



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI CHÍNH: Phân tích cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh. Chỉ ra tiền đề lý luận giữ vai trò quyết định trong việc
hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên: Ngô Thị Minh Nguyệt Nhóm: 09 Lớp HP: 2180HCMI0111 Hà Nội, 2021 Danh sách nhóm Họ và tên Nhiệm vụ cụ thể Ý thức tham gia ST thảo luận T 1 Nguyễn Phương Thảo Thuyết trình A 2
Nông Vũ Phương Thảo Tổng hợp word, làm lời mở đầu và kết A (TK) luận của đề tài chính 3 Nguyễn Quang Thiết
Kết luận đề tài phụ và phần II.Tư tưởng B+
và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về
những nguyên tắc xây dựng đạo đức
cách mạng (đề tài phụ) 4 Bùi Thị Thủy
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc B+ Việt Nam 5 Trần Thu Thủy
Tinh hoa văn hóa nhân loại A 6 Vũ Khánh Toàn (NT)
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc A Việt Nam 7 Hoàng Thị Trà
Tiền đề lý luận giữ vai trò quyết định B+
trong việc hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh 8 Hoàng Hương Trà
Lời mở đầu đề tài phụ và phần I.Tư A
tưởng và tấm gương tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo
đức cách mạng (Đề tài phụ) 9 Phùng Ngọc Trâm Chủ nghĩa Mác – Lênin B+ 10
Đinh Thị Huyền Trang Thiết kế powerpoint A Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN..............................................................................................2
1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam...........................................2
1.1. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.......................................................................2
1.2. Tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng, hòa hiếu với các
dân tộc lân bang.....................................................................................................5
1.3. Tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc quan.............................................6
1.4. Tự hào về lịch sử, trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và
những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc...................................................................6
2. Tinh hoa văn hóa nhân loại...............................................................................7
2.1. Tinh hoa văn hóa Phương Đông.....................................................................7
2.2. Tinh hoa văn hóa phương Tây......................................................................17
3. Chủ nghĩa Mác – Lênin...................................................................................19
3.1. Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Hồ Chí Minh:.................19
3.2. Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác Lê-nin: từ những nhận thức ban đầu (cảm
tính) đi đến nhận thức lý tính:.............................................................................20
3.3. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác Lê-nin một cách có chọn lọc, phù hợp
với điều kiện Việt Nam:......................................................................................20
II. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN GIỮ VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH TRONG VIỆC HÌNH
THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH......................................21
KẾT LUẬN.........................................................................................................23 Lời mở đầu
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến
cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa
dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa hết sức to lớn: trang bị hệ
thống quan điểm và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nâng cao thêm lòng yêu
nước, tinh thần phục vụ nhân dân, đạo đức cách mạng cả mỗi người, để làm cho chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hành động của chúng ta.
Để hiểu rõ được tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải tìm hiểu cũng như nắm sơ
lược về cơ sở hình thành và phát triển của nó, từ đó đưa ra cái nhìn khái quát về nội
dung, giá trị của tư tưởng. Việc nghiên cứu các cơ sở phong phú hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh, quá trình hình thành tư tưởng trong hoạt động lý luận và thực tiễn
của người là điều không thể thiếu. Không chỉ vậy việc tìm hiểu sâu về đề tài này cho ta
nhận thức khoa học giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, từ đó
có tư tưởng tình cảm tích cực trong việc học tập tập và làm theo tư tưởng đạo đức
phong cách Hồ Chí Minh trong thực tế học tập cuộc sống hàng ngày. 1 I. Cơ sở lý luận:
1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
1.1. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng
đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, là động lực nội
sinh to lớn của cộng đồng dân tộc Việt Nam tạo nên sức mạnh vô địch trong các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước.. Chính chủ
nghĩa yêu nước là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc đẩy Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước, và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước, cứu dân.
V.I.Lênin từng nói “Lòng yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất được
củng cố hàng trăm năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập”
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta rất phong phú và sâu sắc, nó thể hiện ở tình
yêu quê hương xứ sở, nơi sinh ra, lớn lên của mỗi người, đó là xóm, làng, là cộng đồng
làng, xã …là sự gắn bó giữa những thành viên của dân tộc, là tình cảm gắn liền với
thiên nhiên, với con người ở quê hương. Đất nước Việt Nam có địa hình, khí hậu, tài
nguyên thiên nhiên nhiều thuận lợi, sống không ít khó khăn. Trong quá trình khai phá
mảnh đất này cha ông ta đã phải đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên. Từng tấc đất đều
thấm đượm mồ hôi, nước mắt và xương máu của bao thế hệ, vì thế, mọi người Việt
Nam đều nặng tình, nặng nghĩa với quê hương.
Hồ chí minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến này, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy
lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” vì thế Chủ
nghĩa yêu nước đã trở thành truyền thống của dân tộc ta còn là vì Dân tộc Việt Nam đã
trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với hàng trăm cuộc xâm lăng của các
nước phong kiến và các nước đế quốc, Dân tộc Việt Nam đã không ngừng đứng dậy
đấu tranh để giành lại độc lập dân tộc, lịch sử của dân tộc Việt Nam đã được viết bằng
máu và mồ hôi của nhiều thế hệ ông cha …chính vì thế lòng yêu nước niềm tự hào dân
tộc đã ngấm sâu vào trong dòng máu của mỗi con người Việt Nam và nó sôi nổi nhất 2
khi dân tộc Tổ quốc chúng ta bị xâm lăng chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa dân ta
giành lại quyền độc lập tự chủ dân tộc.
Biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước là có ý thức rõ ràng, sâu sắc về nền độc lập
dân tộc, coi độc lập dân tộc là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Yêu nước là phải giữ
gìn nền độc lập, tự do của dân tộc.Chúng ta hãy cùng sơ lược lại 1 lượt lịch sử Việt
Nam qua các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu để có thể thấy được tinh thần yêu nước đó đã
xuyên suốt từ xưa đến nay và trở thành giá trị truyền thống của dân tộc. - Thời kì Bắc Thuộc:
+ Kháng chiến hai bà trưng năm 40 chống quân Đông Hán;
+ Khởi nghĩa hai Bà Triệu năm 248 đánh quân Đông Ngô
+ Khởi nghĩ Lý Bí năm 541 đến năm 602, khởi nghĩa Triệu Quang Thục năm 550 chống quân Lương
+Khởi nghĩa Mai Thúc Loan đánh quân Đường….
- Thời độc lập tự chủ (905-1407):
+ Chiến tranh Tống-Việt (981) là một cuộc chiến tranh giữa Đại Tống thời Tống
Thái Tông và Đại Cồ Việt thời Lê Đại Hành;
+ Chiến tranh Tống - Việt (1075-1077) là cuộc chiến tranh giữa nhà Lý nước Đại
Việt và nhà Tống của Trung Quốc vào cuối thế kỷ XI. Cả hai cuộc chiến trang tống
Việt đều do Lê Hoàn và Lý Thường kiệt lãnh đạo.
+ Kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của một cuộc chiến tranh bảo
vệ tổ quốc của quân và dân Đại Việt đầu thời Trần với 3 lần chống quân Nguyên
Mông dưới thời các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông trước
sự tấn công của đế quốc Mông Cổ;
+ Chiến tranh xâm lược của nhà Minh (1406-1407) cuộc chiến của nhà Hồ nước
Đại Ngu chống cuộc xâm chiếm của nhà Minh dưới triều Minh Thành Tổ nhưng bị
thất bại và trở lại bắc thuộc lần thứ 4….
Trong lịch sử Việt Nam đã có 2 bản được coi bản tuyên ngôn ngôn độc lập để
khẳng định nền độc lập toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đó là bài thơ thần Nam quốc sơn
hà của Lý Thường Kiệt ở thế kỷ 11 và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428.
Và lòng yêu nước của Bác lại được kế thừa từ Cha và các bậc tiền bối đi trước. Hồ
Chí Minh sinh ra và lớn lên trong thời kỳ pháp thuộc (1858–1945) trong cảnh nước 3
mất nhà tan, được nghe nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước, chứng kiến cảnh áp bức
bóc lột của đế quốc, tay sai đối với nhân dân, chứng kiến các phong trào yêu nước của
dân tộc nên ngay từ khi còn bé Bác đã sớm có hoài bão và động lực to lớn để ra đi tìm
đường cứu nước. Năm 1920 tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp Bác đã nói "Lúc đầu là
chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải cộng sản đã làm tôi tin theo lênin, tin theo quốc tế thứ ba.
Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất
vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh
thổ của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam vì thế ngày 05 tháng 06 năm 1911, tại bến cảng
Nhà Rồng, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Khi ấy, Bác chỉ là một người thanh niên
hai mươi mốt tuổi mang trong mình khao khát giải phóng Việt Nam khỏi ách thuộc địa
của Thực dân Pháp. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trắc trở nhưng Bác vẫn theo đuổi
con đường tìm đường cứu nước. Người đã hy sinh bản thân sự nghiệp của mình vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc giải phóng con người. Và Bác đã làm được điều đó vào
ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước
hàng chục vạn quần chúng, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng
tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực
đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” .
Không có gì quý hơn độc lập tự do - chân lý lớn của thời đại được Hồ Chí Minh
khẳng định, đồng thời cũng chính là một điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, yêu nước còn là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng
thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một
ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được
học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển
những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai
cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân
lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới.
Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì
nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm. 4
1.2. Tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng, hòa hiếu với các dân tộc lân bang.
Giá trị truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc Việt Nam ta,
dân tộc ta đã cùng nhau đồng lòng đứng lên chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước,
cùng nhau đưa đất nước phát triển từ hàng nghìn năm nay. Người Việt nam sống và
gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm. Bác từ viết trong bài “ Nên học”
"Khuyên ai nên nhớ chữ đồng,
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” đã thể hiện tư tưởng
về xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, tập hợp và mở rộng khối đại đoàn kết
dân tộc. Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có
nghĩa:“lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và nếu một mình no ấm
mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Tình
nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí,
tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.
Người đã nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có
nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu
chủ nghĩa Mác-Lênin được…Vì thế mà tình yêu đồng bào dân tộc của bác lại càng
mãnh liệt, chính giá trị truyền thống này đã thêm phần sức mạnh cho Hồ Chí Minh
phấn tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì Độc lập – Tự do – hạnh phúc của nhân dân.
Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên
“công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Nhân nghĩa là sức mạnh để chiến thắng. “Chí
nhân, đại nghĩa” là nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo mà dân tộc ta bao đời đeo đuổi để
tạo dựng nền văn hiến mang bản chất truyền thống của con người Việt Nam. Coi trọng
con người, quý trọng nhân dân, coi trọng tình hòa hiếu giữa các dân tộc nên chúng ta
đã đặt nhân nghĩa lên trên tất cả. Có gì quý hơn sinh mạng con người? “Người, ta là
hoa của đất’’ do đó nhân nghĩa sau chiến tranh là tấm lòng, là trí tuệ để giải quyết
những hậu quả đối với quân giặc đã bị “cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng”,
chúng ta đã “chẳng giết hại” mà cho chúng “đường hiếu sinh”. Chúng ta có cái thế để
“xử tội ác chiến tranh, có đủ sức để trừng phạt, nhưng nhân nghĩa không cho phép
chúng ta làm điều đó. Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn ai là bạn ai là thù. Ai 5
làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn và được chúng ta sẵn sàng
đón tiếp. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù và chúng
ta luôn sẵn sàng đứng dậy đấu tranh vì đồng bào ta.
1.3. Tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc quan.
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Tinh thần lạc quan,
trong muôn gian nguy vẫn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” có cơ
sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính
nghĩa. Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần lạc quan đó.
Trong lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh
hết sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, đó là yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan
dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù, dũng
cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách
mạng; dân tộc là gốc của nước; nước lây dân làm gốc; gốc có vững cây mới bền; xây
lầu thắng lợi trên nền nhân dân; đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế là một
nguyên tắc chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
1.4. Tự hào về lịch sử, trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và những
giá trị tốt đẹp khác của dân tộc.
Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và
chiến đấu, nên cũng là một dân tộc ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón
nhận tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã rất xa lạ với đầu
óc hẹp hòi, thủ cựu, bài ngoại cực đoan. Trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc,
nhân dân ta đã biết chắt lọc, tiếp thu cái tốt, cái hay, cái đẹp của nhân loại tạo nên
những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của
truyền thống.Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục chủ tịch Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước, tìm kiếm những gì hữu ích cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam luôn thường trực một niềm tự hào về lịch
sử, trân trọng nền văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và những giá trị tốt đẹp khác
của dân tộc. Đó chính là cơ sở hình thành nên tư tưởng, phẩm chất của nhà văn hóa
kiệt xuất Hồ Chí Minh với chủ trương văn hóa là mục tiêu, động lực của cách mạng; 6
cần giữ gìn cốt cách văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa mới của Việt Nam. Hồ
Chí Minh chính là một biểu tượng cao đẹp của sự tích hợp tinh hoa và văn hóa phương Đông và phương Tây.
2. Tinh hoa văn hóa nhân loại.
2.1. Tinh hoa văn hóa Phương Đông. Nho giáo:
Sự ra đời của Nho giáo
- Nho giáo hay còn được gọi là đạo Nho hoặc đạo Khổng, là một hệ thống đạo
đức, triết học xã hội, giáo dục, chính trị do Khổng Tử thành lập và được các đệ tử của
ông trên khắp nơi phát triển với mục đích tạo dựng một xã hội tốt đẹp với những con
người có đạo đức và lễ nghi chuẩn mực từ đó tạo thành nền móng vững chắc để phát triển đất nước.
- Nho giáo xuất phát từ Không Tử, ông vốn là một người Trung Quốc vì vậy Nho
giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa hay còn gọi là Trung Quốc nên thường gọi là nho
giáo Trung Quốc. Tuy nhiên sau đó Nho giáo đã phát triển và vượt ra khỏi lãnh thổ
Trung Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽ lên văn hóa của các nước trong khu vực Đông Á
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên và cả Việt Nam chúng ta.
Nội dung chính của Nho giáo
Để xây dựng đường lối Đức trị và Lễ trị Khổng tử đã xây dựng học thuyết: Nhân –
Lễ – Chính danh. Đây là ba phạm trù quan trọng nhất trong học thuyết của Khổng Tử.
Nhân là nội dung, Lễ là hình thức còn Chính danh là con đường đạt đến điều nhân
- Thuyết về “Nhân”: Nhân là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con
người thể hiện việc quan hệ giữa người và người. Nhân có thể được xét theo hai khía cạnh:
+ Thứ nhất, về mặt thể, nhân là nhân tính, – cái tính tự nhiên trời cho, khiến con
người khác với con vật “nhân giả, nhân giã”, người thực hiện được tính nhân thì mới thực là người.
+ Thứ hai, về mặt dụng – nhân là lòng thương người, là sửa mình theo lễ, hạn chế
dục vọng, ích kỷ, hành động theo trật tự lễ nghi đạo đức.
- Thuyết về “Lễ”: “Lễ” đóng vai trò quan trọng nhất trong đời sống đạo đức và đời
sống chính trị. Lễ theo quan niệm của Khổng Tử vừa là nghi lễ vừa là tế lễ, vừa là thể
chế chính trị vừa là quy phạm đạo đức 7
+ Lễ là sự tôn trọng lẫn nhau, ý nghĩa sâu xa của chữ lễ là cách đối nhân xử thế
trong đạo làm người, trong đó là cách đối xử kính cẩn với người khác và hàm dưỡng tinh thần cho chính mình.
+ Trong Nho Giáo, nhân và lễ không tách rời nhau, chúng có quan hệ mật thiết với
nhau. Nhân là nội dung, lễ là hình thức. Lễ là biểu hiện của Nhân, vì vậy không thể có
người tính nhân mà vô lễ được
- Thuyết chính danh Khổng Tử cho rằng thiên hạ bị rối loạn vì vua không ra vua,
tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con, v.v… Từ đó ông đưa ra học
thuyết “Chính danh định phận” làm căn bản cho việc trị quốc.
+ Chính danh là Danh (tên gọi, chức vụ, địa vị, thứ bậc, v.v…) và Phận (phận sự,
nghĩa vụ, quyền lợi) phải phù hợp với nhau. Danh không phù hợp là loạn Danh. Danh
và Phận của một người trước hết do những mối quan hệ xã hội quy định (ngũ luân
(tam cương) và ngũ thường). Để chính Danh, Nho Giáo không dùng Pháp trị mà dùng
Đức trị, là dùng luân lý, đạo đức điều hành xã hội.
+ Ý nghĩa sâu xa của chính danh thường thể hiện ở mặt dụng với ba khía cạnh:
Trước hết, là phân biệt cho đúng tên gọi. Mỗi sự vật cũng như con người phải thể hiện
đúng bản tính của mình, mỗi cái tên bao hàm thái độ, trách nhiệm, bổn phận, v.v… để
thực hiện bản tính vốn có của nó. Thứ hai, phân biệt cho đúng danh phận, ngôi vị. Thứ
ba, danh mang tính phê phán khẳng định chân lý, phân biệt đúng sai, tốt, xấu, v.v…
Những mặt tích cực của Nho giáo
- Điều đầu tiên không thể không nói đến, đó chính là kho tàng văn học đồ sộ như
ngày nay. Rất nhiều những nha văn, nhà thơ trong lịch sử đất nước đều là các Nho sĩ
sống và suy nghĩ theo những quan điểm của Nho giao cùng với sự chiêm nghiệm của
bản thân mà đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang tính thời đại.
- Thứ hai, Nho giáo đã giúp xây dựng xã hội, thiết lập các mối quan hệ trong các
triều đại phong kiến khiến cho nó có thể phát triển rộng rãi. Nho giáo đã dạy cho con
người thời đại đó tinh thần yêu nước cũng như những lê nghi, chuẩn mực đạo đức xã
hội là nền móng cho việc phát triển những triều đại phong kiến vĩ đại trong lịch sử dất nước ta.
- Thứ ba, Nho giáo đã tạo ra ở Việt Nam hệ thống giáo đục rõ ràng với nhiều cấp
bậc giúp đất nước tuyển được nhiều nhân tài góp phần xây dựng và phát triển.
Những mặt tiêu cực của Nho giáo 8
- Tuy tạo ra không ít những người tài giỏi cho đất nước nhưng với lối giáo dục lấy
văn chương làm chủ yếu mà coi nhẹ các lĩnh vực khác trong đời sống cũng khiến cho
không ít những nhân tài trong nhiều lĩnh vực bị bỏ phí không được phát triển.
- Nho giáo cũng tạo nên sự trung thành mù quang của những đại thần, nho sĩ của
một triều đại dã suy tàn đứng lên chống lại triều đại mới khiến cho cảnh nội chiến là
dân chúng lâm vào cảnh chết chóc, đói khổ.
- Trong xã hội Nho giáo cũng không đề cao giá trị của người phụ nữ khiến cho họ bị chà đạp nhiều.
- Nho giáo quá coi trọng nông nghiệp, bài xích thương nghiệp, có tính bảo thủ
không chịu tiếp nhận những cái mới có tính ưu việt hơn, v.v…
- Thiếu tinh thần tiến thủ.
Vì sao Nho giáo tác động đến Hồ Chí Minh?
Vì Nho giáo là nền học vấn đầu tiên mà người tiếp nhận:
- Người xuất thân trong một gia đình nhà Nho; phụ thân là cụ Phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc, một nhà Nho lớn, thầy dạy thuở ban đầu của Người.
- Quê hương xứ Nghệ - một vùng văn hóa có nhiều ảnh hưởng của Nho giáo.
- Người còn có thời gian sống, học tập ở Huế, kinh đô của triều Nguyễn, nơi mà
Nho giáo thâm nhập rất sâu rộng.
Nho giáo tác động đến Hồ Chí Minh như nào?
Người từng chỉ rõ: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của
Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”
- Người đánh giá cao và đặc biệt khai thác, học hỏi, kế thừa những điều hay, tiến
bộ, tích cực của Nho giáo. Kế thừa và phát triển Nho giáo về việc xây dựng một xã hội
lý tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nhân, nghĩa, trí, dũng, tìn, liêm được coi
trọng có thể đi đến một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, dân tộc hữu nghị và
hợp tác. Đó là tư tưởng trọng dân; tư tưởng nhập thế, hành đạo giúp đời; thế giới đại
đồng, xã hội thái bình, hòa mục, công bằng, tốt đẹp; đề cao văn hóa, lễ giáo, yêu cầu
mỗi người phải tu thân dưỡng tính...
- Trong khi kế thừa những điều hay, hạt nhân hợp lý, Người cũng thẳng thắn phê
phán những yếu tố duy tâm, lạc hậu trong tư tưởng Khổng Tử, như: Tư tưởng phân 9
chia đẳng cấp, coi khinh phụ nữ, coi thường lao động chân tay, hạ thấp một số nghề
trong xã hội như ca hát, buôn bán... Phật giáo:
Sự ra đời của Phật giáo:
- Phật giáo hay Đạo Phật là một tôn giáo hay nói đúng hơn là hệ thống triết học
gồm các giáo lý, tư tưởng triết học đầy đủ về nhân sinh quan, thế giới quan cùng
phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của nhân vật lịch sử có tên là Siddhartha Gautama
dịch thuần Việt là Tất đạt đa Cồ-đàm.
- Đạo Phật ra đời khoảng thế kỷ VI trước công nguyên ở vùng phía Tây Bắc Ấn do
thái tử Siddhartha Gautama sáng lập hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
- Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni truyền giảng ở miền đông Việt Nam vào thế kỷ
6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Đức Phật còn tại thế ra
nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các
bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học.
- Phật giáo được truyền đến Việt Nam cách nay khoảng 2000 năm,do nhà sư người
Ấn Độ là Mahajivaka (Ma Ha Kỳ Vực) truyền bá đạo Phật vào Việt Nam năm 188 trước Công Nguyên
Nội dung chính của Phật giáo
- Thực chất của đạo Phật là một học thuyết về khổ và diệt khổ. Đạo Phật ra đời
cũng từ việc đức Phật nhìn thấy sự khổ của thế gian này và mong muốn tìm sự giải
thoát khỏi nỗi khổ đó cho chúng sinh . Nói đến Phật giáo trước hết là nói đến tư tưởng
vị tha, vị nhân sinh . Phật cho rằng đời là khổ và đã tìm lấy sự giải thoát khỏi cái khổ.
Bởi vậy Phật xướng lên thuyết Tứ thánh đế hay Tứ diệu kế. Đó là Khổ đế, Nhân đế,
Diệt đế và Đạo đế. Ấy là những điều rất trọng yếu trong đạo Phật.
- Khổ đế: là chân lí về bản chất của nỗi khổ. Khổ là gì? Đó là trạng thái buồn
phiền phổ biến ở con người do sinh, lão , bệnh, tử, do mọi nguyện vọng không được thỏa mãn.
- Nhân đế: Là chấn lí về nguyên nhân của nỗi khổ. Đó là do ái dục và vô minh
(kém sáng suốt). Dục vọng thể hiện thành hành động là Nghiệp (karma), hành động
xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn
trong vòng luân hồi không thoát ra được 10
- Diệt đế: Là chân lí về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên
nhân gây ra khổ bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nirvana, nghĩa đen là
“không ham muốn, dập tắt”). Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát.
- Đạo đế: Là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt khổ, giải thoát và
giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức( giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ).
Những mặt tích cực của Phật giáo
- Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đẳng, bác ái:
+ Đức Phật dạy rằng hạnh phúc tối thượng là an lạc và không thể có hạnh phúc
chân thật nếu không có an lạc
+ Đức Phật không hề chia cấp bậc mà có cái nhìn ngang bằng với tất cả chúng
sinh. Đạo Phật chủ trương bình đẳng, Phật là đức Phật đã thành, chúng sinh là Đức
Phật sẽ thành, chúng sinh đều có Phật tính, đều bình đẳng trước Phật. Với Phật, không
ai tiểu nhân, không ai quân tử, cũng không có quân, không có dân, chia cắt nhau bằng
các hàng rào cấp bậc giai cấp; chỉ có một niềm từ bị bác ái, không có hẳn học, oán ghét, phục thù
+ Phật giáo khuyến khích mọi người sống chan hoà, cảm thông và thân ái dù khác
nhau sắc tộc, tôn giáo, màu da...
- Phật giáo góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc:
+ Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài.
Trong quá trình phát triển, Phật giáo với tư cách là một tôn giáo, đã có nhiều đóng góp cho văn hóa Việt Nam
+ Nhà sư và ngôi chùa có vai trò quan trọng trong đời sống dân gian cổ truyền. Ở
Bắc Bộ trước đây hầu như làng nào cũng có chùa. Ngoài thờ Phật, chùa còn thêm tín
ngưỡng dân gian thờ thần tiên, thờ các vị tướng có công với nước. Ngôi chùa trở thành
một trung tâm văn hoá ở nông thôn. Có thể nói Phật giáo đã góp phần làm phong phú
thêm nền văn hoá dân tộc.
- Phật giáo khuyên mọi người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính:
+ Đức Phật dạy các điều thiết yếu không chỉ cho việc tu tập nội tâm của từng cá
nhân vì hạnh phúc của nhân loại mà còn cho sự cải thiện đời sống xã hội. 11
+ Lối sống mà Đức Phật đã dạy rất đơn giản, đối với người tại gia, chỉ áp dụng
năm nguyên tắc sống: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu
+ Giáo lý nghiệp bảo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã trở thành nếp sống
tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với người Việt Nam
- Giáo lý của Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người:
+ Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật
giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt
+Phật giáo là một trong những tôn giáo của thế giới bao hàm nhiều phương pháp
tốt đẹp có thể cải thiện và giáo dục tâm tính cho con người. Nó đánh thức nơi con
người đức tính tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân, phổ biến trong nhân loại
đức tính khoan dung, từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi con người lòng sân
hận và bạo tàn. Cho nên, tự trọng, tự tín, khoan dung, từ bi, trí tuệ là những đức tánh
tốt đẹp có thể tạo được cho nhân loại nhờ ảnh hưởng của Phật giáo.
- Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội: Những
mối quan hệ trong gia đình và xã hội như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè,
họ hàng, láng giềng,... Phật giáo xem là thiêng liêng đáng được tôn kính và lễ lạy, tôn thờ
+ Trước tiên, cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái, nhắc đến công lao dưỡng dục
của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ"
+ Thứ hai, mối quan hệ giữa thầy và trò: học trò phải cung kính và vâng lời thầy,
phải hỗ trợ thầy lúc cần thiết, phải siêng năng học tập. Và ngược lại thầy đối với trò:
phải rèn luyện và dạy dỗ học trò nên người tốt, giới thiệu học trò cho bạn bè của
chúng, và cố gắng tạo việc làm đảm bảo sau khi học trò học xong
+ Thứ ba, mối tương quan giữa vợ và chồng tình yêu giữa vợ và chồng được xem
như rất là tôn giáo và thiêng liêng
+ Thứ tư, mối quan hệ giữa bạn bè, họ hàng quyền thuộc và hàng xóm: họ phải
hiểu khách và nhân tử đối với nhau, nói lời vui vẻ và dễ chịu, đổi xử bình đẳng với
nhau, giúp đỡ nhau trong những lúc cần thiết
Những mặt tiêu cực của Phật giáo 12
- Đảng và nhà nước đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt là làm cho dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt mục tiêu đó, nước ta cần có những người
có tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm mở rộng sáng tạo...
Những phẩm chất này phần lớn trái với giáo lý nhà Phật, vì tham vọng trái với cấm
dục, vô dục, ly dục của Nhà Phật ... Theo giáo lý nhà Phật con người trở nên không có
tham vọng tiến thân, bằng lòng với những gì mình đã có, sống nhẫn nhục, không đấu
tranh, sống cuộc sống “an bần lạc đạo”, hướng tới cõi Niết bàn khi cuộc sống trần gian
đã chấm dứt. Như vậy đạo đức Phật giáo đã tách con người ra khỏi điều kiện thực tiễn
của con người xã hội, làm cho con người có thái độ chấp nhận, chạy trốn nhu cầu bản
năng chứ không phải là cải tạo thế giới, chế ngự thiên nhiên, bắt nó phục vụ cho mình
- Các chương trình xã hội của Phật giáo không phải cải tạo lại điều kiện sống mà
chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức, trong xã hội đó ai cũng từ bi, bác ái, hỉ xả,
nhẫn nhục... điều này ảnh hưởng rất lớn trong việc thực thi pháp luật, quản lý xã hội.
Vì sao Phật giáo tác động đến Hồ Chí Minh?
- Phật giáo rất gần gũi, phù hợp với truyền thống người Việt Nam, có ảnh hưởng
lớn tới sự hình thành và phát triển của văn hóa, tư tưởng và lối sống của người Việt,
thấm đượm trong đời sống tinh thần của dân tộc và nhân dân lao động. Nên Phật giáo
đã thấm vào tâm hồn cậu bé Nguyễn Sinh Cung từ tuổi ấu thơ
Phật giáo tác động đến Hồ Chí Minh như nào?
- Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung, yêu thương
con người; sống có đạo đức, trong sạch, giản dị; tinh thần dân chủ, bình đẳng; tinh thần yêu lao động
- Hồ Chí Minh kế thừa phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người,
khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác, đề cao quyền con người quyền bình
đẳng và chân lý, khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước
- Hồ Chí Minh không phải là Phật tử nhưng là người làm theo giáo lý đạo đức tiến
bộ của nhà Phật. Trả lời nhà báo, Người thẳng thắn bày tỏ:
“Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác
Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện”
- Những quan điểm tích cực đó trong triết lý của Đạo Phật được Hồ Chí Minh vận
dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo Đạo Phật, đoàn kết toàn dân vì nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. 13
- Trong thư gửi Hội Phật tử năm 1947, Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu
khổ cứu nạn, muốn cứu chủng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt
lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến
cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền
thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bị của Đức
Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ" Lão giáo:
Sự ra đời của Lão giáo
- Quyển sách căn bản của Lão giáo là Đạo Đức Kinh, do Đức Lão Tử viết ra.
Trong quyển sách này, Đức Lão Tử bàn luận nhiều về chữ “đạo”
Nội dung chính của Lão giáo
Lão giáo rất được sùng bái như Phật giáo và Nho giáo, nhưng Lão giáo chủ trương
xuất thế, không tham dự việc đời, khác hẳn với Nho giáo (Khổng giáo) chủ trương
nhập thế, nên các môn đồ của 2 tôn giáo này thường kích bác lẫn nhau. Chỉ có bực
thượng trí với tâm hồn phóng khoáng mới tiếp thu được Lão giáo.
Đạo Đức Kinh gồm 5363 chữ chia ra 81 chương gồm 2 phần: Thượng và Hạ, lời
lẽ khúc chiết, ý nghĩa uyên thâm, bàn luận về hai chữ Đạo và Đức, về sự hình thành
Trời Đất, hóa sinh vạn vật. Vạn vật khi đã sinh thành rồi thì mỗi vật đều tích lũy Đạo
và Đức nơi mình để sống và tiến hóa.
Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh như thế nên Đức Lão Tử theo đó mà lập thành Giáo lý của Ngài
Quan niệm về vũ trụ và vạn vật đối với Đức Lão Tử: Nguyên thủy của vũ trụ và
vạn vật là đạo. Đạo là thể vô hình vô tướng, không sinh không diệt, hằng hữu đời đời.
Sở dĩ người ta không thấy được Đạo là vì nó là những nguyên tố rời rạc, chưa kết thành hình tượng
Quan niệm về Nhân sinh: Đạo Trời không thân ai, không sơ ai. Trời Đất sinh ra
muôn vật, rau cỏ, chim muôn, nhân loại, không phải cốt để chúng ăn thịt nhau, nhưng
các sinh vật đều được dùng cái nó sở thích để sống. Đức Lão Tử không lấy cuộc đời
làm lạc thú, xem việc sống như một nghĩa vụ, không yếm thế, không lạc quan, và xem
cái chết là một việc phục tùng theo lẽ tự nhiên nhất định.
Triết Lý Vô Vi Vô Vi là không làm, tức là không can thiệp và tự nhiên, để con
người sống theo tự nhiên và cùng với tự nhiên tiến hóa 14
Lý Vô Vi gồm: Vô cầu, Vô tranh, Vô đoạt, Vô chấp.
- Vô cầu: Không tham vọng
- Vô tranh: Không tranh chấp
- Vô đoạt: Không tham, không chiếm đoạt
- Vô chấp: Không phân biệt đối sử với mọi vật, không chấp điều dở điều hay
=> Lý thuyết Vô Vi quá sức huyền diệu cao viễn, ít ai thấu triệt nổi, thành ra bị
thất truyền hay bị hiểu sai lạc đi
Những mặt tích cực của Lão giáo
- Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong đó
nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không
muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi. Trong quốc gia lý
tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên, bởi vì hài
lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng
tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ
không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, bình giáp cũng không
dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc
gia có thể giữ áo, chấp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình.
- Lão giáo (Đạo học) lại thể hiện tinh thần bao dung, chủ trương sống hoà hợp với
tự nhiên, tôn trọng quy luật của đất trời, từ đó nêu lên thuyết “vô vi, bất tranh”, “được
ít không chê, được nhiều không mừng, cái vui đến thì tận hưởng, cái vui đi không than
tiếc, vui vẻ với bốn mùa, hoà hợp cùng ngoại vật…”. Lão Tử kêu gọi: “Khoáng hề kỳ
nhược cốc”(Hãy trống không như hang núi), nghĩa là “hãy không là gì cả” thì đời sẽ
trở nên cực kỳ đơn giản và tốt đẹp.
Những mặt tiêu cực của Lão giáo
- Học thuyết Lão tử phản ánh ý thức tư tưởng của giai cấp quý tộc cũ đang suy tàn.
Tuy ông đã thấy được quy luật của sự chuyển hóa mâu thuẫn, nhưng ông không chủ
trương phát triển mâu thuẫn giải quyết mâu thuẫn mà lại chủ trương ngăn cản mâu
thuẫn phát triển, mong muốn các sự vật cử giữ nguyên trạng
- Ông cho rằng, trong đời sống xã hội, nếu dẹp bỏ trí tuệ thì dân sẽ chất phác; nếu
không tôn trọng người hiện thì dân không tranh nhau; nếu không coi trong của cái quý
bầu thì dân không trộm cấp. 15
- Từ đó thấy rằng phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc, đơn
giản.Vạn vật chỉ hoạt động tuần hoàn mà không có sự ra đời của cái mới, nghĩa là không có sự phát triển
Lão giáo tác động đến Hồ Chí Minh như nào?
- Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử. Khuyên con người
nên sống gắn bó với thiên nhiên, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ
môi trường sống. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức "Tết trồng cây"
để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người
- Hồ Chí Minh chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng
danh lợi trong Lão giáo. Người khuyên cán bộ, đảng viên ít lòng tham muốn về vật
chất; thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lý với ý nghĩa
là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội.
Mặc tử, Hàn Phi Tử,... những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn
Độ, Trung Quốc, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Vì sao những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung Quốc tác động đến Hồ Chí Minh
Vì sau khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc có dịp tiếp xúc với chủ
nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, tiếp thu những yếu tố phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam
Những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung Quốc tác động
đến Hồ Chí Minh như nào
- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn:
+ Hồ Chí Minh đề ra mục tiêu "dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh
phúc", nghĩa là vận dụng Tôn Trung Sơn nhưng đã có sự đổi khác.
+ Tôn Trung Sơn đề ra chủ nghĩa dân quyền, theo ông, các nước u - Mỹ thời quân
chủ không có tự do nên mới nêu khẩu hiệu đấu tranh cho tự do; trái lại, Trung Quốc từ
xưa đến nay đã sống đầy đủ trong tự do rồi, vì vậy, ông đề ra nội dung của chủ nghĩa
dân quyền là dân chủ, bình đẳng.
+ Hồ Chí Minh không nói chủ nghĩa dân quyền như Tôn Trung Sơn, mà nói dân
quyền tự do, vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp, mất quyền độc lập, phải giành lại độc
lập mới có tự do, do đó mới nhấn mạnh "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!" 16
+ Tôn Trung Sơn đề ra chủ nghĩa dân sinh, coi đó là động lực tối cao, là trọng tâm
của mọi hoạt động lịch sử. Mục tiêu của ông là xoá bỏ tình trạng nghèo nàn, làm cho
mọi người được quân bình về mặt tài phú mà không còn đại bần nữa
+ Hồ Chí Minh không nói chủ nghĩa dân sinh mà nói dân sinh hạnh phúc, làm cho
ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được sống một đời hạnh phúc. Nếu nước độc lập, tự do mà
dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì.
=> Tóm lại, Hồ Chí Minh có mô phỏng, học theo, nhưng không sao chép nguyên
văn, mà có chọn lọc, biến đổi cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
- Những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung Quốc khác:
Hồ Chí Minh còn chú ý kế thừa, phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái khác
nhau trong các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại khác như Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Quân
Tử, v,v... Là nhà mácxít sáng tạo, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những tinh
hoa trong tư tưởng, văn hóa phương Đông để giải quyết những vấn đề thực tiễn của
cách mạng Việt Nam thời hiện đại.
2.2. Tinh hoa văn hóa phương Tây
Các giá trị về nhân Quyền và dân quyền trong hai bản Tuyên ngôn của Mỹ
(1776), Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791
- Người đã tiếp thu và dùng Tuyên ngôn của Mỹ (1776) và Bản tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để làm cơ sở pháp lý của Tuyên
ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
- Mở đầu Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh đã
trích dẫn hai bản tuyên ngôn:
+ "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.
+ Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng
nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi"
- Cả hai bản tuyên ngôn này đều đề cập đến quyền con người, quyền được sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc 17