














Preview text:
PHẦN NHẬP MÔN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
Câu 1. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật, ý nghĩa, yêu cầu, phong cách nghiên cứu, học tập LSNNP
Đối tượng nghiên cứu:
+Hợp phần lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới :Là quá trình phát sinh,tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng thời kỳ lịch sử một cách khách quan,diễn ra tại một số khu vực tiêu biểu trên thế giới.
+Hợp phần lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam :Là quá trình phát sinh,tồn tại và phát triển, xu hướng vận động của nhà nước và pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ từ cổ đại,trung đại tới hiện đại.ạm vi :
+Hẹp hơn đối với phạm vi nghiên cứu của khoa học lịch sử nhà nước thế giới ( Việt Nam) vì môn học này chỉ nghiên cứu vấn đề xoay quanh lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật thế giới ( Việt Nam ).
+Một vài khu vực điển hình trên thế giới và Việt Nam
Phương pháp :
+Phương pháp luận :
- Chủ nghĩa Mác-Lênin : phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.
- Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu lịch sử pháp luật truyền thống : kết hợp giữa lý thuyết pháp luật và luật học
- Dựa trên phương pháp luật học phi truyền thống: phương pháp liên ngành
+Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tư duy trừu tượng hóa,phương pháp hệ thống,phương pháp so sánh...
Ý nghĩa:
- Cơ sở phương pháp luận cho các khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Nghiên cứu các môn học chuyên ngành dễ dàng hơn
- Phương pháp tư duy lịch sử cụ thể
- Cung cấp hệ thống tri thức lịch sử nhà nước và pháp luật :
-Nhận thức về di tồn của lịch sử
-Rút ra quy luật, những bài học kinh nghiệm.
Yêu cầu :
- Cần đảm bảo sự khách quan của vấn đề nghiên cứu, cần đặt vấn đề vào mối liên hệ các sự vật, hiện tượng khác.
- Không tách rời vấn đề nghiên cứu với điều kiện kinh tế-xã hội.
-Không vội vàng kết luận khi còn thiếu những luận cứ rõ ràng.
Câu 2. Cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các nhà nước Phương Đông cổ đại (Ai Cập, Lưỡng Hà, ấn Độ, Trung Quốc)
- AI CẬP CỔ ĐẠI: a. Cơ sở kinh tế:
- Ra đời ở lưu vực sông Nile, cuối thiên niên kỷ thứ IV TCN, là nhà nước ra đời sớm nhất ở phương Đông và thế giới
- Thành thị xuất hiện muộn, nông nghiệp phát triển mạnh do có được địa thế tự nhiên thuận lợi. b. Cơ sở xã hội: xã hội đã có sự phân hóa thành các giai cấp khác nhau (Chủ nô, nô lệ - chiến tranh hoặc người vi phạm luật lệ, nông dân công xã...)
2. LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI:
a. Cơ sở kinh tế:
- vị trí: giữa 2 con sông, tạo nên đồng bằng rộng lớn phì nhiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp và chăn nuôi phát triển. Là nơi gặp nhau của nhiều con đường Đông Tây Nam Bắc, là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mọi mặt. b. Cơ sở xã hội: Xã hội đã có sự phân chia thành các giai cấp. ○ Giai cấp thống trị: vua, quan lại, chủ nô, tăng lữ ○ Dân tự do: thương nhân, nông dân công xã nông thôn, nô lệ ○ Chế độ nô lệ gia trưởng: nô lệ chủ yếu phục vụ, hầu hạ, phục dịch trong gia đình, lao động trong các công xưởng
3. ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
a. Cơ sở kinh tế: Vị trí: ở Nam Á, được tạo nên bởi 2 con sông lớn là Sông Hằng và Sông Ấn, và vùng cao nguyên Đê Can b. Cơ sở xã hội: Vào khoảng 2000 năm TCN, chế độ nguyên thủy tan rã, Ấn Độ bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước. Nổi bật là cơ cấu xã hội - chế độ Vác-na: xã hội phân chia thành 4 đẳng cấp: - Bà la môn: tăng lữ tôn giáo - Ksatria: quý tộc, võ sĩ
tài sản của người khác – bán tài sản thuộc sở hữu của người khác hoặc trường hợp phát hiện tài
sản bị mất đang bị người khác chiếm hữu, nếu không có nhân chứng để làm chứng cho tài sản bị mất, người bị mất tài sản sẽ bị coi là phạm tội vu khống, và bị tử hình. Mặc dù chế định tài sản thuộc lĩnh vực dân sự nhưng hình phạt dành cho các hành vi vi phạm trên là tử hình – một điểm
chứng tỏ sự hà khắc của Bộ luật Hammurabi. Tuy nhiên, Bộ luật cũng có quy định tiến bộ được thể hiện tại một số điều luật khác, ví dụ như vấn đề bảo hành trong hợp đồng mua bán - người
bán có nghĩa vụ bảo hành tài sản và nếu tài sản đã mua bị trả lại do lỗi sản phẩm, người bán có nghĩa vụ hoàn tiền cho người mua (Điều 279). Bộ luật cũng bảo vệ quyền lợi của người thuê, nếu người thuê nhà trả tiền thuê 1 năm mà bị đuổi khỏi nhà cho thuê trước thời hạn trong hợp đồng
cho thuê, người cho thuê (chủ nhà) sẽ mất tiền cho thuê của người thuê (Điều 65). Đối với chế
định hợp đồng cho vay, Bộ luật quy định chi tiết về mức lãi suất đối với việc cho vay từng loại tài
sản – mức lãi suất của tiền là 1/5, của thóc là 1/3. Về chế định lĩnh canh ruộng đất, Bộ luật có
quy định cụ thể về số sản phẩm thu hoạch người lĩnh canh được hưởng trên đất ruộng hoặc đất
vườn (Điều 46, Điều 64) và nghĩa vụ của người lĩnh canh đối với chủ đất: phải nộp đủ hoa lợi
cho chủ đất kể cả có thiên tai, hạn hán, lụt lội, mất mùa (Điều 45); phải bồi thường thiệt hại cho
chủ đất với mức bồi thường được quy định (Điều 53, 54, 55, 56) nếu làm thiệt hại đất của chủ.
Tại Điều 55, 56, Bộ luật đã phân biệt lỗi cố ý và lỗi cố ý đối với mỗi hành vi gây thiệt hại đất của
người chủ để đưa ra mức phạt khác nhau đối với từng lỗi – một điểm khá tiến bộ của Bộ luật cổ
đại này.
Về lĩnh vực hình sự:
Các chế định trong lĩnh vực hình sự của Bộ luật thể hiện tính bất bình đẳng rõ nét giữa nô
lệ và chủ nô. Các quan hệ xã hội hầu hết đều bị hình sự hoá. Các biện pháp trừng phạt đối với
người vi phạm Bộ luật rất hà khắc, dã man, mang nhiều tính tra tấn. Ví dụ, nô lệ đánh người tự do
thì bị cắt tai (Điều 205: If the slave of a freed man strike the body of a freed man, his ear shall be
cut off), hoặc nô lệ nói với người chủ rằng người chủ không phải chủ của mình, nếu bị kết tội,
người chủ có quyền cắt tai nô lệ (Điều 282: If a slave say to his master: "You are not my master,"
if they convict him his master shall cut off his ear). Lấy cắp gia cầm hoặc các đồ dùng khác của
chủ sẽ bị phạt từ 10 đến 30 lần giá trị thứ lấy cắp. Nếu không nộp được phạt, kẻ lấy cắp sẽ bị giết
(Điều 8). Nếu cướp giật tài sản của người khác mà bị bắt, người cướp giật sẽ bị tử hình (Điều 22).
Điểm đặc biệt của Bộ luật Hammurabi là rất đề cao công lý báo thù, bất cứ hành vi nào gây tổn
thương cho thân thể, sức khỏe của người khác sẽ bị trừng phạt theo nghĩa «tương đương», tức là
bị trừng phạt bằng cách bị gây tổn thương lại: Nếu một người chọc mù mắt một người khác thì
mắt của anh ta cũng sẽ bị chọc mù (Điều 196); “Nếu một người làm gããy xương người khác, anh
ta cũng sẽ bị đánh gãy xương“ (Điều 197); “Nếu thợ xây nhà mà xây không bảo đảm, nhà đổ, chủ
nhà chết thì người thợ xây bị giết.” (Điều 229) hoặc “Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thi
con của người thợ xây cũng phải chết theo.” (Điều 230). Về cơ bản, những ai vi phạm các quy
định trong lĩnh vực hình sự của Bộ luật Hammurabi phải chịu sự trừng phạt rất tàn bạo và nhiều
khi không tương xứng với hành vi phạm tội của mình, kể cả khi mắc tội nhỏ như nô lệ tuyên bố
người sở hữu mình làm nô lệ không phải người chủ của mình. Những người phạm tội, dù là tội
gây thương tích hay tội lấy cắp, cướp giật tài sản đều có khả năng hoàn lương nhưng Bộ luật
Hammurabi không cho họ cơ hội sửa sai, hoàn lương mà thay vào đó ưa dùng những biện pháp
trừng trị thân thể và hình phạt tử hình – biện pháp xử lý hình sự đặc trưng của Bộ luật
Hammurabi và nhiều Bộ luật cổ đại khác, chú trọng tính răn đe, trừng trị, trấn áp người dân, tạo
cảm giác sợ hãi của người dân trước Bộ luật để họ tuân thủ theo chứ không hề chú trọng cải tạo,
giáo dục người phạm tội, hướng họ đến hành vi, xử sự phù hợp với chuẩn mực và luật pháp.
Về lĩnh vực hôn nhân và gia đình:
Bộ luật Hammurabi thừa nhận sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa gia trưởng – người
chồng, cha và các thành viên khác trong gia đình – người vợ, con cái. Bộ luật củng cố địa vị của gia trưởng, có xu hướng thừa nhận và quy định nhiều quyền dành cho gia trưởng đối với thành viên khác và nhiều nghĩa vụ của người vợ, con cái. Ví dụ, nếu không có con, người chồng có
quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ. Nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình của vợ ném xuống sông hoặc cũng có thể tha thứ cho người vợ (Điều 129). Ngược
lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị (Điều 142). Quyền lực của người chồng là rất lớn đối với người vợ, thậm chí nếu người chồng hoặc vợ ngoại tình, người vợ chỉ có quyền li dị chồng ngoại tình nhưng người chồng có cả quyền định đoạt số phận, tính mạng của người
vợ - có quyền trói vợ ném xuống sông hoặc có thể tha thứ, tuỳ vào người chồng. Bên cạnh đó, Bộ luật cũng có một số quy định bảo vệ lợi ích của người phụ nữ khá tiến bộ đối với một bộ luật
thời kỳ cổ đại, cho phép phụ nữ được hưởng một số lợi ích sau: Người chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc người vợ; người vợ có quyền ly hôn khi người chồng đi khỏi nhà không có lý do (Điều 136 quy định rằng nếu người chồng bỏ nhà đi không rõ lý do, khi anh ta trở lại,
người vợ có quyền ly dị); người chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh (Điều 148 quy định người chồng phải có nghĩa vụ nuôi nấng người vợ cho đến hết đời).
ngôi nhà của nguyên cáo. Do con người thời đó có trình độ nhận thức hạn chế, coi hiện tượng tự
nhiên là hiện tượng siêu nhiên do thánh thần điều khiển và không có năng lực điều tra, tìm chứng cứ để chứng minh lời buộc tội là đúng hay sai, họ sử dụng hình thức thử tội – nhờ đến sự giám sát và phán quyết của thánh thần để xét xử. Điều này hoàn toàn hợp lý đối với bối cảnh lịch sử của
xã hội cổ đại Lưỡng Hà. Bộ luật Hammurabi được ban hành bởi vua Hammurabi, đại diện cho thánh thần quản lý muôn dân, vì thế mà chỉ thánh thần được cho là công minh nhất, có khả năng
theo dõi muôn dân và đưa ra xét xử công bằng nhất đối với người dân.
So sánh Bộ luật Hammurabi với Bộ luật Manu:
Trong xã hội cổ đại, vai trò của thần thánh rất được đề cao, con người thời kỳ đó coi thần
thánh là đấng tối cao toàn năng điều khiển hiện tượng tự nhiên và đặt ra quy tắc ứng xử cho con người, buộc họ xử sự đúng với ý chí của thánh thần. Do đó, có thể nói sự «hiện diện» của thần
thánh chi phối xử sự của con người và cả pháp luật. Không ngạc nhiên gì khi Bộ luật Hammurabi và Bộ luật Manu đều được thần thánh hoá, đều do giai cấp thống trị nhân danh thần thánh ban hành. Bộ luật Manu là một tác phẩm chép lại lời dạy của thần Manu (ông tổ loài người), do các
nhà thần học Bà La Môn (Brahmana) biên soạn. Các nhà thần học này thuộc đẳng cấp Bàlamôn – đẳng cấp duy nhất tiếp xúc với thần thánh nên có quyền ban hành Bộ luật phản ánh ý chí của thần
thánh, thực chất là phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Bàlamôn. Bộ luật Hammurabi do chính nhà vua Hammurabi nhân danh chính nghĩa, nhân danh thần Anu và Enlin ban hành để cai trị muôn dân, về cơ bản cũng phản ánh quan điểm của giai cấp thống trị.
Xuyên suốt Bộ luật Manu, tính phân biệt đẳng cấp được thể hiện rõ nét do Bộ luật được
ban hành nhằm bảo vệ lợi ích của đẳng cấp cao quý, hơn hết là lợi ích của giai cấp thống trị,
tương tự như Bộ luật Hammurabi. Bộ luật ngoài ban hành các chế định hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng trong lĩnh vực pháp luật còn đề cập quan niệm về đạo đức, chính trị, tôn giáo và vũ trụ.
Về chế định dân sự:
Đầu tiên, quan hệ sở hữu ruộng đất được thể hiện rõ trong Bộ luật Manu. Bộ luật còn
khẳng định mọi tài sản trên thế giới đều thuộc về giai cấp thống trị - nhà vua và đẳng cấp Bàlamôn cao quý nhất.
Trong chế định hợp đồng (mua bán hay cho thuê), Bộ luật Manu có quy định nhấn mạnh
tính hiệu lực của hợp đồng nhiều hơn so với Bộ luật Hammurabi. Cụ thể, Bộ luật Manu quy định
phải ký hợp đồng một cách công khai (Bộ luật Hammurabi cũng quy định khá tương tự, phải có
người làm chứng trước hợp đồng mua bán), không được ký với người điên, người say rượu,
người già yếu, người chưa đến tuổi thành niên và không được lừa dối, gây áp lực để ký hợp đồng
- hai điểm này không được Bộ luật Hammurabi quy định gần tương tự. Bộ luật Manu thể hiện tư
duy pháp lý khá tiến bộ của giai cấp thống trị ở hai quy định này, có dấu hiệu thừa nhận năng lực
hành vi của người tham gia ký kết hợp đồng và đề cao bản chất thỏa thuận giữa các bên của hợp
đồng, do đó nghiêm cấm hành vi lừa dối và gây áp lực khi giao kết hợp đồng. Cũng giống như Bộ
luật Hammurabi, Bộ luật Manu thừa nhận quyền sở hữu tài sản khi phải có chứng cứ chứng minh
được nguồn gốc tài sản – tài sản có được do hợp đồng mua bán, thừa kế, có nhân chứng làm
chứng không. Bộ luật Manu còn có một quy định đặc thù về quyền sở hữu tài sản: quyền sở hữu
tài sản của một người bị giới hạn bởi quyền chiếm hữu tài sản đó của người khác như sau «Nếu
chủ sở hữu tài sản cho người khác sử dụng tài sản của mình trong 10 năm mà không đòi lại tài
sản đó thì người chứ tài sản không còn cỏ quyền đối với tài sản đó
nữa”.
Về chế định hình sự:
Chế định hình sự thể hiện sâu sắc nhất tính đẳng cấp của Bộ luật Manu, bởi hình phạt dành
cho đẳng cấp thấp hèn như Suđra (Shudra) rất dã man, tàn bạo về thân thể khi đẳng cấp này xâm
hại đến lợi ích của đẳng cấp trên. Nói cách khác, hình phạt dành cho các đẳng cấp rất bất bình
đẳng, không phụ thuộc nhiều vào hành vi phạm tội mà phụ thuộc chủ yếu vào xuất thân của mỗi
người, là đẳng cấp cao quý hay thấp hèn, chủ yếu để xác định đẳng cấp nào xâm phạm đến quyền
lợi của đẳng cấp nào để đưa ra hình phạt riêng đối với mỗi đẳng cấp. Đẳng cấp dưới phạm tội,
xâm phạm quyền lợi của đẳng cấp trên, hình phạt được áp dụng đối với đẳng cấp này càng mang
nặng tính tra tấn, nhục hình và ngược lại, nhằm bảo vệ lợi ích của đẳng cấp trên và giai cấp thống
trị. Ví dụ, nếu đẳng cấp Suđra cãi nhau với người ở đẳng cấp trên thì sẽ bị hình phạt cắt lưỡi, đổ
dầu sôi vào miệng và vào tai (Điều 270, Điều 272). Nếu đẳng cấp Bàlamôn và Ksatơria
(Kshyatriya) vu cáo cho người thuộc đẳng cấp dưới thì chỉ bị phạt tiền (Điều 268). Nếu xâm
phạm quyền sở hữu tài sản của người khác như trộm cắp tài sản, một lần thì bị chặt cả hai chân
hoặc ngồi cọc nhọn, ba lần bị xử tử hình. Riêng đối với ai trộm cắp tài sản của nhà vua hoặc của
thần linh bị thẳng tay xử tử lập tức. Nhìn chung, hình phạt của Bộ luật Manu trong chế định này
Câu 4. Đặc điểm của pháp luật Phương Đông thời kỳ cổ đại.
- Về kỹ thuật xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật của các quốc gia phương Đông được
xây dựng tương đối đa dạng để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội xuất hiện ngày càng nhiều. - Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chưa có sự phân định thành các chế định luật, ngành luật - Pháp luật vẫn mang tính chất “trọng hình, khinh dân”, - Từ ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật rất cụ thể, mô tả dài dòng, trùng lặp và không mang tính khái quát. - Pháp luật công khai thừa nhận sự bất bình đẳng. - Pháp luật phương Đông cổ đại mang tính chất đồng thái phục thù. - Pháp luật cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan niệm tín ngưỡng tôn giáo, lễ và các hệ tư tưởng chính trị - Hệ thống hình phạt dã man, thường sử dụng nhục hình.
Câu 5. Trình bày khái quát quá trình dân chủ hoá bộ máy nhà nước Aten, tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà dân chủ chủ nô Aten và nhận xét tính chất dân chủ của nhà nước này.
Quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten được tiến hành thông qua 3 cuộc cải cách lớn:
1, Cuộc cải cách thứ nhất: Cuộc cải cách của Xôlông (594 trước Công nguyên):
- Về kinh tế:
- xóa bỏ mọi nợ nần, cấm quý tộc chủ nô biến nông dân phá sản thành nô lệ.
- thừa nhận quyền tư hữu tài sản, quy định mức chiếm hữu tối đa của quý tộc chủ nô.
- ptrien kte xuất nhập khẩu, cải cách tiền tệ,
- Về chính trị: chia cư dân thành 4 đẳng cấp dựa trên mức thu nhập trong 1 năm.
- Hội đồng 400 ng
- Athen có 4 bộ lạc, mỗi bộ lạc chọn ra 100 người từ đẳng cấp thứ 2 và 3.
- là cơ quan hành chính và cơ quan tư vấn nhà nước.
2, Cải cách của Clixten:
- Chia Aten thành 3 phân khu, mỗi phân khu chia thành 10 phân khu nhỏ, cứ 3 phân khu ở 3 đơn vị hành chính khác nhau hợp thành 1 bộ lạc mới. Tất cả hợp thành 10 bộ lạc
- Mở rộng hội đồng 400 người - hội đồng 500 người
- Lập hội đồng 10 tướng lĩnh ( Mỗi bộ lạc 1 người có thu nhập cao nhất và có tài quân sự)
- Luật bỏ phiếu bằng vỏ sò: Người có tên trên 6000 vỏ sò thì kẻ đó bị kết tội là chống đối lại nền dân chủ và bị trục xuất khỏi aten 10 năm
- Tổ chức lại tòa bồi thẩm: từ 201-5001 bồi thẩm, được lựa chọn hàng ngày, mỗi bộ lạc có thể lên đến 500 người
- Cuộc cải cách của Periclet
- Tăng quyền lực cho hội nghị công dân
- HNCD hoạt động thường xuyên
- Thành viên có quyền thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước,
có quyền lập pháp
- Bổ nhiệm bằng bốc thăm các chức vụ cao ( Mọi công dân có thể giữ chức vụ trong bộ máy Nhà nước)
- Cấp lương cho binh lính, sĩ quan, nhân viên nhà nước
- Thực hiện trợ cấp công dân nghèo gặp khó khăn
*Nhận xét tính chất dân chủ của nhà nước này:
- xây dựng được một nhà nước dân chủ chủ nô đầu tiên trong lịch sử nhân loại, là nhà nước đầu tiên khai sinh ra hình thức DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, khai sinh ra hình thức chính thể Cộng hoà. Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhà nước Aten có thể phát triển và đạt đến trình độ văn minh cao ở thời cổ đại là do nhà nước này đã liên tục có các cuộc cải cách rất toàn diện từ kinh tế, chính trị, đến văn hoá - xã hội
- Tuy nhiên tính chất dân chủ của nhà nước Aten cũng có nhiều hạn chế, trước hết ta thấy số lượng những người không được tham gia vào đời sống chính trị là nô lệ và kiều dân chiếm số lượng áp đảo so với số lượng dân tự do. (365 nô lệ và 45 kiều dân trên tổng số 90 dân tự do). Như vậy những người là lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội không có quyền công dân. Hơn nữa trong số 90 dân tự do, có không quá 30% thoả mãn đầy đủ cả 3 yêu cầu: nam giới, 18 tuổi, cha mẹ là người Aten. Vì rất nhiều người già, phụ nữ và trẻ nhỏ hoặc nam giới 18 tuổi nhưng cha mẹ là kiều dân thì cũng không được tham gia vào đời sống chính trị. Con số cao nhất của Hội nghị công dân ước tính là khoảng 6000 người, lại tập trung ở thủ đô của Aten, do vậy không phải tất cả những người đủ điều kiện ở những nơi khác có thể tham gia.
Câu 6. So sánh và chỉ ra nét khác biệt cơ bản giữa nhà nước Xpác và nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại)
Giống nhau:
- đều là thành bang thuộc Hy Lạp
- Chính thể: cộng hòa chủ nô
- Đều được xây dựng và thống trị bởi giai cấp chủ nô- giai cấp nắm các đặc quyền kinh tế và ctri
- Đều tồn tại trên cơ sở tư hữu và bóc lột nô lệ
Khác nhau:
Tiêu chí Xpac Aten
Thời gian hình thành
TK VIII TCN VIII- VI TCN
Tổ chức xã hội -sư hình thành nhà nước X trên cơ sở của cuộc chiến tranh xâm lược
Ban đầu cũng theo hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô nhưng do kinh
=> Nhà nước A có sự dân chủ hơn X: A người dân có quyền tự do có quyền tham gia chính trị đấu tranh với giai cấp quý tộc đòi quyền lợi; trong khi đó nhà nước X có các giai cấp khác phải nghe theo sự thống trị của giác cấp quý tộc X, họ không được hưởng quyền lợi gì
Câu 7. Nêu đặc điểm về hình thức tổ chức bộ máy nhà nước ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.
- Nền Quân chủ chuyên chế ở Vương quốc Frank (thế kỷ V - IX )
a. Triều đại Mêrôvanhgiêng
- Ở Trung ương
Đứng đầu bộ máy nhà nước là Vua; Bên dưới vua là các quan lại cao cấp phụ trách các việc như quân sự, tư pháp, tài chính, văn thư, kho rượu ... song sự phân công ấy chưa thật rõ ràng và cố định. Ngoài ra còn có các viên quan quản lý trông coi các trang viên của nhà vua. Đứng đầu và quản lý các viên quan này là quan quản lý cung đình, tức Tể tướng. Trong thời kỳ vua lười, Tể tướng là người cầm quyền thực tế.
Cả nước chia thành nhiều đơn vị hành chính. Đứng đầu mỗi đơn vị đó là Quan Bá tước nên đơn vị hành chính này còn được gọi là "Khu quản hạt Bá tước".
b. Triều đại Carôlanhgiêng
Trong thời kỳ của vương triều Carôlanhgiêng, quan trọng nhất là thời kỳ trị vì của Saclơmanhơ, bộ máy nhà nước của vương quốc Frăng ngày càng hoàn chỉnh hơn
- Ở Trung ương
Đứng đầu bộ máy nhà nước vẫn là Vua. Bộ máy quan lại dưới Vua là các chức: Thừa tướng,Tổng Giám mục và Đại thần cung đình. Bên dưới có các quan lại khác như Quan Thống chế, Quan Chánh án, Quan coi quốc khố, Quan quản lý kho rượu...
- Ở địa phương
Từ thời Saclơmanhơ trở về sau, quan hệ giữa vua và các bá tước trữ thành quan hệ giữa tôn chu và bồi thần. Dần dần, chức vụ này (lãnh chúa phong kiến) được cha truyền con nối.
c. Nhận xét
- Bằng các biện pháp như tập trung mọi quyền hành về hành chính, tu pháp, tài chính, quân sự... vào tay vua, nhà nước Frăng trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế.
- Với chính sách phân phong ruộng đất cho các lãnh chúa phong kiến và vua (ra giao cho họ quá nhiều quyền lực trong lãnh địa đó nên đã xảy ra cục diện phân quyền cát cứ trong vương quốc Frăng.
- Đồng thời, do ảnh hưởng tàn dư của chế độ công xã thị tộc nên khi vua chết, đất nước sẽ chia đều cho tất cả các con trai. Do đó, lịch sử của Vương quốc Frăng là một chuỗi dài của sự thống nhất, phân chia thống nhất...
Tóm lại, mô hình tổ chức nhà nước Frăng về hình thức chính thể là quân chủ chuyến chế, nhưng trong quá trình tồn tại có sự xuất hiện của tình trạng phân quyền cát cứ
- Chế độ tự quản thành thị (thế kỷ XII – XIII)
a. Cơ sở xuất hiện của thành thị
- Điều kiện kinh tế
Từ thế kỷ X, XI trở đi kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp bắt đầu phát triển, nền kinh tế tự cung tự cấp dần chuyển sang kinh tế hàng hóa tiền tệ.
Trong thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình độ kỹ thuật ngày càng hoàn thiện. Đó là các nghề luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len dạ, làm đồ gốm bằng bàn xoay... Sự tiến bộ này đã biến kinh tế thủ công nghiệp từ một ngành phụ của nông nghiệp thành một ngành độc lập.
Trong nông nghiệp, công cụ lao động được cải tiến năng suất lao động không ngừng tăng cao, sản lượng và chủng loại nông phẩm càng nhiều. Nhờ vậy, người nông dân có một ít sản phẩm nông nghiệp dư thừa để đem đổi lấy các sản phẩm thủ công nghiệp. Như vậy đã có sự trao đổi giữa ngành nông nghiệp ngành thủ công nghiệp. Trong đó, nông dân là người cung cấp nguyên liệu và lương thực để thợ thủ công yên tâm làm công việc của mình một cách chuyên nghiệp.
Sự tách rời giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp chính là điều kiện quan trọng dẫn đến sự ra đời của thành thị.
*Điều kiện xã hội
Quá trình chuyển đổi của nền kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến xã hội. Đó là hình thành một đội ngũ thợ thủ công, thương nhân chuyên nghiệp. Lớp người này ban đầu ở nông thôn, làm nghề thủ công với mục đích đáp ứng nhu cầu kinh tế tự cung, tự cấp của lãnh địa, sau đó chuyển sang sản xuất hàng hóa với số lượng lớn để tiêu thụ trên thị trường. Để phát triển hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên những người thợ thủ công này đã trốn khỏi các lãnh địa đến những nơi có điều kiện thuận lợi cho việc lao động sản xuất như: những nơi có nhiều nguyên vật liệu, nhiều người mua sản phẩm của họ, và tương đối an toàn. .. Vì thế những nơi họ đến cư trú và sản xuất dần dần đông đúc và trở thành những trung tâm kinh tế với hoạt động công thương nghiệp sầm uất.
Đối với lãnh chúa phong kiến, sự hình thành các thành thị là thực tế khách quan không cưỡng lại được. Tuy nhiên, phần lớn các thành thị nằm trên lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến, do đó chịu sự khống chế của lãnh chúa. Lãnh chúa có quyền thu tô thuế của các thành phố trong lãnh địa của mình. Đồng thời, những sản phẩm thủ công nghiệp cũng thoả mãn nhu cầu xa xỉ của lãnh
nói trên mới giành được độc lập.
Thành phố Lyon (Pháp) là một trong những thành phố giàu có. Đầu thế kỷ XII, các thị dân đã nộp cho lãnh chúa và Vua Louis VI một số tiền to để đổi lấy sự tự chủ. Nhưng chỉ ít lâu sau, lãnh chúa ở thành phố Lyon đã bội ước, lấy lại quyền thống trị thành phố Lyon. Nhân dân thành phố đã giết chết vị lãnh chúa và các đồng bọn của ông ta. Triều đình phái quân tới để giải tán công xã. Thế nhưng thị dân ở đây đã kiên trì đấu tranh nên vào năm 1128. Vua phải cho phép các thị dân ở đây thành lập công xã.
- Liên minh với nhà vua để chống lại lãnh chúa
Do một số thành thị không đủ tiềm lực kinh tế và sức mạnh vũ trang nên đã dựa vào thế lực của nhà vua đế đấu tranh với lãnh chúa. Lúc này, vua cũng muốn tập trung quyền lực và làm suy giảm thế lực lãnh chúa phong kiến nên ủng hộ thị dân trong cuộc đấu tranh này, điển hình là ở Anh.
d. Tổ chức quản lý tại các thành thị
Do các phương pháp đấu tranh khác nhau nên các thành thị giành quyền tự trị ở những mức độ khác nhau: thành thị tự trị hoàn toàn, thành thị tự trị không hoàn toàn.
- Đối với các thành thị đã giành được quyền tự trị hoàn toàn
Quyền quản lý quản lý thành thị là Hội đồng thành phố. Hội đồng thành phố do các thị dân bầu ra. Đây là cơ quan hành chính tối cao của thành thị. Hội đồng này có quyền soạn ra chính sách,pháp lệnh và đúc tiền riêng, có quyền tuyên chiến hoặc giảng hòa. Thông qua bầu cử, các thị dần chọn ra Thị trưởng, Chánh án và Nhân viên quản lý.
- Đối với các thành thị hưởng quyền tự trị không hoàn toàn
Bên cạnh sự tự quản của Hội đồng thành phố, nhà Vua vẫn còn thẩm quyền tác động vào các hoạt động ở đây thông qua một cơ quan thường trú hay thông qua Hội đồng thành phố. Tuy giành được quyền tự trị hoàn toàn hay không thì hàng năm các thành thị vẫn phải đóng cho nhà Vua một khoản tiền thuế nhất định.
- Nền Quân chủ đại diện đẳng cấp (thế kỷ XIII - XV)
a. Cơ sở xuất hiện nền Quân chủ đại diện đẳng cấp
*Điều kiện kinh tế
Khi thành thi giành được quyền tự trị thì kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Kinh tế thành thị thực sự đã trở thành đối trọng với kinh tế nông nghiệp của lãnh chúa phong kiến.
- Điều kiện xã hội
Sự chuyển biến biến về kinh tế dẫn đến sự chuyển biến về quan hệ giai cấp. Trước sự đấu tranh của nông nô và nhu cầu tổ chức chiến tranh nhằm mở rộng lãnh thổ, làm suy giảm thế lực lãnh chúa phong kiến, triều đình phong kiến đã tìm cách củng cố quyền lực của mình. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh của nông nô
chưa lên cao trào, mặt khác thế lực của các lãnh chúa còn rất lớn trong khi thế lực của thị dân càng lớn mạnh nên hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp nhất để thỏa mãn lợi ích của mọi tầng lớp trong giai cấp thống trị là hình thành nền quân chủ, củng cố quyền lực cho nhà vua nhưng đồng thời cần có một thiết chế giám sát nhà vua, chia sẻ quyền lực với nhà vua. Đó chính là nền Quân chủ đại diện đẳng cấp.
Nền quân chủ đại diện đẳng cấp là sự thỏa hiệp lợi ích kinh tế và chính trị trong nội bộ giai cấp thống trị trước phong trào đấu tranh của nhân dân lao động.
b. Nền quân chủ đại diện đẳng cấp ở Pháp
Nước Pháp ở thế kỷ XI là một quốc gia điển hình của chế độ phong kiến phân quyền: Đất nước bị chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến hoàn toàn tự trị. Vương triều Cape Chiêng có lãnh địa vừa và nhỏ so với lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến khác, nền quyền lực của vương triều chỉ mang tính hình thức. Do đó, vương triều ra sức củng cố quyền lực của mình, làm suy yếu thế lực của các lãnh chúa bằng nhiều hình thức.
Vua Philip IV yêu cầu tăng thuế đối với Giáo hội, gây ra xung đột gay gắt giữa nhà Vua và Giáo hoàng. Trong tình hình đó, nhà Vua rất cần sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội để làm áp lực đối với Giáo hoàng. Năm 1302, lần đầu tiên, Philip IV chính thức mở rộng Hội nghị đại biểu quý tộc Hội nghị này, ông mời cả đại biểu của thị dân tham dự. Đó là Hội nghị 3 đẳng cấp, gồm: Tăng lữ, Quý tộc và Thị dân, gọi là Hội nghị tam cấp.
Lúc đầu, hội nghị là cơ quan tư vấn cho nhà vua, góp ý với nhà vua trong các lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Bàn bạc và quyết định vấn đề thuế khóa. Mỗi khi cần tiền, vua Pháp triệu tập và yêu cầu Hội nghị 3 đẳng cấp cho tăng thuế.
Năm 1357, do những yêu sách của nhân dân Paris nên nhà vua chấp nhận một số thay đổi như: Hội nghị được được triệu tập một năm 2 lần, không cần có sự đồng ý của nhà vua; Được giải quyết vấn đề thuế khóa theo yêu cầu của mình, kiêm tra thu chi ngân sách nhà nước và được cử cố vấn cho nhà Vua.
Tuy nhiên, đến thế kỷ XV, Nhà nước quân chủ chuyên chế ở Pháp được thành lập thì vai trò của Hội nghị 3 đẳng cấp cũng không còn
c.. Nền quân chủ đại diện đẳng cấp anh
Vào thế kỷ XI, nước Anh là nước phong kiến phân quyền. Vương quyền tương đối hùng mạnh, khống chế được các lãnh chúa phong kiến. Do đó, các lãnh chúa phong kiến đều manh nha tổ chức bạo động để giành được quyền độc lập như những lãnh chúa ở Pháp. Trong cuộc chiến đó, kị sĩ nhỏ và thị dân ủng hộ nhà vua, vì họ sợ rằng khi lãnh chúa hùng mạnh sẽ trở nên lộng quyền và áp bức họ.
Giữa thế kỷ XII, Henry II củng cố thêm quyền lực của chính quyền Trung ương thêm một bước nữa, ông dựa vào kỵ sĩ và thị dân để đấu tranh kiên quyết với các
Trên cơ sở của sức sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành. Hàng loạt nông dân mất hết ruộng đất, nhiều thợ thủ công bị phá sản, trở thành đội ngũ của những người làm thuê. Bên cạnh đó, giai cấp tư sản hình thành và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong xã hội phong kiến.
b. Sự thiết lập nền quân chủ chuyên chế
Do nhu cầu cần có một thị trường thống nhất, cần có một chính quyền mạnh để bảo hộ kinh doanh, sản xuất và mua bán, giai cấp tư sản đã liên minh và giúp đỡ nhà Vua để chống lại bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ và xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền. Trong khi đó, lãnh chúa phong kiến ngày càng tăng cường bóc lột nông dân làm cho mâu thuẫn giữa lãnh chúa phong kiến với nông dân trở nên gay gắt. Giai cấp tư sản lợi dụng phong trào quần chúng để tấn công vào bọn lãnh chúa phong kiến, làm suy yếu lực lượng của chúng.
Trong tình hình đó, chính quyền nhà vua đã phải dựa vào lực lượng của giai cấp tư sản để củng cố sự thống trị của mình. Kết quả là, vào các thế kỷ XV, chế độ quân chủ chuyên chế đã lần lượt được thiết lập ở các nước Tây âu. Tuy nhiên, không phải tất cả các nước Tây Âu đều thiết lập được nền quân chủ chuyên chế. ở một số nước như Đức, Italia do những điều kiện lịch sử của mình mà từ thế kỷ XI vẫn duy trì chế độ chính trị phong kiến phân quyền.
Chế độ quân chủ chuyên chế ở các nước Tây âu được thiết lập trong điều kiện chế độ phong kiến Tây âu đang lâm vào khủng hoảng, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành. Do đó,nhà nước quân chủ chuyên chế ra đời như một liên minh tạm thời giữa nhà nước phong kiến với giai cấp tư sản. Nhà vua sử dụng giai cấp tư sản để chống lại tập đoàn lãnh chúa phong kiến cát cứ.Ngược lại, giai cấp tư sản được nhà vua bảo hộ, che chở, thống nhất tiền tệ và đo lường, điều này rất quan trọng đối với giai cấp tư sản còn non trẻ.
Tuy nhiên giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản là 2 giai cấp có quyền lợi và địa vị khác nhau. Do vậy, nhà nước quân chủ chuyên chế tồn tại trên sự mâu thuẫn giữa quý tộc phong kiến và tư sản, nhà nước này không phát là biểu hiện của sự hưng thịnh của chế độ phong kiến mà nó biểu hiện cho một nhà nước đang ở vào giai đoạn quá độ trước khi nhà nước tư sản ra đời. Chế độ quân chủ chuyên chế này vẫn là nền chuyên chính của giai cấp thống trị phong kiến, nhưng về bản chất thì có nhiều thay đổi so với nhà nước quân chủ trong thời kỳ trước đó. Điều này do những thay đổi vế tương quan giai cấp quyết định.
Câu 8. Phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ tự trị của các thành thị và cơ quan đại diện đẳng cấp ở Tây Âu trong thời kỳ phong kiến..
Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản, bao trùm và chi phối trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị phong kiến. Nó được biểu hiện cụ thể về thời gian, không gian và thực quyền lãnh chúa. Trạng thái phân quyền cát cứ chiếm hầu hết thời gian của chế độ phong kiến Tây Âu.
-Về kinh tế: Lãnh chúa có toàn quyền sở hữu đất đai thuộc lãnh địa của mình. Mỗi lãnh địa có nhiều trang viên, trang viên phong kiến được chia làm hai phần:
Phần thứ nhất gồm lâu đài và một số ruộng đất, vườn tược do lãnh chúa trực tiếp quản lý và sức lao dịch ở đây là tô lao dịch của nông nô. Phần thứ hai chủ yếu gồm đất đai canh tác được chia thành nhiều khoảng nhỏ cấp cho gia đình nông dân lĩnh canh. Kinh tế của lãnh địa là nền kinh tế tự cấp, tự túc. Lãnh chúa có quyền tự tổ chức sản xuất, thu tô thuế, thậm chí có nơi lãnh chúa còn có quyền đúc tiền riêng.
-Về xã hội: Quan hệ cơ bản là quan hệ giữa lãnh chúa (gồm cả tăng lữ cao cấp, thực chất cũng là lãnh chúa) với nông dân. Nông dân có ba loại: nông dân tự do, lệ nông và nông nô. Trong đó, lệ nông, nông dân tự do đều dần dần trở thành nông nô. Nông nô lệ thuộc hoàn toàn vào lãnh chúa phong kiến cả về ruộng đất và thân thể. Nông nô phải làm lao dịch không công, nộp địa tô cho chủ..ọ phải nộp thuế thân cho chúa phong kiến. Nông nô lấy vợ, lấy chồng phải nộp thuế kết hôn. Con cái nông nô muốn thừa kế tài sản của cha cũng phải nộp thuế thừa kế. Nhưng so với nô lệ trong xã hội cổ đại thân phận của nông nô có khá hơn. Nông nô có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng.
=> Có thể nói, thời kỳ phân quyền cát cứ là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu. Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ đó, quan hệ phong kiến được thể hiện rõ nét nhất, thể hiện qua chế độ sở hữu phong kiến, quan hệ địa chủ phong kiến, nông nô, địa vị của hai giai cấp này trong xã hội và phương thức bóc lột địa tô
Câu 9. Tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Anh thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh.
Chính thể quân chủ nghị viện Anh được định hình như sau: chính thể này gồm 3 bộ phận cơ bản:
- Hoàng đế: Hoàng đế là nguyên thủ quốc gia, nhưng hoàng đế chỉ nặng về vai trò tượng trưng. Mọi hoạt động của hoàng đế chỉ nhằm một mục đích chính thức hóa về mặt nhà các hoạt động của nghị viện, của chính phủ. Mọi quyết định của hoàng đế chỉ có hiệu lực thực thi khi có chữ ký kèm theo của thủ tướng. Tóm lại hoàng đế không có thực quyền và đúng như câu ngạn ngữ “nhà vua trị vì, nhưng không cai trị”
- Nghị viện: thời kỳ tư bản cạnh tranh là thời hoàng kim của nghị viện. Nghị viện có những quyền hạn:
- Quyền lập pháp
- Quyền quyết định ngân sách và thuế
- Quyền giám sát hoạt động của nội các, bầu hoặc bãi nhiệm các thành viên của nội các.