CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG
3.1 Phân tầng hội Việt Nam trước thời đổi mới:
Việt Nam, các yếu tố lịch sử văn hóa yếu tố chính ảnh hưởng dẫn đến sự phân
tầng hội bấy giờ. Hệ thống phân tầng hội Việt Nam đã từ lâu, hội phong
kiến, hội thuộc địa, thời tập trung,… Nhưng theo từng giai đoạn lịch sử, văn hóa
duy của nhân n những thay đổi do vậy sự phân tầng hội của các giai đoạn
những đặc điểm khác nhau.
Vào thời phong kiến, sự hiện diện của phân tầng hội khá chặt chẽ nhưng về phương
diện kinh tế còn khá thấp. Sự phân tầng hội giai đoạn này được chia thành ba giai
cấp chính . Tiêu chuẩn phân chia hội của thời kỳ này chủ yếu dựaVua - Quan - Dân
vào địa vị chính trị, Vua nắm quyền cai trị dất nước; Quan những người thực hiện các
chức trách của vua giao, thay mặt vua cai quản các địa phương nhỏ; sau cùng Dân
tầng lớp bị trị phải lao động đóng thuế
cho bộ máy nhà nước, vậy nhưng
cũng tầng lớp bị bóc lột nặng nhất.
giai đoạn y, giáo dục vẫn chưa phổ
biến, nên tiêu chí phân cấp nông dân
thường dựa vào giàu nghèo chính.
Về sau các chính sách cải cách
ruộng đất, trong bộ phận dân mới
chia ra nhiều thành phần hơn như: “Địa
chủ - Phú nông” người nhiều
ruộng đất dung đất để “phát canh thu
tô”, hầu như không cần làm vẫn
thu nhập từ việc bóc lột tầng lớp thấp
hơn; “Trung nông” thành phần không
chịu sự ảnh hưởng của ai, tự dung dất
mình để cày; Bần nông - Cố nông”
những nông dân nghèo, thường phải đi
làm mướn cho “Địa chủ - Phú nông”,
thuộc tầng lớp bị bóc lột.
Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam với tác động bởi chính sách bóc lột của thực dân
Pháp bị phân hóa sâu sắc, chia ra thành 1 bộ phận cấu kết với thực dân Pháp bóc lột nhân
dân 1 bộ phận yêu nước chống lại thực dân Pháp. Từ đó, giai cấp công nhân ra đời
(chủ yếu giai cấp nông dân) nhằm đánh trả quân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc
giai cấp sản (không dính líu nhiều với thực dân Pháp, tầng lớp “bóc lột”), 2 giai cấp
đối lập với nhau mâu thuẫn trực tiếp, gay gắt. Đến năm 1930, với sự dẫn dắt của
Nguyễn Ái Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đánh dấu cột mốc quan trọng
cho chặng đường phát triển của dân tộc ta. Đây kết quả của cuộc đấu tránh giai cấp,
cũng khẳng định được vai trò của giái cấp công nhân Việt Nam. Mở ra con đường phát
triển hội chủ nghĩa, sở cho sự đoàn kết thống nhất của dân tộc cho đến tận bây
giờ. Nhờ vậy, sự phân tằng hội giai đoạn này càng ngày càng ổn định bền vững
hơn, bất bình đẳng các giai cấp cũng được giảm sút đáng kể.
3.2 Phân tầng hội Việt Nam hiện tại:
3.2.1 Những tác động của phân tầng hội hiện nay
Qua bao cố gắng của Đảng nhân dân, đi theo đường lối hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản theo chủ nghĩa Marx-Lenin, đời sống nhân dân
Việt Nam ngày càng những bước tiến tích cực, hiện đại nhân đạo hơn so với quá
khứ. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế cao, mức sống duy tầng lớp dân cũng
được nâng cao. Sự phân tầng hội Việt Nam đã thúc đẩy các nhân phát triển, tìm
tòi khai phá năng mới. Ngoài ra, tạo ra thị trường cạnh tranh quyết liệt nhằm sàng
lọc các thể giúp hội - kinh tế vượt trội hơn.
Bên cạnh đó, các ảnh hưởng tiêu cực của phân tầng hội cũng đang dần gia tăng khi
xuất hiện những thể sử dụng các thủ đoạn làm giàu bất chính, bất chấp cả pháp luật
nhân đạo như tham nhũng buôn lậu, buôn bán nội tạng, lừa đảo,... những thành phần
này Việt Nam dần tồn tại hiện tượng phân tầng hội không hợp thức. Hiện tượng
này nảy sinh một phần do trong hệ thống chính sách còn những hở, tạo hội cho
những thành phần này sử dụng các chiêu trò qua mặt pháp luật. quan trọng n hết
do lòng tham của những thành phần y, mặc kệ nhân tính để thu lợi cho bản thân. Điều
này đem đến các hệ quả tiêu cực đến thị trường kinh tế nước ta, phá vỡ sự cân bằng
kinh tế y ra những mâu thuẫn hội. Tình trạng phân tầng Việt Nam những
khoảng cách rệt khiến các vần đề về bất bình đẳng, hình thành sự tương phản hai cực
“giàu nghèo” rệt, Mức sống của tổng thể cũng bị giảm đi, nhóm hộ giàu thì được
hưởng các đặc quyền, điều kiện sống phát triển, lối sống phung phí cũng dần hình thành,
trong khi nhóm hộ nghèo thì bị bần cùng hóa. Cả hai bộ phận này đều những nguy
tiềm tàng thể tác động đến kinh tế, đời sống, tưởng của cả tập thể.
3.2.2 Phân tầng hội theo thu nhập Việt Nam:
Theo Khảo sát Mức sống (KMSM) dân Việt Nam qua các năm 2008, 2010, 2012,
2014, 2016, 2018 đã cho thấy hệ số chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người/ tháng
giữa hộ giàu nhất (nhóm 5) hộ nghèo nhất (nhóm 1) theo 5 nhóm thu nhập của Việt
Nam đang tăng lên từng năm qua 6 lần khảo sát mức sống lần lượt là: 8,9 lần 9,2 lần
9,3 lần 9,7 lần 9,8 lần.
(Nguồn: Tính toán từ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư, 2018)
Phân tích bộ số liệu KMSM, tác giả Đỗ Thiên nh (2018, tr.76) u rõ: Quá
trình bất bình đẳng ng lên Việt Nam […] đã thể hiện thành s
phân cực xã hội. Một cực là nhóm giàu có mức sống cao nhất, cực kia
c nhóm n lại (trong đó nhóm nghèo thấp nhất). Như vậy,
thể nhận định rằng s bất bình đẳng hiện nay Việt Nam xu
hướng phân hóa thành hai cực (tương phản) giàu nghèo về mức sống
(sự pn cực về mức sống). Đây là nhận định mới tổng kết ki
quát về xu hướng bất bình đẳng mức sống Việt Nam trong thời
đổi mới. nhằm phân tích tổng quát về phân tầng hội Việt Nam trong thời đổi
mới (1990-2012). Qua các thông tin trên, khẳng định được tình trạng phân hóa giàu
nghèo Việt Nam khá rệt, khoảng cách giữa hộ giàu hộ nghèo càng ngày gia tăng,
làm mất sự cân bằng của hội gây nên “Hiệu ứng Matthew” - người giàu ngày càng
giàu còn người nghèo ngày càng nghèo (Robert Morton, 1960). biết sự chênh lệch
mức thu nhập trong hội điều hiển nhiên do mỗi người đều năng lực, hội, điều
kiện,… khác nhau nhưng nếu chênh lệch quá lớn sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng đời sống
dân cư.
3.2.3 Phân tầng hội theo các vùng trong nước:
Trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, một trong những vấn đề thu hút
sự quan tâm của hội sự di từ nông thôn ra đô thị. nhiều do dẫn đến hiện
tượng này, nhưng nổi bật quan trọng nhất vấn đề kinh tế. Người dân nông thôn di
ra đô thị nhằm tìm kiếm việc làm, tìm kiếm hội đổi đời, nâng cao điều kiện sống…
Hiện nay, bình quân đầu người mỗi vùng sự biến động, không đồng đều, các dân
từ nhiều nơi đang đổ dồn về Đồng bằng sông Hồng Đông Nam Bộ. Đây được xem
trung tâm kinh tế của cả nước với 2 thành phố phát triển Nội TP. Hồ Chí Minh.
Bảng thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo vùng (đv: 1000 vnđ)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Điều tra mức sống hộ dân cư, 2012)
Qua bảng số liệu sau, ta nhân thấy thu nhập bình quân đầu người của c nước đều sự
gia tăng, nhưng đồng thời tình trạng chênh lệch giữa các vùng vẫn không sự thay đổi.
Với sự phát triển mạnh mẽ của TP. Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ luôn giữ vẫn vị trị cao
nhất. Còn vùng thu nhập bình quân đầu người thấp nhất Trung du miền núi phía
Bắc, cũng dễ hiểu khi đây địa hình trắc trở nhiệt độ khắc nghiệt khó để phát huy
được hết các tiềm năng kinh tế. thế để nâng cao đời sống nhân, tình trạng di
sang các thành phố lớn càng ngày phổ biến hơn.
3.2.4 Phân tầng hội theo nghề nghiệp, mức sống:
Một trong các phương pháp phân tầng hội các nhà hội học quốc tế sử dụng
dựa vào nghề nghiệp để xác đinh giai cấp hội (Rothman,2005). Nghề nghiệp đây
được xem như tiêu chí để phân nhóm sắp xếp thứ bậc các tầng lớp trong hội,
quy tụ các đặc điểm như nguồn lực, địa vị tài sản,… Cả ba phạm trù (tài sản, quyền
lực, uy tin hội) đều được thể hiện qua nghề nghiệp một cách chính xác.
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Điều tra mức sống hộ dân cư, 2014)
Sự phân bố nhà của nhóm hộ nghèo nhóm hộ giàu sự khác biệt rất lớn, phản ánh
sự phân hóa nét giữa nhóm thu nhập cao với nhóm thu nhập thấp.
Tài liệu tham khảo
Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam (01/02/2020). Sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam - Bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, từ:
https://mod.gov.vn/vn/chi-tiet/sa-ttsk/sa-tt-cmsk/sa-tt-cmsk-18/43f300fc-3197-47f5-a32e-
131ce3d35d83
Bùi Xuân Đính (05/09/2020). Bàn thêm về phân tầng hội nước ta trước Cách mạng
Tháng 8 năm 1945, từ: http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/14390-ban-them-ve-
phan-tang-xa-hoi-o-nuoc-ta-truoc-cach-mang-thang-8-nam-1945
Nguyễn Đình Tấn (2014) Tạp chí Khoa học hội Việt Nam, số 5(78) -2014, PHÂN
TẦNG HỘI HỢP THỨC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG BẰNG HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Đỗ Thiên nh (2018) Bất bình đẳng mức sống nông thôn qua sử
dụng đất nông nghiệp của h gia đình. Nxb Khoa học xã hội.
Nội.
Tổng cục Thống (2018) Kết quả Khảo t Mức sống dân cư niên
giám thống 2007 - 2018.. Nxb Thống . Nội.

Preview text:

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG
3.1 Phân tầng hội Việt Nam trước thời đổi mới:
Ở Việt Nam, các yếu tố lịch sử và văn hóa là yếu tố chính ảnh hưởng và dẫn đến sự phân
tầng xã hội bấy giờ. Hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam đã có từ lâu, xã hội phong
kiến, xã hội thuộc địa, thời kì tập trung,… Nhưng theo từng giai đoạn lịch sử, văn hóa và
tư duy của nhân dân có những thay đổi do vậy sự phân tầng xã hội của các giai đoạn có
những đặc điểm khác nhau.
Vào thời kì phong kiến, sự hiện diện của phân tầng xã hội khá chặt chẽ nhưng về phương
diện kinh tế còn khá thấp. Sự phân tầng xã hội ở giai đoạn này được chia thành ba giai
cấp chính là Vua - Quan - Dân. Tiêu chuẩn phân chia xã hội của thời kỳ này chủ yếu dựa
vào địa vị chính trị, Vua nắm quyền cai trị dất nước; Quan là những người thực hiện các
chức trách của vua giao, thay mặt vua cai quản các địa phương nhỏ; sau cùng là Dân là
tầng lớp bị trị phải lao động đóng thuế
cho bộ máy nhà nước, dù vậy nhưng
cũng là tầng lớp bị bóc lột nặng nhất. Ở
giai đoạn này, giáo dục vẫn chưa phổ
biến, nên tiêu chí phân cấp ở nông dân
thường dựa vào giàu – nghèo là chính.
Về sau có các chính sách cải cách
ruộng đất, trong bộ phận dân cư mới
chia ra nhiều thành phần hơn như: “Địa
chủ - Phú nông” là người có nhiều
ruộng đất và dung đất để “phát canh thu
tô”, hầu như không cần làm gì vẫn có
thu nhập từ việc bóc lột tầng lớp thấp
hơn; “Trung nông” thành phần không
chịu sự ảnh hưởng của ai, tự dung dất
mình để cày; “Bần nông - Cố nông” là
những nông dân nghèo, thường phải đi
làm mướn cho “Địa chủ - Phú nông”,
thuộc tầng lớp bị bóc lột.
Trong thời kì Pháp thuộc, Việt Nam với tác động bởi chính sách bóc lột của thực dân
Pháp bị phân hóa sâu sắc, chia ra thành 1 bộ phận cấu kết với thực dân Pháp bóc lột nhân
dân và 1 bộ phận yêu nước chống lại thực dân Pháp. Từ đó, giai cấp công nhân ra đời
(chủ yếu là giai cấp nông dân) nhằm đánh trả quân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc và
giai cấp tư sản (không dính líu nhiều với thực dân Pháp, tầng lớp “bóc lột”), 2 giai cấp
đối lập với nhau và mâu thuẫn trực tiếp, gay gắt. Đến năm 1930, với sự dẫn dắt của
Nguyễn Ái Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đánh dấu cột mốc quan trọng
cho chặng đường phát triển của dân tộc ta. Đây là kết quả của cuộc đấu tránh giai cấp, và
cũng khẳng định được vai trò của giái cấp công nhân Việt Nam. Mở ra con đường phát
triển xã hội chủ nghĩa, là cơ sở cho sự đoàn kết và thống nhất của dân tộc cho đến tận bây
giờ. Nhờ vậy, sự phân tằng xã hội ở giai đoạn này càng ngày càng ổn định và bền vững
hơn, bất bình đẳng ở các giai cấp cũng được giảm sút đáng kể.
3.2 Phân tầng hội Việt Nam hiện tại:
3.2.1 Những tác động của phân tầng hội hiện nay
Qua bao cố gắng của Đảng và nhân dân, đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và theo chủ nghĩa Marx-Lenin, đời sống nhân dân ở
Việt Nam ngày càng có những bước tiến tích cực, hiện đại và nhân đạo hơn so với quá
khứ. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế cao, mức sống và tư duy ở tầng lớp dân cư cũng
được nâng cao. Sự phân tầng xã hội ở Việt Nam đã thúc đẩy các cá nhân phát triển, tìm
tòi và khai phá kĩ năng mới. Ngoài ra, tạo ra thị trường cạnh tranh quyết liệt nhằm sàng
lọc các cá thể giúp xã hội - kinh tế vượt trội hơn.
Bên cạnh đó, các ảnh hưởng tiêu cực của phân tầng xã hội cũng đang dần gia tăng khi
xuất hiện những cá thể sử dụng các thủ đoạn làm giàu bất chính, bất chấp cả pháp luật và
nhân đạo như tham nhũng buôn lậu, buôn bán nội tạng, lừa đảo,... Vì những thành phần
này mà Việt Nam dần tồn tại hiện tượng phân tầng xã hội không hợp thức. Hiện tượng
này nảy sinh một phần do trong hệ thống chính sách còn những sơ hở, tạo cơ hội cho
những thành phần này sử dụng các chiêu trò qua mặt pháp luật. Và quan trọng hơn hết là
do lòng tham của những thành phần này, mặc kệ nhân tính để thu lợi cho bản thân. Điều
này đem đến các hệ quả tiêu cực đến thị trường kinh tế nước ta, nó phá vỡ sự cân bằng
kinh tế và gây ra những mâu thuẫn xã hội. Tình trạng phân tầng ở Việt Nam có những
khoảng cách rõ rệt khiến các vần đề về bất bình đẳng, hình thành sự tương phản hai cực
“giàu – nghèo” rõ rệt, Mức sống của tổng thể cũng bị giảm đi, nhóm hộ giàu thì được
hưởng các đặc quyền, điều kiện sống phát triển, lối sống phung phí cũng dần hình thành,
trong khi nhóm hộ nghèo thì bị bần cùng hóa. Cả hai bộ phận này đều có những nguy cơ
tiềm tàng có thể tác động đến kinh tế, đời sống, tư tưởng của cả tập thể.
3.2.2 Phân tầng hội theo thu nhập Việt Nam:
Theo Khảo sát Mức sống (KMSM) dân cư ở Việt Nam qua các năm 2008, 2010, 2012,
2014, 2016, 2018 đã cho thấy hệ số chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người/ tháng
giữa hộ giàu nhất (nhóm 5) và hộ nghèo nhất (nhóm 1) theo 5 nhóm thu nhập của Việt
Nam đang tăng lên từng năm qua 6 lần khảo sát mức sống lần lượt là: 8,9 lần → 9,2 lần
→ 9,3 lần → 9,7 lần → 9,8 lần.
(Nguồn: Tính toán từ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư, 2018)
Phân tích bộ số liệu KMSM, tác giả Đỗ Thiên Kính (2018, tr.76) nêu rõ: “Quá
trình bất bình đẳng tăng lên Việt Nam […] đã thể hiện thành sự
phân cực hội. Một cực nhóm giàu mức sống cao nhất, cực kia
các nhóm còn lại (trong đó nhóm nghèo thấp nhất). Như vậy,
thể nhận định rằng sự bất bình đẳng hiện nay Việt Nam xu
hướng phân hóa thành hai cực (tương phản) giàu nghèo về mức sống
(sự phân cực về mức sống). Đây nhận định mới tổng kết khái
quát về xu hướng bất bình đẳng mức sống Việt Nam trong thời
đổi mới.” nhằm phân tích tổng quát về phân tầng xã hội ở Việt Nam trong thời kì đổi
mới (1990-2012). Qua các thông tin trên, khẳng định được tình trạng phân hóa giàu
nghèo ở Việt Nam khá rõ rệt, khoảng cách giữa hộ giàu và hộ nghèo càng ngày gia tăng,
làm mất sự cân bằng của xã hội gây nên “Hiệu ứng Matthew” - người giàu ngày càng
giàu còn người nghèo ngày càng nghèo (Robert Morton, 1960). Dù biết sự chênh lệch
mức thu nhập trong xã hội là điều hiển nhiên do mỗi người đều có năng lực, cơ hội, điều
kiện,… khác nhau nhưng nếu chênh lệch quá lớn sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng đời sống dân cư.
3.2.3 Phân tầng hội theo các vùng trong nước:
Trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, một trong những vấn đề thu hút
sự quan tâm của xã hội là sự di cư từ nông thôn ra đô thị. Có nhiều lý do dẫn đến hiện
tượng này, nhưng nổi bật và quan trọng nhất là vấn đề kinh tế. Người dân nông thôn di cư
ra đô thị nhằm tìm kiếm việc làm, tìm kiếm cơ hội đổi đời, nâng cao điều kiện sống…
Hiện nay, bình quân đầu người ở mỗi vùng có sự biến động, không đồng đều, các dân cư
từ nhiều nơi đang đổ dồn về Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Đây được xem là
trung tâm kinh tế của cả nước với 2 thành phố phát triển là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Bảng thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo vùng (đv: 1000 vnđ)
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Điều tra mức sống hộ dân cư, 2012)
Qua bảng số liệu sau, ta nhân thấy thu nhập bình quân đầu người của cả nước đều có sự
gia tăng, nhưng đồng thời tình trạng chênh lệch giữa các vùng vẫn không có sự thay đổi.
Với sự phát triển mạnh mẽ của TP. Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ luôn giữ vẫn vị trị cao
nhất. Còn vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là Trung du và miền núi phía
Bắc, cũng dễ hiểu khi ở đây có địa hình trắc trở và nhiệt độ khắc nghiệt khó để phát huy
được hết các tiềm năng kinh tế. Vì thế để nâng cao đời sống cá nhân, tình trạng di cư
sang các thành phố lớn càng ngày phổ biến hơn.
3.2.4 Phân tầng hội theo nghề nghiệp, mức sống:
Một trong các phương pháp phân tầng xã hội mà các nhà xã hội học quốc tế sử dụng là
dựa vào nghề nghiệp để xác đinh giai cấp xã hội (Rothman,2005). Nghề nghiệp ở đây
được xem như tiêu chí để phân nhóm và sắp xếp thứ bậc các tầng lớp trong xã hội, nó
quy tụ các đặc điểm như nguồn lực, địa vị và tài sản,… Cả ba phạm trù (tài sản, quyền
lực, uy tin xã hội) đều được thể hiện qua nghề nghiệp một cách chính xác.
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Điều tra mức sống hộ dân cư, 2014)
Sự phân bố nhà ở của nhóm hộ nghèo và nhóm hộ giàu có sự khác biệt rất lớn, phản ánh
sự phân hóa rõ nét giữa nhóm có thu nhập cao với nhóm có thu nhập thấp. Tài liệu tham khảo
Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (01/02/2020). Sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam - Bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, từ:
https://mod.gov.vn/vn/chi-tiet/sa-ttsk/sa-tt-cmsk/sa-tt-cmsk-18/43f300fc-3197-47f5-a32e- 131ce3d35d83
Bùi Xuân Đính (05/09/2020). Bàn thêm về phân tầng xã hội ở nước ta trước Cách mạng
Tháng 8 năm 1945, từ: http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/14390-ban-them-ve-
phan-tang-xa-hoi-o-nuoc-ta-truoc-cach-mang-thang-8-nam-1945
Nguyễn Đình Tấn (2014) Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5(78) -2014, PHÂN
TẦNG XÃ HỘI HỢP THỨC VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Đỗ Thiên Kính (2018) Bất bình đẳng mức sống ở nông thôn qua sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội.
Tổng cục Thống kê (2018) Kết quả Khảo sát Mức sống dân cư niên
giám thống kê 2007 - 2018.. Nxb Thống kê. Hà Nội.