lOMoARcPSD| 61265515
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
--------------------
BÀI TẬP NHÓM 3
KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề tài: Vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương mạiđầu tư phát triển trong nền
kinh tế. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển theo các nội dung đầu tư tại Việt
Nam giai đoạn 2016 – 2020
Sinh viên thực hiện: Đinh Nhật Hà
Ngô Ngọc Đức
Phạm Minh Hoàng
Nguyễn Trọng Nghĩa
Đặng Ngọc Nhi
Nguyễn Trần Trung Hiếu
Hà Nội, Tháng 10/2022
lOMoARcPSD| 61265515
PHÂN CÔNG NỘI DUNG CÔNG VIỆC
ST
T
Họ và tên
Nội dung công việc
1
Đinh Nhật Hà
- Phân tích vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương
mại và đầu tư phát triển trong nền kinh tế
2
Ngô Ngọc Đức
- Phân tích vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương
mại và đầu tư phát triển trong nền kinh tế
3
Phạm Minh Hoàng
- Phân tích thực trạng đầu tư vào các hoạt động Khoa
học kỹ thuật Văn hóa Giáo dục hội tại Việt
Nam giai đoạn 2016 - 2020
4
Nguyễn Trọng Nghĩa
- Phân tích thực trạng đầu vào các hoạt động Sản
xuất kinh doanh, Cơ sở hạ tầng tại Việt Nam giai đoạn
2016 - 2020
5
Đặng Ngọc Nhi
- So sánh thực trạng đầu tư phát triển với mt số quốc
gia trong khu vực
6
Nguyễn Trần Trung Hiếu
(Nhóm trưởng)
- Đánh giá, nhận xét và đưa ra một số khuyến nghị đ
nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Việt Nam -
Viết Lời mở đầu/Kết luận
lOMoARcPSD| 61265515
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 4
I. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ THƯƠNG MAI VÀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ ................................................................................................. 5
1.Vai trò của đầu tư tài chính trong nền kinh tế .....................................................................5
2.Vai trò của đầu tư thương mại trong nền kinh tế ................................................................5
3.Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế ...................................................................5
II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ O CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH, CƠ SỞ HẠ TẦNG, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀN HÓA – GIÁO DỤC XÃ
HỘI TẠI VIỆT NAM .................................................................................................................... 8
1.Thực trạng đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng ..............................8
2. Thực trạng đầu tư vào hoạt động Văn hóa – Giáo dục xã hội tại Việt Nam giai đoạn
2016 – 2020 ...............................................................................................................................11
3. Thực trạng đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2016
2020 ...........................................................................................................................................17
III. SO SÁNH ĐẦU TƯ CỦA VIÊT NAM VI C
ÁC NƯC TRONG KHU VỰC ............ 20
1. Cơ sở hạ tầng ........................................................................................................................20
2. Giáo dục ................................................................................................................................24
3. Khoa học k thuâ .................................................................................................................26
4.Hoạt đông  ản xuất kinh doanh ..........................................................................................27
IV.NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM ............................................................ 30
1. Nhận xét ................................................................................................................................30
2. Đánh giá ................................................................................................................................30
3. Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Việt
Nam ...........................................................................................................................................31
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 32
lOMoARcPSD| 61265515
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với một nền kinh tế, đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đầu tư không
chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất hội còn tạo ra "cú hích" cho sự
phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế thu hút được đầu tư từ các chủ thể trong
và ngoài nước sẽ khiến nền kinh tế ngày càng tăng trưởng. Bất kỳ hoạt động đầu tư
được thực hiện bởi các cá nhân tchức là chủ thể tư hay bởi Nnước thì lợi ích
hoạt động đầu đem lại không chỉ dừng lại những lợi ích đối với chính nhà đầu
tư, mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung. Đầu tư là hoạt động nhằm tạo ra tài sản
mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh hoạt động hội
khác. Đầu cũng hoạt động tạo ra việc làm cho người lao động, nâng cao đời
sống của người dân trong xã hội, phát triển sản xuất. Có thể nói, đầu tư là cốt lõi, là
động lực cho sự tăng trưởng và phát triển ca nền kinh tế.
Đầu được coi động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu đã phân biệt giữa đầu tư tài chính, đầu tư
thương mại và đầu tư phát triển, theo đó đầu tư phát triển thường được cho đầu tư
cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất ý nghĩa đầu cho kết cấu hạ
tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
Kết cấu hạ tầng vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp hỗ trợ hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp cũng ncác hoạt động của các nhân. Do vậy, chúng ta
cùng đi sâu tìm hiểu đề tài: Vai trò ca đầu tài chính, đầu thương mại và đầu
phát triển trong nền kinh tế. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển theo các nội dung
đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020
lOMoARcPSD| 61265515
I. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ THƯƠNG MAI VÀ ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
1.Vai trò của đầu tư tài chính trong nền kinh tế
Là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
2.Vai trò của đầu tư thương mại trong nền kinh tế
Thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó
thúc đẩy đầu phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luvốn cho phát triển
sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
3.Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế
Tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế, nhân tố quan trọng tác
động đến sự ổn định của nền kinh tế. Tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
a. Trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi thì đầu nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại phát
triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi. Để tạo
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản xuất và cung
ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp
đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các
chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa
được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư.
Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao
mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất – kỹ
thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động
mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất
hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các thiết bị, tiến hành các công
tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một
chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra.
lOMoARcPSD| 61265515
Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư. Đối với các đơn vị đang
hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng cần phải
tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất – kỹ thuật đã hư hỏng, hao
mòn này hoặc đổi mới đthích ng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển
khoa học kthuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất hội, phải mua sắm các
trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, đó cũng chính là hoạt
động đầu tư.
b. Trên góc độ vĩ mô:
Đầu phát triển một nhân tố cùng quan trọng tác đông trực tiếp đ
ến
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Theo hình Harrod Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuôc
trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần.
g = dY/Y = (dY / dK ) * ( dK / Y ) dY
= I / ICOR
Trong đó:
dY là mức gia tăng sản lượng
dK là mức gia tăng vốn đầu tư
I là mức đầu tư thuần
K tổng quy mô vốn của nền kinh tế
Y là tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR là hê  ố gia tăng vốn – sản lượng
Mối quan gữa đầu tăng trưởng thể hiên ất nét trong tiến trình
đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua. Với chính sách đổi mới, các nguồn
lOMoARcPSD| 61265515
vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hóa và gia tăng v
quy mô, tốc đô tăng trự ởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng.
Cuộc sống con người cũng tăng lên từ giáo dục, vui chơi giải trí đến nghỉ ngơi.
lOMoARcPSD| 61265515
II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH, CƠ SỞ HẠ TẦNG, KHOA HỌC KỸ THUẬT
VĂN HÓA – GIÁO DỤC XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
1.Thực trạng đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng.
Đầu công luôn được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch Đầu tư công trung
hạn đã được thực hiện với tổng mức vốn gần 2 triệu tỷ đồng, nhưng đã góp phần huy
động vốn đầu hội đạt 9,2 triệu tỷ đồng. Điều này khẳng định tính chất “vốn
mồi”, dẫn dắt lan tỏa của đồng vốn đầu công, đóng góp ch cực vào tăng trưởng
kinh tế ở mức cao của nước ta giai đoạn 5 năm qua
Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư, năm 2020 năm kết thúc Kế hoạch đầu ng
giai đoạn 5 năm 2016-2020, cũng là Kế hoạch đầu tư công trung hạn đầu tiên được
lập theo Luật Đầu tư công năm 2014, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch
Covid-19, đầu công đã sự khác biệt rất lớn so với các năm trước, đó tnguồn
vốn “mồi” chuyển thành nguồn lực chính để thúc đẩy phục hồi kinh tế trong đại dịch
Covid-19.
Điều đáng mừng trong giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn đầu công được
tập trung btrí cho các dán hạ tầng chiến lược, thiết yếu, quan trọng, then chốt,
như: đường bộ, sân bay, bến cảng, các công trình thủy lợi đầu mối, điện, thông tin
liên lạc, kết cấu hạ tầng các khu đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, văn
hóa thể thao, các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giảm
nghèo bền vững. Kế hoạch đầu công trung hạn 2016-2020 cũng đã ưu tiên đầu
triển khai trong kỳ còn khoảng 11.100 dự án, giảm một nửa so với giai đoạn 2011-
2015; trong đó, dự án hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 7.354 dự án, bằng
66,2% tổng số dự án (số dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2011-2015 hoàn thành trong
giai đoạn 2016-2020 4.547 dự án, dán khởi công mới hoàn thành ngay trong giai
đoạn 2016-2020 2.807 dự án), khởi công mới 4.208 dán. Số dự án khởi công
lOMoARcPSD| 61265515
mới từng năm trong giai đoạn 2016-2020 giảm dần
[1]
. Số vốn bố trí bình quân cho
một dán kế hoạch năm sau cao hơn năm trước, khắc phục tình trạng đầu dàn
trải, lãng phí, kém hiệu quả [1].
Hiệu quả kinh tế - hội của đầu nói chung đầu công nói riêng đã
từng bước được cải thiện. Hệ số ICOR giảm dần: ICOR giai đoạn 2016-2019
[2]
6,1 thấp hơn so với mức gần 6,3 của giai đoạn 2011-2015. Do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, GDP năm 2020 giảm mạnh so với kế hoạch dẫn đến hệ số ICOR năm
2020 18,07, tác động mạnh đến hệ số ICOR của cả giai đoạn 2016-2020 khoảng
8,5. Tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 9,2 triệu
tỷ đồng, bằng 33,7% GDP, đạt mục tiêu bình quân 5 năm (32%-34%) và cao hơn
giai đoạn tư cho miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão các vùng điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn; các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu.
Đặc biệt là hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, cơ bản khắc phục
được tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, manh mún; tỷ lệ dự án hoàn thành đạt k
hiệu quả sử dụng vốn đầu (Hệ số ICOR) giảm, góp phần huy động một số
lượng lớn vốn đầu tư toàn xã hội; số dự án khởi công mới từng năm trong giai đoạn
2016-2020 giảm dần. Cụ thể, giai đoạn 2016-2020, số dán sdụng vốn NSTW
2011-2015 (31,7% GDP) [1].
Tỷ trọng vốn đầunhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm dần, từ mức bình
quân 39,11% trong giai đoạn 2011-2015 xuống mức bình quân 34% [1]. Cơ cấu huy
động vốn đầu chuyển dịch tích cực, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà
nước bỏ vốn đầu phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển hạ tầng kinh tế kỹ
thuật.
lOMoARcPSD| 61265515
MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ
Mặc kết quả đạt được bản tích cực, đã từng bước cấu lại đầu
công theo đúng chủ trương của Đảng, Quốc hội, nhưng chất lượng đầu tư công giai
đoạn 2016-2020 vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện qua những nội dung sau:
Một là, nhiều dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm chậm tiến độ chưa
đạt kết quả Quốc hội đề ra, điển hình là Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường
bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020 cần phải được
bản hoàn thành năm 2021, nhưng một số dự án thành phần của Dự án này đến nay
vẫn chưa xong công tác đấu thầu. Một số công trình phải điều chỉnh tổng mức đầu
tư (TMĐT) lớn, ảnh hưởng đến việc cân đối vốn, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Dự
án Bến Thành – Suối Tiên tăng TMĐT từ 17.388 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng; Dự án
Bến Thành Tham Lương tăng TMĐT từ 26.116 tỷ đồng lên 48.771 tỷ đồng...). Việc
huy động nguồn vốn ngoài nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều dự án hợp c
công (PPP) không thực hiện được, phải chuyển sang đầu tư công, như: Dán
tuyến đường ven biển từ Quảng Ninh đến Nghệ An và một số dự án thành phần của
Dự án đầu xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía
Đông. Tình trạng này đã làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước (NSNN) giai
đoạn 2016-2020 và giai đoạn 2021-2025.
Hai là, tỷ lệ giải ngân vốn đầu công các năm đầu kỳ kế hoạch chậm, vẫn
còn tình trạng phải điều chuyển vốn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nhất vốn nước
ngoài. Thậm chí, còn khá nhiều dự án được giao kế hoạch vốn đầu tư từ NSNN năm
2017, 2018 nhưng đến nay, vì nhiều lý do khách quan, chủ quan vẫn chưa giải ngân
hết số vốn được giao, làm giảm hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn đầu từ
NSNN.
lOMoARcPSD| 61265515
Ba là, việc cân đối NSTW cho đầu không đạt mục tiêu đề ra, ảnh hưởng
đến vai trò chủ đạo của nguồn vốn NSTW cho đầu phát triển; cấu đầu ngành,
lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình cấu lại nền kinh tế. Tỷ trọng
chi đầu phát triển giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 28% tổng chi NSNN, trong khi
mục tiêu đề ra của Quốc hội chỉ là 25%-26%. Tổng nguồn NSNN bố trí cho chi đầu
tư phát triển đạt khoảng 2.200 nghìn tỷ đồng, vượt khoảng 200 nghìn tỷ đồng so với
kế hoạch đầu tư vốn NSNN Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 26/2016/QH14,
ngày 10/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch đầu công trung hạn giai đoạn 2016-
2020. Tuy nhiên về cấu NSNN, vốn đầu nguồn NSTW đạt 977,6 nghìn tỷ đồng,
giảm 142,4 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch Quốc hội quyết định.
2. Thực trạng đầu tư vào hoạt động Văn hóa – Giáo dục xã hội tại Việt
Nam giai đoạn 2016 – 2020
- Giáo dục đào tạo đã đang đóng vai trò hết sức quan trọng,
độnglực thúc đẩy tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng trong
hội… Chính vậy đầu phát triển văn hóa giáo dục đóng vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển của đất nước. Nguồn tài chính cơ bản dành cho giáo dục-
đào tạo nước ta gồm:
- Ngân sách Nhà nước (NSNN).
- Các nguồn vốn ngoài NSNN: thu thọc phí, phí, đóng góp xây dựng
nhàtrường các đóng góp khác, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động
sản xuất, làm dịch vụ, các khoản đóng góp tự nguyện từ các tổ chức kinh tế, xã hội
và các nhà hảo tâm, nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức và các nhân cho giáo dục- đào
tạo....
2.1. Nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Ta thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu phát
triểncho hoạt động Văn hóa – giáo dục thể hiện ở dưới đây:
lOMoARcPSD| 61265515
Đơn vị: Tỷ đồng, %
2016
2017
2018
2019
2020
Tổng chi ngân sách nhà nước
1360465
1461873
1616414
1633300
1787950
Chi văn hóa – giáo dục xã hội
195635
217057
230974
244835
257953
Cơ cấu chi
14,38%
14,84%
14,29%
15,00%
14,42%
- Những năm qua, Đảng Nhà nước luôn dành sự quan tâm lớn cho
sựnghiệp giáo dục đào tạo, đặc biệt các chính sách đầu tư. Cùng với sự tăng
trưởng không ngừng của kinh tế xã hội, đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách nhà
nước năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, trong vòng 5 năm của giai đoạn 2016-
2020, ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho giáo dục đã tăng trên 32,2%.
- Nếu năm 2016, ngân sách nhà nước được phân bổ chi cho giáo dục đào
tạovà dạy nghề 195,6 nghìn tỷ đồng (trong đó 34,6 nghìn tỷ lấy từ nguồn ngân
sách Trung ương 161 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương), chiếm 14,38%
tổng chi ngân sách nhà nước. Thì đến năm 2020, tổng vốn NSNN chi cho giáo dục
đào tạo dạy nghlên đến 258,7 nghìn tỷ đồng (trong đó 30,2 nghìn tỷ lấy từ nguồn
ngân sách Trung ương 228,5 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương), chiếm
14,42% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng 1,32 lần so với năm 2016.
- Ngoài ra, dữ liệu từ Bộ Giáo dục Đào tạo cũng cho thấy, giai
đoạn2016-2020, có 33 dự án đầu tư công được khởi công và hoàn thành, nhiều hơn
9 dự án so với con số 24 dự án đầu tư công giai đoạn 2011-2015. Điều đó cho thấy
sự chú trọng, quan tâm của Nhà nước đến công cuộc phát triển giáo dục và đào tạo
lOMoARcPSD| 61265515
tại Việt Nam không chỉ chủ trương, chính sách đã được hiện thực bằng hành
động cụ thể với mức độ đầu tư tăng đều qua các năm.
- Cùng với việc tăng NSNN, việc phân cấp quản lý Ngân sách giáo dục
cũngđang được cải tiến từng bước. Các biện pháp nhằm cải tiến chế phân bổ
điều hành ngân sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách giáo dục – đào tạo
cũng đang được xúc tiến. NSNN được tập trung chủ yếu cho các bậc giáo dục phổ
cập với mc đích đầu tư cải tạo, nâng cấp và mở rộng các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Thực hiện từng bước kiên cố hoá các trường học, quan tâm nhiều hơn cho các vùng
khó khăn thường xuyên xảy ra thiên tai, trong đó chú trọng đến đảm bảo đủ
trường, lớp học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến các trường phổ thông trung học cho ng
đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện đại hoá một số trường
dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động hội....
Tập trung đầu cho một số trường đại học trọng điểm, ưu tiên kinh phí cho việc
đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật nước ngoài. Dành kinh phí để đào tạo cán bộ
trình độ cao cho công nghệ thông tin, đào tạo nhân tài, cán bộ cho những ngành kinh
tế mũi nhọn, cho đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, NSNN cũng dành để đầu
đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, chất lượng giáo dục, cung cấp đủ đồ
dùng học tập và giảng dạy cho các trường tiểu học và trung học cơ sở, phát triển các
cơ sở đào tạo giáo viên, đảm bảo cả về số lượng cũng như chất lượng giáo viên dạy
học cho các trường phổ thông. Để cụ thể hơn về cấu chi của NSNN cho hoạt động
giáo dục – đào tạo qua các năm ta có thể xem xét bảng dưới đây:
2017
2018
2019
2020
1. Tổng chi NSNN cho GD - ĐT
19.898
22.777
32.819
41.547
lOMoARcPSD| 61265515
1.1. Chi thường xuyên
- Tỷ trọng so với tổng NSNN
71,0
81,7
79,0
78,0
1.2. Chi đầu tư
- Tỷ trọng so với tổng NSNN
29
18,3
21
22
(Nguồn: Ngân sách Nhà nước)
- Nhìn vào bảng cấu vốn cho đầu tư phát triển GD ĐT ta thấy,
Ngânsách chi cho hoạt động giáo dục đào tạo ta thấy chi thường xuyên chiếm từ
7080% Ngân sách, chi đầu tư chiếm từ 20-30% Ngân sách. Chi thường xuyên ở đây
gồm 4 nhóm: Nhóm 1: chi cho con người gồm chi lương và phụ cấp lương cho giáo
viên, n bộ quản giáo dục, nhân viên phục vụ; Nhóm 2: chi cho công tác hành
chính quản lý; Nhóm 3: chi pphục vụ giảng dạy học tập; Nhóm 4: Chi mua sắm
sửa chữa nhỏ. Đứng trên góc độ tổng thể thì đây là một con số tương đối hợp lý. Tuy
vậy, qua công tác giám sát cho thấy, hiện nay tỷ lnày nhiều địa phương thường
chi lương chiếm từ 85-95%; chỉ còn khoảng 5-10% chi công tác quản lý hành chính
và các hoạt động giáo dục. Như vậy, tỷ lệ chi cho công tác dạy và học là rất nhỏ bé.
Qua đó cho thấy chi Ngân sách Nhà nước cũng cần những điều chỉnh cấu
mức tăng hợp lý để phù hợp với tốc độ phát triển giáo dục.
2.2. Nguồn vốn ngoài NSNN.
thể nói nguồn vốn ngoài NSNN vai trò ngày càng quan trọng đối với sự
phát triển của ngành giáo dục – đào tạo, chính vì vậy việc huy động cao hơn nữa các
nguồn tài chính ngoài NSNN đầu cho giáo dục gồm: học phí, phí, đóng góp xây
dựng trường và các đóng góp khác, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động
sản xuất, làm dịch vụ, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, xã hội,
các nhà hảo tâm, đầu tư của các doanh nghiệp cho giáo dục – đào tạo.
lOMoARcPSD| 61265515
Nguồn vốn ngoài NSNN có thể được chia thành:
a) Nguồn vốn trong nước:
- Gồm các khoản đóng góp của gia đình học sinh cho việc học tập. Theo
các kết quả nghiên cứu về chi phí của cha mẹ học sinh các cấp bậc học cho thấy
phần đóng góp của dân tính trên đầu một học sinh so với tổng chi phí chiếm 44,5%
bậc tiểu học; 48,7% cấp trung học sở; 51,5% cấp trung học phổ thông;
62,1% ở dạy nghề; 32,2% ở trung học chuyên nghiệp và 30,7% ở bậc đại học cao
đẳng. Bên cạnh đó các khoản thu khác cũng chiếm một vai trò khá quan trọng
đang tăng dần tỷ trọng, đặc biệt nguồn vốn đầu từ các doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp hiện nay nhu cầu rất cao về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao. Chính vậy, doanh nghiệp hiện nay không những đóng vai trò
khách hàng của ngành giáo dục còn trực tiếp tham gia vào công cuộc giáo dục.
Điển hình là một số doanh nghiệp tự mở trường đào tạo nghề, hay hình thức liên kết
giữa nhà trường và doanh nghiệp để đào tạo nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp.
b) Nguồn vốn nước ngoài
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì việc huy động nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước nói chung phát triển ngành giáo dục đào tạo nói
riêng hết sức cần thiết. Ta thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu
tư phát triển cho hoạt động Văn hóa – giáo dục thể hiện ở dưới đây:
2016
2017
2018
2019
2020
lOMoARcPSD| 61265515
Tổng số vốn
nước ngoài vào
lĩnh vực văn
hóa giáo dục,
hội (triệu
đô)
48,4
62,2
31,3
25,0
19,4
Tổng số d án
đầu nước
ngoài vào Việt
Nam trong lĩnh
vực văn hóa
xã hội
72
69
73
72
54
- Những số liệu trên cho thấy được sự lạc quan và tín nhiệm của các nhà đầu
nước ngoài vào nền giáo dục Việt Nam với những dự án quy mô lớn. Cụ thể,
trong năm 2018 và 2019 73 72 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng
lần lượt là 31,3 25 triệu đô. Nhờ đó, trong 2 năm 2018 và 2019, đầu nước ngoài
cho giáo dục đào tạo đã tăng vọt từ vị trí thứ 12 đã lên vị trí thứ 9 về vốn đăng
trong số các ngành nhận đầu nước ngoài tại Việt Nam. Đa số các dự án đầu trực
tiếp nước ngoài vào giáo dục đào tạo tại Việt Nam có xu hướng nhắm vào hình
chuỗi, trường liên cấp, trường song ngữ theo tiêu chuẩn quốc tế đi tmầm non với
khả năng có thể mở rộng trong tương lai, trung tâm giáo dục kiểu mới (toán tư duy,
kỹ năng…), hệ thống trung tâm ngoại ngữ…, giúp tăng tỷ lhọc sinh Việt Nam được
học chương trình giáo dục của nước ngoài từ không vượt quá 10% với cấp tiểu học
và trung học sở, 20% với cấp trung học phthông đến không vượt quá 50% đối
lOMoARcPSD| 61265515
với sở giáo dục mầm non và sở giáo dục bắt buộc. Riêng khối trung tâm ngoại
ngữ, tin học tính đến cuối năm học 2018-2019 đã đạt trên 3,9 nghìn trung tâm, tăng
trên 1,1 nghìn trung tâm so với năm học trước, đặc biệt là các trung tâm ngoài công
lập, trung tâm vốn đầu nước ngoài đã đáp ứng được gần 2 triệu lượt người học.
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng góp
phần giúp đa dạng hóa về phương pháp và nội dung giảng dạy, bắt nhịp với xu hướng
chung của nền giáo dục quốc tế.
3. Thực trạng đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ tại Việt Nam
giai đoạn 2016 – 2020.
- Nhà nước luôn coi khoa học công nghệ quốc sách hàng đầu,
độnglực phát triển kinh tế - hội, nền tảng nhân tố quyết định thắng lợi của công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Chính vì vậy
đầu tư cho khoa học công nghệ đóng vai thết sức quan trọng đối với sự phát
triển của đất nước. Hiện nay, hoạt động khoa học và công nghệ phần lớn được đầu
từ ngân sách nhà nước. Điều này đã được cụ thể hóa nét Nghị định số
95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về đầu chế tài
chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ
- Trên scác quan điểm của Đảng Nhà nước, môi trường chính
sách và phápluật điều chỉnh hoạt động khoa học và công nghệ trong những năm qua
liên tục được cải tổ và đổi mới mạnh mẽ. Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 ra
đời, thay thế cho Luật Khoa học và công nghệ năm 2000.
- Ta thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu phát triển
cho hoạtđộng khoa học – công nghệ thể hiện ở dưới đây:
2016
2017
2018
2019
2020
lOMoARcPSD| 61265515
1.Tổng chi ngân sách nhà
nước
1360465
1461873
161641
4
1633300
1787950
Chi khoa học – xã hội
25290
27224
29899
33668
35789
Cơ cấu chi
1,85%
1,86%
1,85%
2,06%
2,00%
- Bình quân hàng năm, đầu ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa
họcvà công nghệ với mức kinh phí vào khoảng 1,85 – 2,1% tổng chi ngân sách nhà
nước.
- Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ từ năm 2015
đếnnăm 2020 đều có xu hướng tăng: Năm 2016 là 25290 tđồng, đến năm 2020 đạt
35789 tỷ đồng, qua đó cho thấy sự quan tâm của Đảng Nhà nước đối với hoạt
động khoa học và công nghệ.
- Nhìn chung, đầu từ ngân sách nhà nước cho khoa học công
nghệđóng vai trò hết sức quan trọng, trong tổng đầu cho khoa học và công
nghệ chủ yếu đầu tư tập trung vào: Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng
dụng kỹ thuật, các nhiệm vụ Nhà nước 50%; Con người chiếm 25%; Đầu tư để hỗ
trợ đề tài cấp Bộ, ngành 15%; Đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất chiếm 15%. Và
đầu từ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ được phân cấp:
Ngân sách trung ương thường chiếm tỷ trọng từ 70-75% ngân sách địa phương
chiếm tỷ trọng 25- 30% (theo báo cáo của Bộ Khoa học và công nghệ).
- Hiệu quả hạn chế của đầu tư vào khoa học công nghtrong giai
đoạn2016 – 2020:
lOMoARcPSD| 61265515
+ Đầu từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ đã đạt được
những kết quả sau:
a) Luôn là nguồn đầu tư chủ yếu, cơ bản cho hoạt động nghiên cứu
khoa
học; góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển đào tạo nguồn nhân lực,
chuyển giao công nghệ (bình quân hàng năm chi ngân sách nhà nước cho hoạt động
khoa học công nghệ chiếm khoảng 1,9% tổng chi của ngân sách nnước, tương
đương 0,6 GDP và tăng bình quân mỗi năm là 19%).
b) Đã sự thay đổi về cấu, phân cấp để phù hợp với nhu cầu
nguồn lựcđầu hiện tại, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học công
nghệ phát triển bền vững.
c) sở pháp vđầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học
công nghệngày càng hoàn thiện hơn, chi tiết và cụ thể hóa rõ nét hơn. Cụ thể,
gồm 38 văn bản cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Nghị định, Quyết
định), 88 văn bản cấp Bộ (Thông tư, Thông tư liên tịch).
+ Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ thời gian qua
đã được những kết quả nhất định, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, cụ
thể:
a) Hàng năm, mặc đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học
công nghệ
đã tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển, đẩy mạnh các hoạt
động nghiên cứu, đổi mới khoa học công nghệ như hiện nay. So với các nước, nguồn
lực tài chính từ ngân sách nhà nước để đầu tư cho khoa học và công nghệ ở
lOMoARcPSD| 61265515
Việt Nam còn hạn chế, Việt Nam ngân sách nhà nước đầu cho khoa học và công
nghệ chỉ chiếm 0,6% GDP, còn châu Âu 2,01%, Nhật Bản 3,47%, Mỹ
2,81%...
b) Việc phân bổ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công
nghệ còn phân tán, dàn trải, thiếu tập trung, thiếu mục tiêu ưu tiên, chưa đảm
bảo theo những tiêu chí ràng, thiếu chế minh bạch (Chủ yếu tập trung
chi cho bộ máy; Chi cho đào tạo cán bộ khoa học công nghệ còn mức
thấp khoảng
1.000USD/người/năm, trong khi mức chi trung bình các nước phát triển là
55.000USD/người/năm; Chi lương cho cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ
cũng còn thấp)… do đó dẫn đến hiệu quả đầu tư còn thấp.
c) Hiệu quả sdụng nguồn lực đầu từ ngân sách nhà nước cho
khoa họcvà công nghệ còn thấp. Bởi hiện nay chưa xây dựng được một chế
thực sphù hợp, từ đó để gắn kết phân bổ ngân sách nhà nước cho các tổ chức
khoa học công nghệ với các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể về các sản phẩm
khoa học và công nghệ mà các đơn vị nghiên cứu cần thực hiện.
III. SO SÁNH ĐẦU TƯ CỦA VIÊT NAM VI C
ÁC NƯC TRONG
KHU VỰC
1. Cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
Năm 2010, Singapore sở hữu một hệ thống đường bộ dài tổng cộng 3.356
kilômét (2.085 mi), trong đó 161 kilômét (100 mi) đường cao tốc. Còn Việt
Nam, các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng
không đều theo hướng BắcNam. Hệ thống đường bgồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện
lộ... tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ tỉnh
lộ đều trải nhựa và bê tông hóa, thiểu số các tuyến đường huyện lộ đang còn là các

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61265515
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------------------- BÀI TẬP NHÓM 3 KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề tài: Vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển trong nền
kinh tế. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển theo các nội dung đầu tư tại Việt
Nam giai đoạn 2016 – 2020
Sinh viên thực hiện: Đinh Nhật Hà Ngô Ngọc Đức Phạm Minh Hoàng Nguyễn Trọng Nghĩa Đặng Ngọc Nhi Nguyễn Trần Trung Hiếu
Hà Nội, Tháng 10/2022 lOMoAR cPSD| 61265515
PHÂN CÔNG NỘI DUNG CÔNG VIỆC ST Họ và tên Nội dung công việc T
- Phân tích vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương 1 Đinh Nhật Hà
mại và đầu tư phát triển trong nền kinh tế
- Phân tích vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương 2 Ngô Ngọc Đức
mại và đầu tư phát triển trong nền kinh tế
- Phân tích thực trạng đầu tư vào các hoạt động Khoa 3 Phạm Minh Hoàng
học kỹ thuật và Văn hóa – Giáo dục xã hội tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020
- Phân tích thực trạng đầu tư vào các hoạt động Sản 4 Nguyễn Trọng Nghĩa
xuất kinh doanh, Cơ sở hạ tầng tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020
- So sánh thực trạng đầu tư phát triển với một số quốc 5 Đặng Ngọc Nhi gia trong khu vực
- Đánh giá, nhận xét và đưa ra một số khuyến nghị để Nguyễn Trần Trung Hiếu 6
nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Việt Nam - (Nhóm trưởng)
Viết Lời mở đầu/Kết luận lOMoAR cPSD| 61265515 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 4
I. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ THƯƠNG MAI VÀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ ................................................................................................. 5
1.Vai trò của đầu tư tài chính trong nền kinh tế .....................................................................5
2.Vai trò của đầu tư thương mại trong nền kinh tế ................................................................5
3.Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế ...................................................................5
II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH, CƠ SỞ HẠ TẦNG, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ VĂN HÓA – GIÁO DỤC XÃ
HỘI TẠI VIỆT NAM .................................................................................................................... 8

1.Thực trạng đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng ..............................8
2. Thực trạng đầu tư vào hoạt động Văn hóa – Giáo dục xã hội tại Việt Nam giai đoạn
2016 – 2020 ...............................................................................................................................11
3. Thực trạng đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2016 –
2020 ...........................................................................................................................................17
III. SO SÁNH ĐẦU TƯ CỦA VIÊT NAM VỚI C̣ ÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC ............ 20
1. Cơ sở hạ tầng ........................................................................................................................20
2. Giáo dục ................................................................................................................................24
3. Khoa học kĩ thuâṭ .................................................................................................................26
4.Hoạt đông ṣ ản xuất kinh doanh ..........................................................................................27
IV.NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI VIỆT NAM ............................................................ 30
1. Nhận xét ................................................................................................................................30
2. Đánh giá ................................................................................................................................30
3. Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại Việt
Nam ...........................................................................................................................................31
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 32 lOMoAR cPSD| 61265515 LỜI MỞ ĐẦU
Đối với một nền kinh tế, đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đầu tư không
chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất xã hội mà còn tạo ra "cú hích" cho sự
phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế thu hút được đầu tư từ các chủ thể trong
và ngoài nước sẽ khiến nền kinh tế ngày càng tăng trưởng. Bất kỳ hoạt động đầu tư
được thực hiện bởi các cá nhân tổ chức là chủ thể tư hay bởi Nhà nước thì lợi ích mà
hoạt động đầu tư đem lại không chỉ dừng lại ở những lợi ích đối với chính nhà đầu
tư, mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung. Đầu tư là hoạt động nhằm tạo ra tài sản
mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội
khác. Đầu tư cũng là hoạt động tạo ra việc làm cho người lao động, nâng cao đời
sống của người dân trong xã hội, phát triển sản xuất. Có thể nói, đầu tư là cốt lõi, là
động lực cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản
chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý
thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu đã phân biệt giữa đầu tư tài chính, đầu tư
thương mại và đầu tư phát triển, theo đó đầu tư phát triển thường được cho là đầu tư
cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ
tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, chúng ta
cùng đi sâu tìm hiểu đề tài: Vai trò của đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư
phát triển trong nền kinh tế. Phân tích thực trạng đầu tư phát triển theo các nội dung
đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 lOMoAR cPSD| 61265515
I. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ THƯƠNG MAI VÀ ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN TRONG NỀN KINH TẾ
1.Vai trò của đầu tư tài chính trong nền kinh tế
Là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
2.Vai trò của đầu tư thương mại trong nền kinh tế
Thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó
thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển
sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
3.Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế
Tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế, là nhân tố quan trọng tác
động đến sự ổn định của nền kinh tế. Tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
a. Trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát
triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi. Để tạo
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản xuất và cung
ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp
đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các
chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa
được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư.
Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao
mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất – kỹ
thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động
mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã
hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các thiết bị, tiến hành các công
tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một
chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. lOMoAR cPSD| 61265515
Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư. Đối với các đơn vị đang
hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng cần phải
tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất – kỹ thuật đã hư hỏng, hao
mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển
khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các
trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, đó cũng chính là hoạt động đầu tư.
b. Trên góc độ vĩ mô:
Đầu tư phát triển là một nhân tố vô cùng quan trọng tác đông trực tiếp đ ̣ ến
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Theo mô hình Harrod – Domar, mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuôc ̣
trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần.
g = dY/Y = (dY / dK ) * ( dK / Y ) dY = I / ICOR Trong đó: –
dY là mức gia tăng sản lượng –
dK là mức gia tăng vốn đầu tư –
I là mức đầu tư thuần –
K tổng quy mô vốn của nền kinh tế –
Y là tổng sản lượng của nền kinh tế –
ICOR là hê ṣ ố gia tăng vốn – sản lượng
Mối quan hê gị ữa đầu tư và tăng trưởng thể hiên ṛ ất rõ nét trong tiến trình
đổi mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua. Với chính sách đổi mới, các nguồn lOMoAR cPSD| 61265515
vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hóa và gia tăng về
quy mô, tốc đô tăng trự ởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng.
Cuộc sống con người cũng tăng lên từ giáo dục, vui chơi giải trí đến nghỉ ngơi. lOMoAR cPSD| 61265515
II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH, CƠ SỞ HẠ TẦNG, KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ
VĂN HÓA – GIÁO DỤC XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

1.Thực trạng đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng.
Đầu tư công luôn được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch Đầu tư công trung
hạn đã được thực hiện với tổng mức vốn gần 2 triệu tỷ đồng, nhưng đã góp phần huy
động vốn đầu tư xã hội đạt 9,2 triệu tỷ đồng. Điều này khẳng định tính chất “vốn
mồi”, dẫn dắt và lan tỏa của đồng vốn đầu tư công, đóng góp tích cực vào tăng trưởng
kinh tế ở mức cao của nước ta giai đoạn 5 năm qua
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2020 là năm kết thúc Kế hoạch đầu tư công
giai đoạn 5 năm 2016-2020, cũng là Kế hoạch đầu tư công trung hạn đầu tiên được
lập theo Luật Đầu tư công năm 2014, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch
Covid-19, đầu tư công đã có sự khác biệt rất lớn so với các năm trước, đó là từ nguồn
vốn “mồi” chuyển thành nguồn lực chính để thúc đẩy phục hồi kinh tế trong đại dịch Covid-19.
Điều đáng mừng là trong giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn đầu tư công được
tập trung bố trí cho các dự án hạ tầng chiến lược, thiết yếu, quan trọng, then chốt,
như: đường bộ, sân bay, bến cảng, các công trình thủy lợi đầu mối, điện, thông tin
liên lạc, kết cấu hạ tầng các khu đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, văn
hóa thể thao, các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm
nghèo bền vững. Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 cũng đã ưu tiên đầu
triển khai trong kỳ còn khoảng 11.100 dự án, giảm một nửa so với giai đoạn 2011-
2015; trong đó, dự án hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 là 7.354 dự án, bằng
66,2% tổng số dự án (số dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2011-2015 hoàn thành trong
giai đoạn 2016-2020 là 4.547 dự án, dự án khởi công mới hoàn thành ngay trong giai
đoạn 2016-2020 là 2.807 dự án), khởi công mới 4.208 dự án. Số dự án khởi công lOMoAR cPSD| 61265515
mới từng năm trong giai đoạn 2016-2020 giảm dần[1]. Số vốn bố trí bình quân cho
một dự án kế hoạch năm sau cao hơn năm trước, khắc phục tình trạng đầu tư dàn
trải, lãng phí, kém hiệu quả [1].
Hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng đã
từng bước được cải thiện. Hệ số ICOR giảm dần: ICOR giai đoạn 2016-2019[2] là
6,1 thấp hơn so với mức gần 6,3 của giai đoạn 2011-2015. Do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, GDP năm 2020 giảm mạnh so với kế hoạch dẫn đến hệ số ICOR năm
2020 là 18,07, tác động mạnh đến hệ số ICOR của cả giai đoạn 2016-2020 khoảng
8,5. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 9,2 triệu
tỷ đồng, bằng 33,7% GDP, đạt mục tiêu bình quân 5 năm (32%-34%) và cao hơn
giai đoạn tư cho miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lũ và các vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn; các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu.
Đặc biệt là hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, cơ bản khắc phục
được tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, manh mún; tỷ lệ dự án hoàn thành đạt khá
và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm, góp phần huy động một số
lượng lớn vốn đầu tư toàn xã hội; số dự án khởi công mới từng năm trong giai đoạn
2016-2020 giảm dần. Cụ thể, giai đoạn 2016-2020, số dự án sử dụng vốn NSTW 2011-2015 (31,7% GDP) [1].
Tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm dần, từ mức bình
quân 39,11% trong giai đoạn 2011-2015 xuống mức bình quân 34% [1]. Cơ cấu huy
động vốn đầu tư chuyển dịch tích cực, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà
nước bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật. lOMoAR cPSD| 61265515
MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ
Mặc dù kết quả đạt được cơ bản là tích cực, đã từng bước cơ cấu lại đầu tư
công theo đúng chủ trương của Đảng, Quốc hội, nhưng chất lượng đầu tư công giai
đoạn 2016-2020 vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện qua những nội dung sau:
Một là, nhiều dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm chậm tiến độ chưa
đạt kết quả Quốc hội đề ra, điển hình là Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường
bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020 cần phải được cơ
bản hoàn thành năm 2021, nhưng một số dự án thành phần của Dự án này đến nay
vẫn chưa xong công tác đấu thầu. Một số công trình phải điều chỉnh tổng mức đầu
tư (TMĐT) lớn, ảnh hưởng đến việc cân đối vốn, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Dự
án Bến Thành – Suối Tiên tăng TMĐT từ 17.388 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng; Dự án
Bến Thành – Tham Lương tăng TMĐT từ 26.116 tỷ đồng lên 48.771 tỷ đồng...). Việc
huy động nguồn vốn ngoài nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều dự án hợp tác
công tư (PPP) không thực hiện được, phải chuyển sang đầu tư công, như: Dự án
tuyến đường ven biển từ Quảng Ninh đến Nghệ An và một số dự án thành phần của
Dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía
Đông. Tình trạng này đã làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước (NSNN) giai
đoạn 2016-2020 và giai đoạn 2021-2025.
Hai là, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công các năm đầu kỳ kế hoạch chậm, vẫn
còn tình trạng phải điều chuyển vốn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nhất là vốn nước
ngoài. Thậm chí, còn khá nhiều dự án được giao kế hoạch vốn đầu tư từ NSNN năm
2017, 2018 nhưng đến nay, vì nhiều lý do khách quan, chủ quan vẫn chưa giải ngân
hết số vốn được giao, làm giảm hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn đầu tư từ NSNN. lOMoAR cPSD| 61265515
Ba là, việc cân đối NSTW cho đầu tư không đạt mục tiêu đề ra, ảnh hưởng
đến vai trò chủ đạo của nguồn vốn NSTW cho đầu tư phát triển; cơ cấu đầu tư ngành,
lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Tỷ trọng
chi đầu tư phát triển giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 28% tổng chi NSNN, trong khi
mục tiêu đề ra của Quốc hội chỉ là 25%-26%. Tổng nguồn NSNN bố trí cho chi đầu
tư phát triển đạt khoảng 2.200 nghìn tỷ đồng, vượt khoảng 200 nghìn tỷ đồng so với
kế hoạch đầu tư vốn NSNN Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 26/2016/QH14,
ngày 10/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-
2020. Tuy nhiên về cơ cấu NSNN, vốn đầu tư nguồn NSTW đạt 977,6 nghìn tỷ đồng,
giảm 142,4 nghìn tỷ đồng so với kế hoạch Quốc hội quyết định.
2. Thực trạng đầu tư vào hoạt động Văn hóa – Giáo dục xã hội tại Việt
Nam giai đoạn 2016 – 2020 -
Giáo dục và đào tạo đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng, là
độnglực thúc đẩy tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng trong xã
hội… Chính vì vậy đầu tư phát triển văn hóa – giáo dục đóng vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển của đất nước. Nguồn tài chính cơ bản dành cho giáo dục- đào tạo nước ta gồm: -
Ngân sách Nhà nước (NSNN). -
Các nguồn vốn ngoài NSNN: thu từ học phí, phí, đóng góp xây dựng
nhàtrường và các đóng góp khác, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động
sản xuất, làm dịch vụ, các khoản đóng góp tự nguyện từ các tổ chức kinh tế, xã hội
và các nhà hảo tâm, nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức và các nhân cho giáo dục- đào tạo....
2.1. Nguồn vốn ngân sách nhà nước -
Ta có thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu tư phát
triểncho hoạt động Văn hóa – giáo dục thể hiện ở dưới đây: lOMoAR cPSD| 61265515 Đơn vị: Tỷ đồng, % 2016 2017 2018 2019 2020
Tổng chi ngân sách nhà nước
1360465 1461873 1616414 1633300 1787950
Chi văn hóa – giáo dục xã hội 195635 217057 230974 244835 257953 Cơ cấu chi 14,38% 14,84% 14,29% 15,00% 14,42% -
Những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm lớn cho
sựnghiệp giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các chính sách đầu tư. Cùng với sự tăng
trưởng không ngừng của kinh tế xã hội, đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách nhà
nước năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể, trong vòng 5 năm của giai đoạn 2016-
2020, ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho giáo dục đã tăng trên 32,2%. -
Nếu năm 2016, ngân sách nhà nước được phân bổ chi cho giáo dục đào
tạovà dạy nghề là 195,6 nghìn tỷ đồng (trong đó 34,6 nghìn tỷ lấy từ nguồn ngân
sách Trung ương và 161 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương), chiếm 14,38%
tổng chi ngân sách nhà nước. Thì đến năm 2020, tổng vốn NSNN chi cho giáo dục
đào tạo và dạy nghề lên đến 258,7 nghìn tỷ đồng (trong đó 30,2 nghìn tỷ lấy từ nguồn
ngân sách Trung ương và 228,5 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương), chiếm
14,42% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng 1,32 lần so với năm 2016. -
Ngoài ra, dữ liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho thấy, giai
đoạn2016-2020, có 33 dự án đầu tư công được khởi công và hoàn thành, nhiều hơn
9 dự án so với con số 24 dự án đầu tư công giai đoạn 2011-2015. Điều đó cho thấy
sự chú trọng, quan tâm của Nhà nước đến công cuộc phát triển giáo dục và đào tạo lOMoAR cPSD| 61265515
tại Việt Nam không chỉ là chủ trương, chính sách mà đã được hiện thực bằng hành
động cụ thể với mức độ đầu tư tăng đều qua các năm. -
Cùng với việc tăng NSNN, việc phân cấp quản lý Ngân sách giáo dục
cũngđang được cải tiến từng bước. Các biện pháp nhằm cải tiến cơ chế phân bổ và
điều hành ngân sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách giáo dục – đào tạo
cũng đang được xúc tiến. NSNN được tập trung chủ yếu cho các bậc giáo dục phổ
cập với mục đích đầu tư cải tạo, nâng cấp và mở rộng các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Thực hiện từng bước kiên cố hoá các trường học, quan tâm nhiều hơn cho các vùng
khó khăn và thường xuyên xảy ra thiên tai, trong đó chú trọng đến đảm bảo đủ
trường, lớp học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến các trường phổ thông trung học cho vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện đại hoá một số trường
dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội....
Tập trung đầu tư cho một số trường đại học trọng điểm, ưu tiên kinh phí cho việc
đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật ở nước ngoài. Dành kinh phí để đào tạo cán bộ
trình độ cao cho công nghệ thông tin, đào tạo nhân tài, cán bộ cho những ngành kinh
tế mũi nhọn, cho đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, NSNN cũng dành để đầu
tư đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, chất lượng giáo dục, cung cấp đủ đồ
dùng học tập và giảng dạy cho các trường tiểu học và trung học cơ sở, phát triển các
cơ sở đào tạo giáo viên, đảm bảo cả về số lượng cũng như chất lượng giáo viên dạy
học cho các trường phổ thông. Để cụ thể hơn về cơ cấu chi của NSNN cho hoạt động
giáo dục – đào tạo qua các năm ta có thể xem xét bảng dưới đây: 2016 2017 2018 2019 2020
15.337 19.898 22.777 32.819 41.547
1. Tổng chi NSNN cho GD - ĐT lOMoAR cPSD| 61265515 1.1. Chi thường xuyên 70,5 71,0 81,7 79,0 78,0
- Tỷ trọng so với tổng NSNN 1.2. Chi đầu tư 29,5 29 18,3 21 22
- Tỷ trọng so với tổng NSNN
(Nguồn: Ngân sách Nhà nước) -
Nhìn vào bảng cơ cấu vốn cho đầu tư phát triển GD – ĐT ta thấy,
Ngânsách chi cho hoạt động giáo dục – đào tạo ta thấy chi thường xuyên chiếm từ
7080% Ngân sách, chi đầu tư chiếm từ 20-30% Ngân sách. Chi thường xuyên ở đây
gồm 4 nhóm: Nhóm 1: chi cho con người gồm chi lương và phụ cấp lương cho giáo
viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên phục vụ; Nhóm 2: chi cho công tác hành
chính quản lý; Nhóm 3: chi phí phục vụ giảng dạy học tập; Nhóm 4: Chi mua sắm
sửa chữa nhỏ. Đứng trên góc độ tổng thể thì đây là một con số tương đối hợp lý. Tuy
vậy, qua công tác giám sát cho thấy, hiện nay tỷ lệ này ở nhiều địa phương thường
chi lương chiếm từ 85-95%; chỉ còn khoảng 5-10% chi công tác quản lý hành chính
và các hoạt động giáo dục. Như vậy, tỷ lệ chi cho công tác dạy và học là rất nhỏ bé.
Qua đó cho thấy chi Ngân sách Nhà nước cũng cần có những điều chỉnh cơ cấu và
mức tăng hợp lý để phù hợp với tốc độ phát triển giáo dục.
2.2. Nguồn vốn ngoài NSNN.
Có thể nói nguồn vốn ngoài NSNN có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự
phát triển của ngành giáo dục – đào tạo, chính vì vậy việc huy động cao hơn nữa các
nguồn tài chính ngoài NSNN đầu tư cho giáo dục gồm: học phí, phí, đóng góp xây
dựng trường và các đóng góp khác, các khoản thu từ nghiên cứu khoa học, lao động
sản xuất, làm dịch vụ, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, xã hội,
các nhà hảo tâm, đầu tư của các doanh nghiệp cho giáo dục – đào tạo. lOMoAR cPSD| 61265515
Nguồn vốn ngoài NSNN có thể được chia thành:
a) Nguồn vốn trong nước:
- Gồm các khoản đóng góp của gia đình và học sinh cho việc học tập. Theo
các kết quả nghiên cứu về chi phí của cha mẹ học sinh ở các cấp bậc học cho thấy
phần đóng góp của dân tính trên đầu một học sinh so với tổng chi phí chiếm 44,5%
ở bậc tiểu học; 48,7% ở cấp trung học cơ sở; 51,5% ở cấp trung học phổ thông;
62,1% ở dạy nghề; 32,2% ở trung học chuyên nghiệp và 30,7% ở bậc đại học và cao
đẳng. Bên cạnh đó các khoản thu khác cũng chiếm một vai trò khá quan trọng và
đang tăng dần tỷ trọng, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp hiện nay có nhu cầu rất cao về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao. Chính vì vậy, doanh nghiệp hiện nay không những đóng vai trò là
khách hàng của ngành giáo dục mà còn trực tiếp tham gia vào công cuộc giáo dục.
Điển hình là một số doanh nghiệp tự mở trường đào tạo nghề, hay hình thức liên kết
giữa nhà trường và doanh nghiệp để đào tạo nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp.
b) Nguồn vốn nước ngoài
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì việc huy động nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước nói chung và phát triển ngành giáo dục – đào tạo nói
riêng là hết sức cần thiết. Ta có thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu
tư phát triển cho hoạt động Văn hóa – giáo dục thể hiện ở dưới đây: 2016 2017 2018 2019 2020 lOMoAR cPSD| 61265515 Tổng số vốn 48,4 62,2 31,3 25,0 19,4 nước ngoài vào lĩnh vực văn hóa – giáo dục, xã hội (triệu đô) Tổng số dự án 72 69 73 72 54 đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa – xã hội
- Những số liệu trên cho thấy được sự lạc quan và tín nhiệm của các nhà đầu
tư nước ngoài vào nền giáo dục Việt Nam với những dự án có quy mô lớn. Cụ thể,
trong năm 2018 và 2019 có 73 và 72 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký
lần lượt là 31,3 và 25 triệu đô. Nhờ đó, trong 2 năm 2018 và 2019, đầu tư nước ngoài
cho giáo dục đào tạo đã tăng vọt từ vị trí thứ 12 đã lên vị trí thứ 9 về vốn đăng ký
trong số các ngành nhận đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đa số các dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào giáo dục đào tạo tại Việt Nam có xu hướng nhắm vào mô hình
chuỗi, trường liên cấp, trường song ngữ theo tiêu chuẩn quốc tế đi từ mầm non với
khả năng có thể mở rộng trong tương lai, trung tâm giáo dục kiểu mới (toán tư duy,
kỹ năng…), hệ thống trung tâm ngoại ngữ…, giúp tăng tỷ lệ học sinh Việt Nam được
học chương trình giáo dục của nước ngoài từ không vượt quá 10% với cấp tiểu học
và trung học cơ sở, 20% với cấp trung học phổ thông đến không vượt quá 50% đối lOMoAR cPSD| 61265515
với cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục bắt buộc. Riêng khối trung tâm ngoại
ngữ, tin học tính đến cuối năm học 2018-2019 đã đạt trên 3,9 nghìn trung tâm, tăng
trên 1,1 nghìn trung tâm so với năm học trước, đặc biệt là các trung tâm ngoài công
lập, trung tâm có vốn đầu tư nước ngoài đã đáp ứng được gần 2 triệu lượt người học.
Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng góp
phần giúp đa dạng hóa về phương pháp và nội dung giảng dạy, bắt nhịp với xu hướng
chung của nền giáo dục quốc tế.
3. Thực trạng đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ tại Việt Nam
giai đoạn 2016 – 2020. -
Nhà nước luôn coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
độnglực phát triển kinh tế - xã hội, nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Chính vì vậy
đầu tư cho khoa học – công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của đất nước. Hiện nay, hoạt động khoa học và công nghệ phần lớn được đầu
tư từ ngân sách nhà nước. Điều này đã được cụ thể hóa rõ nét ở Nghị định số
95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài
chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ -
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước, môi trường chính
sách và phápluật điều chỉnh hoạt động khoa học và công nghệ trong những năm qua
liên tục được cải tổ và đổi mới mạnh mẽ. Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 ra
đời, thay thế cho Luật Khoa học và công nghệ năm 2000. -
Ta có thể thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc đầu tư phát triển
cho hoạtđộng khoa học – công nghệ thể hiện ở dưới đây: 2016 2017 2018 2019 2020 lOMoAR cPSD| 61265515 1.Tổng chi ngân sách nhà
1360465 1461873 161641 1633300 1787950 nước 4 Chi khoa học – xã hội 25290 27224 29899 33668 35789 Cơ cấu chi 1,85% 1,86% 1,85% 2,06% 2,00% -
Bình quân hàng năm, đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa
họcvà công nghệ với mức kinh phí vào khoảng 1,85 – 2,1% tổng chi ngân sách nhà nước. -
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ từ năm 2015
đếnnăm 2020 đều có xu hướng tăng: Năm 2016 là 25290 tỷ đồng, đến năm 2020 đạt
35789 tỷ đồng, qua đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt
động khoa học và công nghệ. -
Nhìn chung, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công
nghệđóng vai trò hết sức quan trọng, và trong tổng đầu tư cho khoa học và công
nghệ chủ yếu đầu tư tập trung vào: Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng
dụng kỹ thuật, các nhiệm vụ Nhà nước 50%; Con người chiếm 25%; Đầu tư để hỗ
trợ đề tài cấp Bộ, ngành 15%; Đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất chiếm 15%. Và
đầu tư từ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ được phân cấp:
Ngân sách trung ương thường chiếm tỷ trọng từ 70-75% và ngân sách địa phương
chiếm tỷ trọng 25- 30% (theo báo cáo của Bộ Khoa học và công nghệ). -
Hiệu quả và hạn chế của đầu tư vào khoa học công nghệ trong giai đoạn2016 – 2020: lOMoAR cPSD| 61265515
+ Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ đã đạt được những kết quả sau: a)
Luôn là nguồn đầu tư chủ yếu, cơ bản cho hoạt động nghiên cứu khoa
học; góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển đào tạo nguồn nhân lực,
chuyển giao công nghệ (bình quân hàng năm chi ngân sách nhà nước cho hoạt động
khoa học công nghệ chiếm khoảng 1,9% tổng chi của ngân sách nhà nước, tương
đương 0,6 GDP và tăng bình quân mỗi năm là 19%). b)
Đã có sự thay đổi về cơ cấu, phân cấp để phù hợp với nhu cầu
nguồn lựcđầu tư hiện tại, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học và công
nghệ phát triển bền vững. c)
cơ sở pháp lý về đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học và
công nghệngày càng hoàn thiện hơn, chi tiết và cụ thể hóa rõ nét hơn. Cụ thể,
gồm 38 văn bản cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Nghị định, Quyết
định), 88 văn bản cấp Bộ (Thông tư, Thông tư liên tịch).
+ Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ thời gian qua
đã có được những kết quả nhất định, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể: a)
Hàng năm, mặc dù đầu tư ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ
đã có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển, đẩy mạnh các hoạt
động nghiên cứu, đổi mới khoa học công nghệ như hiện nay. So với các nước, nguồn
lực tài chính từ ngân sách nhà nước để đầu tư cho khoa học và công nghệ ở lOMoAR cPSD| 61265515
Việt Nam còn hạn chế, ở Việt Nam ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học và công
nghệ chỉ chiếm 0,6% GDP, còn châu Âu là 2,01%, Nhật Bản là 3,47%, Mỹ là 2,81%... b)
Việc phân bổ ngân sách nhà nước để phát triển khoa học và công
nghệ còn phân tán, dàn trải, thiếu tập trung, thiếu mục tiêu ưu tiên, chưa đảm
bảo theo những tiêu chí rõ ràng, thiếu cơ chế minh bạch (Chủ yếu tập trung
chi cho bộ máy; Chi cho đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ còn ở mức thấp khoảng
1.000USD/người/năm, trong khi mức chi trung bình ở các nước phát triển là
55.000USD/người/năm; Chi lương cho cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ
cũng còn thấp)… do đó dẫn đến hiệu quả đầu tư còn thấp. c)
Hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước cho
khoa họcvà công nghệ còn thấp. Bởi hiện nay chưa xây dựng được một cơ chế
thực sự phù hợp, từ đó để gắn kết phân bổ ngân sách nhà nước cho các tổ chức
khoa học và công nghệ với các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể về các sản phẩm
khoa học và công nghệ mà các đơn vị nghiên cứu cần thực hiện.
III. SO SÁNH ĐẦU TƯ CỦA VIÊT NAM VỚI C̣ ÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC
1. Cơ sở hạ tầng a. Giao thông
Năm 2010, Singapore sở hữu một hệ thống đường bộ dài tổng cộng 3.356
kilômét (2.085 mi), trong đó có 161 kilômét (100 mi) đường cao tốc. Còn ở Việt
Nam, các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng
không đều theo hướng BắcNam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện
lộ... có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh
lộ đều trải nhựa và bê tông hóa, thiểu số các tuyến đường huyện lộ đang còn là các