Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI TÊN ĐỀ TÀI:
Phân tích các thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chỉ ra đâu là thời kỳ hình thành về cơ bản tư
tưởng về con đường cách mạng Việt Nam, tại sao?
Lớp học phần: 2324HCMI0111
Giảng viên: Vũ Thị Thu Hà Nhóm 1 Hà Nội, tháng 3 năm 2023 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................4
CHƯƠNG I: CÁC THỜI KỲ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG .5
1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.................................................................5
1.2. Các thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng HCM..................................5
1.2.1. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng
tìm đường cứu nước mới............................................................................................5
1.2.2. Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân
tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản.......................................................6
1.2.3. Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về
cách mạng Việt Nam...................................................................................................7
1.2.4. Thời kỳ 1930 - 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương
pháp cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo..........................................................8
1.2.5. Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.....................................9
CHƯƠNG II: THỜI KỲ HÌNH THÀNH VỀ CƠ BẢN TƯ TƯỞNG VỀ CON
ĐƯỜNG CÁC MẠNG VIỆT NAM (THỜI KỲ 1920-1930).................................11
2.1. Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh........................................................11
2.1.1. Giai đoạn ở Pháp (1921-1923)...............................................................11
2.1.2. Giai đoạn ở Liên Xô (1923-1924)...........................................................11
2.1.3. Giai đoạn ở Trung Quốc (1924-1927)....................................................12
2.1.4. Giai đoạn ở Thái Lan (1928-1929).........................................................13
2.1.5. Giai đoạn trở về Trung Quốc (1929-1930).............................................14
2.2. Hoạt động lý luận của Hồ Chí Minh...........................................................14
2.2.1. Tờ báo “Le Paria (Người cùng khổ)” (1922)........................................14
2.2.2. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân pháp” (1925)................................15
2.2.3. Tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927)..................................................16
2.3. Những tư tưởng cách mạng Việt Nam được hình thành trong giai đoạn
1920-1930.................................................................................................................17
2.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc....................17
2.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và
cách mạng chính quốc, cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới....................18
2.3.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản và cán bộ cách mạng.........18 2
2.3.4. Hồ Chí Minh cũng tiếp tục phát triển tư tưởng yêu nước mở rộng mối
hiểu biết về văn hoá, thế giới....................................................................................20
KẾT LUẬN..............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................22 3 LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một dân tộc có lịch sử độc lập, tự chủ lâu đời. Vào thế kỷ 19, thực dân
Pháp xâm lược Việt Nam, biến nước ta thành thuộc địa và bắt nhân dân làm nô lệ. Tuy
nhiên, vào năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã đoàn kết
chiến đấu vì độc lập, tự do, giành được những thắng lợi lịch sử vĩ đại thông qua đấu tranh
vũ trang theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III
lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời có viết: "Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta
đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân
tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta."
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được xem là "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam"
và là "một trong một trăm nhân vật ảnh hưởng nhất thế kỷ XX"; là người con ưu tú nhất
của dân tộc Việt Nam, và đã để lại cho dân tộc và nhân loại một di sản đồ sộ và vô cùng
quý báu, bao gồm cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người. Tư
tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành "kim chỉ nam cho hành
động" của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khái quát: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận về
đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Đó là tư tưởng cách mạng
không ngừng, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nội dung cốt lõi là
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người. Nói ngắn gọn là
độc lập dân tộc dân chủ, chủ nghĩa xã hội, hay nói gọn hơn: "Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
Việc phân kỳ các giai đoạn trong sự hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí
Minh giúp ta hiểu sâu sắc các mốc phát triển quan trọng và nội dung tư tưởng của Người
trong từng thời kỳ, chúng ta có thể phân chia sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh thành năm thời kỳ như sau:
1. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm đường cứu nước mới
2. Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam
theo con đường cách mạng vô sản
3. Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
4. Thời kỳ 1930 - 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách
mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo
5. Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển soi đường cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Trong đó, giai đoạn từ 1920-1930 giữ một vai trò đặc biệt quan trọng với 10 năm
hoạt động hoạt động sôi nổi nhất, quyết liệt nhất của Hồ Chí Minh, là thời kì hình thành cơ
bản về tư tưởng và con đường cách mạng Việt Nam. 4
CHƯƠNG I: CÁC THỜI KỲ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2011) nêu
khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả
của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.
Khái niệm trên đây chỉ rõ nội hàm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở hình
thành cũng như ý nghĩa của tư tưởng đó.
Một là, khái niệm này đã nêu rõ bản chất khoa học và cách mạng cũng như nội dung
cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ đó phản ánh những vấn đề có tính quy
luật của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Để đạt mục tiêu đó,
con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Mục tiêu và con đường này đúng theo lý luận Mác-Lênin; khẳng định vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước cách mạng; xác định lực lượng
cách mạng là toàn thể nhân dân Việt Nam yêu nước, xây dựng con người Việt Nam có
năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của
thời đại trên cơ sở quan hệ quốc tế hòa bình, hợp tác, hữu nghị cùng phát triển; với
phương pháp cách mạng phù hợp...
Hai là, nêu lên cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin – giá
trị cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng đó; đồng thời tư tưởng
Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ việc Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là, khái niệm đó đã nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tư
tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,
mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cùng với chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành làm nên nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
1.2. Các thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng HCM
1.2.1. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm đường cứu nước mới
Đây là thời kỳ đầu tiên, tuy ngắn nhưng rất quan trọng trong toàn bộ cuộc đời của
Người bởi đây là thời kỳ định hình nhân cách của một đời người.
Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống tốt đẹp của quê hương, gia
đình và của dân tộc để hình thành nên tư tưởng yêu nước và tìm đường cứu nước.
Nghệ An là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, nhiều nhân tài và anh hùng yêu
nước nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sau 5
đổi thành Nguyễn Tất Thành), sinh ngày 19/05/1890, sinh ra trong một gia đình khoa
bảng. Cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh của Người đỗ phó bảng, từng được bổ nhiệm chức
Tri huyện huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Tuy làm quan, nhưng cụ thường dạy các con:
“Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”, “Đừng lấy phong cách
nhà quan làm phong cách nhà ta”. Tinh thần yêu nước thương dân của cụ đã có ảnh hưởng
lớn đến tư tưởng, nhân cách Hồ Chí Minh thuở niên thiếu.
Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mẹ là Cụ Hoàng Thị Loan - người mẹ
Việt Nam điển hình với đức tính nhân hậu, tảo tần, đảm đang, yêu thương chồng con hết
mực, hòa thuận nhân đức với mọi người, được bà con láng giềng mến phục.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đã sớm có tư tưởng yêu nước, thương dân và thể hiện rõ tư
tưởng yêu nước trong hành động:
- Năm 1908, Hồ Chí Minh tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ.
- Năm 1910, dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết trong phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ.
Hình thành tư duy phê phán con đường cứu nước của các vị tiền bối như Phan Bội
Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những hạn chế
của các phương pháp, khuynh hướng cứu nước của những người đi trước. Người muốn
tìm hiểu những gì ẩn giấu sau sức mạnh của kẻ thù và học hỏi kinh nghiệm cách mạng trên
thế giới. Ngày 05/06/1911, Hồ Chí Minh ra nước ngoài đi tìm đường cứu nước.
1.2.2. Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc
Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản
Trước hết, Người xác định đúng bản chất, thủ đoạn, tội ác của chủ nghĩa thực dân
và tình cảnh nhân dân các nước thuộc địa. Từ năm 1911 - 1917, từ Pháp, Hồ Chí Minh đến
nhiều nước trên thế giới, Người hình thành một nhận thức mới: Nhân dân lao động các
nước, trong đó có giai cấp công nhân, đều bị bóc lột có thể là bạn của nhau; còn chủ nghĩa
đế quốc, bọn thực dân ở đâu cũng là kẻ bóc lột, là kẻ thù của nhân dân lao động.
Năm 1917 trở lại Pháp, Hồ Chí Minh tham gia phong trào công nhân Pháp đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội của giai cấp công nhân Pháp - tổ chức
theo đuổi lý tưởng cao quý: Tự do, bình đẳng, bác ái.
Bước nhận thức mới về quyền tự do, dân chủ của nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh diễn ra qua hoạt động Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, lấy
tên là Nguyễn Ái Quốc, gửi Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-xây
(18/06/1919), đòi quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên được đọc sơ thảo lần thứ nhất luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người đã tìm thấy và xác định rõ
phương hướng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản.
Người tích cực tham gia các hoạt động thực tế của Đảng Xã hội Pháp, hiểu biết sâu
sắc hơn về chủ nghĩa Lênin, Quốc tế Cộng sản, về cách mạng vô sản, về phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới.
Tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành
người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Hồ 6
Chí Minh, bước ngoặt chủ nghĩa yêu nước kết hợp chặt chẽ với lập trường cách mạng vô sản.
1.2.3. Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Đây là thời kỳ mục tiêu, phương hướng cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam từng
bước được cụ thể hóa, thể hiện rõ trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hồ Chí Minh tích cực sử dụng báo chí Pháp lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, thức
tỉnh lương tri nhân dân Pháp và nhân loại tiến bộ, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân
các dân tộc thuộc địa của dân tộc Việt Nam. Đầu thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã có một số
bài báo đáng chú ý như: Vấn đề dân bản xứ đăng báo L'Humanité tháng 8 năm 1919, ở
Đông Dương đăng trên báo L’Humanité ngày 4/11/1920, v.v… Năm 1921, Hồ Chí Minh
tham gia sáng lập nên Hội Liên hiệp thuộc địa. Năm 1922, Người được bầu là Trưởng Tiểu
ban nghiên cứu vấn đề dân tộc thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, sáng lập báo Le Paria
bằng tiếng Pháp. Người vừa làm chủ bút, tổng biên tập và kiêm cả việc tổ chức phát hành
tờ báo trong nước Pháp và gửi đến các thuộc địa của Pháp, trong đó có cả các nước Đông
Dương nhằm thức tỉnh tinh thần giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.
Trong thời kỳ 1920 - 1930, Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động lý luận chính trị, tổ
chức và tham gia chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách
mạng tại Việt Nam. Bằng việc sử dụng báo chí và các hoạt động thực tiễn, Người đã tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong các phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam. Trong đó phương hướng cách mạng của các nước thuộc địa đặc biệt là
Việt Nam được Hồ Chí Minh cụ thể hóa một bước trên cơ sở phân tích sâu sắc bản chất,
thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân Pháp và những điều đó được thể hiện rõ trong nhiều bài
báo của Người đăng trên các báo của Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Liên Xô, của
Quốc tế Cộng sản và trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp
xuất bản lần đầu năm 1925 tại Paris. Trong cùng năm phát hành tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp, Hồ Chí Minh còn sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản: Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên (tháng 6/1925), ra báo Thanh niên bằng tiếng Việt và từng
bước truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và lý luận các mạng trong những người yêu nước và công nhân.
Người tổng kết kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ và nhất là từ
kinh nghiệm cách mạng Tháng Mười Nga, từ đó vạch rõ cách mạng Việt Nam phải có
Đảng Cộng sản với chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt để lãnh đạo, lực lượng cách mạng giải
phóng dân tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó nòng cốt là liên minh công nông.
Những nội dung cốt lõi đó và nhiều vấn đề trong đường lối, phương pháp cách mạng Việt
Nam đã được Người thể hiện trong tác phẩm Đường cách mệnh xuất bản năm 1927 tại Quảng Châu, Trung Quốc.
Trong Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam Người đã chủ trì việc hợp
nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua văn kiện do Hồ Chí
Minh khởi thảo đầu năm 1930. Các văn kiện này được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chính thức khẳng định rõ những quan điểm cơ bản
về đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam, việc tổ chức và xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam thành một tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh đầu tiên nêu lên
mục tiêu và con đường cách mạng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”, “đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp 7
tư sản phản cách mạng”, giương cao ngọn cờ độc lập và chủ nghĩa xã hội, khẳng định sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liên minh công nông là lực lượng nòng cốt, cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đúng đắn
và sáng tạo đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo
cách mạng Việt Nam kéo dài suốt từ cuối thế kỷ XIX sang đầu năm 1930.
1.2.4. Thời kỳ 1930 - 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp
cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo
Những thử thách lớn với Hồ Chí Minh xuất hiện không chỉ từ phía kẻ thù, mà còn từ
trong nội bộ những người cách mạng. Một số người trong Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng
sản Việt Nam có những nhìn nhận sai lầm về Hồ Chí Minh do chịu ảnh hưởng quan điểm
giáo điều tả khuynh xuất hiện trong Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản. Do không nắm vững
tình hình các dân tộc thuộc địa và ở Đông Dương, nên tư tưởng mới mẻ, đúng đắn, sáng
tạo của Hồ Chí Minh trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên chẳng những không được hiểu và
chấp nhận mà còn bị họ phê phán, bị coi là "hữu khuynh", "dân tộc chủ nghĩa". Hội nghị
Trung ương Đảng họp tháng 10-1930 ra nghị quyết cho rằng: Hội nghị hiệp nhất Đảng do
Nguyễn Ái Quốc chủ trì có nhiều sai lầm, "chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai
cấp tranh đấu, ấy là một sự rất nguy hiểm"; việc phân chia thành trung, tiểu, đại địa chủ
trong sách lược của Đảng là không đúng. Hội nghị ra án nghị quyết: "Thủ tiêu chánh
cương, sách lược và điều lệ Đảng"; bỏ tên Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh và
những người tham gia Hội nghị thành lập Đảng xác định, lấy tên là Đảng Cộng sản Đông
Dương, hoạt động theo như chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, v.v…
Thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông, năm 1934, Hồ Chí Minh trở lại
Liên Xô, vào học Trường Quốc tế Lênin. Sau đó, Người làm nghiên cứu sinh tại Ban Sử
của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Trong quãng
thời gian từ năm 1934 đến năm 1938, Hồ Chí Minh vẫn còn bị hiểu lầm về một số hoạt
động thực tế và quan điểm cách mạng. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhận thấy
thời cuộc sẽ có những chuyển biến lớn, nên cần phải trở về nước trực tiếp tham gia lãnh
đạo cách mạng Việt Nam, ngày 6-6-1938, Hồ Chí Minh gửi thư cho một lãnh đạo Quốc tế
Cộng sản, đề nghị cho phép trở về nước hoạt động, trong đó, có đoạn viết: "Xin đồng chí
giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này... Đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng
không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng". Đề nghị này được chấp nhận.
Tháng 10 năm 1938, Hồ Chí Minh rời Liên Xô đi qua Trung Quốc để về Việt Nam.
Tháng 12/1940, Hồ Chí Minh về gần biên giới Việt Nam - Trung Quốc, liên lạc với Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Người mở lớp
huấn luyện cán bộ, viết sách Con đường giải phóng, trong đó nêu ra phương pháp cách
mạng giành chính quyền (1/1941). Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Đông
Dương khẳng định, trở thành thành yếu tố chỉ đạo cách mạng Việt Nam từ Hội nghị Trung
ương Đảng tháng 5-1941. Cuối tháng 1-1941, Hồ Chí Minh về nước. Tháng 5-1941, tại
Pác Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), với tư cách cán bộ Quốc tế Cộng sản, Người
chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị này đã đặt nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên hàng đầu. Người khẳng định rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải
phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian
đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng". Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng
nêu rõ: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn 8
vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc
giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể
quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn
năm cũng không đòi lại được". Hội nghị đã tạm thời gác lại khẩu hiệu cách mạng điền địa,
xóa bỏ vấn đề lập Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương, thay vào đó là
chủ trương thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu chủ
trương thành lập mặt trận Việt Minh và thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở nòng cốt
là liên minh công nông nêu ra phương hướng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, …
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã hoàn chỉnh thêm một bước sự
chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị
Trung ương Đảng tháng 11-1939. Sự chuyển hướng được vạch ra từ hai cuộc Hội nghị này
thực chất là sự trở về với quan điểm của Hồ Chí Minh đã nêu ra từ trong Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.
Trải qua nhiều sóng gió, thử thách, những quan điểm cơ bản nhất về đường lối cách
mạng giải phóng dân tộc tại Việt Nam của Hồ Chí Minh được Đảng khẳng định và đưa vào
thực tiễn tổ chức nhân dân biến thành các phong trào cách mạng để dẫn tới được chiến
thắng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
1.2.5. Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển soi đường
cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Trong thời kỳ này, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cơ bản là thống
nhất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuẩn bị lực lượng, đón thời cơ khởi nghĩa, giành
chính quyền. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành lại độc lập dân tộc. Đây
là thắng lợi to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị trung ương lần thứ 8 của
Đảng. Quan điểm chủ đạo của hội nghị này là nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc coi đó là
nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải
phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian
đảng cứu giống nòi rút khỏi nước sôi lửa nóng”. Đồng thời, ngày 19-5-1941, Hồ Chí Minh
sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, không phân biệt
dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo v.v... nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước chống
đế quốc giành độc lập dân tộc. Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 và Chương trình
của Việt Minh cùng với Kính cáo đồng bào của Hồ Chí Minh ngày 6-6-1941, là những chủ
trương, chính sách hợp lòng dân đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí
Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng tháng Tám 1945 đến thắng lợi.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên
ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời. Đó là nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đảng cầm quyền về nhà nước của dân, do dân, vì dân có bước phát triển mới.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ tự lập tự
cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh ở
một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Nhân dân ta hưởng độc lập chưa được bao ngày thì thù trong giặc ngoài câu kết với
nhau đẩy nước nhà lâm vào cảnh “nghìn cân treo sợi tóc” … Dưới sự lãnh đạo của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
lần thứ hai với chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 9
Tháng 2-1951, cuộc kháng chiến đang trên đà thắng lợi, Hồ Chí Minh và Ban Chấp
hành trung ương đảng quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng.
Đại hội khẳng định đường lối do Hồ Chí Minh vạch ra từ ngày thành lập Đảng, tiếp tục
lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”.
Đường lối đúng đắn mà Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng vạch ra đã dắt dẫn
nhân dân ta tiến lên làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, mở đầu quá
trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Hoà bình được lập lại
nhưng đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Nắm vững
bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm xác định kẻ
thù chính của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là chủ nghĩa đế quốc Mỹ; đồng
thời vạch ra đường lối cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: miền Nam tiếp tục
thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ; miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, từng bước
tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong
kiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội không
qua chế độ tư bản. Trong điều kiện ấy tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển và hoàn thiện.
Trước thất bại của chiến tranh đặc biệt, năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến
lược chiến tranh cục bộ. Chúng ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam, tăng cường
chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên miền Bắc, hòng khuất phục quân
và dân ta. Trước hành động leo thang xâm lược hết sức tàn bạo của đế quốc Mỹ, Hồ Chí
Minh khẳng định: “Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để
đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn
máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được
chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chiến
tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một
số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!
Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất
nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, đồng bào và chiến sĩ cả nước phát huy cao độ chủ
nghĩa anh hùng cách mạng giữ vững lòng tin tưởng tuyệt đối với Người và Trung ương
Đảng, nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.
Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta bản Di chúc thiêng
liêng. Trong Di chúc, Người đã nói lên niềm tin tất thắng vào
sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; tổng kết sâu sắc những bài học đấu tranh và thắng lợi của
cách mạng Việt Nam; đồng thời đề ra những phương sách lớn để xây dựng lại đất nước
sau chiến tranh nhằm thực hiện mục tiêu: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Di chúc là những lời căn dặn cuối cùng đầy nhiệt huyết, thắm đượm tình người của
Chủ tịch Hồ Chí Minh; một di sản tư tưởng vô cùng quý báu của dân tộc và nhân loại.
Kết luận, tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành, phát triển cùng chiều với quá trình phát
triển của xã hội Việt Nam và thời đại. Khi đã phát triển hoàn chỉnh về cơ bản, tư tưởng
Hồ Chí Minh trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đường lối chính trị đúng đắn của
cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của dân tộc và nhân loại. 10 11
CHƯƠNG II: THỜI KỲ HÌNH THÀNH VỀ CƠ BẢN TƯ TƯỞNG VỀ
CON ĐƯỜNG CÁC MẠNG VIỆT NAM (THỜI KỲ 1920-1930)
2.1. Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
2.1.1. Giai đoạn ở Pháp (1921-1923)
Tháng 7-1921, tại Pari, Nguyễn Ái Quốc đã cùng với nhiều người cách mạng châu
Phi, châu Mỹ Latinh thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Lúc thành lập Hội đã có 200 hội
viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập toàn bộ vào Hội, đó là Hội Những người
Việt Nam yêu nước tại Pháp và Hội Đấu tranh cho quyền con người ở Ma-đa-gát-xca. Hội
đã bầu Ban Thường vụ do Nguyễn Ái Quốc đứng đầu; thông qua Điều lệ do Nguyễn Ái
Quốc thảo với mục đích chính là “Bênh vực cho quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ
thuộc địa”. Nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc thuộc địa trong cuộc chiến đấu chống kẻ
thù chung từ đó tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin đến các nước này.
Năm 1922, tờ báo “Người cùng khổ” (Le Paria) được xuất bản, ra được 38 số với 35
tờ, mỗi số bán được quãng 1000 tới 5000 bản, một con số thuyết phục vào lúc bấy giờ. Hồ
Chí Minh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút nhằm vạch trần chính sách đàn áp dã man của chủ
nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc Pháp nói riêng từ đó thức tỉnh nhân dân. Báo “Người
cùng khổ” đã thật sự trở thành vũ khí chiến đấu, là diễn đàn để Nguyễn Ái Quốc và Hội
Liên hiệp thuộc địa tuyên truyền tư tưởng giải phóng các nước thuộc địa. Ngoài ra, Người
còn viết bài cho báo “Nhân đạo”, “Đời sống công nhân”, tác phẩm nổi tiếng là “Bản án
chế độ thực dân Pháp” đã được gửi về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và con
đường cách mạng vô sản, góp phần thức tỉnh đồng bào ta ở trong nước.
Tháng 6-1923, trước khi rời nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết bức thư gửi lại cho
các đồng chí của mình: “Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo “Người cùng khổ” đã làm cho
nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc đã xảy ra trong các thuộc địa. Làm
cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự của nước
Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào
chúng ta. Đồng thời nó cũng khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp tự do bình
đẳng và bác ái. Nhưng chúng ta còn phải làm nhiều hơn”.
2.1.2. Giai đoạn ở Liên Xô (1923-1924)
Ngày 13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Pari đến Mátxcơva (Liên Xô) dự Đại
hội V Quốc tế Cộng sản Ngày 30/6/1923, Người đến Pêtơrôgrát, quê hương của Cách
mạng Tháng Mười và ít ngày sau Người lên xe lửa đi Mátxcơva. Nguyễn Ái Quốc đã trở
thành người Việt Nam đầu tiên có mặt trên đất nước Lênin.
Trên đất Lênin, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động, học tập, mở rộng mối quan hệ
để hướng tới con đường giải phóng dân tộc và góp phần phát triển tư tưởng độc lập tự do
cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Thời gian hoạt động ở Mátxcơva là thời gian
Nguyễn Ái Quốc tham dự nhiều hội nghị quốc tế lớn. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã dự Đại
hội lần thứ nhất Quốc tế Nông dân, khai mạc ngày 10/10/1923 và phát biểu tại hai phiên
họp (phiên thứ nhất, ngày 10/10 và phiên thứ 2 vào thứ 7, ngày 13/10). Người được bầu
vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gồm 11 ủy viên. Sau đó Người được lưu lại và tham
quan triển lãm kinh tế quốc dân Liên Xô, tận mắt chứng kiến những thành tựu về mọi mặt
của nhân dân Liên Xô và vào học lớp bồi dưỡng tại trường Đại học Phương Đông.
Trong năm 1924, ngoài việc tham dự sự kiện lớn là Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng
sản (họp từ ngày 17/6 đến ngày 8/7/1924), Nguyễn Ái Quốc còn dự Đại hội lần thứ IV 12
Quốc tế Cộng sản Thanh niên (6-1924), Đại hội lần thứ nhất Quốc tế Cứu tế Đỏ (7-1924),
Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội Đỏ (7-1924), dự mit-tinh kỷ niệm ngày Quốc tế Lao
động (1-5), dự mit-tinh vì hòa bình thế giới (ngày 6-7-1924) tại Quảng trường Đỏ...
Những bài viết của Người cũng xuất hiện thường xuyên trên nhiều báo và tạp chí:
Inprekorr, L’ Humanite’, Le Paria, Rabotnhitsha, Pravda, La Vie Ouvriere... Ngoài báo
chí, Nguyễn Ái Quốc còn bắt đầu sử dụng các phương tiện thông tin mới chưa có trước đó
như truyền đơn, sách báo, diễn đàn. Đó là các văn kiện, thư từ của Quốc tế cộng sản và
của Người nhân danh Quốc tế Cộng sản gửi cho nhân dân Việt Nam.
Tại Phiên họp lần thứ 22 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản, ngày 1/7/1924, với tư
cách là một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, và nhân danh một người dân thuộc địa,
Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê bình cả Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Anh và
Đảng cộng sản một số nước chưa quan tâm đến cách mạng ở các thuộc địa. Người cũng
nhấn mạnh rằng Lênin là người đầu tiên nhìn thấy sự gắn bó giữa quyền lợi của người vô
sản phương Tây với các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Quan điểm đó của Nguyên Ái Quốc
sau này được minh hoạ cụ thể trong hình ảnh “Con đỉa có hai vòi”. Trong 16 tháng ở
Mátxcơva, việc được tham dự các Hội nghị Quốc tế lớn, học tập lý luận trong trường học
cũng như quan sát thực tiễn cách mạng Liên Xô và tận mắt chứng kiến những thành tựu về
mọi mặt của nhân dân Liên Xô đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc định hình quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh.
2.1.3. Giai đoạn ở Trung Quốc (1924-1927)
Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Matxcova của Liên
Xô trước đây đến Quảng Châu, Trung Quốc, đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng.
Sau 13 năm ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đặt chân đến Quảng Châu. Giai đoạn hoạt
động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Châu từ 1924-1927 không chỉ tác
động trực tiếp đến phong trào cách mạng của Việt Nam mà còn góp phần quan trọng trong
phong trào cách mạng Trung Quốc cũng như Quốc tế Cộng sản.
Tháng 6/1925, Hồ Chí Minh sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Người
cùng Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, lựa chọn một số thành viên trẻ tuổi trong Tâm tâm xã
và một số thanh niên hăng hái từ trong nước mới sang để thành lập tổ chức Hội Việt Nam
cách mạng trong đó hạt nhân là Cộng sản đoàn nhằm góp phần quan trọng trong việc
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước chuẩn bị mọi điều kiện để thành lập chính Đảng
của giai cấp vô sản ở Việt Nam. Đây là tổ chức có tính chất quá độ, vừa tầm, thích hợp với
thực tiễn Việt Nam lúc đó, giúp cho những người Việt Nam yêu nước xuất thân từ các
tầng lớp dễ tiếp thu chủ nghĩa cộng sản. Hội không chỉ thu hút đông đảo các lực lượng vào
tổ chức cách mạng của mình, mà còn ảnh hưởng tích cực đến các tổ chức chính trị cùng
thời khác. Nguyên tắc tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tập trung dân
chủ. Mục đích là: “Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mạng dân tộc
(đập tan bọn Pháp và giành lại được độc lập cho xứ sở) rồi sau làm cách mệnh thế giới (lật
đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”. Điều lệ của Hội đề cập đến
Chương trình hoạt động như kết nạp hội viên; tổ chức các đoàn thể như Công hội, Nông
Hội, Hội học sinh, Hội phụ nữ..., thành lập chính phủ nhân dân, đoàn kết với các giai cấp
vô sản của tất cả các nước và thành lập xã hội cộng sản.
Hồ Chí Minh cũng đồng thời cho xuất bản báo “Thanh niên” bằng tiếng Việt làm cơ
quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Báo Thanh niên ra hằng tuần,
bằng tiếng Việt, số đầu tiên của báo ra ngày 21/6/1925. Báo có các chuyên mục: xã hội,
bình luận, tin tức, diễn đàn, vấn đáp, phê bình, trả lời bạn đọc,... Những bài viết của báo 13
Thanh Niên đều ngắn gọn, lời văn giản dị, trong sáng, dễ hiểu, thường đề cập những vấn
đề chính: Đế quốc và thuộc địa; Cách mạng và cải lương; Thực tiễn của cách mạng Việt
Nam; Đảng cách mạng và Đảng Cộng sản; Cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới,...
Thông qua báo Thanh Niên, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã thống nhất
về phương hướng và nội dung tuyên truyền giáo dục ở trong và ngoài hội. Là tờ báo đầu
tiên trong lịch sử báo chí vô sản nước ta, báo Thanh Niên đã góp phần quan trọng vào việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức
để tiến tới thành lập chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam.
Từ đầu năm 1926 đến tháng 4/1927, Hồ Chí Minh đã mở ba lớp huấn luyện chính trị
cách mạng ở Quảng Châu cho lớp thanh niên ưu tú của Việt Nam đang có mặt tại Quảng
Châu với tổng số 75 người. Giảng viên chính của các lớp là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh. Ngoài ra, còn có một số giảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô. Để
tổ chức được ba lớp học đó, Hồ Chí Minh đã phải vượt qua biết bao khó khăn, thử thách,
trước hết là về trụ sở, tài chính và các mối liên lạc. Nội dung các bài giảng của Hồ Chí
Minh sau này được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và in thành cuốn sách
nổi tiếng Đường cách mệnh. Đây là tác phẩm lý luận chính trị vô sản đầu tiên ở nước ta,
đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Kết thúc
khóa học, có người được giữ lại ở nước ngoài công tác, có người được cử đi học tiếp ở
Liên Xô, hoặc Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu) ... còn phần đông thì được cử về
nước hoạt động, gây dựng và tổ chức, phát triển các phong trào cách mạng Việt Nam.
2.1.4. Giai đoạn ở Thái Lan (1928-1929)
Tháng 7/1928, Hồ Chí Minh tới Xiêm hoạt động, với mục đích "đi vào quần chúng,
thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập". Ở Thái
Lan, Hồ Chí Minh đã hòa mình với cuộc sống của người dân, Người cùng những người
dân trong vùng ra đồng lao động, tưới rau, bắt cá để sinh sống như một nông dân thực thụ.
Những khi rảnh rỗi, Người cùng với thanh thiếu nhi trong bản đá bóng với nhau rất sôi
nổi. Tuy nhiên Người cũng luôn dành thời gian để tìm hiểu về cuộc sống, sinh hoạt và
điều kiện kinh tế xã hội của bà con Việt kiều mình ở trên mảnh đất Thái Lan khi đó.
Trong thời gian hơn 1 năm sống và hoạt động ở Thái Lan (7/1928 đến 11/1929), Hồ
Chí Minh đã tích cực đi (chủ yếu là đi bộ) và tuyên truyền, vận động Việt kiều vào các tổ
chức như: Hội Hợp, Hội Thân ái, Hội Phụ nữ, Hội Thiếu niên, ... Hội Hợp tác là một tổ
chức trung kiên của kiều bào, đồng thời là một tổ chức dự bị của Việt Nam Cách mạng
Thanh niên. Hội kết nạp những thanh niên yêu nước có chí hướng cách mạng từ trong
nước mới ra. Hội Thân ái là một tổ chức quần chúng rộng rãi của Việt Nam Cách mạng
Thanh niên. Hội được thành lập nhằm mục đích: "Đoàn kết giữa Việt kiều với nhau và
đoàn kết giữa người Việt với người Thái; nhắc nhở kiều bào yêu Tổ quốc và giúp kiều bào học chữ quốc ngữ".
Đây cũng là một bằng chứng về mối quan hệ lân bang và hữu hảo giữa hai dân tộc
Việt - Thái trong những năm tháng mà dân tộc Việt Nam đang hướng tới con đường giải
phóng dân tộc; nó khơi nguồn cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Thái trong lịch sử
hiện đại. Với sự hoạt động tích cực của HCM, phong trào yêu nước của Việt kiều ở Thái
Lan có nhiều chuyển biến mới, tích cực: Các tổ chức cách mạng được củng cố và phát
triển; tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước được tăng cường; trình độ của cán bộ và bà
con Việt Kiều được nâng lên... Những hoạt động cách mạng của HCM đã có ảnh hưởng tốt về trong nước. 14
2.1.5. Giai đoạn trở về Trung Quốc (1929-1930)
Sự ra đời của Đông Dương Cộng Sản Đảng (17/6/1929), An Nam Cộng Sản Đảng
(8/1929) và Đông Dương Cộng Sản liên đoàn (9/1929) làm cho nước ta xuất hiện ba tổ
chức cộng sản tồn tại riêng biệt, tuy mới thành lập nhưng đã mâu thuẫn rõ rệt và tranh
giành sự ủng hộ của quần chúng, dẫn đến nguy cơ chia rẽ, phân liệt của phong trào đấu
tranh cách mạng. Vậy nên, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền
quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc gấp rút gửi thư về nước mời đại diện của các tổ chức cộng sản sang Hồng Kông bàn
việc hợp nhất các tổ chức cộng sản.
Với quyết định chủ động và kịp thời này, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc rời
Xiêm đến Trung Quốc, gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây
để tìm hiểu thêm tình hình. Sau đó, Người đi Hồng Kông, chuẩn bị công việc cho hội nghị
hợp nhất Đảng cộng sản.
Tại Cửu Long, Hồng Kông, từ ngày 6/1/930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Tham dự hội nghị có các đại biểu
của Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng; Đông Dương Cộng sản liên
đoàn đã thành lập, song chưa có liên hệ, nên chưa cử được đại biểu tới dự Hội nghị hợp
nhất diễn ra khẩn trương và thống nhất hoàn toàn, trên cơ sở bỏ mọi thành kiến xung đột
cũ, đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua các văn kiện do người khởi thảo
(vào đầu năm 1930). Các văn kiện này là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản
Việt Nam trong đó chính thức khẳng định rõ những quan điểm cơ bản về đường lối,
phương pháp cách mạng Việt Nam, việc tổ chức, xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam
thành một tổ chức lãnh đạo Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh
đạo cách mạng Việt Nam, mở đầu một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước.
Kết luận, thành công của hội nghị và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn
liền với tên tuổi, trí tuệ, uy tín và đạo đức cách mạng, tính chủ động, sáng tạo của Nguyễn
Ái Quốc, trở thành Người sáng lập Đảng - Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
2.2. Hoạt động lý luận của Hồ Chí Minh
K.C Tiagi, Tổng bí thư Đảng Janata dal, Ấn Độ đã từng nói về Nguyễn Ái Quốc như
thế này: “Người là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp của một nhà cách mạng, một
người nhìn xa trông rộng và một nhà nhân văn vĩ đại”. Không ai trong chúng ta có thể
phủ nhận điều đó. Trong những năm hình thành và phát triển cho mình một tư tưởng hoàn
thiện, phù hợp với bối cảnh đất nước, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác rất nhiều tác phẩm nói
lên tiếng lòng của mình.
2.2.1. Tờ báo “Le Paria (Người cùng khổ)” (1922)
Ngày 1/4/1922, giữa Thủ đô Pari của nước Pháp, tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)
của Hội Liên hiệp thuộc địa ra số đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ
bút. Trên tờ báo Le Paria, Nguyễn Ái Quốc đã cho đăng 30 bài thuộc nhiều thể loại khác
nhau: xã luận, bình luận, tin tức, dịch thuật, tiểu phẩm, truyện ký, tranh vẽ… tập trung
vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội…Hội Liên hiệp thuộc địa xuất bản báo Le Paria là lấy tờ báo làm cơ quan ngôn luận,
là diễn đàn của nhân dân các thuộc địa. 15
Trong số Le Paria đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc cho đăng lời kêu gọi xuất bản báo, nêu
rõ sự cấp thiết của việc ra báo, nhiệm vụ và mục tiêu của báo: "Trong lịch sử phong trào
quần chúng bản xứ ở các thuộc địa của Pháp, chưa bao giờ có một tờ báo được lập ra để
nói lên nỗi đau khổ và tình trạng cùng khốn chung của họ, bất kể là họ thuộc đất nước và
giống nòi nào. Le Paria ra đời do sự đồng cảm sâu sắc của các đồng chí ở Bắc Phi, Tây Phi
thuộc Pháp, Madagascar, Đông Dương, Ăngtiơ và Guyan".
Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị
bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ rộng lớn ở hải ngoại đang là nạn nhân.
Báo kêu gọi họ đoàn kết lại, đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ.
Báo kêu gọi họ, tổ chức họ, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các
lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái. Le Paria đã sẵn sàng bước vào
cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: Đó là giải phóng loài người.
Từ khi ra đời đến khi đình bản, báo Le Paria ra được 38 số trong những điều kiện hết
sức khó khăn về tài chính và phương tiện hoạt động, lại luôn bị cảnh sát theo dõi, đe dọa,
gây khó dễ. Nguyễn Ái Quốc phụ trách tờ báo từ số 1 đến số 15 (tháng 6/1923). Sau khi
Người sang Liên Xô hoạt động (giữa năm 1923), báo ra không đều và đến số 38 (tháng
4/1926) thì đình bản. Trước khi rời Pháp đi Liên Xô, Người viết bài để lại cho các số sau
và từ Liên Xô Người tiếp tục gửi bài về đăng báo.
Le Paria là tờ báo duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới với tư cách là diễn đàn của
các dân tộc thuộc địa, viết dưới ánh sáng tư tưởng của V. I. Lênin, của Quốc tế Cộng sản,
thấm nhuần khẩu hiệu chiến lược: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn
kết lại!". Le Paria cũng là tờ báo đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa
yêu nước chân chính vào Việt Nam và các nước thuộc địa. Những bài viết của Nguyễn Ái
Quốc trên báo Le Paria là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng và đường lối cách mạng
giải phóng dân tộc của Người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
2.2.2. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân pháp” (1925)
Đến năm 1925, “Bản án chế độ thực dân pháp” - tác phẩm chính luận do Nguyễn Ái
Quốc viết bằng tiếng Pháp và được xuất bản lần đầu ở Paris năm 1925 trên một tờ báo của
Quốc tế Cộng sản có tên Imprékor. Với 12 chương và phần phụ lục, với cách thành văn
ngắn gọn, súc tích, cùng với những sự kiện đầy sức thuyết phục, tác phẩm tố cáo thực dân
Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt “dân bản xứ” phải đóng “thuế máu” cho chính
quốc… để “phơi thây trên chính trường Châu Âu”, đày đọa phụ nữ, trẻ em “thuộc địa”;
các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bầy thú dữ, v.v… Tác phẩm đã gây được
tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những con người yêu tự do, bình
đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga
và Chủ nghĩa Mác-Lênin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã
hội của dân tộc Việt Nam., tác phẩm đã bóc trần bộ mặt xấu xa của chủ nghĩa thực dân, là
thông điệp cảnh báo cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới hãy đứng lên chống chế
độ thực dân đang bành trướng khắp các châu lục. “Bản án chế độ thực dân Pháp” của
Nguyễn Ái Quốc như quả bom đầu tiên công phá thành trì chủ nghĩa thực dân - chủ nghĩa
đế quốc. Tác phẩm đã hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng
Mười Nga, tiêu diệt "hai cái vòi của con đỉa đế quốc" – một "vòi" bám vào giai cấp vô sản
ở chính quốc, một "vòi" bám
vào nhân dân thuộc địa và đề ra cho dân Việt Nam "con
đường đấu tranh giải phóng" theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Tác phẩm là một thiên phóng sự
điều tra sắc sảo, “là bản buộc tội không chối cãi, vì nó lấy những tư liệu chính xác nhất ở
khắp các thuộc địa Pháp, lấy cả chứng từ của người Pháp ở thuộc địa. Nó có tác dụng 16
thuyết phục trọn vẹn những người hiểu biết nửa chừng, lưu ý người vô tâm, hun thêm lòng
căm phẫn của nhân dân thuộc địa và vô sản ở chính quốc. Nó tố cáo từ chủ trương xâm
chiếm thuộc địa đến những chính sách, thủ đoạn áp bức bóc lột” dã man và tàn khốc của
bọn thực dân. Nó có tác động mạnh mẽ đến diễn biến và ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
2.2.3. Tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927)
Đầu năm 1927, cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam -
“Đường cách mệnh” được xuất bản. Mục đích, tư tưởng tác phẩm được Người chỉ rõ:
“Muốn sống thì phải cách mệnh”. “Hơn
hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử
địa. Phải kêu to, làm chóng để cứu lấy giống nòi”. Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ,
quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm. Có thể nói,
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm. Trong tác
phẩm, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu
là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ cơ bản nhất của con
người: quan hệ với mình, quan hệ với mọi người và quan hệ với công việc. Người viết:
“Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không
nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít
lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với
đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét
người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng
đoàn thể”. “Tư cách của một người cách mệnh” là phác thảo cơ bản, đầu tiên hoàn chỉnh
về đạo đức để người cách mạng có đủ uy tín tập hợp và lãnh đạo quần chúng. Đó là sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần cách mạng tiên tiến, triệt để của giai cấp công nhân và
truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước.
Có thể coi báo chí là mặt trận đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc tham gia trong quá trình
đấu tranh tìm đường giải phóng dân tộc. Bút danh Nguyễn Ái Quốc đã đánh dấu nhiều dấu
mốc quan trọng trong tư tưởng và con đường đấu tranh cách mạng cho dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ chỗ chưa định hình được con đường cách mạng đến
việc lựa chọn và tin tưởng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, theo cách mạng vô sản; từ một
người yêu nước chân chính.
Kết luận, với 10 năm hoạt động sôi nổi, từ năm 1920 đến 1930, cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của phong trào vô sản trên thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào
giải phóng dân tộc trong nước, Hồ Chí Minh đã hoạt động rất tích cực, sôi nổi. Được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí, bạn bè, Người đã nhận thức và hiểu được các quy
luật vận động và phát triển của phong trào cách mạng trong nước và thế giới, từ đó
Người tiếp cận với ánh sáng Chủ nghĩa Mác – Lênin, sáng lập nên Đảng cộng sản Việt
Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người đi từ người yêu
nước chân chính đến người cộng sản. Trong quá trình ấy, các tư tưởng cơ bản về cách
mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh hình thành và phát triển. Những tư tưởng ấy được chính
Người vận dụng và rèn rũa, trong đó có rất nhiều điểm sáng tạo với Chủ nghĩa Mác
Lênin. Và ngày nay, sau gần một thế kỷ, những tư tưởng ấy vẫn sáng chói và soi đường cho chúng ta bước tiếp. 17
2.3. Những tư tưởng cách mạng Việt Nam được hình thành trong giai đoạn 1920-1930
2.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Mục tiêu của cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi
theo con đường cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân
dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, phải kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước với xuất phát duy nhất là lòng yêu nước.
Người muốn ra người để học hỏi, để trải nghiệm, tìm tòi xem các nước khác làm thế nào
để về giúp đất nước mình được độc lập, hòa bình.
Tháng 7 năm 1920, đã có một sự kiện đánh dấu bước ngoặt xảy ra với Người khi lần
đầu tiên đọc trên báo “Nhân đạo: của Đảng xã hội Pháp “Luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của Lênin. Luận cương của Lênin đã làm cho Hồ Chí Minh rất cảm động và
hứng khởi, sáng tỏ và tin tưởng vào nó: “tôi vui mừng đến phát khóc lên”. Từ đó Người
hoàn toàn tin theo Lênin, ủng hộ Quốc tế III. Đây cũng là quyết định lịch sử của Người
vào tháng 12 năm đó, Người đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia
sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tại Tua.
Hồ Chí Minh khẳng định: bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin. Người khẳng định muốn giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người ra sức
tuyên truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin trong nước, thành lập Đảng cộng sản để lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đi đến thành công.
Bản chất của các mạng: cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc dân tộc cách
mệnh, đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập tự do.
Hồ Chí Minh đã nhìn ra mâu thuẫn cơ bản của một xã hội thuộc địa, là mâu thuẫn
dân tộc. Mà khát vọng lớn nhất của nguời dân là đất nước được độc lập, tự do. Vậy nên,
trước hết phải thực hiện cuộc dân tộc các mệnh để đánh đuổi quân xâm lược, thành lập
chính quyền do nhân dân làm chủ. Là tiền đề, cũng là điều kiện tiên quyết để tiến hành đấu
tranh giai cấp, xây dựng kinh tế xã họi.
Xác định và tập hợp lực lượng: giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng và
phải tập hợp lực lượng dân tộc thành một sức mạnh lớn để chống đế quốc và tay sai.
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Người viết: “Đảng phải thu phục cho đại đa
số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo”, “Phải hết sức liên lạc với tiểu tư
sản, trí thức trung nông… để lôi kéo họ về phe vô sản giai cấp. Còn đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng,
ít nữa là làm cho họ trung lập. Bộ mặt nào ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”.
Đây có lẽ là quan điểm thể hiện tầm cao tư tưởng của Hồ Chí Minh. Người đã vượt
qua được những hạn chế của các đồng chí thời kỳ đương nhiệm của mình, nhấn mạnh quá
cao vấn đề đấu tranh giai cấp mà không chú ý tận dụng sức mạnh đoàn kết toàn dân độc
lập để đánh đổ kẻ thù chung, đáp ứng yêu cầu khẩn thiết nhất của lịch sử.
Hồ Chí Minh xác định được rõ đâu là bạn, đâu là thù của cách mạng. Đồng thời cũng
nhìn ra đâu là những bộ phận có thể bắt tay hợp tác có điều kiện. Những thắng lợi của
cách mạng tháng Tám 1945 và kháng chiến về sau đều có sự góp mặt của nhân tố quan 18
trọng: chúng ta nhìn nhận và tập hợp lực lượng đúng đắn, phát huy được sức mạng “Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Phương pháp đấu tranh: cách mạng là sự nghiệp của cả quần chúng, của cả dận tộc.
Phải tổ chức quần chúng lãnh đạo và tổ chức đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu
thích hợp. Phương pháp đấu tranh giành chính quyền, giành lại độc lập tự do là bằng bạo
lực của quần chúng và có thể bằng phương thức khởi nghĩa dân tộc.
Người đã nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm lịch sử từ các vị tiền bối. Người đánh giá
các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, … đều
là những vị anh hùng dân tộc, yêu nước thương dân nhưng phương hướng đấu tranh chưa đúng.
Hồ Chí Minh thấy rằng chỉ có bạo lực của quần chúng nhân dân và phải tự dựa vào
mình, đem sức ta mà giải phóng cho ta”, chứ không thể ỷ lại trông chờ từ bên ngoài. Và
cũng là nhận thức đúng đán để đem lại nền độc lập cho đất nước ta được như ngày nay.
2.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách
mạng chính quốc, cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới
Cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với
nhau. Cách mạng thuộc địa không lệ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà có tính chủ
động, độc lập. Cách mạng thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng ở chính
quốc và giúp cho các mạng ở chính quốc trong nhiệm cụ giải phóng. Phải đoàn kết và liên
minh với các lực lượng cách mạng quốc tế, xong phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường,
không được ỷ lại chờ đợi sự giúp đỡ của quốc tế.
Xuyên suốt quá trình hoạt động thực tiễn sôi nổi trong phong trào công nhân quốc tế
của Hồ Chí Minh giai đoạn 1920 - 1930, tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh
cũng dần dần được hình thành - đó cũng là sự kế thừa tinh thần của Quốc tế Cộng sản.
Tinh thần đó được xây dựng dựa trên cơ sở là Người đã tiếp nhận và hưởng ứng tinh thần
của Quốc tế Cộng sản “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”. Cụ thể, trong thời kỳ hoạt động
tại Anh, Pháp, Liên Xô, … Người đã đi sâu vào các phong trào công nhân, thợ thuyền ở đó.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng đã thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á
Đông tại Trung Quốc (1927). Hồ Chí Minh đã khẳng định lực lượng giải phóng dân tộc là
toàn bộ nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt là liên minh công - nông; cách mạng Việt
nam là một bộ phận cách mạng thế giới. Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đã được thể
hiện rõ ràng hơn cả trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sự kết hợp sức mạnh
dân tộc và sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nguồn lực to lớn tạo
nên những thắng lợi thần kỳ của quân và dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
2.3.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản và cán bộ cách mạng
Cách mạng muốn thành công trước hết phải có đảng cách mạng lãnh đạo, vận động
và tổ chức quần chúng đấu tranh. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như
người cầm lá có vững thuyền mới chạy đúng hướng. Đảng phải làm cốt.
Đồng thời, Đảng muốn mạnh thì phải có người cán bộ cách mạng mạnh. Vì vậy, Hồ
Chí Minh rất chú trọng đến tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng. Năm 1925, Hồ Chí
Minh sáng lập “Việt Nam thanh niên cách mạng Quốc tế”. Cùng với tôn chỉ “trước làm
cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng quốc tế”. Cùng với đó, Người mở các lớp huấn 19
luyện tại Quảng Châu - Trung Quốc để đào tạo cán bộ. Các bài giảng của Người được tập
hợp và in thành cuốn “Đường kách mệnh” vào năm 1927. Đó là những bước chuẩn bị của
Hồ Chí Minh cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, cũng là quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản và tư tưởng Hồ Chí Minh về người cán bộ cách mạng.
Bằng những nghiên cứu lý luận và tổng kết hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh chỉ ra
Đảng cộng sản là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Người viết rằng “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là
vô cùng vô tận. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc thắng lợi”. Trong
“Đường kách mệnh”, Người đã viết “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải
có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản ở mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. Hồ Chí Minh cho rằng “Muốn khỏi
lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và
định lượng kẻ địch cho mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ, khí
chí phải kiên quyết. Vì vậy phải có đáng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội
quân thật mạnh để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần
chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo”.
Đảng cộng sản việt Nam là sản phẩm của Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước. Điều đó là lý giải vì sao năm 1925 Hồ Chí Minh thành lập
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội mà không thành lập ngay đảng cộng sản vì
khi đó ba nhân tố cho sự ra đời của đảng cộng sản chưa chín muồi: Chủ nghĩa Mác - Lênin
chưa được truyền bá sâu rộng trong nước, phong trào công nhân đang phát triển tự phát
mà chưa chuyển sang tự giác, phong trào yêu nước thì manh mún, chia rẽ thành nhiều
khuynh hướng khác nhau. Thông qua Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, Hồ
Chí Minh đã chuẩn bị mọi mặt để thành lập Đảng. Đây là một bước phát triển mới trong Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong khi Lênin, bằng sự quan sát thực tiễn cách mạng Châu Âu, cho rằng Đảng ra
đời kết hợp bởi Chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân thì Hồ Chí Minh, với sự hiểu biết
đất nước mình - Một xã hội thuộc địa cho rằng cần sự cộng thêm vào đó cả phong trào yêu
nước. Và đảng cộng sản Việt Nam thực sự là “đảng của dân tộc”.
Hồ Chí Minh khẳng định rằng: Đẳng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công
nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Trong
Sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh viết rằng “Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp vô sản”.
Trong chương trình vắn tắt của Đảng, Người có viết “Đảng là đội tiên phong của đạo quân
vô sản. Đảng tập hợp vào hàng ngũ của mình những người tin theo chủ nghĩa cộng sản,
chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản, hăng hái tranh đấu trong một bộ phận Đảng”.
Để đạt mục tiêu cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng cộng sản Việt Nam phải lấy
Chủ nghĩa Mác- Lênin “làm cốt”, phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của Chủ
nghĩa Mác-Lênin. Khi huấn luyện cho cán bộ cách mạng năm 1925 – 1927, Hồ Chí Minh
khẳng định rằng “Đảng muốn vững phải có Chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải
hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không
có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam” và Người khẳng định “Chủ nghĩa” ấy là chủ nghĩa
Mác-Lênin. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn luôn
coi trọng chủ nghĩa Mác-Lênin, chính chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc cơ bản nhất hình
thành tư tưởng của Người. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin thực sự là “mặt trời 20