NỘI DUNG CẦN CHÚ TRỌNG KHI THUYẾT TRÌNH
1.Cơ sở lý luận về đầu tư tư bản ra nước ngoài
1.1.Khái niệm và hình thức của đầu tư tư bản ra nước ngoài
a.Khái niệm:
- bản: bản tài sản được sử dụng để sản xuất phân phối hàng hóa, dịch
vụ, gồm tư bản vật chất và tư bản phi vật chất
- Đầu tư tư bản ra nước ngoài (xuất khẩu tư bản) là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài
nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng các nguồn lợi nhuận khác các
nước
nhập khẩu tư bản.
Hay, là một hình thức đầu tư quốc tế khi một chủ thể đem vốn đầu tư vào một
lĩnh vực tại một hay nhiều quốc gia, chủ thể đó có quyền quản lý, điều hành doanh
nghiệp họ bỏ vốn tại quốc gia nhận đầu sau một khoảng thời gian nhất
định, lợi nhuận thu được sẽ quay trở lại nước đầu tư.
- Mục đích: Tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhất trở thành phổ biến, gắn liền với sự tồn
tại của các tổ chức độc quyền.
b.Hình thức đầu tư tư bản ra nước ngoài
Đầu tư tư bản có thể thực hiện dưới các hình thức:
- Đầu tư trực tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới
hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành 1
chi nhánh của công ty mẹ ở chính quốc.
dụ: Công ty (Hàn Quốc) đầu xây dựng nhà máy sản xuất điện tửSamsung
tại các khu công nghiệp Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng (Việt Nam); Toyota
(Nhật Bản) đầu tư xây dựng nhà máy lắp ráp và sản xuất ô tô tại khu công nghiệp
Phúc Yên, Vĩnh Phúc,…
- Đầu tư gián tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản cho vay thu lợi tức.
Ví dụ: đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp của các công ty lớn ở châuBlackRock
Á như Tencent (Trung Quốc) hoặc Samsung Electronics (Hàn Quốc); nhà đầu
Việt Nam mua trái phiếu chính phủ Mỹ (Treasury Bonds) thông qua các nền tảng
giao dịch quốc tế…
1.2.Động lực thúc đẩy đầu tư tư bản ra nước ngoài của Việt Nam
- Chính sách mở cửa và khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của chính phủ
Nghị định số 22/1999/NĐ-CP được ban hành đã lãnh đạo hành lang pháp lý cho
các doanh nghiệp triển trai dự án OFDI. Chính phủ và các tổ chức tài chính hỗ trợ
vốn, tiền tệ, xuất nhập khẩu và quá trình ngoại hối, khuyến khích đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài thông qua các chính sách ưu đã về thuế như giảm thế, miễn thuê, hoặc
gia hạn thời gian nộp thuế phù hợp,… Cung cấp thông tin về thị trường quốc tế,
các đối tác tiềm năng cũng như các cơ hội đầu tư tại nước ngoài cho các doanh
nghiệp
Ví dụ: ( thêm ví dụ phần này)
- Nhu cầu mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư mới
Các doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng quy mô hoạt động và tiếp cận các thị
trường mới, đa dạng hóa khách hang để tăng doanh thu và lợi nhuận
Ví dụ:
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư và tang cường cạnh tranh quốc tế
Đầu tư tư bản ra nước ngoài, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa nguồn doanh thu và
giảm thiểu rủi ro từ những biến động kinh tế, chính trị và xã hội trong nước, nâng
cao khả năng tiếp cận thị trường và nhiều ngành nghề mới, linh hoạt điều chỉnh
chiến lược đầu tư, giảm phụ thuộc vào nguồn lực trong nước.
Khi đầu tư tư bản ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mặt với sự
cạnh tranh từ các công ty quốc tế, bắt buộc họ phải năng cao chất lượng sản phẩm
và dịch vụ, không ngừng học hỏi, phát triển đổi mới để nâng cao năng lực cạnh
tranh. Nhờ đó mà thúc đẩy doanh nghiệp tiếp cận với các công nghệ, kỹ thuật và
quy trình sản xuất tiên tiến, cải thiện chất lượng sản phẩm, phát trienr thuiongw
hiệu và mở rộng quy mô mạng lưới quan hệ quốc tế.
Ví dụ:
2. Thực trạng đầu tư tư bản ra nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
2.1.Tổng quan:
Theo Cục Ðầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư), sau hơn 30 năm hội nhập
và phát triển, đến nay, Việt Nam không chỉ là một quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng
đầu trong khu vực mà còn vươn lên, trở thành quốc gia có nhiều doanh nghiê |p
(DN), dự án đầu tư ra nước ngoài. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
ngày càng đa dạng, thể hiện rõ nét qua thị trường, ngành nghề đầu tư, quy mô, hình
thức đầu tư, các loại hình kinh tế và DN tham gia đầu tư.
-Ngày 14/4/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/1999/NĐ-CP quy định về
đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, hoạt động đầu tư ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, phạm vi đầu tư
được mở rộng. Riêng trong năm 1999, Việt Nam đã có 10 dự án đầu tư ra nước
ngoài với tổng vốn 12,337 triệu USD.
-Tính từ năm 1999 đến tháng 5/2023, Việt Nam đã có 1.648 dự án đầu tư ra nước
ngoài còn hiệu lực với số vốn gần 22,1 tỷ USD. Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu
tư vào gần 20 ngành nghề và đầu tư ở hơn 25 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Hình 1: Cơ cấu các ngành đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam 2024.
-Trong năm 2024, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 164 dự án mới
và 26 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt
gần 664,8 triệu USD (tăng 57,7% so với năm 2023).
Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn
đầu tư tập trung nhiều nhất vào các ngành hoạt động chuyên môn, khoa học công
nghệ (chiếm 30,2% vốn, trong khi năm 2023 không có dự án nào thuộc ngành
này); công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 21% vốn, gấp 8,7 lần cùng kỳ); sản
xuất phân phối điện (chiếm 14,2%, tăng 12,1% so với năm 2023). Còn lại là các
ngành khác. Lũy kế đến hết năm 2024, Việt Nam đã có 1.825 dự án đầu tư ra nước
ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư Việt Nam hơn 22,59 tỷ USD tập trung
nhiều nhất vào các ngành khai khoáng với hơn 7 tỷ USD; nông, lâm nghiệp, thủy
sản gần 3,4 tỷ USD và thông tin truyền thông là hơn 2,84 tỷ USD.1
=> Th/ng kê cho th0y, Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài trên các lĩnh vực thế
mạnh của Việt Nam là nông nghiệp, lâm nghiệp và cũng đã chú trọng đến
cách ngành nghề mới để bắt kịp xu thế hội nhập qu/c tế.
Hình 2: Cơ cấu các
nước Việt Nam đầu tư
2024.
1 Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2024
-Có 31 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong năm 2024
( Các thị trường chính và Việt Nam đầu tư tư bản: Châu Á, Châu Phi. Các nước thu
hút đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (chiếm 28,8% vốn, tăng 62,2%
so với năm 2023); In-đô-nê-xi-a (chiếm 20,7% vốn, gấp 227 lần năm 2023); Ấn Độ
(chiếm 13,5% vốn, gấp 59,7 lần cùng kỳ)… Tính đến năm 2024, các địa bàn nhận
đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (gần 5,7 tỷ USD, chiếm 25,1%
vốn); Cam-pu-chia (gần 2,94 tỷ USD, chiếm 13% vốn); Vê-nê-xuê-la (gần 1,83 tỷ
USD, chiếm 8,1% vốn).
Ví dụ:
- Không bó hẹp khu vực châu Á, nhà đầu tư Việt Nam còn mở rô |ng địa bàn sang
Mỹ, Canada, và châu Âu nói chung… Để đón đầu cho dòng vốn đầu tư này, hàng
loạt ngân hàng Việt Nam đã “theo chân” DN Việt ra nước ngoài như: BIDV,
VietinBank, Sacombank, MB, SHB… Trong quá trình đầu tư đó, các DN Việt
Nam gặp nhiều thuận lợi về sự gần gũi giữa các quốc gia, quan hệ ngoại giao hữu
nghị tốt đẹp, được sự ủng hộ của chính quyền nước sở tại… nên hoạt động đầu tư
đã mang lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế -
xã hội.
-ví dụ:
2.2. Phân tích trường hợp một số doanh nghiệp đầu tư tiêu biểu ra nước ngoài
1. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam)
Lộ trình đầu tư ra nước ngoài
Thời gian: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) bắt đầu có các hoạt
động đầu tư quốc tế từ những năm 1990, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực
khai thác dầu khí, đầu tư vào các dự án năng lượng ở nước ngoài.
Các qu/c gia đầu tư: Petrovietnam chủ yếu đầu tư tại các quốc gia có trữ
lượng dầu khí lớn, chẳng hạn như Venezuela, Malaysia, Lào, Cuba, và các
quốc gia Trung Đông.
V/n đầu tư:
V/n đầu tư ban đầu: Khoảng 1-2 tỷ USD cho các dự án đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, tổng số vốn đầu tư của Petrovietnam vào các dự án dầu khí ra
nước ngoài có thể đạt đến hàng tỷ USD tùy theo từng giai đoạn và từng dự
án cụ thể.
Thành tựu đạt được:
Petrovietnam đã thành công trong việc phát triển các dự án khai thác dầu khí
tại nhiều quốc gia, đặc biệt là tại Venezuela và Malaysia. Dự án Cảng Dung
Qu0t (tại Việt Nam) cũng là một ví dụ điển hình của sự phát triển trong
ngành năng lượng của tập đoàn.
Tăng trưởng sản lượng dầu: Dự án dầu khí ngoài khơi tại Venezuela là
một trong những dự án thành công nhất, giúp Việt Nam đảm bảo an ninh
năng lượng quốc gia và có lợi nhuận đáng kể từ việc xuất khẩu dầu.
3.Tập đoàn Vingroup
Lộ trình đầu tư ra nước ngoài:
Thời gian và chiến lược mở rộng:
Vingroup đã bắt đầu mở rộng các hoạt động quốc tế từ những năm gần đây,
đặc biệt là từ năm 2017, khi công ty VinFast được thành lập. Mặc dù
Vingroup chủ yếu phát triển tại Việt Nam, nhưng chiến lược quốc tế của họ
đã rõ ràng hơn trong những năm gần đây, đặc biệt trong các lĩnh vực công
nghệ và ô tô điện.
Các qu/c gia đầu tư:
oMỹ và Châu Âu (Đức): VinFast đã xuất khẩu xe điện đầu tiên của
mình vào năm 2021 tại triển lãm ô tô quốc tế tại Mỹ.
oĐông Nam Á: VinFast đã xuất khẩu ô tô sang các quốc gia trong khu
vực như Indonesia, Thái Lan.
oCác kế hoạch mở rộng: Vingroup có kế hoạch mở nhà máy sản xuất
ô tô tại Mỹ và Đức, với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường xe điện tại các
quốc gia phát triển.
V/n đầu tư:
V/n đầu tư ban đầu:
Vingroup đã đầu tư khoảng vào việc nghiên cứu, phát triển và sản 3 tỷ USD
xuất ô tô điện thông qua VinFast.
oVinFast: Tính đến năm 2022, VinFast đã đầu tư gần vào 2,5 tỷ USD
các cơ sở sản xuất ô tô điện và các cơ sở nghiên cứu.
oMở rộng toàn cầu: VinFast cũng đã lên kế hoạch đầu tư vào các thị
trường quốc tế, với khoản đầu tư ước tính vào các nhà hơn 1 tỷ USD
máy tại Mỹ và Châu Âu trong tương lai.
V/n đầu tư vào thị trường qu/c tế:
oVingroup đã công bố kế hoạch đầu tư vào các thị trường quốc tế lên
đến trong các lĩnh vực công nghệ, ô tô và bán lẻ.hàng tỷ USD
oTrong năm 2021, tổng số tiền đầu tư cho VinFast tại thị trường quốc
tế (bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu, phát triển, và sản xuất) đã
lên đến .1,5 tỷ USD
Thành tựu đạt được:
VinFast tại Mỹ và Châu Âu:
oVinFast đã xu0t khẩu các dòng xe điện đầu tiên sang Mỹ và Châu
Âu vào năm 2021. Tại triển lãm ô tô quốc tế ở Los Angeles (Mỹ) và
Frankfurt (Đức), VinFast đã giới thiệu các mẫu xe điện như VinFast
VF e34, VF e35 và VF e36.
oMục tiêu xuất khẩu xe điện sang vào năm 2025 và mở 30 qu/c gia 4
nhà máy ô tô tại Mỹ và Châu Âu vào năm 2026.
oVinFast đặt mục tiêu sản xuất hơn mỗi năm vào năm 500.000 xe
2025.
VinSmart và lĩnh vực công nghệ:
oVinSmart đã xuất khẩu hơn trong 1 triệu điện thoại thông minh
năm 2020 và đã mở rộng sang các thị trường quốc tế như Ấn Độ, Mỹ
và Đông Nam Á.
oVinSmart cũng đang mở rộng sang sản xuất các thiết bị điện tử tiêu
dùng khác, như TV thông minh, với các mẫu TV 4K, và thiết bị điện
tử thông minh.
oVingroup đã đầu tư hơn vào nghiên cứu và phát triển 200 triệu USD
công nghệ tại VinSmart.
Vingroup trở thành "tập đoàn toàn cầu":
oVingroup hiện đã trở thành một trong những tập đoàn lớn nhất Việt
Nam, với tổng tài sản ước tính vào năm 2021.hơn 40 tỷ USD
oVingroup đã gia nhập với tổng giá trị vốn hóa đạt Chỉ s/ VN-Index
hơn vào năm 2021.14 tỷ USD
oThương hiệu hiện đã trở thành một trong những tên tuổi đángVinFast
chú ý trong ngành ô tô điện toàn cầu, với kế hoạch IPO (phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng) tại vào năm 2022.Mỹ
Tập đoàn Vingroup đã có những bước đi mạnh mẽ và ấn tượng trong việc mở
rộng hoạt động ra quốc tế. Với các khoản đầu tư lên đến hàng tỷ USD trong các
lĩnh vực công nghệ và ô tô, Vingroup đang khẳng định vị thế của mình trên thị
trường quốc tế. đặc biệt đáng chú ý khi trở thành thương hiệu ô tô điệnVinFast
đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu thành công sang các thị trường Mỹ và Châu
Âu, và với kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất, Vingroup đang trên con đường
trở thành một tập đoàn toàn cầu.
3. Những khó khăn thách thức trong quá trình đầu bản ra nước ngoài của
Việt Nam
3.1. Rủi ro về chính trị và pháp lý
- Về chính trị: Các thay đổi về chính trị quốc gia tiếp nhận đầu thể tạo ra
những biến động không lường trước được, như tình trạng bất ổn chính trị, các cuộc
cách mạng, hoặc xung đột vũ trang. Những yếu tố này có thể tác động tiêu cực đến
hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài
- Về pháp lý: Khác biệt về hệ thống pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác
thể dẫn đến những vấn đề về tuân thủ quy định, tranh chấp hợp đồng, hoặc các
vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư
Ví dụ: Ông Vũ Văn Chung, Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch +
Đầu tư, cho rằng hiện vẫn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức tới
việc nghiên cứu, tìm hiểu chế, chính sách pháp luật của thị trường quốc tế nên
dễ gặp phải rủi ro pháp lý.
Đơn cử như khi đầu sang những địa bàn điều kiện khó khăn, nền tảng
pháp chưa tốt, nếu không tìm hiểu kỹ, khi tranh chấp xảy ra, kiện ra tòa cũng
không giải quyết được người bị kiện không khả năng đáp ứng yêu cầu, thậm
chí không có cơ chế để buộc họ phải tuân thủ phán quyết.
Dẫn chứng những vụ việc tranh chấp trong thời gian vừa qua, ông Vũ Ánh Dương,
Tổng thư ký VIAC, cho biết chỉ trong giai đoạn 1993-2023, VIAC tiếp nhận 2.940
vụ tranh chấp với tổng giá trị hơn 2,7 tỉ USD (tương đương hơn 63.000 tỉ đồng).
Trong số đó, hơn 46% tranh chấp trong nước, còn lại tranh chấp ít nhất một
bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoặc một bên là doanh nghiệp
nước ngoài.
Nguồn: https://www.viac.vn/thong-ke
+ Tranh chấp pháp lý của Sanum Investment tại Lào: Sanum Investment Limited,
một công ty có vốn đầu tư từ Việt Nam, đã đầu tư hơn 85 triệu USD vào Lào. Tuy
nhiên, công ty này đã gặp phải các tranh chấp pháp lý với chính phủ Lào, dẫn đến
nguy cơ mất quyền kiểm soát các tài sản và dự án trị giá hàng trăm triệu USD. Cụ
thể, Sanum bị thu hồi một số giấy phép hoạt động và bị áp mức thuế và tiền phạt
lên đến hơn 23 triệu USD. (ví dụ này Dương Hạnh đóng góp nhưng mà t khum tìm
được hình ảnh hay thông tin gì í)
3.2. Hạn chế về tài chính và quản trị doanh nghiệp: Tiềm lực và kinh nghiệm của
đa số các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn
hạn chế như năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, năng lực quản lý, kỹ thuật
công nghệ còn yếu, hạn chế đồng thời chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động đầu tư
kinh doanh trên thương trường quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam khi
hoạt động kinh doanh ở nước ngoài còn mang tính riêng lẻ, chưa có sự liên kết
nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển, thậm chí có trường hợp cạnh không
lành mạnh.
-> Nguyên nhân: Các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn do bất đồng ngôn
ngữ, chưa có sự tìm hiểu kỹ về môi trường đầu tư, văn hóa, phong tục tập quán
cũng như pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư
Ví dụ: Nhấn mạnh về thay đổi tư duy và nhận thức, TS. Phan Hữu Thắng và đại sứ
Chu Công Phùng - Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Myanmar cho rằng, nhận
thức về OFDI còn hạn chế do bản thân Việt Nam vẫn một quốc gia đang phát
triển nên có phần cẩn trọng, e ngại trong việc tích cực đầu tư nguồn vốn quá lớn ra
nước ngoài.
Nguồn: https://tapchinganhang.gov.vn/dau-tu-truc-tiep-ra-nuoc-ngoai-va-can-can-
thu-nhap-nhin-tu-kinh-nghiem-cua-nhat-ban-va-malaysia-11995.html
Hình 1: Nguồn gốc dòng vốn OFDI phân theo nhóm các quốc gia (%)
Quy mô dòng vốn OFDI (lũy kế) của Việt Nam đến hết năm 2021 đạt 12,1 tỷ USD.
UNCTAD cho rằng, tỷ lệ vốn OFDI thực hiện (lũy kế) so với tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) đạt mức cao nhất 3,8% vào năm 2016 giảm xuống còn 3,3% vào
năm 2021 quá thấp so với mức bình quân của các nước đang phát triển của
chung toàn thế giới.
Nguồn: https://tapchitaichinh.vn/
3.3. Thiếu thông tin và nghiên cứu thị trường
- Việc thiếu thông tin đầy đủ chính xác về các thị trường quốc tế, cũng như sự
không hiểu biết về nhu cầu xu hướng tiêu dùng tại các quốc gia thể dẫn đến
những quyết định đầu tư sai lầm. Các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải các
rào cản liên quan đến việc tiếp cận thị trường nước ngoài, bao gồm cạnh tranh gay
gắt từ các doanh nghiệp địa phương hoặc quốc tế đã có sự hiện diện vững mạnh tại
các thị trường mục tiêu.
- Chưa có một website nối mạng quốc tế và các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp hoạt
động trên phạm vi toàn quốc toàn cầu để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đầu ra
nước ngoài như: cung cấp thông tin thị trường; thông tin đối tác, hội kinh
nghiệm kinh doanh; thông tin về môi trường đầu tư; các dịch vụ xúc tiến thương
mại; các dịch vụ hỗ trợ tư pháp về đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn
kế toán, thuế...
dụ: Cổng thông tin quốc gia về đầu nước ngoài
(https://dautunuocngoai.gov.vn.fdi) hoạt động còn chưa ổn định, tài liệu hướng dẫn
sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài không thể truy cập, tình
trạng nghẽn mạng, xử thông tin chậm gây mất thời gian cho nhà đầu trong
việc kê khai hồ sơ cũng như tra cứu thông tin. (phần này t gõ tay lại nó vẫn lỗi hết
cíu)
3.6 Rủi ro về chính sách và quy định của chính phủ Việt Nam
- Các chính sách quy định trong nước cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình đầu
ra nước ngoài, như các quy định về tỷ giá, chuyển nhượng lợi nhuận ra nước
ngoài, và những hỗ trợ từ chính phủ cho các doanh nghiệp Việt Nam khi họ đầu tư
tại các quốc gia khác
- Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài vẫn còn một số hạn chế, như thủ tục rườm rà,
quy trình thẩm định đăng cấp giấy phép kéo dài, phải qua nhiều quan.
Bên cạnh đó, quy định chế tài về quản dự án sau cấp phép chưa đầy đủ, gây
khó khăn trong giám sát, dẫn đến thiếu thông tin chính xác và khó khăn trong quản
.
dụ: - Hiện nay, thời hạn quyết định chủ trương đầu ra nước ngoài còn kéo
dài, cụ thể đối với các dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết58 ngày
định chủ trương đầura nước ngoài đối với các dự án thuộcít nh0t 155 ngày
diện Quốc hội quyết định chủ trương đầu ra nước ngoài (Điều 56 Luật Đầu
năm 2014). doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để được giấy phép đầu
ra nước ngoài phải qua quản trong nước, bao11 đầu m/i các quan
gồm rất nhiều bước pháp lý khác nhau.
- Theo quy định tại Điều 59 Luật Đầu năm 2014, quan thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận đăng đầu ra nước ngoài Bộ Kế hoạch Đầu tư. Hiện
nay, Bộ Kế hoạch Đầu thực hiện việc cấp giấy chứng quan duy nh0t
nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tất cả các dự án đầu tư. Các dự án đầu tư ra
nước ngoài đang có xu hướng gia tăng, năm sau thường cao hơn năm trước. Trong
khi đó, chỉ một quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng đầu ra
nước ngoài. vậy, trên thực tế không tránh khỏi sự quá tải công việc, dẫn đến sự
ùn tắc, chậm trễ trong việc giải quyết. Nhà đầu tư, đặc biệt các doanh nghiệp
trên địa bàn các tỉnh miền Nam, miền Trung sẽ tốn kém thời gian, công sức cũng
như tiền bạc để có được giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Nguồn: https://luatvietan.vn/thu-tuc-dau-tu-ra-nuoc-ngoai.html
4. Tổng kết
- Số liệu thống cho thấy Việt Nam đã mở rộng đầu ra nước ngoài trong các
lĩnh vực thế mạnh như nông nghiệp, lâm nghiệp, đồng thời cũng tập trung phát
triển các ngành nghề mới để thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế.
- Các doanh nghiệp Việt Nam đầu ra nước ngoài đã không ngừng mở rộng thị
trường, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đồng thời, họ đạt mức tăng trưởng
doanh thu ấn tượng, thu về lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế
nâng tầm hình ảnh Việt Nam trên thế giới.
- Doanh nghiệp Việt Nam thể khai thác thị trường mới, tận dụng chính sách ưu
đãi và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, họhội hợp tác quốc tế, ứng
dụng công nghệ và mở rộng chuỗi giá trị
- Đề xuất một số giải pháp:
+ Doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ môi trường chính trị - phápcủa nước sở tại,
đồng thời thiết lập chiến lược quản lý rủi ro hợp tác với các tổ chứcvấn luật
quốc tế để đảm bảo tuân thủ và bảo vệ quyền lợi.
+ Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị kỹ thuật thông qua
hợp tác, đào tạo quốc tế, đồng thời xây dựng mạng lưới liên kết để hỗ trợ nhau khi
đầu tư ra nước ngoài.
+ Doanh nghiệp cần đầu tư vào nghiên cứu thị trường, tận dụng các tổ chức tư vấn
quốc tế xây dựng nền tảng thông tin chung để hỗ trợ tiếp cận thị trường nước
ngoài hiệu quả hơn.
+ Chính phủ cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện cơ chế quảnsau cấp
phép hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chuyển lợi nhuận, tiếp cận vốn bảo vệ
quyền lợi đầu tư.
*Tài liệu tham khảo
https://vneconomy.vn/nhung-kho-khan-cua-doanh-nghiep-viet-dau-tu-ra-nuoc-
ngoai.htm
https://tapchitaichinh.vn/hoat-dong-dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-thuc-
trang-va-khuyen-nghi.html
https://cafef.vn/doanh-nhan-viet-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-kho-o-dau-
20190111095508778.chn?utm_source=
https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?
dDocName=BTC336264
https://www.viac.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam-
2023-s42.html
https://vneconomy.vn/doanh-nghiep-can-may-ao-giap-phap-ly-khi-dem-chuong-di-
danh-xu-nguoi.htm
https://tapchitaichinh.vn/dau-tu-ra-nuoc-ngoai-buc-tranh-chua-hoan-chinh.html
Câu hỏi tranh biện:
1. Liệu đầubản ra nước ngoài của Việt Nam thực sự mang lại lợi ích
lâu dài cho nền kinh tế, hay chỉ giải pháp tạm thời để giải quyết thừa
v/n trong nước?
2. Các doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tài chính quản trị để thành
công trong môi trường đầu tư qu/c tế hay không? Nếu không, làm thế nào để
cải thiện điều này?
3. Liệu Chính phủ Việt Nam có đang tạo ra môi trường thuận lợi đủ để hỗ trợ
các doanh nghiệp trong việc vượt qua các rào cản phápvà văn hóa khi đầu
tư ra nước ngoài?
4. Việc mở rộng đầu tư ra các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu có phải
bước đi hợp cho doanh nghiệp Việt Nam, hay chỉ nên tập trung vào các
thị trường gần gũi và tương đồng văn hóa như ASEAN?

Preview text:

NỘI DUNG CẦN CHÚ TRỌNG KHI THUYẾT TRÌNH
1.Cơ sở lý luận về đầu tư tư bản ra nước ngoài
1.1.Khái niệm và hình thức của đầu tư tư bản ra nước ngoài a.Khái niệm:
- Tư bản: Tư bản là tài sản được sử dụng để sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch
vụ, gồm tư bản vật chất và tư bản phi vật chất
- Đầu tư tư bản ra nước ngoài (xuất khẩu tư bản) là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài
nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản.
Hay, là một hình thức đầu tư quốc tế khi một chủ thể đem vốn đầu tư vào một
lĩnh vực tại một hay nhiều quốc gia, chủ thể đó có quyền quản lý, điều hành doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn tại quốc gia nhận đầu tư và sau một khoảng thời gian nhất
định, lợi nhuận thu được sẽ quay trở lại nước đầu tư.
- Mục đích: Tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhất trở thành phổ biến, gắn liền với sự tồn
tại của các tổ chức độc quyền.
b.Hình thức đầu tư tư bản ra nước ngoài
Đầu tư tư bản có thể thực hiện dưới các hình thức:
- Đầu tư trực tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới
hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành 1
chi nhánh của công ty mẹ ở chính quốc.
Ví dụ: Công ty Samsung (Hàn Quốc) đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất điện tử
tại các khu công nghiệp Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng (Việt Nam); Toyota
(Nhật Bản) đầu tư xây dựng nhà máy lắp ráp và sản xuất ô tô tại khu công nghiệp Phúc Yên, Vĩnh Phúc,…
- Đầu tư gián tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản cho vay thu lợi tức.
Ví dụ: BlackRock đầu
tư vào trái phiếu doanh nghiệp của các công ty lớn ở châu
Á như Tencent (Trung Quốc) hoặc Samsung Electronics (Hàn Quốc); nhà đầu tư
Việt Nam mua trái phiếu chính phủ Mỹ (Treasury Bonds) thông qua các nền tảng giao dịch quốc tế…
1.2.Động lực thúc đẩy đầu tư tư bản ra nước ngoài của Việt Nam
- Chính sách mở cửa và khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của chính phủ
Nghị định số 22/1999/NĐ-CP được ban hành đã lãnh đạo hành lang pháp lý cho
các doanh nghiệp triển trai dự án OFDI. Chính phủ và các tổ chức tài chính hỗ trợ
vốn, tiền tệ, xuất nhập khẩu và quá trình ngoại hối, khuyến khích đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài thông qua các chính sách ưu đã về thuế như giảm thế, miễn thuê, hoặc
gia hạn thời gian nộp thuế phù hợp,… Cung cấp thông tin về thị trường quốc tế,
các đối tác tiềm năng cũng như các cơ hội đầu tư tại nước ngoài cho các doanh nghiệp
Ví dụ: ( thêm ví dụ phần này)
- Nhu cầu mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư mới
Các doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng quy mô hoạt động và tiếp cận các thị
trường mới, đa dạng hóa khách hang để tăng doanh thu và lợi nhuận Ví dụ:
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư và tang cường cạnh tranh quốc tế
Đầu tư tư bản ra nước ngoài, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa nguồn doanh thu và
giảm thiểu rủi ro từ những biến động kinh tế, chính trị và xã hội trong nước, nâng
cao khả năng tiếp cận thị trường và nhiều ngành nghề mới, linh hoạt điều chỉnh
chiến lược đầu tư, giảm phụ thuộc vào nguồn lực trong nước.
Khi đầu tư tư bản ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mặt với sự
cạnh tranh từ các công ty quốc tế, bắt buộc họ phải năng cao chất lượng sản phẩm
và dịch vụ, không ngừng học hỏi, phát triển đổi mới để nâng cao năng lực cạnh
tranh. Nhờ đó mà thúc đẩy doanh nghiệp tiếp cận với các công nghệ, kỹ thuật và
quy trình sản xuất tiên tiến, cải thiện chất lượng sản phẩm, phát trienr thuiongw
hiệu và mở rộng quy mô mạng lưới quan hệ quốc tế. Ví dụ:
2. Thực trạng đầu tư tư bản ra nước ngoài ở Việt Nam hiện nay 2.1.Tổng quan:
Theo Cục Ðầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư), sau hơn 30 năm hội nhập
và phát triển, đến nay, Việt Nam không chỉ là một quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng
đầu trong khu vực mà còn vươn lên, trở thành quốc gia có nhiều doanh nghiê |p
(DN), dự án đầu tư ra nước ngoài. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
ngày càng đa dạng, thể hiện rõ nét qua thị trường, ngành nghề đầu tư, quy mô, hình
thức đầu tư, các loại hình kinh tế và DN tham gia đầu tư.
-Ngày 14/4/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/1999/NĐ-CP quy định về
đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, hoạt động đầu tư ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, phạm vi đầu tư
được mở rộng. Riêng trong năm 1999, Việt Nam đã có 10 dự án đầu tư ra nước
ngoài với tổng vốn 12,337 triệu USD.
-Tính từ năm 1999 đến tháng 5/2023, Việt Nam đã có 1.648 dự án đầu tư ra nước
ngoài còn hiệu lực với số vốn gần 22,1 tỷ USD. Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu
tư vào gần 20 ngành nghề và đầu tư ở hơn 25 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Hình 1: Cơ cấu các ngành đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam 2024.
-Trong năm 2024, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 164 dự án mới
và 26 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt
gần 664,8 triệu USD (tăng 57,7% so với năm 2023).
Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn
đầu tư tập trung nhiều nhất vào các ngành hoạt động chuyên môn, khoa học công
nghệ (chiếm 30,2% vốn, trong khi năm 2023 không có dự án nào thuộc ngành
này); công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 21% vốn, gấp 8,7 lần cùng kỳ); sản
xuất phân phối điện (chiếm 14,2%, tăng 12,1% so với năm 2023). Còn lại là các
ngành khác. Lũy kế đến hết năm 2024, Việt Nam đã có 1.825 dự án đầu tư ra nước
ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư Việt Nam hơn 22,59 tỷ USD tập trung
nhiều nhất vào các ngành khai khoáng với hơn 7 tỷ USD; nông, lâm nghiệp, thủy
sản gần 3,4 tỷ USD và thông tin truyền thông là hơn 2,84 tỷ USD.1
=> Th/ng kê cho th0y, Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài trên các lĩnh vực thế
mạnh của Việt Nam là nông nghiệp, lâm nghiệp và cũng đã chú trọng đến
cách ngành nghề mới để bắt kịp xu thế hội nhập qu/c tế.
Hình 2: Cơ cấu các nước Việt Nam đầu tư 2024.
1 Tình hình đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài năm 2024
-Có 31 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong năm 2024
( Các thị trường chính và Việt Nam đầu tư tư bản: Châu Á, Châu Phi. Các nước thu
hút đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (chiếm 28,8% vốn, tăng 62,2%
so với năm 2023); In-đô-nê-xi-a (chiếm 20,7% vốn, gấp 227 lần năm 2023); Ấn Độ
(chiếm 13,5% vốn, gấp 59,7 lần cùng kỳ)… Tính đến năm 2024, các địa bàn nhận
đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (gần 5,7 tỷ USD, chiếm 25,1%
vốn); Cam-pu-chia (gần 2,94 tỷ USD, chiếm 13% vốn); Vê-nê-xuê-la (gần 1,83 tỷ USD, chiếm 8,1% vốn). Ví dụ:
- Không bó hẹp khu vực châu Á, nhà đầu tư Việt Nam còn mở rô |ng địa bàn sang
Mỹ, Canada, và châu Âu nói chung… Để đón đầu cho dòng vốn đầu tư này, hàng
loạt ngân hàng Việt Nam đã “theo chân” DN Việt ra nước ngoài như: BIDV,
VietinBank, Sacombank, MB, SHB… Trong quá trình đầu tư đó, các DN Việt
Nam gặp nhiều thuận lợi về sự gần gũi giữa các quốc gia, quan hệ ngoại giao hữu
nghị tốt đẹp, được sự ủng hộ của chính quyền nước sở tại… nên hoạt động đầu tư
đã mang lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. -ví dụ:
2.2. Phân tích trường hợp một số doanh nghiệp đầu tư tiêu biểu ra nước ngoài
1. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam)
Lộ trình đầu tư ra nước ngoài
Thời gian: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) bắt đầu có các hoạt
động đầu tư quốc tế từ những năm 1990, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực
khai thác dầu khí, đầu tư vào các dự án năng lượng ở nước ngoài.
Các qu/c gia đầu tư: Petrovietnam chủ yếu đầu tư tại các quốc gia có trữ
lượng dầu khí lớn, chẳng hạn như Venezuela, Malaysia, Lào, Cuba, và các quốc gia Trung Đông. V/n đầu tư:
V/n đầu tư ban đầu: Khoảng 1-2 tỷ USD cho các dự án đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, tổng số vốn đầu tư của Petrovietnam vào các dự án dầu khí ra
nước ngoài có thể đạt đến hàng tỷ USD tùy theo từng giai đoạn và từng dự án cụ thể.
Thành tựu đạt được:
Petrovietnam đã thành công trong việc phát triển các dự án khai thác dầu khí
tại nhiều quốc gia, đặc biệt là tại Venezuela và Malaysia. Dự án Cảng Dung
Qu0t
(tại Việt Nam) cũng là một ví dụ điển hình của sự phát triển trong
ngành năng lượng của tập đoàn.
Tăng trưởng sản lượng dầu: Dự án dầu khí ngoài khơi tại Venezuela là
một trong những dự án thành công nhất, giúp Việt Nam đảm bảo an ninh
năng lượng quốc gia và có lợi nhuận đáng kể từ việc xuất khẩu dầu. 3.Tập đoàn Vingroup
Lộ trình đầu tư ra nước ngoài:
Thời gian và chiến lược mở rộng:
Vingroup đã bắt đầu mở rộng các hoạt động quốc tế từ những năm gần đây,
đặc biệt là từ năm 2017, khi công ty VinFast được thành lập. Mặc dù
Vingroup chủ yếu phát triển tại Việt Nam, nhưng chiến lược quốc tế của họ
đã rõ ràng hơn trong những năm gần đây, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ và ô tô điện.
Các qu/c gia đầu tư:
oMỹ và Châu Âu (Đức): VinFast đã xuất khẩu xe điện đầu tiên của
mình vào năm 2021 tại triển lãm ô tô quốc tế tại Mỹ.
oĐông Nam Á: VinFast đã xuất khẩu ô tô sang các quốc gia trong khu
vực như Indonesia, Thái Lan.
oCác kế hoạch mở rộng: Vingroup có kế hoạch mở nhà máy sản xuất
ô tô tại Mỹ và Đức, với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường xe điện tại các quốc gia phát triển. V/n đầu tư:
V/n đầu tư ban đầu:
Vingroup đã đầu tư khoảng 3 tỷ USD vào việc nghiên cứu, phát triển và sản
xuất ô tô điện thông qua VinFast.
oVinFast: Tính đến năm 2022, VinFast đã đầu tư gần 2,5 tỷ USD vào
các cơ sở sản xuất ô tô điện và các cơ sở nghiên cứu.
oMở rộng toàn cầu: VinFast cũng đã lên kế hoạch đầu tư vào các thị
trường quốc tế, với khoản đầu tư ước tính hơn 1 tỷ USD vào các nhà
máy tại Mỹ và Châu Âu trong tương lai.
V/n đầu tư vào thị trường qu/c tế:
oVingroup đã công bố kế hoạch đầu tư vào các thị trường quốc tế lên
đến hàng tỷ USD trong các lĩnh vực công nghệ, ô tô và bán lẻ.
oTrong năm 2021, tổng số tiền đầu tư cho VinFast tại thị trường quốc
tế (bao gồm cả các hoạt động nghiên cứu, phát triển, và sản xuất) đã
lên đến 1,5 tỷ USD.
Thành tựu đạt được:
VinFast tại Mỹ và Châu Âu:
oVinFast đã xu0t khẩu các dòng xe điện đầu tiên sang Mỹ và Châu
Âu vào năm 2021. Tại triển lãm ô tô quốc tế ở Los Angeles (Mỹ) và
Frankfurt (Đức), VinFast đã giới thiệu các mẫu xe điện như VinFast VF e34, VF e35 và VF e36.
oMục tiêu xuất khẩu xe điện sang 30 qu/c gia vào năm 2025 và mở 4
nhà máy ô tô tại Mỹ và Châu Âu vào năm 2026.
oVinFast đặt mục tiêu sản xuất hơn 500.000 xe mỗi năm vào năm 2025.
VinSmart và lĩnh vực công nghệ:
oVinSmart đã xuất khẩu hơn 1 triệu điện thoại thông minh trong
năm 2020 và đã mở rộng sang các thị trường quốc tế như Ấn Độ, Mỹ và Đông Nam Á.
oVinSmart cũng đang mở rộng sang sản xuất các thiết bị điện tử tiêu
dùng khác, như TV thông minh, với các mẫu TV 4K, và thiết bị điện tử thông minh.
oVingroup đã đầu tư hơn 200 triệu USD vào nghiên cứu và phát triển công nghệ tại VinSmart.
Vingroup trở thành "tập đoàn toàn cầu":
oVingroup hiện đã trở thành một trong những tập đoàn lớn nhất Việt
Nam, với tổng tài sản ước tính hơn 40 tỷ USD vào năm 2021.
oVingroup đã gia nhập Chỉ s/ VN-Index với tổng giá trị vốn hóa đạt
hơn 14 tỷ USD vào năm 2021.
oThương hiệu VinFast hiện đã trở thành một trong những tên tuổi đáng
chú ý trong ngành ô tô điện toàn cầu, với kế hoạch IPO (phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng) tại Mỹ vào năm 2022.
Tập đoàn Vingroup đã có những bước đi mạnh mẽ và ấn tượng trong việc mở
rộng hoạt động ra quốc tế. Với các khoản đầu tư lên đến hàng tỷ USD trong các
lĩnh vực công nghệ và ô tô, Vingroup đang khẳng định vị thế của mình trên thị
trường quốc tế. VinFast đặc biệt đáng chú ý khi trở thành thương hiệu ô tô điện
đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu thành công sang các thị trường Mỹ và Châu
Âu, và với kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất, Vingroup đang trên con đường
trở thành một tập đoàn toàn cầu.
3. Những khó khăn và thách thức trong quá trình đầu tư tư bản ra nước ngoài của Việt Nam
3.1. Rủi ro về chính trị và pháp lý
- Về chính trị: Các thay đổi về chính trị ở quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể tạo ra
những biến động không lường trước được, như tình trạng bất ổn chính trị, các cuộc
cách mạng, hoặc xung đột vũ trang. Những yếu tố này có thể tác động tiêu cực đến
hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài
- Về pháp lý: Khác biệt về hệ thống pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác
có thể dẫn đến những vấn đề về tuân thủ quy định, tranh chấp hợp đồng, hoặc các
vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư
Ví dụ: +Ông Vũ Văn Chung, Phó Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, cho rằng hiện vẫn có nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức tới
việc nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế, chính sách pháp luật của thị trường quốc tế nên
dễ gặp phải rủi ro pháp lý.
Đơn cử như khi đầu tư sang những địa bàn có điều kiện khó khăn, có nền tảng
pháp lý chưa tốt, nếu không tìm hiểu kỹ, khi tranh chấp xảy ra, kiện ra tòa cũng
không giải quyết được vì người bị kiện không có khả năng đáp ứng yêu cầu, thậm
chí không có cơ chế để buộc họ phải tuân thủ phán quyết.
Dẫn chứng những vụ việc tranh chấp trong thời gian vừa qua, ông Vũ Ánh Dương,
Tổng thư ký VIAC, cho biết chỉ trong giai đoạn 1993-2023, VIAC tiếp nhận 2.940
vụ tranh chấp với tổng giá trị hơn 2,7 tỉ USD (tương đương hơn 63.000 tỉ đồng).
Trong số đó, hơn 46% tranh chấp trong nước, còn lại là tranh chấp có ít nhất một
bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoặc một bên là doanh nghiệp nước ngoài.
Nguồn: https://www.viac.vn/thong-ke
+ Tranh chấp pháp lý của Sanum Investment tại Lào: Sanum Investment Limited,
một công ty có vốn đầu tư từ Việt Nam, đã đầu tư hơn 85 triệu USD vào Lào. Tuy
nhiên, công ty này đã gặp phải các tranh chấp pháp lý với chính phủ Lào, dẫn đến
nguy cơ mất quyền kiểm soát các tài sản và dự án trị giá hàng trăm triệu USD. Cụ
thể, Sanum bị thu hồi một số giấy phép hoạt động và bị áp mức thuế và tiền phạt
lên đến hơn 23 triệu USD. (ví dụ này Dương Hạnh đóng góp nhưng mà t khum tìm
được hình ảnh hay thông tin gì í)

3.2. Hạn chế về tài chính và quản trị doanh nghiệp: Tiềm lực và kinh nghiệm của
đa số các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn
hạn chế như năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, năng lực quản lý, kỹ thuật
công nghệ còn yếu, hạn chế đồng thời chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động đầu tư
kinh doanh trên thương trường quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam khi
hoạt động kinh doanh ở nước ngoài còn mang tính riêng lẻ, chưa có sự liên kết
nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển, thậm chí có trường hợp cạnh không lành mạnh.
-> Nguyên nhân: Các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn do bất đồng ngôn
ngữ, chưa có sự tìm hiểu kỹ về môi trường đầu tư, văn hóa, phong tục tập quán
cũng như pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư
Ví dụ: Nhấn mạnh về thay đổi tư duy và nhận thức, TS. Phan Hữu Thắng và đại sứ
Chu Công Phùng - Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Myanmar cho rằng, nhận
thức về OFDI còn hạn chế do bản thân Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát
triển nên có phần cẩn trọng, e ngại trong việc tích cực đầu tư nguồn vốn quá lớn ra nước ngoài.
Nguồn: https://tapchinganhang.gov.vn/dau-tu-truc-tiep-ra-nuoc-ngoai-va-can-can-
thu-nhap-nhin-tu-kinh-nghiem-cua-nhat-ban-va-malaysia-11995.html
Hình 1: Nguồn gốc dòng vốn OFDI phân theo nhóm các quốc gia (%)
Quy mô dòng vốn OFDI (lũy kế) của Việt Nam đến hết năm 2021 đạt 12,1 tỷ USD.
UNCTAD cho rằng, tỷ lệ vốn OFDI thực hiện (lũy kế) so với tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) đạt mức cao nhất là 3,8% vào năm 2016 và giảm xuống còn 3,3% vào
năm 2021 là quá thấp so với mức bình quân của các nước đang phát triển và của chung toàn thế giới.
Nguồn: https://tapchitaichinh.vn/
3.3. Thiếu thông tin và nghiên cứu thị trường
- Việc thiếu thông tin đầy đủ và chính xác về các thị trường quốc tế, cũng như sự
không hiểu biết về nhu cầu và xu hướng tiêu dùng tại các quốc gia có thể dẫn đến
những quyết định đầu tư sai lầm. Các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải các
rào cản liên quan đến việc tiếp cận thị trường nước ngoài, bao gồm cạnh tranh gay
gắt từ các doanh nghiệp địa phương hoặc quốc tế đã có sự hiện diện vững mạnh tại
các thị trường mục tiêu.
- Chưa có một website nối mạng quốc tế và các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp hoạt
động trên phạm vi toàn quốc và toàn cầu để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đầu tư ra
nước ngoài như: cung cấp thông tin thị trường; thông tin đối tác, cơ hội và kinh
nghiệm kinh doanh; thông tin về môi trường đầu tư; các dịch vụ xúc tiến thương
mại; các dịch vụ hỗ trợ tư pháp về đăng ký và xử lý tranh chấp thương hiệu, tư vấn kế toán, thuế...
Ví dụ: Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài
(https://dautunuocngoai.gov.vn.fdi) hoạt động còn chưa ổn định, tài liệu hướng dẫn
sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài không thể truy cập, tình
trạng nghẽn mạng, xử lý thông tin chậm gây mất thời gian cho nhà đầu tư trong
việc kê khai hồ sơ cũng như tra cứu thông tin. (phần này t gõ tay lại nó vẫn lỗi hết cíu)
3.6 Rủi ro về chính sách và quy định của chính phủ Việt Nam
- Các chính sách và quy định trong nước cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình đầu
tư ra nước ngoài, như các quy định về tỷ giá, chuyển nhượng lợi nhuận ra nước
ngoài, và những hỗ trợ từ chính phủ cho các doanh nghiệp Việt Nam khi họ đầu tư tại các quốc gia khác
- Việt Nam về đầu tư ra nước ngoài vẫn còn một số hạn chế, như thủ tục rườm rà,
quy trình thẩm định và đăng ký cấp giấy phép kéo dài, phải qua nhiều cơ quan.
Bên cạnh đó, quy định và chế tài về quản lý dự án sau cấp phép chưa đầy đủ, gây
khó khăn trong giám sát, dẫn đến thiếu thông tin chính xác và khó khăn trong quản lý.
Ví dụ: - Hiện nay, thời hạn quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài còn kéo
dài, cụ thể là 58 ngày đối với các dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết
định chủ trương đầu tư ra nước ngoài và ít nh0t 155 ngày đối với các dự án thuộc
diện Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài (Điều 56 Luật Đầu tư
năm 2014). doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có được giấy phép đầu
tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu m/i các cơ quan quản lý trong nước, bao
gồm rất nhiều bước pháp lý khác nhau.
- Theo quy định tại Điều 59 Luật Đầu tư năm 2014, cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hiện
nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nh0t thực hiện việc cấp giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tất cả các dự án đầu tư. Các dự án đầu tư ra
nước ngoài đang có xu hướng gia tăng, năm sau thường cao hơn năm trước. Trong
khi đó, chỉ có một cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra
nước ngoài. Vì vậy, trên thực tế không tránh khỏi sự quá tải công việc, dẫn đến sự
ùn tắc, chậm trễ
trong việc giải quyết. Nhà đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp
trên địa bàn các tỉnh miền Nam, miền Trung sẽ tốn kém thời gian, công sức cũng
như tiền bạc để có được giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Nguồn: https://luatvietan.vn/thu-tuc-dau-tu-ra-nuoc-ngoai.html 4. Tổng kết
- Số liệu thống kê cho thấy Việt Nam đã mở rộng đầu tư ra nước ngoài trong các
lĩnh vực thế mạnh như nông nghiệp, lâm nghiệp, đồng thời cũng tập trung phát
triển các ngành nghề mới để thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế.
- Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đã không ngừng mở rộng thị
trường, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đồng thời, họ đạt mức tăng trưởng
doanh thu ấn tượng, thu về lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế và
nâng tầm hình ảnh Việt Nam trên thế giới.
- Doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác thị trường mới, tận dụng chính sách ưu
đãi và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, họ có cơ hội hợp tác quốc tế, ứng
dụng công nghệ và mở rộng chuỗi giá trị
- Đề xuất một số giải pháp:
+ Doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ môi trường chính trị - pháp lý của nước sở tại,
đồng thời thiết lập chiến lược quản lý rủi ro và hợp tác với các tổ chức tư vấn luật
quốc tế để đảm bảo tuân thủ và bảo vệ quyền lợi.
+ Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực tài chính, quản trị và kỹ thuật thông qua
hợp tác, đào tạo quốc tế, đồng thời xây dựng mạng lưới liên kết để hỗ trợ nhau khi đầu tư ra nước ngoài.
+ Doanh nghiệp cần đầu tư vào nghiên cứu thị trường, tận dụng các tổ chức tư vấn
quốc tế và xây dựng nền tảng thông tin chung để hỗ trợ tiếp cận thị trường nước ngoài hiệu quả hơn.
+ Chính phủ cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện cơ chế quản lý sau cấp
phép và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chuyển lợi nhuận, tiếp cận vốn và bảo vệ quyền lợi đầu tư. *Tài liệu tham khảo
https://vneconomy.vn/nhung-kho-khan-cua-doanh-nghiep-viet-dau-tu-ra-nuoc- ngoai.htm
https://tapchitaichinh.vn/hoat-dong-dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-thuc- trang-va-khuyen-nghi.html
https://cafef.vn/doanh-nhan-viet-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-kho-o-dau-
20190111095508778.chn?utm_source=

https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin? dDocName=BTC336264
https://www.viac.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam- 2023-s42.html
https://vneconomy.vn/doanh-nghiep-can-may-ao-giap-phap-ly-khi-dem-chuong-di- danh-xu-nguoi.htm
https://tapchitaichinh.vn/dau-tu-ra-nuoc-ngoai-buc-tranh-chua-hoan-chinh.html Câu hỏi tranh biện:
1. Liệu đầu tư tư bản ra nước ngoài của Việt Nam có thực sự mang lại lợi ích
lâu dài cho nền kinh tế, hay chỉ là giải pháp tạm thời để giải quyết dư thừa v/n trong nước?

2. Các doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực tài chính và quản trị để thành
công trong môi trường đầu tư qu/c tế hay không? Nếu không, làm thế nào để
cải thiện điều này?

3. Liệu Chính phủ Việt Nam có đang tạo ra môi trường thuận lợi đủ để hỗ trợ
các doanh nghiệp trong việc vượt qua các rào cản pháp lý và văn hóa khi đầu tư ra nước ngoài?

4. Việc mở rộng đầu tư ra các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu có phải
là bước đi hợp lý cho doanh nghiệp Việt Nam, hay chỉ nên tập trung vào các
thị trường gần gũi và tương đồng văn hóa như ASEAN?