động?
*Khái niệm hàng hóa: sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thong qua trao đổi, mua bán.
*Hai thuộc tính của hàng hoá:
- Giá trị sử dụng:
+ Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp. - Trang 1 -
+ Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa:
• Giá trị sử dụng được phát triển trong quá trình phát triển tiến bộ khoa học – kĩ thuật của lực lượng sản xuất.
• Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn vì giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự
nhiên của vật thể hàng hóa quyết định.
• Giá trị sử dụng của hàng hóa chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất, tiêu
dùng cho cá nhân), nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào.
VD: Gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, máy móc để sản xuất, phương tiện để đi lại.
- Giá trị hàng hóa:
+ Khái niệm: giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, nó
biểu hiện quan hệ của những người sản xuất và người trao đổi hàng hóa.
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại khi còn hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
+ Là 1 phạm trù khái niệm trừu tượng.
+ Giá trị trao đổi, trước hết biểu hiện là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi lẫn nhau giữa những giá trị
sử dụng khác nhau. Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc.
+ Giá trị HH: là hao phí lao động XH của người SXHH kết tinh trong HH, biểu hiện quan hệ giữa những người SX trao đổi HH.
+ Chất: Lao động (sức lao động).
+ Lượng: Hao phí lao động sản xuất cần thiết được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Phụ thuộc
vào năng suất LĐ (NSLĐ tỉ lệ nghịch với lượng giá trị LĐ).
+ Cải tạo giá trị hàng hóa: lao động quá khứ và lao động sống.
VD: 10kg gạo sản xuất trong 6 giờ và 1m vải cũng sản xuất trong 6h. Trao đổi hai vật với nhau chính là trao đổi 6 giờ lao động.
*Vì sao nói hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau?
- Mặt thống nhất:
+ Hai thuộc tính cùng tồn tại trong một loại hàng hóa.
+ Một vật khi muốn trở thành hàng hóa sẽ không thể thiếu bất kỳ thuộc tính nào trong hai thuộc tính. - Mặt mâu thuẫn:
+ Thứ nhất, với giá trị sử dụng thì các hàng hóa sẽ không đồng nhất về chất bởi mỗi hàng hóa sẽ có công dụng
khác nhau. Ngược lại, với giá trị hàng hóa thì các hàng hóa sẽ đồng nhất về chất và chúng đều được kết tinh
của lao động, lao động sẽ được vật hóa.
+ Thứ hai, quá trình hình thành lên giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa là khác nhau về không gian và thời gian.
Cụ thể, giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong lĩnh vực
tiêu dùng. Do đó, nếu không thực hiện được giá trị hàng hóa (tức là hàng hóa không bán được) thì sẽ không
thực hiện được giá trị sử dụng, đồng thời có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
*So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động?
- Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện
khi con người sử dụng hay tiêu dùng. - Khác nhau:
+ Hàng hoá sức lao động: Là hàng hóa đặc biệt, bao hàm cả yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần. - Trang 2 -
• Hàng hóa sức lao động gắn liền với cơ thể sống của con người.
• Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua.
• Mua bán có thời hạn, mua đứt, bán đứt. Giá cả nhỏ hơn giá trị hoặc giá cả có thể tương đương với giá trị.
• Giá trị sử dụng đặc biệt: là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.
• Quá trình sử dụng hay tiêu dùng, là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời tạo ra một giá
trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động. + Hàng hóa thường:
• Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau
• Giá trị: cả yếu tố tinh thần, vật chất và lịch sử. Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất
• Giá trị trao đổi, giá trị sử dụng thông thường: Là nguồn gốc của giá trị trao đổi: Biểu hiện của của cải
• Hàng hóa thông thường có thể đem ra trao đổi: Sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị
sử dụng của nó đều giảm dần theo thời gian.
CÂU 3: Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn
đề này ở Việt Nam hiện nay. Tại sao nói lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp bội?
*Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá:
- Lao động cụ thể:
+ Khái niệm: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phương pháp riêng, và kết quả riêng.
+ Đặc trưng của lao động cụ thể:
• Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì càng tạo ra
nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau.
• Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội. Cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ
thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội.
• Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì vậy lao động
cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền vối vật phẩm, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất
kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào.
• Các hình thức phong phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển và sự áp dụng
khoa học – công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế và
khoa học – công nghệ ở mỗi thời đại.
• Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do nó sản giờ cũng do hai nhân tố hợp
thành: vật chất và lao động. Lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của các vật chất,
làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người.
VD: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đối tượng lao động là gỗ, phương
pháp của anh ta là các thao tác về cưa, về bào, khoan, đục; phương tiện được sử dụng là cái cưa, cái đục, cái
bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế.
- Lao động trừu tượng:
+ Khái niệm: Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi đó là sự hao phí óc, sức thần kinh của sức cơ bắp
nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào, thì gọi là lao động trừu tượng.
+ Đặc trưng của lao động trừu tượng: - Trang 3 -
• Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa, làm cơ sở cho sự ngang bằng trao đổi.
• Giá trị của hàng hóa là một phạm trù lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa cũng là một
phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
VD: lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may nếu xét về mặt lao cụ thể thì rất khác nhau
nhưng nếu gạt bỏ hết sự khác nhau ấy đi thì chúng có một điểm chung đó là đều phải hao phí sức lực trí óc,
sức thần kinh của con người. Điểm chung đó là dù người thợ mộc hay người thợ may thì đều phải hao phí sức
lao động, có thể là trí óc, cơ bắp, thần kinh của con người.
*Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam hiện nay:
- Đã đem lại cho hoạc thuyết giá trị lao động một cơ sở khoa học thực sự:
+ Trước Mác đã có nhiều nhà lý luận khẳng định LĐ tạo ra giá trị, nhưng không biết mặt nào tạo ra giá trị.
+ Thiên tài của Mác, phát hiện ra mặt lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị hàng hóa.
- Giải thích các hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế: Sự vận động trái ngược giữa khốilượng của cải vật
chất ngày càng tang đi liền với khối lượng giá trị ngày càng giảm xuống hoặc không đổi.
- Đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho học thuyết giá tị thặng dư: giải thích nguồn gốc của giá trị thặng dư.
*Tại sao nói lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp bội:
Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân gấp bội lên vì trong cùng một đơn vị thời gian lao động
như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. Để cho các hàng hóa do
lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá
trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
CÂU 4: Lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào? Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến
lượng giá trị của hàng hoá? Ý nghĩa của vấn đề này đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh hiện nay?
Là một chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh em sẽ quan tâm đến vấn đề nào?

*Lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào:
- Xét về mặt chất, giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
- Xét về mặt lượng thì lượng g/trị của hàng hoá là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định.
- Muốn đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hoá, người ta dùng thước đo thời gian như: một giờ lao động
một ngày, lao động, một tuần lao động … Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng do thời gian lao động quyết định.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điề ukiện binh
thường của xã hội, tức là với một trinh độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao
động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
- Trên thực tế, thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của
những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hoá nào đó trên thị trường.
*Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá:
- Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
+ Có hai loại năng suất lao động:
• Năng suất lao động cá biệt -> giá trị cá biệt
• Năng suất lao động xã hội -> giá trị XH - Trang 4 -
+ Giá tị của hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động phụ thuộc vào những yếu tố như:
• Trình độ khéo léo (thành tựu) trung bình của từng công nhân
• Mức độ phát triển của khoa học, công nghệ
• Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, cong nghệ vào sản xuất
• Trình độ tổ chức quản lý
• Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
• Các điều kiện tự nhiên
=> Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thành các yếu tố trên
- Cường độ lao động: là khái niệm nói lên mức độ lao động khẩn trương, năng lực của người lao động trong
cùng một thời gian lao động nhất định.
+ Tăng cường độ lao động thực chất cũng giống như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong
một đơn vị sản phẩm kéo dài.
+ Cường độ lao động ảnh hưởng đến sức khoẻ, thể chất, tâm lý, sự thành thạo của người lao động, công tác tổ
chức, kỹ thuật lao động.
- Tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động:
+ Lao động giản đơn: là sự hao phí lao động 1 cách giản đơn mà bất kì người bình thường nào có sức khoẻ
bình thường không cần qua đào tạo,huấn luyện chuyên môn,nghiệp vụ cũng có thể thực hiện được.VD:rửa bát, quét nhà …
+ Lao động phức tạp: là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện đạt đến mức độ lành nghề nhất định
mới có thể tham gia lao động.
*Ý nghĩa của vấn đề này đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh hiện nay:
Tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năng suất lao động, đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại,
đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên
thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch
Bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời
gian lao động như nhau. Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức
tạp đòi hỏi nhiều chất xám. Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề
và áp dụng những biện pháp tiên tiến.
*Là một chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh em sẽ quan tâm đến vấn đề nào:
+ Quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất. + Cạnh tranh lành mạnh + Nâng cao năng suất
+ Tính chất phức tạp của lao động
CÂU 5: Bản chất và chức năng của tiền? Anh (chị) hãy đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình
trạng lạm phát của tiền Việt Nam hiện nay?
*Bản chất và chức năng của tiền?
- Bản chất: Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hang
hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa. - Trang 5 -
- Chức năng của tiền:
+ Thước đo giá trị: Tiền được dùng để biểu hiện, đo lường giá trị của hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của hàng
hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Tiền tệ muốn là thước đo giá trị thì phải được quy định một đơn vị.
Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ có những tên gọi khác nhau.
+ Phương tiện lưu thông: Tiền là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá. Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu
thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông.
+ Phương tiện cất trữ: Có nghĩa là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Và cất trữ tiền cũng là một hình
thức cất trữ của cải.
+ Phương tiện thanh toán: Tiền được dùng làm phương tiện thanh toán, để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu
hàng… Có thể thanh toán bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản, thẻ tín dụng…
+ Tiền tệ thế giới: Khi xuất hiện quan hệ buôn bán giữa các quốc gia với nhau thì tiền làm chức năng tiền tệ
thế giới, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau. Việc đổi tiền của một quốc gia này thành tiền của một
quốc gia khác dựa trên tỷ giá hối đoái.
*Anh(chị) hãy đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng lạm phát của tiền Việt Nam hiện nay:
- Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông.
- Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng nhằm cân bằng với tiền trong lưu thông.
- Đi vay viện trợ nước ngoài.
- Cải cách tiền tệ.
CÂU 6: Khái niệm kinh tế thị trường? Vai trò của thị trường? Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta
hiện nay? Chỉ ra một số hạn chế của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay?

*Khái niệm kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu
sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
*Vai trò của thị trường:
- Một là, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển.
- Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạora cách thức phân bổ nguồn lực
hiệu quả trong nền kinh tế.
- Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế QG với nền kinh tế thế giới.
- Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường. Thị trường trở nên sống động bởi có sự vận
hành của cơ chế thị trường.
- Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy luật kinh tế.
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức
lao động, thông tin, trí tuệ... trong nền kinh tế thị trường.
*Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta hiện nay: Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả
hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông;
điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém.
*Chỉ ra một số hạn chế của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay:
- Môi trường kinh doanh chưa thật sự lành mạnh
- Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ
- Suy giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào bộ máy quản lý nhà nước - Trang 6 -
CÂU 7: Phân tích yêu cầu, nội dung, tác dụng của quy luật giá trị? Nêu tác động của quy luật giá trị đến
nền kinh tế nước ta hiện nay? Anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

*Phân tích yêu cầu, nội dung, tác dụng của quy luật giá trị:
- Yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa
là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó
phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, tức là giá cả thị trường của hàng hóa
+ Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí
người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất
kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
- Nội dung của quy luật giá trị: Yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết (tức giá trị).Trong nền kinh tế hàng hóa, giá cả và giá trị thường chênh lệch, cung lớn hơn
cầu thì giá cả sẽ cao hơn giá trị, cung quá cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá trị, nhưng xét đến cùng, tổng giá cả
hàng hóa vẫn bằng tổng giá trị hàng hóa vì giá cả hàng hóa lúc lên bù lúc xuống và ngược lại. Giá trị hàng hóa
lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện
- Tác dụng của quy luật giá trị:
+ Điều tiết sản xuất, lưu thông mọi hàng hóa trên thị trường:
• Nếu cung nhỏ hơn cầu: Giá cả lớn hơn giá trị hàng hóa, khi này hàng hóa sản xuất ra có lãi, bán rất chạy,
Trường hợp giá của hàng hóa lại cao hơn giá trị của nó sẽ khiến cho sản xuất mở rộng để tăng cung và ngược lại.
• Nếu cung lớn hơn cầu, hàng hóa được doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn so với nhu cầutiêu dùng của thị
trường, giá cả bán ra cũng sẽ thấp hơn và giá trị của nó cũng khó bán, không sinh lời. Người sản xuất sẽ
ngừng hoặc giảm sản xuất, nếu như giá giảm thì nhu cầu hàng hóa tăng.
• Nếu cung bằng cầu: Giá cả bằng giá trị, khi này nền kinh tế được gọi là bão hòa+ Tác động thứ hai của quy
luật giá trị là thúc đẩy cải tiến khoa học kỹ thuật, sản xuất hợp lý, tăng năng suất:
• Với nền kinh tế hàng hóa, mỗi cá nhân sản xuất sẽ là một chủ thể có tính độc lập trong việc sản xuất. Sự độc
lập này khiến cho hao phí sức lao động của mỗi người là khác nhau. Nếu sức hao tổn lao động của một cá
nhân nhỏ hơn hao phí lao động xã hội thì sẽ có lợi thế và sinh lợi nhuận cao. Nếu như nhà sản xuất có hao
phí lao động cá nhân lớn hơn hao phí lao động xã hội thì khả năng thua lỗ sẽ cao hơn.
• Doanh nghiệp sẽ phải giảm hao phí lao động cá nhân bằng hoặc thấp hơn hao phí lao động xã hội để có được
lợi thế trong vấn đề cạnh tranh, hạn chế rủi ro phá sản. Nếu muốn đạt được điều này, buộc các doanh nghiệp
phải cải tiến khoa học kỹ thuật cũng như tăng năng suất lao động.
+ Người sản xuất hàng hóa phân hóa thành giàu – nghèo: Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi cùng
trình độ chuyên cao sẽ có hao phí lao động cá nhân thấp hơn hao phí lao động xã hội. Cũng từ đó mà họ sẽ có
thêm nhiều lợi nhuận và trở nên giàu có. Ngược lại, với những người không có lợi thế cùng điều kiện thuận lợi
sẽ trở thành người nghèo trong xã hội.
*Tác động của quy luật giá trị đến nền kinh tế nước ta hiện nay:
- Trong lĩnh vực sản xuất:
+ Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
+ Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường Việt Nam.
+ Thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế. - Trang 7 -
- Trong lĩnh vực lưu thông: + Hình thành giá cả.
+ Về nguồn hàng lưu thông.
*Anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
nắm rõ quy luật giá trị, khi kinh doanh một mặt hàng nào đó, phải biết xem được nơi nào có khả năng bán được
hàng và có lãi rồi từ từ mở rộng, trong trường hợp ế hàng, phải có phương hướng thu hẹp mô hình kinh doanh của mình lại
CÂU 8: Phân tích nội dung của quy luật cung – cầu? Ý nghĩa của quy luật này đối với chủ thể kinh
doanh ở nước ta hiện nay? Cá nhân anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào.

*Phân tích nội dung của quy luật cung – cầu:
Quan hệ cung - cầu là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa những người sản
xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ.
1, Cung – cầu tác động lẫn nhau: khi cầu tăng lên, sản xuất, kinh doanh mở rộng, lượng cung hàng hóa tăng
lên và ngược lại, khi cầu giảm xuống, sản xuất, kinh doanh thu hẹp, lượng cung hàng hóa giảm xuống.
2, Cung – cầu ảnh hưởng đến giá cả thị trường: Khi cung lớn hơn cầu, hoặc cung nhỏ hơn cầu đều ảnh hưởng
đến giá cả thị trường. Trường hợp cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường thường thấp hơn giá trị hàng hóa trong
sản xuất. Còn trường hợp cung nhỏ hơn cầu, giá cả thị trường thường cao hơn giá trị hàng hóa trong sản xuất.
Chỉ khi cung bằng cầu thì giá cả thị trường mới bằng giá trị hàng hóa trong sản xuất.
3, Giá cả thị trường ảnh hưởng đến cung – cầu:
+ Về phía cung: Khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, lượng cung tăng lên và ngược lại, khi
giá cả giảm xuống, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, lượng cung giảm xuống.
+ Về phía cầu: Khi giá cả giảm xuống thì cầu có xu hướng tăng lên và ngược lại.
- Các trường hợp cung – cầu thường vận động không ăn khớp với nhau, nói cách khác, thường diễn ra thông
qua các trường hợp cung lớn hơn cầu hoặc cung nhỏ hơn cầu. Cung bằng cầu xảy ra chỉ là kết quả của việc san
bằng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị hàng hóa, thông qua quá trình cạnh tranh giữa người bán và người
mua trên thị trường khi xét toàn bộ hàng hóa đem ra lưu thông.
Cầu là khối lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng cần mua trong một thời kỳ nhất định tương ứng với
giá cả và thu nhập xác định.
Cung là khối lượng hàng hóa, dịch vụ hiện có trên thị trường và chuẩn bị đưa ra thị trường trong một thời kì
nhất định, tương ứng mức giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất xác định.
Mối quan hệ cung – cầu là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa người bán với người mua hay giữa
những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ.
+ Cầu tăng => sản xuất mở rộng => cung tăng.
+ Cầu giảm => sản xuất thu hẹp => cung giảm.
Cung – cầu ảnh hưởng đến giá cả thị trường:
+ Cung = Cầu: giá cả = giá trị.
+ Cung > Cầu: giá cả < giá trị .
+ Cung < Cầu: giá cả > giá trị.
Giá cả thị trường ảnh hưởng đến cung – cầu: - Trang 8 -
+ về phía cung: Khi giá cả tăng => cung tăng và ngược lại.
+ về phía cầu: Khi giá cả giảm => cầu tăng và ngược lại.
*Ý nghĩa của quy luật này đối với chủ thể kinh doanh ở nước ta hiện nay:
Việc nghiên cứu các quy luật kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Quy luật cung cầu
đòi hỏi nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng để
sản xuất các loại hàng hoá sao cho phù hợp, tránh tình trạng dư thừa hoặc thiếu hụt. Quy luật cạnh tranh đòi
hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh
để cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng chất lượng sản phẩm không giảm, nhằm tối thiểu hoá chi phí
và tối đa hoá lợi nhuận. Quy luật cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt
hơn, do đó nếu không tuân thủ các quy luật thì sẽ bị đào thải. Các doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm có
chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Quy luật giá trị là nguyên
nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì, phân hoá giàu nghèo, những cuộc cạnh tranh không lành
mạnh…Chính vì thế Nhà nước ta cần phải nghiên cứu về quy luật giá trị để kích thích những hình thức kinh
doanh lành mạnh, đồng thời phải trừng trị những hình thức làm ăn phi pháp như: hàng giả, hàng kém chất lượng, trốn thuế,…
*Cá nhân anh chị sẽ vận dụng quy luật này như thế nào:
Là một người tiêu dùng, để tiết kiệm được tiền, bản thân em sẽ tận dụng những lúc hàng hóa trên thị trường
nhiều, phù hợp với túi tiền, tránh việc tích trữ hàng hóa, dẫn đến cầu > cung, giá cả sẽ tăng.
CÂU 9: So sánh hai công thức H-T-H’ và T-H-T’? Phân tích mâu thuẫn trong công thức T-H- , từ T’ đó
rút ra bản chất của tư bản?
*So sánh hai công thức H-T-H’ và T-H-T’:
+ Điểm giống nhau: cả hai sự vận động, đều do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi
giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau
là người mua và người bán. + Điểm khác nhau: H-T-H T-H-T
Điểm mở đầu, kết thúc Hàng hóa, tiền đóng vai trò trung gian Tiền tệ, hàng hóa đóng vai trò trung gian Trật tự hành vi Bán trước, mua sau Mua trước, bán sau
Mục đích của lưu thông hàng hoá Mục đích của lưu thông tư bản không phải vận động
giản đơn là giá trị sử dụng để thoả là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị
mãn nhu cầu, nên các hàng hoá trao tăng thêm. Vì vậy, nếu số tiền thu về bằng số tiền
đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Do Mục đích
đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên
công thức vận động đầy đủ của tư bản là T – H – T,
trong đó T’ = T + T. Số tiền trội hơn so với số tiền
đã ứng ra (T) được C. Mác gọi là giá trị thặng dư.
Số tiền ứng ra ban đầu đã chuyển hoá thành tư bản
Sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn Sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự
thứ hai, khi những người trao đổi có lớn lên của giá trị là không có giới hạn
Giới hạn vận động
được giá trị sử dụng mà người đó cần
đến. Do đó sự vận động là có giới hạn - Trang 9 -
*Phân tích mâu thuẫn trong công thức T-H-T’, từ đó rút ra bản chất của tư bản:
- Giá trị thặng dư được tạo ra ở đâu: Từ công thức T-H-T’ nhiều người lầm tưởng cả sản xuất và lưu thông đều
tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng trong mọi trường hợp tiền và lưu thông đều không tạo ra giá trị và giá
trị thặng dư. Nhưng giá trị thặng dư vẫn lớn lên đồng thời với lưu thông nên nảy sinh những mâu thuẫn.
- Trong lưu thông có thể xảy ra hai trường hợp:
+ Trao đổi ngang giá: hai bên trao đổi không được lợi về giá trị, chỉ được lợi về giá trị sử dụng
+ Trao đổi không ngang giá: gồm 3 trường hợp
• Trường hợp 1: Bán cao hơn giá trị, khi đó được lợi khi bán nhưng mua bị thiệt vì người bán cũng đồng thời là người mua
• Trường hợp 2: Mua thấp hơn giá trị, khi đó được lợi khi là người bán và bị thiệt khi là người mua
• Trường hợp 3: Mua rẻ bán đắt. Tổng giá trị toàn xã hội không tăng lên bởi vì số giá trị mà người này được là
số giá trị mà người khác bị mất
- Vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. - Kết luận:
+ Phải lấy quy luật nội tại của lưu thông tư bản để giải thích sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, tức là lấy
việc trao đổi ngang giá làm điểm xuất phát.
+ Sự chuyển hóa của người có tiền thành nhà tư bản phải tiến hành trong phạm vi lưu thông và đồng thời lại
không phải trong lưu thông.
“Vậy tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất
hiện trong lưu thông và đồng thời không phải lưu thông”. Đó là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
CÂU 10: Vì sao sức lao động trở thành hàng hóa? Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động?
So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động?

*Sức lao động trở thành hàng hóa vì:
- Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao độngcủa mình. Sức
lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán.
- Hai là người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong
điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức LĐ của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
=> Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá.
*Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
- Giá trị hàng hóa sức lao động:
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra
sức lao động quyết định.
+ Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó người lao động phải
tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định.
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động do các bộ phận sau đây hợp thành:
• Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;
• Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
• Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của người lao động - Trang 10 -
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua:
+ Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động.
+ Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử. Hơn thế, giá trị sử dụng
của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trong
khi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn. Đây chính
là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có
* So sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động:
- Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện
khi con người sử dụng hay tiêu dùng - Khác nhau:
+ Hàng hoá sức lao động: Là hàng hóa đặc biệt, bao hàm cả yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần.
• Hàng hóa sức lao động gắn liền với cơ thể sống của con người.
• Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua.
• Mua bán có thời hạn, mua đứt, bán đứt. Giá cả nhỏ hơn giá trị hoặc giá cả có thể tương đương với giá trị.
• Giá trị sử dụng đặc biệt: là nguồn gốc sinh ra giá trị, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.
• Quá trình sử dụng hay tiêu dùng, là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời tạo ra một giá
trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động. + Hàng hóa thường:
• Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau
• Giá trị: cả yếu tố tinh thần, vật chất và lịch sử. Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất
• Giá trị trao đổi, giá trị sử dụng thông thường: Là nguồn gốc của giá trị trao đổi: Biểu hiện của của cải
• Hàng hóa thông thường có thể đem ra trao đổi: Sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị
sử dụng của nó đều giảm dần theo thời gian.
CÂU 11: Bản chất giá trị thặng dư? Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Vì sao giá trị
thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối? Cho ví dụ?

*Bản chất giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư phản ánh rất rõ bản chất quan hệ bóc lột trong sản xuất. Giá trị thặng dư càng cao đồng nghĩa
với việc quan hệ bóc lột giữa người chủ và công nhân càng nặng.
Hay nói cách khác, tư bản chủ nghĩa ra sức bóc lột sức lao động của người công nhân để đẩy giá trị thặng dư
mà mình có được lên mức cao nhất. Chính vì vậy, người giàu sẽ mãi giàu còn người nghèo vẫn sẽ mãi loay
hoay với cuộc sống thiếu thốn của mình.
*Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo
dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi. - Trang 11 -
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được từ việc kéo dài ngày lao động vượt giới hạn thời gian lao
động cần thiết. Ngày lao động kéo dài còn thời gian lao động cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động
thặng dư tăng lên. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng
dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ
nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản.
Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, NSLĐ còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà
tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột SLĐ công nhân làm thuê.
Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết liệt đòi rút ngắn ngày lao động nên
các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động vô thời hạn. Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn
đến mức bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
đối chính là tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời gian lao
động trong ngày nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.
2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời
gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong
điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa trên cơ
sở tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động xã hội mà đầu tiên là ở ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng
làm cho giá trị sức lao động giảm xuống. Từ đó thời gian lao động cần thiết cũng giảm. Khi độ dài ngày lao
động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản xuất giá
trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá
trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi.
*Vì sao giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối? Cho ví dụ?
Cả hai đều là giá trị thặng dư, đều là kết quả bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê, đặc biệt
chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. (Ở đây bạn phải hiểu khái niệm tăng năng suất lao động
nghĩa là trong cùng một thời gian lao động như trước nhưng tổng sản phẩm tăng lên, nhưng tổng chi phí không
tăng (hoặc tăng ít) sao cho giá trị một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Nếu tổng sản phảm tăng, nhưng giá trị
một đơn vị sản phẩm không giảm đi mà vẫn giữ nguyên như trước, thì không phải tăng năng suất lao động.
Hai loại giá trị thặng dư này chỉ khác nhau ở chỗ: giá trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra do tăng năng suất lao
động cá biệt (trong một doanh nghiệp), còn giá trị thặng dư tương đối được tạo ra do tăng năng suất lao động
xã hội. Cụ thể là giá trị thặng dư tương đối được sản xuất ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại,
để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, trong
điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là gía trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt (trong một xí nghiệp),
làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
Ví dụ: Giá trị thị trường của 1 hàng hoá = 8c + 2v + 2m =12
Giá trị cá biệt do tăng năng suất = 7c + 2v + 2m = 11
Giá trị thặng dư siêu ngạch = 12 – 11 = 1
CÂU 12: Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam? Tính tất yếu khách quan của
việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Anh chị hãy đưa ra nhận
định về những thành tựu và hạn chế của nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.

*Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN: - Trang 12 -
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của NNPQXHCN,do ĐCSVN lãnh đạo;
bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
*Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị
trường đồng thời góp phần từng bước xác lập một xã hội mà dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, công
bằng, có sự điều tiết của nhà nước do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
- Phân tích tính tất yếu khách quan:
(1) Kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với tính quy luật phát triển của khách quan.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam những điều kiện cho sự hình
thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không mất đi mà còn phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu,
sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu hình thành kinh tế thị trường.Như vậy, sự lựa chọn mô hình KTTT định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
(2) KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế,xã hội của đất nước.
KTTT là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi
thị trường, là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả cao. Dưới tác động của các
quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ,
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm. Xét trên góc độ đó, sự phát triển
kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn là cơ sở vật chất tạo điều kiện thực hiện những mục tiêu XHCN.
(3) Mô hình KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn một XH
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Sự tồn tại của kinh tế thị trường ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng cho sự phát triển của lực lượng sản
xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không
thể lựa chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
*Anh chị hãy đưa ra nhận định về những thành tựu và hạn chế của nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.
Thành tựu: Thực tế cho thấy, việc phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam đã mang lại hiệu quả cao.
Qua gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã phát triển nhanh chóng. Từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu do hậu quả của
thời kỳ là thuộc địa, nông nghiệp lúa nước là chủ đạo, bị chiến tranh tàn phá mấy chục năm và một phần do
những sai lầm của cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, hiện nay kinh tế nước ta đã vươn lên thành một
trong những nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực, có độ mở lớn hàng đầu thế giới và cũng có tốc độ tăng
trưởng nhanh hàng đầu thế giới.
Hạn chế: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập… Chất lượng
luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp.Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thông thoáng,
minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.
CÂU 13: Khái niệm thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Sự cần thiết phải hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Phân tích nội dung hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam?

*Khái niệm thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hệ thống đường lối, chủ trương chiến lược, hệ thống
pháp luật, chính sách xác lập cơ chế vận hành, điều chỉnh hành vi và các quan hệ kinh tế của các chủ thể có
liên quan đến hoạt động kinh tế, nhằm hướng tới thiết lập đồng bộ các yếu tố thị trường hiện đại theo hướng
góp phần thúc đẩy dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh - Trang 13 -
*Sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Thứ nhất, do kinh tế thị trường mới được hình thành và đang phát triển, nên thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa đồng bộ.
- Thứ hai, hệ thống thể chế chưa đầy đủ.
- Thứ ba, hệ thống thể chế còn kém hiệu lực (chưa đủ mạnh), hiệu quả thực thi chưa cao; chưa có đầy đủ các
loại thị trường và các yếu tố của thị trường, chất lượng của chúng còn ở trình độ thấp.
Chính vì vậy, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan
trong giai đoạn hiện nay.
*Phân tích nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
- Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ, trách nhiệm trong thủ tục hành chính để quyền tài sản được giao
dịch thông suốt. Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh
tế trong bảo vệ quyền tài sản.
Thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu,
thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình
đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật. Tạo điều kiện thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh
nhân Việt Nam thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lâp, tự chủ của nền kinh tế.
- Thứ hai, hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; hoàn thiện pháp luật về phí và lệ phí. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, thể
chế bảo vệ nhà đầu tư.
Đẩy mạnh phát triển thị trường hàng hóa - dịch vụ; phát triển cân bằng, đồng bộ thị trường tài chính, đẩy mạnh
hợp tác công - tư, điều hành lãi suất phù hợp; đổi mới phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học, công nghệ, tăng
cường bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để phát triển và vận
hành thông suốt thị trường bất động sản; hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển đồng bộ, liên thông thị
trường lao động cả về quy mô, chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề.
- Thứ ba, hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội,quốc phòng,
an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nhanh và bền vững với phát triển xã hội bền vững, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội, tạo cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia bình đẳng và thụ hưởng công bằng thành quả
từ quá trình phát triển. Phát triển hệ thống an sinh xã hội, huy động sự tham gia của các tầng lớp Nhân dân,
cộng đồng xã hội thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Hoàn thiện thể chế về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển các khu kinh tế -
quốc phòng. Gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp quốc phòng, an ninh với công nghiệp dân sinh trong tổng thể
chính sách công nghiệp quốc gia. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền
quốc gia và nâng cao đời sống Nhân dân vùng biển.
- Thứ tư, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò
làm chủ của Nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực hoạch định đường
lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng; đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và phương thức hoạt
động của Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. - Trang 14 -
Nhà nước tập trung thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật; đổi mới phương
thức quản lý nhà nước về kinh tế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán
và thực thi pháp luật; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh.
Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Bảo đảm mọi người đều được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội, điều kiện phát triển, được tham gia và hưởng
lợi từ quá trình phát triển. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, quyền
và nghĩa vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp.
- Thứ năm, hoàn thiện thể chế đẩy mạnh nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật và các thiết chế, cơ chế liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện
các cam kết quốc tế. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại, đầu tư, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiêp
phát triển thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp
luật quốc tế. Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong hợp tác kinh tế quốc tế, không
để lệ thuộc vào một số ít thị trường.
CÂU 14: Phân tích quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản? Để tăng khối lượng giá trị thặng dư
nhà tư bản cần phải sử dụng những biện pháp gì?

*Phân tích quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản:
- Tuần hoàn của tư bản:
TB công nghiệp (với nghĩa các ngành SX vật chất), trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức.
Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất.
+ Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá
trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
+ Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp
hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư.
Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp
với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
+ Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông: H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng
hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở
lại thị trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền.
Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của nhà tư bản
đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tinh tuần hoàn: tư bản ứng ra dưới hình
thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục
được lặp đi, lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái
khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo GTTD.
- Chu chuyển của tư bản: - Trang 15 -
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp
lại thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời
gian SX và lưu thông của HH. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian SX và thời gian lưu thông.
+ Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. Thời
gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy
mô hoặc chất lượng các sản phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và
tình trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
+ Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông, tư bản không
làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra GTTD. Thời gian lưu thông
gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc các nhân tố sau
đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của vận tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra
nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng chu chuyển không giống
nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau, người ta tính số vòng chu chuyển của các loại tư
bản đó trong một thời gian nhất định.
Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm. Ta có công thức số vòng
chu chuyển của tư bản như sau: n = CH/ch
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển của tư bản. Muốn tăng
tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó.
*Để tăng khối lượng giá trị thặng dư nhà tư bản cần phải sử dụng những biện pháp gì:
- Kéo dài thời gian lao động trong ngày khi thời gian lao động cần thiết không đổi
- Tăng cường độ lao động khi ngày lao động không đổi
- Giảm giá trị sức lao động khi ngày lao động không đổi
CÂU 15: Lợi ích kinh tế là gì? Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế? Phân tích vai trò của lợi ích
kinh tế đối với các chủ thể kinh tế? Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế? Phân tích một
số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường?

*Lợi ích kinh tế là gì:
Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người.
VD: + Hoạt động đánh bắt cá -> lợi ích kinh tế là thủy hải sản đánh bắt được
+ Hoạt động buôn bán của các doanh nhân -> lợi ích kinh tế là lợi nhuận mà họ thu được .
*Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế:
- Xét về bản chất: Lợi ích KT phản ánh mục đích và động cơ của các QH giữa các chủ thể trong nền SX XH.
+ Các thành viên trong xã hội xác lập các quan hệ kinh tế với nhau vì trong quan hệ đó hàm chứa những lợi
ích kinh tế mà họ có thể có được.
+ Các quan hệ xã hội luôn mang tính lịch sử, do vậy, lợi ích kinh tế trong mỗi giai đoạn cũng phản ánh bản
chất xã hội của giai đoạn lịch sử đó.
• Trong thời bao cấp: lợi ích kinh tế tư nhân gắn liền với tập thể (sở hữa tập thể) không tạo động lực cho người
lao động vì họ không được hưởng lợi ích kinh tế do chính họ tạo ra.
• Kinh tế thị trường: lợi ích kinh tế tách rời, độc lập (sở hữa tư nhân) - Trang 16 -
- Về biểu hiện: Gắn với các chủ thể kinh tế khác nhau là những lợi ích tương ứng:
+ Lợi ích của chủ doanh nghiệp trước hết là lợi nhuận
+ Lợi ích của các ngân hàng cho doanh nghiệp vay là lợi tức -> lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế sẽ do
quan hệ sở hữu TLSX quyết định
+ Lợi ích của người lao động là thu nhập
*Phân tích vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế:
- Một là, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế - xã hội.
Con người tiến hành các hoạt động kinh tế là để thỏa mãn nhu cầu vật chất. Mức thu nhập càng cao thì mức độ
thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần càng tốt.
- Hai là, lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của các lợi ích khác.
+ Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và thực hiện lợi ích chính trị, lợi
ích xã hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể xã hội.
+ Lợi ích kinh tế mang tính khách quan là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
*Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế:
- Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Là phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người, lợi ích kinh tế trước hết phụ thuộc
vào số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, mà điều này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển LLSX.
- Thứ hai, địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con
người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm
ngoài những quan hệ sản xuất và trao đối, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất và trao đổi, là hình
thức tồn tại và biêu hiện của các quan hệ sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế thị trường.
- Thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước.
Sự can thiệp của nhà nước vào nền KTTT là tất yếu khách quan, bằng nhiều loại công cụ, trong đó có các chính
sách KT-XH. Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập
của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập thay đổi, phương thức và mức độ thỏa mãn
các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức là lợi ích KT và quan hệ lợi ích KT giữa các chủ thể cũng thay đổi.
- Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế.
Bản chất của KTTT là mở cửa hội nhập. Khi mở cửa hội nhập, các QG có thể gia tăng lợi ích kinh tế từ thương
mại quốc tế, đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu
thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài. Đất nước có thề phát
triển nhanh hơn nhưng cũng phải đối mặt với các nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ... Điều đó
có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tác động mạnh mẽ và nhiều chiều đên lợi ích kinh tế của các chủ thể.
* Phân tích một số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường?
- Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Người lao động là người có đủ thể lực và trí lực để lao động, tức là có khả năng lao động. Khi họ bán sức lao
động sẽ nhận được tiền lương (hay tiền công) và chịu sự quản lỷ, điều hành của người sử dụng lao động. Bản
chất của tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động, chỉ đủ đê tái sản xuất sức lao động.
Người sử dụng lao động là chủ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn,
sử dụng lao động theo hợp đông lao động. Là người trả tiền mua hàng hóa sức lao động nên người sử dụng lao
động có quyền tổ chức, quản lý quá trình làm việc của người lao động. - Trang 17 -
Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, người lao động và người sử dụng lao động đã thành lập các tổ chức riêng.
Công đoàn là tổ chức quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi NLĐ. Người sử dụng lao động có các nghiệp đoàn, hội
nghề nghiệp ... Trong xã hội hiện đại, đấu tranh giữa các bên cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
Những người SDLĐ có quan hệ lợi ích kinh tế chặt chẽ với nhau. Trong cơ chế thị trường, những người SDLĐ
vừa là đối tác, vừa là đối thủ của nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ.
Những người sử dụng lao động liên kết và cạnh tranh với nhau trong ửng xử với người lao động, với những
người cho vay vốn, cho thu đất, với nhà nước, trong chiếm lĩnh thị trường...
Trong cơ chế thị trường, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sừ dụng lao động làm cho họ cạnh
tranh với nhau quyết liệt. Hệ quả tất yếu là các các nhà doanh nghiệp có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội và
các rủi ro khác bị thua lỗ, phá sản... bị loại bỏ khỏi thương trường. Đông thời, những người thu được nhiều lợi
nhuận sẽ phát triển nhanh chóng. Quan hệ chặt chẽ về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động làm
cho họ trở thành đội ngũ doanh nhân. Trong cơ chế thị trường, đội ngũ này đóng góp quan trọng vào sự phát
triển kinh tế - xã hội nên cần được tôn vinh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
Trong nền KTTT, nhiều người muốn bán sức lao dộng. Để thực hiện lợi ích kinh tế của mình, người lao động
không chỉ phải quan hệ với người sử dụng lao dộng, mà còn phải quan hệ với nhau. Nếu có nhiều người bán
SLĐ, người lao động phải cạnh tranh với nhau. Hậu quả là tiền lương của người lao động bị giảm xuồng, một
bộ phận người lao động bị sa thải. Nếu những người lao động thông nhất được với nhau, họ có thể thực hiện
được các yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với giới chủ (những người sử dụng lao động).
Để hạn chế mâu thuẫn lợi ích kinh tế trong nội bộ, đặc trưng với những người sử dụng lao động, những người
lao động đã thành lập tổ chức riêng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người lao động trong giải quyet
các mối quan hệ là rất cần thiết nhưng phải dựa trên các quy định của pháp luật.
Bốn là, quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội.
Trong cơ chế thị trường, cá nhân tồn tại dưới nhiều hình thức. Người lao động, người sử dụng lao động là
thành viên của xã hội nên mỗi người đều có lợi ích cá nhân và có quan hệ chặt chẽ với lợi ích xã hội. Nếu
người lao động và người sử dụng lao động làm việc theo đúng các quy định của pháp luật và thực hiện được
các lợi ích kinh tế của mình thì họ đã góp phàn phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội. Khi
lợi ích kinh tế của xã hội dược thực hiện, xã hội phát triển sẽ tạo lập môi trường thuận lợi để người lao động
và người sử dụng lao động thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình. Ngược lại, nếu giữa người lao động
và người sử dụng lao động này sinh mâu thuẫn không giải quyết được; hoặc người lao động và người sử dụng
lao dộng cộng tác với nhau là hàng giả, hàng nhái, trôn thuê... thì lợi ích kinh tế của xã hội sẽ bị tổn hại.
+ Lợi ích cá nhân là lợi ích của 1 thành viên trong xã hội khi tham gia vào hoạt động kinh tế.
+ Lợi ích nhóm: Là lợi ích của các cá nhân của tổ chức hoạt động trong cùng ngành cùng lĩnh vực có sự liên
kết với nhau để thể hiện tốt lợi ích riêng.
+ Lợi ích xã hội: Là tổng các lợi ích cá nhân. Lợi ích cá nhân được thực hiện sẽ làm phát triển nền kinh tế thực
hiện được lợi ích kinh tế của xã hội.
CÂU 16: Quan hệ lợi ích kinh tế là gì? Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế?
Phân tích vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích?

*Quan hệ lợi ích kinh tế là gì:
Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người, giữa các cộng đồng người,
giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc
gia với phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong mối liên hệ với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định. - Trang 18 -
*Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế:
- Sự thống nhất của quan hệ lợi ích kinh tế:
+ Chúng thống nhất với nhau vì một chủ thể có thể trở thành bộ phận cấu thành của chủ thể khác. Do đó, lợi
ích của chủ thể này được thực hiện thì lợi ích của chủ thể khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp được thực hiện.
Chẳng hạn, mỗi cá nhân NLĐ có lợi ích riêng của mình, đồng thời các cá nhân đó lại là bộ phận cấu thành tập
thể doanh nghiệp và tham gia vào lợi ích tập thể dó. Doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả, lợi ích doanh
nghiệp càng được đảm bảo thì lợi ích NLĐ càng được thực hiện tốt: việc làm được đảm bảo, thu nhập ổn định
và được nâng cao... Ngược lại, lợi ích người lao động càng được thực hiện tốt thì người lao động càng tích cực
làm việc, trách nhiệm với doanh nghiệp càng cao và từ đó lợi ích doanh nghiệp càng được thực hiện tốt.
+ Trong nền kinh tế thị trường, sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào đều được thực hiện thông qua thị trường.
Điều đó có nghĩa là, mục tiêu của các chủ thế chỉ được thực hiện trong mối quan hệ và phù hợp với mục tiêu
của các chủ thề khác. Như vậy, khi các chủ thể kinh tế hành động vì mục tiêu chung hoặc các mục tiêu thống
nhất với nhau thì các lợi ích kinh tế của các chủ chể đó thống nhất với nhau. Chẳng hạn, để thực hiện lợi ích
của mình, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, nâng cao chắt lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã sản phẩm... thì lợi
ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội thống nhất với nhau. Chủ doanh nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì
nền kinh tế, đất nước càng phát triển.
- Sự mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế:
+ Các quan hệ lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau vì các chủ thể kinh tế có thể hành động theo những phương
thức khác nhau đê thực hiện các lợi ích của mình. Sự khác nhau đó đến mức đối lập thì trở thành mâu thuẫn.
Ví dụ, vì lợi ích của mình, các cá nhân, doanh nghiệp có thể làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế... thì lợi ích của
cá nhân, doanh nghiệp và lợi ích xã hội mâu thuẫn với nhau. Khi đó, chủ doanh nghiệp càng thu được nhiều
lợi nhuận, lợi ích kinh tế của người tiêu dung, của xã hội càng bị tồn hại.
+ Lợi ích của những chủ thể kinh tế có quan hệ trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh cũng có thể mâu thuẫn với nhau vì tại một thời điềm kct quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là xác định.
Do đó, thu nhập của chủ thể này táng lên thì thu nhập của chủ thể khác giảm xuống. Chẳng hạn, tiền lưong của
người lao động bị bớt xên sẽ làm tăng lợi nhuận của chủ doanh nghiẹp; nhà nước giảm thuế sẽ làm lợi nhuận doanh nghiệp tăng...
+ Khi có mâu thuẫn thì việc thực hiện lợi ích này có thể sẽ ngăn cản, thậm chí làm tồn hại đến các lợi ích khác.
Mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là cội nguồn của các xung đột xã hội. Do vậy, điều hoà mâu thuẫn giữa các lợi ích
kinh tế buộc các chủ thể phải quan tâm và trở thành chức năng quan trọng của nhà nước nhằm ồn định xã hội,
tạo động lực phát triền kinh tế - xã hội.
+ Trong các hình thức lợi ích kinh tế, lợi ích cá nhân là cơ sở, nền tảng của các lợi ích khác. Các nguyên nhân
chủ yếu là, thứ nhất nhu cầu cơ bản, song còn trước hết thuộc về các cá nhân, quyết định hoạt động của các cá
nhân; thứ hai, thực hiện lợi ích cá nhân là sơ sở để thực hiện các lợi ích khác vì cá nhân cấu thành nên tập thể,
giai cấp, XH... “Dân giàu” thì “nước mạnh”. Do dó, lợi ích cá nhân chính đáng cần được PL tôn trọng, BV.
*Phân tích vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích:
- Để có sự hài hòa giữa các lợi ích kinh tế chỉ có kinh tế thị trường là không đù vì các lợi ích kinh tế luôn vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau, mà cần có sự can thiệp của nhà nước. Bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh
tế là sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ lợi ích kinh tế bằng các công cụ giáo dục, pháp luật, hành
chính, kinh tế... nhằm gia tăng thu nhập cho các chủ thề kinh tế; hạn chế mâu thuẫn, tăng cường sự thống nhất;
xử lý kịp thời khi có xung đột.
+ Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lọi ích của các chủ thế kinh tế.
+ Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội.
+ Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực dối với sự phát triển xã hội.
+ Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế. - Trang 19 -
CÂU 17: Vì sao phải tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam? Nội dung công nghiệp hóa –
hiện đại hóa ở Việt Nam. Tác động của CNH – HĐH đối với nền kinh tế ở nước ta hiện nay.

*Vì sao phải tiến hành CNH – HĐH ở Việt Nam:
+ Yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng - kỹ thuật của công nghiệp chủ nghĩa xã hội.
+ Do yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật - công nghệ giữa nước ta với các nước
trong khu vực và thế giới.
+ Do yêu cầu phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của CNXH,
=> Đó là nội dung của tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa: bắt buộc phải xảy ra, không
phụ thuộc vào ý thức con người muốn hay không muốn.
*Nội dung CNH – HĐH ở Việt Nam:
a. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
- Thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội
- Áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào các ngành của nền kinh tế quốc dân.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
b. Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển đổi từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả và bất hợp lí, sang một cơ
cấu kinh tế hợp lí, hiện đại và hiệu quả. Xu hướng của sự chuyển dịch này là đi từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp
lên cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp và dịch vụ hiện đại. Đi đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
*Tác động của CNH – HĐH đối với nền kinh tế ở nước ta hiện nay:
- Xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và truyền thông.
+ Huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển (nhà nước, doanh nghiệp, người dân, nước ngoài).
+ Ứng dụng trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
+ Đẩy mạnh đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
+ Phát triển hạ tầng kết nối số và đảm bảo an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện bình đẳng cho người dân và
doanh nghiệp khi tiếp cận thông tin và nội dung số; phát triển cảm biến-bộ cảm biến, hệ thống điều khiển các
ứng dụng kinh doanh và CSKH, thu thập thông tin, dữ liệu hình thành HTDL lớn để phân tích và xử lý dữ liệu.
- Phát triển ngành công nghiệp sáng tạo.
+ Phát triển các ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp năng lượng, hóa chất, điện tử, công nghiệp vật liệu, chế biến và hàng tiêu dùng.
+ Phát triển có chọn lọc một số ngành, lĩnh vực CN HĐ và có tác động lan tỏa trong nền KT như CNTT, CNSH,
năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, CNMT, công nghiệp QPAN; phát triển các ngành DV như DL, hàng hải,
hàng không, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics và các DV hỗ trợ SX, KD khác.
+ Xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế.
- Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
cho XH và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, gia tăng giá trị hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường,
đẩy mạnh phân công LĐXH, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xây dựng nông thôn mới.
+ Ứng dụng công nghệ sinh học, thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa; phát triển công, thương
nghiệp và dịch vụ phục vụ n/n, nông thôn; XD hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ cho n/n và nông thôn. - Trang 20 -