Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÀI THẢO LUẬN NHÓM 3
Đề tài : Phân tích cơ sở khách quan hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh và chỉ ra tiền đề lý luận giữ
vai trò quyết định trong việc hình thành, phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh Mã lớp HP: 2181HCMI0111
Giảng viên: Vũ Thị Thu Hà Hà Nội, 2021
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 4
I. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh .................................................................. 5
II. Cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ............................... 6
1. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 6
1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ............................ 6
1.2. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ............................... 8
2. Cơ sở lý luận ............................................................................................... 9
2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ............................ 9
2.1.1. Chủ nghĩa yêu nước ................................................................... 9
2.1.2. Tinh thần đoàn kết.................................................................... 12
2.1.3. Phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo .................................. 14
2.1.4. Tinh thần lạc quan .................................................................... 17
2.1.5. Niềm tự hào về lịch sử, trân trọng tinh túy dân tộc ................. 18
2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại .............................................................. 20
2.2.1. Tinh hoa văn hóa phương Đông .............................................. 20
2.2.2. Tinh hoa văn hóa phương Tây ................................................. 29
2.3. Chủ nghĩa Mác Lênin ....................................................................... 40
III. Chủ nghĩa Mác Lênin - tiền đề lý luận giữ vai trò quyết định trong việc
hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ........................................... 42
1. Chủ nghĩa Mác Lênin .............................................................................. 42
1.1. Khái niệm .......................................................................................... 42
1.2. Các bộ phận cấu thành Chủ nghĩa Mác Lênin ................................. 42
1.3. Những nội dung chủ yếu thể hiện tính khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mác Lênin ............................................................................... 43
1.3.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học ...... 43 2
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
1.3.2. Chủ nghĩa Mác Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới
quan khoa học và phương pháp luận Mác Xít ................................... 44
1.3.3. Chủ nghĩa Mác Lênin là học thuyết giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người với việc xác định rõ con đường,
lực lượng, phương thức để đạt mục tiêu đó ....................................... 45
1.3.4. Chủ nghĩa Mác Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được
đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại ................. 45
2. Tiền đề lý luận giữ vai trò quyết định đến việc hình thành và phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................................................. 46
2.1. Chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển
mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................ 46
2.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin – Cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
của tư tưởng Hồ Chí Minh ....................................................................... 56
2.3. Tiếp thu chủ nghĩa Mác- LÊnin, Hồ Chí Minh trở thành người cộng
sản với tầm vóc trí tuệ lớn ....................................................................... 58
2.4. Hồ Chí Minh không những đã vận dụng sáng tạo mà còn bổ sung,
phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác- Lênin trong thời đại mới . 61
2.5. Chủ nghĩa Mác- Lênin là nguyên nhân và quyết định trực tiếp đến
bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh ................. 69
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 72 3
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà LỜI MỞ ĐẦU
Để có được hạnh phúc, ấm no như ngày hôm nay, biết bao thế hệ ông cha
ta đi trước đã hy sinh, đổ máu, chấp nhận nhiều mất mát để giành lấy độc lập, tự
do, giải phóng dân tộc. Trong đó, vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh là người đã
tìm ra con đường cách mạng đúng đắn, tìm ra lối thoát cho sự bế tắc của đường
lối cách mạng Việt Nam để đem đến độc lập, vinh quang cho Tổ quốc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh như một di sản tinh thần vô giá mà Người đã để lại
cho con em chúng ta học tập và noi theo. Chính vì thế, thế hệ trẻ chúng ta hôm
nay phải biết trân trọng, tự hào với những trang sử hào hùng của dân tộc. Tự hào
vì chúng ta đã có được một vị lãnh đạo anh tài, một danh nhân văn hóa được thế
giới ngưỡng mộ. Cùng với đó là tu dưỡng, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh
một cách sâu sắc, đúng đắn. Và để làm được điều đó, cơ sở khách quan hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những phần mục ta phải nắm rõ. 4
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
I. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến
cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6- 1991) đánh dấu một mốc
quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đã
khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư
tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong
điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành
một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc.”
Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết
quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có
sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-
2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1- 2011) xác
định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái
niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết
quả của sự vận dụng và sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại: là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá
của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta giành thắng lợi.”
Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:
Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách 5
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin là nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa
Mác- Lênin, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí
Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
Dựa trên định hướng cơ bản của các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản
Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh là
hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là
kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ
thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.”.
→ Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải sản phẩm chủ quan phải ánh tâm lý,
nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đối với Bác, Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản
phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu khách quan và là sự
giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng Việt Nam đặt ra từ đầu thế kỉ XX.
II. Cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 1. Cơ sở thực tiễn
1.1. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn
Trà – Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt
Nam. Kể từ đó, Triều đình nhà Nguyễn đã lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng,
từng bước trở thành tay sai của thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã từng bước
thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam → Việt Nam từ một nước phong kiến trở
thành nước “thuộc địa nửa phong kiến”. 6
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
+ Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến Nhà Nguyễn; chia
Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một
chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh
tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam.
+ Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng
đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công
nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
+ Về văn hóa: Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch,
gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu
nước của Nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn
chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành
chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Xã hội có sự biến đổi về cơ cấu giai cấp, tầng lớp. Giai cấp địa chủ được bổ
sung, củng cố, tăng cường thêm các điền chủ người Pháp và nước ngoài. Bên
cạnh tầng lớp thợ thủ công, tiểu thương, trong xã hội Việt Nam xuất hiện những
giai tầng mới. Đó là giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị.
Mâu thuẫn trong lòng xã hội Việt Nam ngày càng gay gắt. Bên cạnh mâu
thuẫn cơ bản trong xã hội phong kiến là nông dân với địa chủ phong kiến, còn
xuất hiện thêm các mâu thuẫn mới: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt
Nam với giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp.
Các phong trào giải phóng dân tộc đẩy lên mạnh mẽ. Từ năm 1858 đến
cuối thế kỷ XIX, các phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp xâm lược liên
tục nổ ra. Ở miền Nam, có các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung
Trực. Ở miền Trung, có các cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai, của 7
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
Phan Đình Phùng. Ở miền Bắc, có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật,
Phạm Bành và Đinh Công Tráng, Nguyễn Quang Bích, ... Các cuộc khởi nghĩa,
trong đó có những cuộc dưới ngọn cờ "Cần Vương" tức giúp vua cứu nước.
→ Các phong trào dựa trên ý thức hệ phong kiến.
Đầu thế kỷ XX, xuất hiện các phong trào yêu nước dưới sự dẫn dắt của các
sĩ phu yêu nước có tinh thần cải cách: Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu
khởi xướng (1905-1909); Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động
(1906-1908); Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn
Quyền và một số nhân sĩ khác phát động (3-1907 – 11- 1907); Phong trào chống
đi phu, chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908… → Các phong trào theo xu
hướng dân chủ tư sản.
→ Kết quả: đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam
còn non yếu. Nguyên nhân trực tiếp là các tổ chức và người lãnh đạo của các
phong trào đó chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. →
Khủng hoảng đường lối cứu nước. → Xuất hiện nhu cầu tìm con đường mới để cứu dân cứu nước.
Chính vì vậy, sự ra đời giai cấp mới là giai cấp công nhân và phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc ở Việt Nam xuất hiện dấu hiệu mới của một thời đại mới sắp ra đời.
1.2. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát
triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chúng đã
xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới. Phần lớn các nước châu Á,
châu Phi và khu vực Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các
nước đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc
thuộc địa và giai cấp công nhân thế giới. → Làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có:
mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước tư bản; mâu thuẫn 8
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
giữa các nước đế quốc với nhau; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ
thuộc với chủ nghĩa đế quốc. → Thúc đ y
ẩ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển
Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm “thức tỉnh các dân
tộc Châu Á”. Cách mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập
chính quyền Xô Viết, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người – thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở
ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Ngày 2/3/1919, Quốc tế cộng sản (Quốc tế thứ 3) ra đời, chủ trương đoàn
kết phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây và
phong trào giải phóng thuộc địa phương Đông trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò
quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
→ Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của nhà nước Xô viết,
Quốc tế Cộng sản và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cùng với sự
phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản, công nhân và phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra
thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước. 2. Cơ sở lý luận
2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
2.1.1. Chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước không thuần túy chỉ là tư tưởng yêu nước, tình cảm yêu
nước hay lòng yêu nước nói chung. Nó cũng không đồng nhất với tinh thần yêu
nước, hay truyền thống yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chính là sự kết hợp chặt
chẽ giữa lý trí yêu nước và tình cảm yêu nước của con người, là sự phát triển ở
trình độ cao của tư tưởng yêu nước, là tinh thần yêu nước đạt đến sự tự giác. 9
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tổng hòa các yếu tố tri thức, tình cảm, ý chí
của con người Việt Nam, tạo thành động lực tinh thần to lớn thúc đẩy họ sẵn sàng
cống hiến sức lực, trí tuệ, xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam. Đó là động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt Nam tồn
tại vượt qua mọi khó khăn trong dựng nước và giữ nước mà phát triển. Chính
chủ nghĩa yêu nước là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con
đường cứu nước, cứu dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà Nho yêu nước,
ngay từ trong giáo dục của gia đình, sự ảnh hưởng của những người thân, tinh
thần yêu nước của dân tộc đã thấm sâu vào Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi còn nhỏ,
cho nên ngay khi còn niên thiếu, Người đã làm liên lạc cho các sĩ phu yêu nước
trong phong trào Cần Vương; tham gia vào phong trào yêu nước chống Pháp của
Nhân dân Trung Kỳ. Đồng thời, cũng chính tinh thần yêu nước đó là động lực
thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua mọi khó khăn trong hành
trình tìm đường cứu nước và chi phối mọi suy nghĩ và hành động của Người
trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Đồng thời, cũng chính từ lòng yêu
nước, thương dân đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin một cách
tự nhiên, từng bước hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.Trong bài viết Con
đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin (1960), Hồ Chí Minh viết: “lúc đầu, chính là
chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất
khuất vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn
vẹn lãnh thổ của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ
Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng
tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân 10
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ
vững quyền tự do và độc lập ấy”. Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý
lớn của thời đại được Hồ Chí Minh khẳng định, đồng thời cũng chính là một
điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vào đầu năm 1946, khi trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm
sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng
bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong một lần trả lời
phỏng vấn khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói rõ thêm: “Nếu nước độc lập mà
dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".
Như vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh đã chứa đựng trong đó cả tình
yêu nước, yêu dân nồng nàn và yêu chủ nghĩa xã hội sâu sắc. Hai mục tiêu đấu
tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa
yêu nước của Hồ Chí Minh tự thân nó đã luôn thống nhất với nhau.
Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm
gương mẫu mực về thực hiện chủ nghĩa yêu nước. Đó là cả quá trình đấu tranh,
cống hiến cho cách mạng, vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, Người
không có mục đích gì riêng tư cho bản thân mình. Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của
tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên Việt
Nam là tôi như đứt một đoạn ruột". Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ lòng
yêu nước, thương nòi, cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh luôn
phấn đấu cho mục tiêu giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Hồ
Chí Minh đã từng khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với
yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được
ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Như vậy, chủ nghĩa yêu nước trong Hồ
Chí Minh luôn được thể hiện trong lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã
hội và giải phóng con người; lý tưởng xây dựng một Tổ quốc Việt Nam xã hội 11
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
chủ nghĩa phồn vinh, ấm no, tự do, hạnh phúc đến với mọi người, mọi nhà; đó là
chủ nghĩa yêu nước chân chính, mang chân lý tuyệt đối. Chính chủ nghĩa yêu
nước đó đã được truyền bá thấm đượm vào toàn thể dân tộc Việt Nam và được
hiện thực hóa trong cách mạng Việt Nam qua từng giai đoạn.
Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân ta đã trải qua hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cách mạng Việt Nam khi đó
gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng có sự soi sáng của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh, đặc biệt có sự lãnh đạo của Đảng cách mạng chân
chính, tinh thần yêu nước của dân tộc ta đã được khơi dậy, toàn dân đã đoàn kết
một lòng đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương đất nước thoát khỏi ách nô lệ
thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thời kỳ này, chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam đã phát triển lên một tầm cao mới. Lòng yêu nước quên mình đã được thể
hiện ở những tấm gương sáng chói của hàng ngàn anh hùng liệt sĩ; của hàng
triệu quần chúng nhân dân thuộc mọi tầng lớp, thuộc mọi lứa tuổi, ở cả tiền
tuyến và hậu phương, tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên những chiến công
hiển hách, đưa Việt Nam lên ngang hàng các dân tộc tiên phong chống chủ
nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới trong thế kỷ thứ XX. Thành công của cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc đã đưa đất nước ta tới cái đích độc lập, thống nhất.
Mục tiêu của hai cuộc cách mạng đó đã thống nhất hòa quyện vào nhau, trở
thành động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân ta tiếp tục tiến lên trên con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.1.2. Tinh thần đoàn kết
Đoàn kết-một giá trị văn hóa truyền thống trong suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta.
Thời kỳ Bắc thuộc trên một ngàn năm, dù bị áp đặt ách thống trị và bóc lột
tàn bạo, nhưng nhân dân ta đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh với kẻ thống trị để
giữ vững bản sắc văn hóa, để giữ gìn tiếng nói, phong tục tập quán của mình, 12
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
đồng thời hoàn thiện và nâng cao nền văn hóa, văn minh của người Việt, củng
cố tinh thần tự lực tự cường, tăng thêm ý chí đấu tranh giành độc lập tự chủ.
Đây là giá trị to lớn nhất để chuẩn bị cho công cuộc giành quyền tự chủ. Chiến
thắng Bạch Đằng oanh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền đã
đánh bại ý chí xâm lược của nhà Nam Hán, đánh dấu 1 dấu mốc lịch sử đặc biệt
oanh liệt trong sử sách Việt Nam cho tinh thần đoàn kết của toàn thể nhân dân ta,
kết thúc hoàn toàn thời kỳ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, kéo dài trên một
ngàn năm. Mặc dù âm mưu đồng hóa thâm độc, nhưng nền văn hóa của cư dân
người Việt chẳng những không bị mai một, mà còn được bổ sung, làm phong
phú thêm, làm tăng sức mạnh, hun đúc sức sống mãnh liệt của cộng đồng người
Việt, dân ta đoàn kết đồng nhất 1 lòng quyết không chịu khuất phục, trước sự
thần hóa của kẻ thù nhất quyết thà chết chứ không thể để đất nước rơi vào tay
thực dân. Đây cũng là điều kiện hết sức quan trọng để đất nước vươn lên giữ
vững nền tự chủ, dựng nước thịnh trị trong thời kỳ văn hóa - văn minh Đại Việt
về sau này. Sau khi giành được độc lập, tự chủ, truyền thống đoàn kết trong
công cuộc dựng nước và giữ nước tiếp tục được phát huy cao độ. Sử sách cho
thấy, sau mỗi thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập
chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam, vị thế của dân tộc ta ngày
càng được củng cố và phát triển.
Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam luôn hiện hữu ở trong mỗi cá
nhân mỗi người nó là tiền đề để đưa các phong trào đấu tranh dựng nước và giữ
nước trong xuyên xuốt thời kì Lịch sử các cuộc khởi nghĩa của dân tộc, đưa
chúng ta đến hết thắng lợi này qua thắng lợi khác dù cho gặp phải kẻ thù lớn
mạnh hơn chúng ta rất nhiều lần. Trở thành 1 truyền thống có giá trị tốt đẹp,
chân quý của dân tộc Việt Nam. Là một trong những yếu tố không thể thiếu góp
phần hình thành lên Tư Tưởng của Hồ Chí Minh, nó gắn lền với chủ nghĩa yêu
nước được Hồ chí Minh chỉ rõ:“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, 13
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,
nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và
cướp nước”. Bằng sự nhìn nhận thực tiễn 1 cách khách quan tình hình đất nước
thời bấy giờ cho thấy được đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược,
quyết định thành công của cách mạng.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế
quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công,
phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, nhất trí “muôn người như
một” của cả dân tộc, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính
vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa
chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
2.1.3. Phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo
Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã
tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những truyền
thống tốt đẹp, cao quý và phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo là giá trị
xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Phẩm chất
cần cù, thông minh, sáng tạo của người Việt Nam được thể hiện trong học tập,
lao động sản xuất và trong chiến đấu.
Cần cù chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo được việc
duy trì cuộc sống cá nhân, bởi vì: Thứ nhất, Việt Nam là một nước nông nghiệp,
trước đây chủ yếu là nghề nông trồng lúa nước, đây là công việc vất vả và có
tính thời vụ cao, vì vậy để có được hạt gạo người Việt phải cần cù, phải một
nắng hai sương, phải “Siêng nhặt chặt bị”; thứ hai, Ngay từ thuở xa xưa, ông
cha ta đã phải lao động cần cù để mài đá, đúc đồng, đúc kim loại thành những
công cụ hữu ích phục vụ đắc lực cho việc mưu sinh. Sống trong một đất nước
thuộc khu vực châu Á gió mùa, tuy được thiên nhiên ưu đãi với “rừng vàng, biển 14
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
bạc, đất phì nhiêu”, song nước ta cũng là một nước có nhiều thiên tai như giông
bão, lụt lội, hạn hán … uy hiếp trực tiếp đến cuộc sống của người nông dân. Để
có thể tồn tại và phát triển được người nông dân Việt Nam đã phải siêng năng
bền bĩ, chịu khó đắp đê, đào kênh để khắc phục những khó khăn, bất lợi do thiên
tai gây nên; thứ ba, trong lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta đã dành tới hơn nửa
thời gian để tiến hành chiến tranh vệ quốc, mặc dù kết quả cuối cùng chúng ta
giành thắng lợi nhưng hậu quả sau mỗi cuộc chiến là sự hoang tàn đổ nát vì vậy
để khắc phục hậu quả, ổn định đời sống con người Việt Nam đã rèn cho mình đức tính cần cù.
Sự thông minh, sáng tạo của người Việt hiện hữu khắp mọi nơi, trong mọi
không gian và thời gian. Nếu như trong lịch sử, nhờ vào khả năng sáng tạo của
mình, Ngô Quyền lợi dụng thủy triều lên xuống, dùng kế cắm cọc trên sông Bạch
Đằng để chiến đấu và giành chiến thắng trước quân Nam Hán. Đó là một chiến
thắng vẻ vang, chói lọi trong mắt người dân khắp nơi. Hay như vua Quang Trung
với chiến thuật hành binh thần tốc, giúp đoàn quân lớn vượt quãng đường dài
trong khoảng thời gian ngắn “kỷ lục”. Không có sự thông minh, sáng tạo phi
thường, họ sẽ không thể thực hiện được những điều kỳ diệu như vậy. Trong cuộc
kháng chiến cứu nước, nhân dân Việt Nam có nhiều sáng tạo góp phần bảo vệ
lực lượng ta, chiến đấu và giành thắng lợi có thể kể đến như những sáng tạo về
vũ khí hầm chông, hố đinh: Đây là vũ khí thô sơ bất cứ người dân nào cũng làm
được để đánh giặc. Khi địch càn, ta ngụy trang mặt hầm như đất thường, thế là
chúng lọt xuống hầm những cây chông đâm vào chân vào háng nhất là gặp
chông sắc có ngạnh địch không cách nào cưa được phải khiêng cả người cùng
cái bàn chông đi đến nơi có điều kiện để cưa cây chông. Chỉ vài trường hợp như
vậy, địch không dám càn tiếp mà phải rút lui…Hay còn lấy vũ khí địch để diệt địch.
Truyền thống cần cù, sáng tạo của người nông dân Việt Nam còn được phát
huy mạnh mẽ sau ngày đất nước ta được hòa bình, thống nhất. Từ những vùng 15
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
đất bị tàn phá và thiệt hại nặng nề trong những năm kháng chiến chống giặc
ngoại xâm, bằng đức tính cần cù năng động, sáng tạo trong quá trình lao động
sản xuất mà hàng triệu nông dân đã biến những “vùng đất chết”, “vùng đất
trắng”, vùng đất “cày lên sỏi đá” hay “đất mặn đồng chua” … thành những vùng
đất trù phú, phì nhiêu. Qua đó đã góp phần tích cực nhất đưa sản lượng lương
thực, thực phẩm nước ta không ngừng được nâng cao theo từng năm
Tóm lại cần cù, sáng tạo là một đức tính đã hình thành qua quá trình hoạt động
thực tiễn giữa con người với môi trường thiên nhiên, xã hội. Đức tính này đã
được hình thành từ rất sớm và không ngừng được vun đắp, phát huy trong suốt
chiều dài lịch sử của đất nước. Đó là một truyền thống tốt đẹp quý báu, là nét
đặc trưng của con người Việt Nam.
Bác Hồ - người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã kế thừa đức tính cần cù
của con người Việt Nam, được thể hiện cụ thể qua cả học tập, lao động. Trong
học tập, Người luôn cố gắng tự học, tự tìm hiểu để làm phong phú vốn kiến thức
và trí tuệ của mình. Bác Hồ có thể sử dụng tất cả là 29 thứ tiếng, một con số mà
không ai tưởng tượng được và mong muốn bản thân học giỏi ngoại ngữ như Bác.
Trong lao động Người luôn chăm chỉ và cần mẫn để có tiền sống, tiền học tập
(Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên
tàu viễn dương, làm đầu bếp, quét tuyết, bốc thuốc, viết báo, viết truyện, viết
kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ…) và tham gia hoạt động cách mạng
khi còn hoạt động ở nước ngoài; khi về nước dù ở đâu Bác cũng luôn cùng bộ
đội, chiến sĩ tham gia sản xuất để cải thiện đời sống. Dũng cảm, thông minh,
sáng tạo, một dân tộc sau hàng ngàn năm là nô lệ, bị cưỡng bức, đồng hóa về
mặt thể chất và tinh thần - giết đàn ông, đốt sách, nô dịch, đồng hóa về văn hóa,
phong tục, tập quán, nhưng vẫn không khuất phục, kiên cường chịu đựng, nuôi
dưỡng ý thức độc lập để rồi lại đứng lên giành lấy độc lập. Chiến tranh thường
tạo nên những anh hùng, nhưng không phải chỉ chiến tranh mới có anh hùng. 16
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
Ngay trong thời bình những tấm gương về người dũng cảm, thông minh, sáng tạo cũng rất nhiều.
Tóm lại, tất cả những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã
thấm sâu vào trí tuệ, tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Ái Quốc qua những năm
tháng được tiếp thu trong nền giáo dục của gia đình, quê hương, nhà trường đã
trở thành điểm xuất phát, là nền tảng trong hình thành phẩm chất của vị lãnh tụ. 2.1.4. Tinh thần lạc quan
Từ bao đời nay, tinh thần lạc quan yêu đời luôn là một trong những truyền
thống quý báu của dân tộc Việt Nam, nó được lưu truyền và phát triển bền vững
trong suốt các thế kỉ qua. Người Việt Nam chúng ta từ xưa đến nay, mặc dù
trong điều kiện đời sống rất là khó khăn, gian khổ nhưng vẫn luôn luôn lạc quan,
yêu đời, luôn động viên nhau vượt khó vươn lên. Từ hơn nghìn năm Bắc thuộc,
cùng hàng trăm các cuộc chiến từ thời Hai Bà Trưng cho đến thời vua Ngô
Quyền,... với tinh thần lạc quan, nhân dân ta quyết “Thua keo này ta bày keo
khác”, “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, lấy “Thất bại là mẹ thành công”;...
Có thể thấy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách sáng tạo cái truyền thống lạc
quan đó, đã nâng nó lên không chỉ là trong cuộc sống hàng ngày mà lạc quan
của Hồ Chí Minh còn được nâng lên thành tinh thần lạc quan cách mạng: Dù
cuộc đấu tranh cách mạng có gian nan, thống khổ đến bao nhiêu, Người vẫn
luôn sẵn sàng vượt qua để đặt niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, nhất định thắng lợi.
Nhắc đến tinh thần lạc quan, chúng ta cũng từng được chiêm ngưỡng rất
nhiều lần thông qua những hình ảnh thực tiễn về đời sống của Hồ Chí Minh
trong những năm tháng khó khăn giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Nét đẹp đó
được khắc họa qua một vài ví dụ tiêu biểu như: Sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài,
vào năm 1941, Hồ Chí Minh lần đầu tiên đặt chân trở về Việt Nam, nơi người
chọn để ở và làm việc đó chính là Pác Bó. Hoàn cảnh sống lúc đó vô cùng thiếu 17
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
thốn. Bác ngủ nghỉ trong hang, bàn làm việc cũng chỉ dựng tạm mấy phiến đá,
đồ ăn chỉ đơn giản là rau, là cháo. Khổ là thế, ấy vậy mà Người vẫn cho ra
những câu thơ hết sức lạc quan, thể hiện tinh thần không cam chịu, khuất phục
trước khó khăn của hoàn cảnh:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.
Hay vào năm 1969, khi Người qua đời, dù đất nước Việt Nam chưa được
hòa bình, thống nhất. Nhưng trong bản di chúc Người để lại, Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn đặt niềm tin vững mạnh vào cuộc chiến giành độc lập dân tộc, tin vào
ngày mai chiến thắng của cách mạng ta. Trong một đoạn di chúc rất ngắn người
đã sử dụng đến bốn từ “nhất định”, người đã viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ
chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi, đế quốc Mỹ nhất định cút khỏi nước
ta, tổ quốc ta nhất định được thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định được sum họp một nhà”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy được những vẻ đẹp quý báu của tinh thần lạc
quan thông qua lăng kính của chủ tịch Hồ Chí Minh, nó luôn được Người nâng
lên, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo trong điều kiện hoàn cảnh mới sao
cho phù hợp với từng giai đoạn thực tiễn của cuộc sống.
2.1.5. Niềm tự hào về lịch sử, trân trọng tinh túy dân tộc
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch
sử, trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt
đẹp khác của dân tộc. Đó chính là một cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất
của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu,
động lực của cách mạng; cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu 18
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam. Chính Hồ
Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây.
Đối với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh nhận định:
“Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của
Châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội. Những
người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng
niệm”. Người không bao giờ phản đối, bài xích các tôn giáo mà luôn luôn tỏ thái
độ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng. Người không
hề có sự phân biệt đối xử giữa tôn giáo này và tôn giáo khác, giữa người có đạo
và người không có đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ đã là người Việt Nam dù là lương
hay giáo đều có chung cội nguồn sâu xa cùng nòi giống “con Rồng cháu Lạc”,
cùng chung vận mệnh dân tộc và gắn bó với nhau bởi truyền thống đoàn kết.
Phong tục tập quán của mỗi dân tộc không chỉ là thói quen, lối sống của
một cộng đồng dân tộc mà còn là sự biểu hiện của triết lý vũ trụ, nhân sinh quan
của dân tộc ấy. Phong tục tập quán vừa có cái chung, vừa có cái riêng, thể hiện
bản sắc văn hóa dân tộc một cách đậm đà và sâu sắc. Ngay từ những năm còn ở
chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã chú trọng đến việc giữ gìn, tôn trọng phong
tục, tập quán, tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người coi đó là
“những vốn cũ quý báu của dân tộc” cần được giữ gìn, bảo vệ và phát huy.
Chính vì thế mà cần phải: “Ra sức giúp đỡ đồng bào phát triển những việc có lợi
ích cho đời sống vật chất và văn hóa của các dân tộc”. Tuy nhiên, Người cho
rằng cần phải loại bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan như: lấy chồng hoặc
lấy vợ quá sớm, cúng bái, ma chay theo các hủ tục lạc hậu...
→ Như vậy, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa trong phong tục truyền
thống là để xây dựng cuộc sống dân tộc được tốt đẹp hơn và xóa bỏ những yếu
tố lạc hậu góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên các địa 19
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh GV: Vũ Thị Thu Hà
phương. Mỗi dân tộc dù có khác nhau nhưng đều có điểm chung là cùng nhau
xây dựng đời sống văn hóa mới, giữ gìn gia phong, thuần phong mỹ tục.
2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
2.2.1. Tinh hoa văn hóa phương Đông * Nho giáo:
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và
tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất
phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và sớm du
nhập vào Việt Nam. Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết
chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng
nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử.
Hồ Chí Minh đã lựa chọn những yếu tố tích cực của Nho giáo đưa vào đó
nội dung và ý nghĩa cho phù hợp với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
- Học thuyết Khổng Tử hướng đến sự tu dưỡng đạo đức cá nhân:
Hồ Chí Minh đã từng khai thác di sản tư tưởng Nho giáo của các thế hệ đi
trước nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Năm 1923, khi trả lời phỏng
vấn của nhà báo Nga Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí Minh nói: “Tôi sinh ra trong
một gia đình nhà nho An Nam… Thanh niên trong những gia đình ấy thường
học Khổng giáo. Đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là
một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó
người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng””.
Theo Hồ Chí Minh: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo
đức cá nhân.” Khổng tử nói: Cầm quyền phải có đức, giống như sao Bắc đẩu ở
nơi cố định cho các ngôi sao khác trên bầu trời vây quanh nó. “Dùng chính lệnh
để dắt dẫn dân, dùng hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội 20