Phân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao hàng hóa lại có hai thuộc tính?

với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng, ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống.hân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao hàng hóa lại có hai thuộc tính?

Trường:

Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.1 K tài liệu

Thông tin:
27 trang 11 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Phân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao hàng hóa lại có hai thuộc tính?

với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng, ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống.hân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao hàng hóa lại có hai thuộc tính?

74 37 lượt tải Tải xuống
lOMoARcPSD| 40660676
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Môn: Kinh tế chính tr
Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao
hàng hóa lại có hai thuộc tính?
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm không
nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán.
Có hai kiểu tổ chức kinh tế:
+ Sản xuất tụ cung, tự cấp: là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người làm ra sản phẩm đó.
+ Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm đáp ứng
nhu cầu của thị trường thông qua trao đổi, mua bán
b) Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội
+ Là sự phân chia lao động xã hội theo các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên
sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau. + Kéo
theo sự phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất. Mỗi người sản xuất một
loại hàng hóa mà nhu cầu thì đa dạng, đòi hỏi nhiều loại sản phẩm để thỏa mãn những nhu
cầu khác nhau nên những người sản xuất phải phụ thuộc vào nhau, dẫn đến trao đổi mua
bán, từ đó có sản xuất hàng hóa.
+ Phân công lao động xã hội là cơ sở và tiền đề cho sản xuất hàng hóa. Phân công lao động
xã hội càng phát triển thì sản xuất và traođổi hàng hóa càng được mở rộng và đa dạng hơn.
Điều kiện thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
+ Cơ sở của sự tách biệt đó là do quan niệm khác nhau về sở hữu thu liệu sản xuất mà khởi
đầu là sự xuất hiện của chế độ tư hữu.
+ Chế độ tư hữu đã tạo nên sự độc lập giữa những người sản xuất, chia cắt họ thành đơn vị
riêng lẻ, khác nhau về lợi ích. Trong quá trình sản xuất, những người sản xuất có quyền
quyết định về việc sản xuất loại hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất như thế nào,
trao đổi với ai.
lOMoARcPSD| 40660676
Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất hàng hóa làm cho những người sản xuất độc lập với nhau,
nhưng phân công lao động xã hội lại làm cho họ phụ thuộc vào nhau. Chính điều đó đã tạo
nên nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản
phẩm của nhau.
Như vậy phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể
sản xuất là ha điều kiện cần và đủ cho sản xuất hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai điều kiện
này thì sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.
c) Giải thích
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: mặt c
thể và mặt trừu tượng của lao động.
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích lao động riêng, công cụ lao động
riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng
của hàng hóa.
VD: Lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may là hai lao động cụ thể
khác nhau:
+ Với người thợ mộc: mục đích là làm ra bàn ghế ; công cụ là bào, cưa, mũi khoan,...
phương pháp là cưa, đẽo, đục,..; kết quả là tạo ra bàn ghế để ngồi
+ Với người thợ may: mục đích là làm ra quần ; công cụ là máy may, chỉ, vải,…
phương pháp: cắt, may,…; kết quả là tạo ra quần áo để mặc
Các loại lao động cụ thể khác nhau về chất tạo nên những sản phẩm cũng khác nhau về chất
và mỗi sản phẩm có giá trị sử dụng riêng. Trong đời sống xã hôi, có vô số những hàng hóa
với những giá trị sử dụng khác nhau do lao động cụ thể đa dạng, muôn hình muôn vẻ tạo
nên.Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều nganh nghề khác nhau,
do đó có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Khoa học, kỹ thuật, phân công lao động càng phát
triển thì các hình thức lao động lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng.
Lao động trừu tượng lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình
thức cụ thể của nó. Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về
cơ bắp, thần kinh, trí óc. Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng
tạo ra giá trị của hàng hóa. Có thể nói, giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người
lOMoARcPSD| 40660676
sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó. Đó là mặt vật chất của giá trị hành hóa. Lao
động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.
Câu 2: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa. Lấy dụ thực tiến để minh họa. a)
Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi mua bán. Hàng hóa gồm hàng hóa vật thể và hàng hóa phi vật thể.
Điều kiện để một san rphẩm là hàng hóa: hàng hóa phải là sản phẩm của lao động, nghĩa là
tất cả các sản phẩm không phải do lao động tạo ra thì dù có quan trọng như thế nào đối với
cuộc sống con người cũng không phải hàng hóa. Sản phẩm của lao động nhất thiết phải
thông qua trao đổi mua bán, hàng hóa phải có tính hữu dụng, tức là phải thỏa mãn được một
nhu cầu nào đó của con người.
b) Thuộc tính của hàng hóa
Dù khác nhau về hình thái tồn tại, song mọi thứ hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị và giá
trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hóa
+ Là công dụng của hàng hóa thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, nhu cầu đó có
thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân,
có thể là nhu cầu tiêu dùng sản xuất
+ Đặc trưng của giá trị sử dụng của hàng hóa:
Một vật có thể có một hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau.
VD: chai nhựa thường được dùng để chứ chất lỏng như nước, rượu,… ngoài ra, chai nhựa
còn được dùng làm chậu hoaa, đồ chơi, hộp bút, đồ trang trí,…
Nền sản xuất phát triển, khia học, công nghệ tiên tiến, càng giúp cho con người phát
hiện ra nhiều và phong phú các giá tị sử dụng của hàng hóa khác nhau.
VD: Khi than đá mới được phát hiện thì nó được dùng để nấu và sưởi ấm. Về sau, khu
khoa học- kỹ thuật phát triẻn, nhiều loại nồi hiện đai ra đời thì than đá được dùng làm chất
đốt và nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp hóa chất.
Giá trị sử dụng là do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định. Với ý nghĩa này,
giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn
VD: cao su có thuộc tính đàn hồi, cách điện, cách nhiệt nên được dùng làm bóng bay, gang
tay, nệm, săm, lốp xe,…
Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng. Nhưng không
phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa.
lOMoARcPSD| 40660676
VD: Không khí rất cần thiết cho cuộc sống của chúng ta nhưng không phải là hàng hóa vì
không khí không phải do còn người tạo ra và cũng không thông qua quá trình trao đổi mua bán.
Bình oxi lại là hàng hóa vì nó là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi mua bán
và có ích đối với con người.
Giá trị sử dụng, với tư cách là một thuộc tính của hàng hóa khônghải là giá trị sử
dụng cho người sản xuất hàng hóa mà là giá trị sử dụng cho người tiêu dùng thông
qua trao đổi mua bán. Trogn nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị
trao đổi. Xã hội càng tiến bộ thì số lượng giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng
giá trị sử dụng ngày càng cao. Giá trị của hàng hóa
+ Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ
về lượng mà một giá trị sử dụng này đổi với những giá trị sử dụng khác + VD: 1 m vải = 10
kg thóc.
Vấn đề đặt ra là, tại sao vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có
thể trao đổi được với nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?
Khi hai hàng hóa khác nhau là vải và thóc có thể trao đổi được với nhau, thì phải có một cơ
sở chung nào đó: Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, tuy sự khác nhau về giá trị sử
dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi. Song, cái chung đó phải nằm ở cả hai
hàng hóa. Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúng chỉ có một cái
chung: chúng đều là sản phẩm của lao động. Để sản xuất ra vải và thóc, nguời thợ thủ công
và người nông dân đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng. Hao phí lao động là cơ
sở chung để so sánh vải với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau.
Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, (1m vải = 10 kg thóc), vì người ta cho rằng
lao động hao phí sản xuất ra l m vải bằng lao động hao phí để sản xuất ra 10 kg thóc. Lao
động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính là giá trị của hàng hóa.
Từ sự phân tích trên, rút ra kết luận: giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó. Như vậy, chất của giá trị là lao động, vì vậy, sản
phẩm nào không có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó thì nó không có giá trị.
Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao.
+ Đặc trưng của giá tị hàng hóa;
Giá trị là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương thức sản xuất
có sản xuất và trao đổi hàng hóa
lOMoARcPSD| 40660676
Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực trao đổi. Giá trị tảo đổi chỉ là hình thức biểu
hiện của giá trị, giá trị là nội dung, cơ sở của giá trị trao đổi. Giá trị thay đổi thì giá
trị trao đổi cũng thay đổi theo.
Giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là những quan hệ kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa.
Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng
hóa.
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Mặt thống nhất: Hai thuốc tính của hàng hóa có tính thống nhất vì chúng cùng đồng thời
tồn tại trong một hành hóa và do một lao động sản xuất ra hàng hóa quyết định. Hơn nữa,
mọi hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Nếu thiếu một trong hai
thuộc tính này thì sản phẩm đó không phải là hàng hóa.
+ Mặt mâu thuẫn:
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì hàng hóa khác nhau về chất, nhưng vơi
cách là giá trị thì hành hóa lại đồng nhất về chất.
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá tị cùng động thời tồn tại trong một hàng hóa nhưng
quá trình thực hiện chúng lại độc lập về không gian và thời gian. Giá trị được thực
hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, giá trị được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêu
dùng
+ Trong nền sản xuất hàng hóa, một hàng hóa sản xuất ra có thể bán được hoặc không bán
được. Nếu hàng hóa bán được thì mâu thuẫn giữa hai thuộc tính được giải quyết.
+ Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng
kinh tế.
Câu 3: Phân tích khái niệm, ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Liên hệ
với thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam. a) Khái
niệm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế
hàng hóa phát triển ở trình độ cao ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua
thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật hoạt động trên thị trường.
b) Ưu thế: kinh tế thị trường có 3 ưu thế nổi bật
Một là, kinh tế thị trường tạo động lực kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ, qua đó tập hợp và phát huy được trí tuệ,
tiềm lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, thúc đầy tăng trưởng kinh tế. Thông qua
lOMoARcPSD| 40660676
vai trò thị trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hữu hiệu kích thích sự
sáng tạo trong các chủ thể kinh tế. Nền kinh tế thị trường tạo môi trường rộng mở cho
các mô hình kinh doanh mới theo đà phát triển của xã hội.
Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lý kinh doanh
năng động, sáng tạo, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả.
VD: Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do kinh doanh. Doanh nghiệp muốn đứng
vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do
vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hóa để cho phép
thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ
thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ thế giới. Trong nền kinh tế
thị trường, mọi tiềm năng, lợi thế đều có thể được phát huy, đều có thể trở thành lợi ích
đóng góp cho xã hội.
VD: Việt Nam chúng ta có 7 cùng kinh tế trọng điểm, mỗi vùng lại có những thế mạnh
riêng. Chẳng hạn, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là nơi giàu khoáng sản bậc nhất
nước ta nên nền kinh tế tập trung chủ yếu là khai thác, chế biến khoáng sản; đây cũng là
vùng có tiềm năng về thủy điện vì có trữ năng trên sông Hồng chiếm 1/3 trữ năng cả
nước. Hay với vùng Tây Nguyên, có lợi thế với diện tích đất bazan lớn nhất cả nước
cùng khí hậu cận xích đạo, nên thế mạnh của vùng là trồng cây công nghiệp lâu năm và
chế biến lâm sản.
Với lợi ích quốc gia, Việt Nam là một đất nước giáp biển nên thuận lợi cho phát
triển các ngành kinh tế: khai thác, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, du lịch,…
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của
con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, các
thành viên của xã hội luôn có thể tìm thấy cơ hội tối đa để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Nền kinh tế thị trường với sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra sự phù hợp
giữa khối lượng, cơ cấu sản xuất với khối lượng,cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Kinh tế thị trường cũng là tiền đề để có được một lực lượng sản xuất lớn cho xã hội, tạo
ra hàng hóa, sản phẩm dư thừa giúp thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng ở mức tối đa.
c) Khuyết tật: Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường vẫn tồn tại một số khuyết tật
lOMoARcPSD| 40660676
Một là, xét trên phạm vi toàn nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn
những rủi ro khủng hoảng: Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ, có thể diễn ra trên phạm
vi tổng thể. Khủng hoảng có thể xảy ra với mọi loại thị trường,với mọi nền kinh tế thị
trường. Nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được những rủi ro tiềm ẩn do sự
vận động tự phát của các quy luật kinh tế.
VD: Dịch bệnh Covid trong suốt ba tháng qua đã dẫn đến sự suy thoái trầm trọng của
nền kinh tế. Xét ở một khía cạnh thông thương, đặc trưng của kinh tế thị trường là nền
kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, hợp tác để cùng nhau phát triển.
Nhưng cũng chính vì điều này, khi dịch bệnh bùng phát, các nước phải đóng cửa, ngừng
thông thương, hàng trong nước không xuất đi được, những mặt hàng trong nước không
sản xuất được, hay những mặt hàng của nước ngoài không nhập vào được khiến cho nền
kinh tế bị trì trệ. Chẳng hạn ở Việt Nam, do ảnh hưởng của đại dịch, gần 500 xe chở
nông sản (chủ yếu là dưa hấu và thanh long) đang tồn tại các cửa khẩu biên giới chưa thể
thông quan. Trong khi đó, các xe nông sản vẫn đang tiếp tục được chở lên.
Hai là, nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên
không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Do phần lớn các chủ
thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với nguồn lực tài nguyên, suy thoái
môi trường. Đây là những mặt trái mang tính khuyết tật của bản thân nền kinh tế thị
trường.
VD:Trong khi cả nước cùng chung tay chống lại đại dịch, mỗi người dẫn góp 20.000
đồng, rồi người góp khẩu trang, người góp gạo,… thì giám đốc CDC Hà Nội lại lợi dụng
dịch bệnh để trục lợi cho bản thân. Hệ thống máy xét nghiệm Realtime PCR khi nhập
khẩu về Việt Nam chỉ 2,3 tỉ đồng nhưng Giám đốc CDC Hà Nội nâng khống giá trị gói
thầu hệ thống xét nghiệm COVID-19 lên gấp 3 lần, với giá 7 tỉ đồng nhằm trục lợi khoản
chênh lệch. Đó là một biểu hiện của sự duy thoái mội trường xã hội, suy thoái đạo đức.
Ba là, phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường là tự phát dưới tác động đa chiều
của các quy luật kinh tế. Điều này có thể dẫn tới phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu
nhập, phân cực của cải, thậm chí làm gia tăng tình trạng bất công xã hội, làm nảy sih
mâu thuẫn và xung đột xã hội.
VD: Một phúc trình của Ngân hàng Thế giới vừa công bố cho thấy thành phần giàu có ở
Việt Nam đã tăng gấp 3 trong thập niên qua, nhưng cũng vì điều này mà khoảng cách
giàu nghèo lại có khả năng tăng lên cao gấp nhiều lần so với tỷ lệ giảm nghèo. Có thể
thấy rõ, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi
lOMoARcPSD| 40660676
như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp. Chính vì
điều đó, đời sống vật chất và tinh thần khó khăn khiến cho cuộc sống khó mà tốt lên
được. Trong khi đó, những người ở những nơi thuận lợi, có thu nhập cao thì đời sống của
học cũng tốt hơn, có điều kiện chăm sóc sức khỏe,có nhiều cơ hội để tìm kiềm việc làm,
nâng cao đời sống. Từ đó, sự phân hóa càng rõ rệt, càng sâu sắc.
d) Liên hệ với Việt Nam
Ở Việt Nam,nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế, người sản
xuất trở nên năng đông, nhạy bén hơn với thời cuộc, sáng tạo sản phẩm đa dnagj, đa năng đáp ứng
nhu cầu của xã hội. Không chỉ khẳng định được khả năng phát triển trong nước mà còn vươn ra thị
trường quốc tế với chất lượng và giá thành sản phẩm mang tính cạnh tranh cao.Như các nghề thủ
công, mỹ nghệ mây tre đan, ban đầu chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước sau trở thành mặt hàng được
đưa ra thị trường quốc tế và trở thành mặt hàng độc đáo mang nét văn hóa riêng của người Việt.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế thị trường cũng tạo ra khủng hoảng hàng hóa, ô nhiễm môi
trường mà khó có thể khắc phục, vì lợi ích bản thân, lợi ích kinh doanh sản xuất đôi khi con người
sẵn sang đánh đổi thiên nhiên vì lợi ích kinh tế. Khí thải từ các nhà máy, các phương tiện giao thông
ngày một tăng lên,.. chưa kể đến ô nhiễm nguồn nước, đất đai, nạn chặt phá rừng,…tất cả đã dẫn
đến một con số đáng báo động là Việt Nam nằm trong top 11 quốc gia ô nhiễm bụi nhất thế giới.
Những tiềm năngtừ con người mà thiên nhiên mà Việt Nam có có thể giúp nền kinh tế thị trường
của nước ta phát triển hơn nữa nhưng sẽ không có kết quả gì nếu tình trạng của môi trường cứ ngày
càng xấu đi. Từ thực trạng này, rất cần đến các biện pháp giải quyết từ Nhà nước và ý thức của mỗi
người dân Việt Nam.
Câu 4: Phân tích nội dung, yêu cầu tác động của quy luật gtrị trong nền kinh tế
hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
a) Nội dung
Vị trí của quy luật giá trị: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa.
Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Quy
luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh tế khác.
Nội dung: sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí
lao động xã hội cần thiết.
b) Yêu cầu
+ Thứ nhất, sản xuất hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Người
sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì
lOMoARcPSD| 40660676
lượng giá trị của một hàng háo cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.
+ Thứ hai, trong lĩnh vựa trao đổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải
đảm bảo bù đắp được chi phí cho người sản xuất và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng
c) Biểu hiện sự hoạt động
Quy luật giá tị biểu hiện sự hoạt động của nó thông qua sự biến động của giá cả. Giá cả là sự
biểu hiện bằng tiền của giá trị. Ngoài giá trị, giá cả phụ thuộc vào các yếu tố như: cạnh
tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền,…Giá cả của hàng hóa trên thị trường lên xuống
xoay quanh giá trị
d) Tác động : 3 tác động
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
+ Điều tiết sản xuất thông qua cơ chế cung cầu và giá cả trên thị trường
Cung < cầu giá cả > giá trị có lãi tăng đầu tư tăng quy mô sản xuất
Cung > cầu giá cả < giá trị thua lỗ ngững hoặc giảm sản xuất thu hẹp quy mô
sản xuất
+ Điều tiết lưu thông:
Thông qua cơ chế cung cầu và giá cả mà nguồn hàng, mặt hàng, chủng loại hàng hóa,…
được điều hòa từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, từ nơi thừa hàng đến nơi thiếu hàng, góp phần
làm cho hàng hóa giữa các vùng, các quốc gia có sự cân bằng nhất định. Như vậy, biến động
của giá cả thị trường không những chỉ rõ sự biến động kinh tế mà còn có tác động điều tiết
nền kinh tế hàng hóa.
VD: Theo trào lưu thời trang, những mẫu quần áo thời trang mới nhất sẽ được nhập về nước,
đầu tiên sẽ đến với người dân thành thị – nơi có cuộc sống sung túc, đầy đủ hơn. Cho đến
khi những loại quần áo đó đã trở nên lỗi thời, nó được chuyển về bán cho người dân nông
thôn.
VD: người bán vải đang bán mặt hàng vải, nhưng khi trên thị trường mặt hàng vải bán quá
chậm, giá thấp mà mặt hàng may sẵn lại bán nhanh hơn, giá cao hơn; để ko bị ứ đọng,
không lỗ vốn và thu được lợi nhuận, vận dụng các tác động điều tiết lưu thông của quy luật
giá trị, ngưới bán vải tìm cách chuyển đổi từ kinh doanh mặt hàng vải sang kinh doanh mặt
hàng may sẵn một cách thích ứng
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển
Năng suất lao động tăng khối lượng hàng hóa tăng giá trị một đơn vị hàng hóa giảm
giá cả giảm nhu cầu tăng tổng lợi nhuận thu được nhiều hơn. Do đó, để năng ca năng
lOMoARcPSD| 40660676
suất lao động, người sản xuất phải tìm mọi cách để giảm giá trị cá biệt so với giá trị xã hội
của hàng hóa, qua đó mà thu lợi nhuận siêu ngạch. Muốn vậy, người lao động phải nâng cao
trình độ, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ; doanh nghiệp áp dụng khao học, cong nghệ mới
vào sản xuất,.. tức là làm cho nhân tố của lực lượng sản xuất phát triển.
VD: Trong điều kiện ngày càng có nhiều công ty bánh kẹo khác ra đời và có nhiều loại bánh
kẹo mới , công ty Kinh Đô đã nhập dây chuyền sản xuất bánh kẹo ở nước ngoài tạo nên
nhiều loại bánh kẹo mẫu mã mới, đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu
dùng.
Phân hóa những người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo
Kinh tế hàng hóa với co chế thị trường tự nó sàng lọc yếu tố con người của nền kinh tế.
Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường, trình độ
năng lực giỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội sẽ
trở nên giàu có
Ngược lại, những người do hạn chế về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp kém, trình độ
công nghệ lạc hậu,… thì giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội và dễ lâm vào tình
trạng thua lỗ, dẫn đến phá sản, thậm chí phải đi làm thuê.
Đây chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Như vậy, trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có tác động cả tích cực và tiêu cực. Do
đó, cần tôn trọng sự hoạt động khách quan của quy luật giá trị , tạo điều kiện cho quy luật giá trị
phát huy những tác động tích cực, đồng thời cần tăng cường sự quản lý của Nhà nước để hạn
chế các tác động tiêu cực.
e) Ý nghĩa thực tiễn
Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn của quy luật giá trị
trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phát huy vai trò tích cực
của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm
bảo sự công bằng xã hội.
Câu 5: Phân tích hàng hóa sức lao động. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
a) Hàng hóa sức lao động Sức lao động
+ Khái niệm: Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ
thể một con người đang sống và được người đó sử dụng vào sản xuất.
lOMoARcPSD| 40660676
+ Điều kện để sức lao động trở thành hàng hóa:
Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao động
của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định
Thứ hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với sức lao
động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động + Hai
thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Giá trị hàng hóa sức lao động o Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất sức lao động quy định
o Cấu thành của hàng hóa sức lao động gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (
cả về vật chất và tinh thần) để tái sản xuất sức lao động, nuôi con của người
lao động và phí tổn đào tạo người lao động
o Mang tính lịch sử và tinh thần, nghĩa là ngoài yêu cầu về vật chất thì những
người công nhân còn có nhu cầu về đời sống tinh thần. Những nhu cầu đó phụ
thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động o Mục đích là để thỏa mãn nhu cầu của
con người, tức là mua để tiêu dùng trong quá trình lao động
o Với hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng sẽ mất đi theo thời gian. Nhưng
với hàng hóa sức lao động, giá trị sử dụng luôn được phục hồi và tái tạo sau
mỗi chu kì sản xuất
o Trong quá trình người lao động tiêu dùng sức lao động của mình thì họ tạo ra
một lượng giá trị mới lớn hơn. Đây là điểm khác biệt của hàng hóa sức lao
động và là nguồn gốc của giá trị thặng dư
VD: Ngày lao động 8 giờ gồm 4 giờ lao động tất yếu và 4 giờ lao động thặng
dư. Nếu nhà tư bản trả cho công nhân 100$ tiền lương, thì tỏng ngày lao động
ấy, người công nhân còn tạo ra 100$ cho nhà tư bản, Mác gọi đó là giá trị
thặng dư
b) Ý nghĩa
Là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản
Vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, lao động không công của công nhân là thuê tạo ra
trong quá trình sản xuất và bị các nhà tư bản chiếm đoạt không trả tiền
Vạch rõ bản chất cơ bản nhất của xã hội tư bản đó là quan hệ bóc lột của tư bản đối vowia
lao động làm thuê
Vạch rõ các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư: lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi tức,
địa tô,…
lOMoARcPSD| 40660676
Vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tích lũy tư bản
Câu 6: Vì sao sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Sở dĩ sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì trong quá trình sử dụng nó, không những giá tị
của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn được gọi là giá
trị thặng dư.
Phân tích: giống câu 5
Câu 7: Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, từ đó rút ra ý nghĩa của
việc nghiên cứu các phương pháp này.
Chúng ta biết rằng, mục đích của nhà tư bản là thu được nhiều gái trị thặng dư, và để có được
điều đó, nhà tư bản đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng khái quát lại có hai phương
pháp là: sản xuất giá trị thăng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thăng dư tương đối.
a) Hai phương pháp
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
GTTD tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá
thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời
gian lao động tất yếu không thay đổi.
Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản,
khi công cụ lao động thủ công thống trị và năng suất lao động thấp.
VD: Giả sử, ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4
giờ là thời gian lao động thặng dư.
m’ = x 100% = 100%
Giả dụ nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân bằng cách kéo dài ngày lao động
từ 8 giờ lên 10 giờ trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, vẫn là
4
giờ, thì thời gian lao động thặng dư sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ.
m’ = x 100% = 150%
Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một
cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất GTTD tyệt đối
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của chủ nghĩa tư bản, khi kỹ thuật còn thấp thì
phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công
nhân. Tuy nhiên, bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và
tinh thần, đồng thời vấp phải sức đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của công nhân nên
lOMoARcPSD| 40660676
với độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tư bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột
bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như
kéo
dài ngày lao động. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, trình độ tự giác của người công
nhân tăng lên, họ ddunwsgk lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm vì thế nhà tư bản đã sử
dụng phương pháp sản xuất GTTD tương đối Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động
tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, do đó kéo dài thời gian lao động
thặng dư trong khi độ dài ngày lao đông, cường độ lao động không thay đổi, thậm chí
rút ngắn.
Được áp dụng trong giai đoạn sau, khi nên đại công nghiệp cơ khí đã phát triển VD:
Nếu thời gian lao động tất yếu rút từ 4 giờ xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động
thặng dư sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ
m’ = x 100% = 300%
Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu
để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn
như cũ gọi là phương pháp sản xuất GTTD tương đối.
Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu nhà tư bản phải tìm cách hạ thấp giá trị sức lao
động bằng cách hạ thấp giá trị tư liệu sinh hoạt. Chỉ có nâng cao năng suất lao động
xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt cho công nhân, cũng như trong các
ngành sản xuất tư liệu sản xuất trực tiếp liên quan đến các ngành sản xuất tư liệu sinh
hoạt thì mới đạt được kết quả đó.
b) Giá trị thằng dư siêu ngạch
Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ cố gắng tăng năng suất lao động trong các xí nghiệp
của mình để giảm giá trị cá biệt của hàng hóa so với giá trị xã hội của hàng hóa.Nhà tư bản
sẽ chiếm số chênh lệch giữa giá trị xã hội và giá trị cá biệt.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi doanh
nghiệp áp dụng công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá
biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội.
Giá trị thặng dư là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hoàn
thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá
trị của hàng hóa.
lOMoARcPSD| 40660676
Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư
tương đối vì chúng có chung một cơ sở: chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao
động
Tuy vậy, giữa chúng có sự khác nhau:
+ GTTD siêu ngạch dựa trên cơ sở năng suất lao động cá biệt, còn GTTD tương đối
dựa trên cơ sở năng suất lao động xã hội. GTTD siêu ngạch sẽ được thay bằng GTTD
tương đối khi kỹ thuật mới áp dụng ở các doanh nghiệp riêng biệt trở thành phổ biến
trong xã hội.
+ Sự khác nhau giữa chúng còn thể hiện ở chỗ: GTTD tương đối thuộc về toàn b
giai cấp tư sản. Nó biểu hiện sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng
rộng rãi. Xét về mặt đó thì nó biểu hiện quan hệ giữa giai cấp
c) Ý nghĩa
Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư, đặc biệt là phương pháp sản xuất GTTD tương đối và sản xuất GTTD siêu ngạch
có tác dụng mạnh mẽ, kích thích cá nhân, tập thể lao động cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản ký,
tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh.
Câu 8: Phân tích căn cứ, nội dung và ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành cac
cặp phạm trù: Tư bản khả biến- tư bản bất biến và tư bản cố định- tư bản lưu động. Ý
nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
*) Khái niệm tư bản:
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Nếu hiểu theo
nghĩa này thì tư bản là một phạm trù lịch sử biểu hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư bản và giai
cấp công nhân làm thuê.
a) Tuy nhiên, trên thực tế không nhà tư bản nào thừa nhận họ bóc lột sức lao động của người
công nhân, và để vạch rõ bản chất bóc lột của nhà tư bản thì Mác là người đầu tiên phân
chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa
là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo
ra giá trị thặng dư.
Cơ sở:
lOMoARcPSD| 40660676
Mác đã căn cứ vào vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong việc tạo ra giá trị thặng
dư, trong đó, tư bản bất biến đóng vai trò là điều kiện, còn tư bản khả biến đóng vai trò
quyết định trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
Nội dung:
Tư bản bất biến
+ Khái niệm: là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất ( nhà xưởng, máy
móc, thiết bị, nguyện liệu, nhiên liệu vật liệu phụ,…) mà giá trị của nó được lao động cụ thể
của người công nhân chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mới, túc là giá trị không thay đổi về
lượng trong quá trình sản xuất gọi là tư bản bất biến, kí hiệu là c + Phân loại: c được chia
thành c
1
và c
2
. o c
1
tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng o c
2
tồn tại dưới dạng
nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ
Tư bản khả biến
+ Khái niệm: Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động trong quá trình sản xuất
đã có sự thay đổi về lượng. Sự tăng lên về lượng do giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động có tính chất đặc biệt khi được tiêu dùng thì nó tạo ra một lượng giá trị mới hơn lớn hơn
giá tị của bản thân nó, kí hiệu là v
Ý nghĩa:
Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến là công lao vĩ đại của Mác.
Sự phân chia này đã vạch rõ nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư là do tư bản khả biến tạo
ra. C. Mác còn chỉ rõ vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình hình thành
giá trị thặng dư, từ đó làm rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
b) Tư bản cố định và tư bản lưu động
Cơ sở
Căn cứ vào phương thức chuyển giá trị của các bộ phận tư bản vào giá trị sản phẩm mới
Nội dung:
Tư bản cố định
+ Khái niệm: là một bộ phận của tư bản sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị
của nó được chuyển dần vào trong sản phẩm mới.
+ Quá trình sử dụng tư bản cố định có hai loại hao mòn: o Hao mòn hữu hình: Hao mòn
về giá trị sử dụng do tác động của tự nhiên, cơ học, hoá học sinh ra.
o Hao mòn vô hình: Hao mòn về giá trị do tác động của tiến bộ kỹ thuật.
Tư bản lưu động:
+ Khái niệm: là một bộ phận của tư bản sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị
của nó chuyển một lần vào giá trị sản phẩm mới. (Nguyên nhiên vật liệu, sức lao động).
lOMoARcPSD| 40660676
Ý nghĩa:
Là cơ sở để quản lý sử dụng vốn cố định, vốn lưu động một cách hiệu quả
Câu 9: Phân tích tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
a) Khái niệm
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở đó, các quan hệ kinh tế
đều được thực hiện thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của quy luật thị trường.
Trước kinh tế thị trường định hướng XHCN, ta đã được biết đến các mô hình kinh tế: -
hình KTTT tự do
+ Hầu hết các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ
+ Đặc trưng:
o Đề cao vai trò của chế độ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và cạnh tranh tự do.
o Sự can thiệp điều tiết của nhà nước vào các quá trình kinh tế được hạn chế ở mức
thấp
- Mô hình KTTT xã hội:
+ Các nước Tây - Bắc Âu, điển hình là Đức (quê hương của mô hình kinh tế thị trường –
xã hội), Thuỵ Điển, Na Uy và Phần Lan.
+ Đặc trưng:
o Coi các mục tiêu xã hội và phát triển con người là mục tiêu của chính quá trình
phát triển kinh tế thị trường
o Nhà nước dẫn dắt nền kinh tế thị trường phát triển không chỉ nhằm mục tiêu tăng
trưởng và hiệu quả kinh tế mà cả mục tiêu phát triển và hiệu quả xã hội.
Từ hai mô hình kinh tế trên, ta có thể nhận xét rằng: kinh tế thị trường không phát triển theo
một phương án duy nhất (phát triển thành kinh tế TBCN), cũng không theo một mô hình
đơn nhất (thị trường tự do). Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát
triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác
định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc. Một quốc gia đi sau không nhất
thiết phải vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nhất thiết phải rập
khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải
quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình.
- Trong quá trình tiến hoá về mô hình của kinh tế thị trường trên thế giới, các mô hình
xuất hiện sau đều phản ánh một xu hướng chung trong sự phát triển của kinh tế thị
lOMoARcPSD| 40660676
trường. Đó là: ngày càng nhấn mạnh các mục tiêu xã hội - con người và thừa nhận vai
trò định hướng, tổ chức và điều tiết phát triển của nhà nước.
Việc khẳng định tính phổ biến trong các mô hình kinh tế thị trường đặc thù hàm ý rằng
việc lựa chọn mô hình thị trường định hướng XHCN là đúng với xu hướng chung của
loài người.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan
của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của nhà nước Việt
Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
b) Tính tất yếu khách quan
Một là, phát triển KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan
của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay.
- Mong muốn dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mong muốn
chung của các quốc gia trên thế giới. Do đó, việc định hướng tói xác lập những giá trị đó
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là phù hợp và tất yếu trong phát triển
- Không thể có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi hình thái kinh
tế- xã hội, cho mọi quốc gia, dân tộc, mọi giai đoạn phát triển. Trong lịch sử đã có kinh
tế hàng hóa giản đơn kiểu chiếm hữu nô lệ và phong kiến hay hay kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa. Ngay như trong cùng một chế độ tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường của
mỗi quốc gia, dân tộc cũng khác nhau, mang màu sắc và đặc tính khác nhau.
- Lịch sử cho thấy, mặc dù nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển cao
và phồn thịnh ở các nước tư bản phát triển, nhưng những mấu thuẫn vốn có của
không thể nào khắc phục được trong lòng xã hội tư bản. Do vậy, nhân loại muốn tiến lên,
muốn tiếp tục phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị tường tư bản chủ
nghĩa. Hơn nữa, nước ta đã bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi thẳng lên chủ nghĩa xã
hội nên sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt
Nam là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
Hai là, do tính ưu việt của kinh tế thị trường trong thúc đẩy phát triển
- Thực tiễn trên thế giới và Việt Nam cho thấy kinh tế thị trường là phương thức phân bổ
nguồn lực hiệu quả mà loại người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị trường.
Kinh tế thị trường luôn là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và có
hiệu quả.
lOMoARcPSD| 40660676
- ới tác động của quy luật thị trường, nền kinh tế luôn phát triể theo hướng năng động,
kích thích tiến bộ kỹ thuật- công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Do vậy trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần phải phát triển nền kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế
thị trường làm phương tiện để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và có hiệu
quả, thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là “ dân giàu , nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.
Ba là, do đó là mô hình kinh tế thị trường phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong
muốn dân giàu , nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
- Trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường, nhưng việc phát triển mà dẫn tới dân
không giàu, nước không mạnh, xã hội không dân chủ, kém văn minh thì không ai mong
muốn. Thế giới cũng vậy và nhân dân Việt Nam cũng vậy. Cho nên, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là khát vọng của nhân dân
Việt Nam.Để thực hiện hóa khát vọng đó, việc thực hiện kinh tế thị trường mà trong đó
hướng tới những giá trị mới, do đó, là tất yếu khách quan.
- Mặt khác, cần khẳng định rằng: kinh tế thị trường sẽ còn tồn tại lâu dài ở nước ta là một
tất yếu khách quan, là sự cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển. Bở lẽ sự tồn tại
hay không tồn tại của kinh tế thị trường là do những điều kiện kinh tế- xã hội khách quan
sinh ra nó quy định
- Hơn nữa, nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa về thực
chất là quá trình phát triển “ rút ngắn” của lịch sử, chứ không phải là sự “ đốt cháy” giai
đoạn. Với ý nghĩa đó, nước ta phải làm một cuộc cách mạng chuyển từ nên kinh tế lạc
hậu mang nặng tính tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ phá v
tính chất tự cấp, tự túc của nền kinh tế, phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao
động, khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động, góp phần
từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, mở rộng giao lưu kinh tế
giữa các vùng miền trong nước và với nước ngoài,… Như vậy, có thể xem phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là bước đi quan trọng nhằm xã
hội hóa nền sản xuất, là bước đi tất yếu của sự phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn,
là bước đi quá độ để đi lên chủ nghĩa xã hội.
c) Thành tựu
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được thành tựu
đáng kể. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước và có vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng
nhiều, hộ nông dân chuyển sang kinh doanh hàng hóa, hộ tư thương phát triển mạnh, thị
lOMoARcPSD| 40660676
trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày càng lớn, chủng loại phong phú hơn.
Thị trường tài chính, nhất là thị trường tín dụng và chứng khoán phát triển khá nhanh. Thị
trường bất động sản, thị trường lao động và khoa học - công nghệ, dù còn chưa phát triển
một cách chuẩn tắc, nhưng cũng đã hình thành. Xuất khẩu, nhập khẩu phát triển mạnh, đưa
nước ta trở thành nước có nền kinh tế mở ở mức độ cao trong khu vực. Thu nhập bình quân
đầu người từ khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986, lên 471 USD/người/năm vào năm
2003. Năm 2015, bình quân đầu người 2300 USD/người/năm. Năm 2017, thu nhập bình
quân đầu người khoảng 2385 USD/người/năm.Các vấn đề về an sinh xã hội cơ bản được
đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọi người đều phát triển khá đồng bộ và
ngày càng được cải thiện. Tuổi thọ trung bình của nước ta tăng, đạt 73,3 tuổi vào năm 2015;
năm 2016 là 73,4 tuổi; năm 2017 là 73,5 tuổi, vượt xa các nước có thu nhập thấp (58 tuổi)
và cao hơn các nước có thu nhập trung bình (71 tuổi).
Câu 10: Phân tích các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
a) Khái niệm
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở đó, các quan hệ kinh tế
đều được thực hiện thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của quy luật thị trường.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan
của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của nhà nước Việt
Nam, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
b) Đặc trưng
*) Những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường
- Về chủ thể kinh tế: Các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất kinh doanh theo luật pháp
và được bình đẳng không phân biệt đối xử. Các chủ thể kinh tế đều có cơ hội để tiếp cận các
nguồn lực phát triển có hiệu quả.
- Về thị trường: Thực hiện các giải pháp để tạo lập và phát triển các yếu tố thị trường
cơ bản như thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường vốn, tiền tệ; thị trường khoa học, công
nghệ; thị trường lao động, thị trường bất động sản và lành mạnh hóa các yếu tố thị trường đó
nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, bền vững và bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa.
lOMoARcPSD| 40660676
- Về cơ chế vận hành: Tôn trọng tính khách quan của các quy luật kinh tế thị trường;
tính năng động của cơ chế thị trường.
- Về vai trò của Nhà nước: Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường trên cơ sở vận
dụng cácquy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường vào điều kiện Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế để định hướng phát triển nền kinh tế, tạo lập môi trường cho nền
kinh tế phát triển ổn định, bền vững và hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường.
**) Những đặc trưng riêng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Về mục tiêu, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực
lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân, thực hiên “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Đây là sự khác biệt cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã họi chủ nghĩa với kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa
- Ở Việt Nam, việc sử dụng cơ chế thị trường cùng các hình thức và phương thức quản lý
của kinh tế thị trường là để kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động, sáng tạo của
người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa- hiện đại hóa, đảm
bảo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
- Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người tăng
nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được
thu hẹp.
- Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho
ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các bí
mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng.
- Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay
trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề
xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn
có giá trị cao về văn hóa, xã hội.
Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế: phát triển nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
- Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế sẽ tạo ra động lực cạnh
tranh để hình thành một nền kinh tế thị trường năng động và phát triển. Các chủ thể
thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp
luật. Đây không chỉ là điểm khác biệt với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà còn phản ánh
nhận thức mới về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ
lOMoARcPSD| 40660676
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mỗi thành phần kinh tế đều là một bộ phận cấu thành của nền
kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển, cùng hợp tác và
cạnh tranh lành mạnh. Chỉ có như vậy mới có thể khai thác được mọi nguồn lực, nâng
cao hiệu quả kinh tế, phát huy được tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế vào sự
phát triển chung của đất nước, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng
tăng của tầng lớp nhân dân.
- Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo hướng dẫn chỉ đạo các thành phần kinh tế
khác. Với vai trò của mình, kinh tế Nhà nước không đứng độc lập, tách rời mà luôn có
mối quan hệ gắn bó hữu cơ với toàn bộ nền kinh tế và trong suốt quá trình phát triển.
Kinh tế Nhà nước là đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng nhanh,bền vững và giải quyết các
vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Về quan hệ quản lý nền kinh tế: Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, sự làm chủ và giám sát của nhân dân
- Nhà nước quản lý nền KTTT định hướng XHCN thông qua pháp luật, các chiến lược, kế
hoạch, quy hoạch và cơ chế chính sách cùng các công cụ kinh tế trên cơ sở tôn trọng
những nguyên tắc của thị trường, phù hợp với yêu cầu xây dựng XHXHCN ở Việt Nam.
VD: + Pháp luật Hiến pháp và các bộ luật, trong các bộ luật lại có luật dân sự, luật hình
sự,…
+ Các chính sách, chiến lược, quy hoạch gồm:
o Chính sách kinh tế, chính sách tăng trưởng ( trong đó, chính sách tăng trưởng lại
gồm: chính sách tài chính và chính sách tiền tệ),…
o Chính sách xã hội gồm: chính sách việc làm và chính sách xóa đói giảm nghèo,
o Chính sách văn hóa gồm: chính sách giáo dục, chính sách khoa học- công
nghệ,… o Chính sách đối ngoại o Chính sách quốc phòng, an ninh
Về quan hệ phân phối: Thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân
phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
- Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN,
là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu tư liệu sản xuất. Do vậy, đây
là hình thức phân phối chủ yếu ở nước ta hiện nay.
- Bên cạnh đó, thực hiện nhiều hình thức phân phối sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ xã hội, góp phần cải thiện và nâng cao đồi sống nhân dân, đảm bảo
công bằng xã hội.
lOMoARcPSD| 40660676
Về gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội một cách tự giác
- Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thực hiện gắn tăng trưởng KT với công bằng
xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển kinh tế - văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng XH ngay trong từng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và từng giai đoạn
phát triển của KTTT. Đây là đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng mangnh định
hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Không thể đợi tới khi có nền kinh tế phát triển cao mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội và càng không thể “ hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng
kinh tế đơn thuần. Ngày nay, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta không chỉ dựa vào
chính sách điều tiết thu nhập, an sinh xã hội,… mà còn phải tạo điều kiện để đảm bảo
cho mọi người dân đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như
giáo dục, y tế , việc làm,… để họ có thể tự lo liệu và cải thiện đời sống của bản thân, gia
đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước.
Với những đặc trưng trên, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là sự kết hợp
những mặt tích cực, ưu điểm của kinh tế thị trường với bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội
để hướng tới một nền kinh tế thị trường hiện địa, văn minh.
Câu 11: Phân tích vai trò của cách mạng công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế-
hội, từ đó rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
Nói đến cách mạng công nghiệp là nói đến sự thay đổi lớn lao mà nó mang lại trong các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, và xã hội. Nhìn lại lịch sử, con người đã trải qua bốn cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật lớn. Mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và
sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.
a) Khái niệm cách mạng công nghiệp
Là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu lao động trên cơ sở những
phát minh đột phá về máy móc, kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân
loại kéo theo sự thay đổi căn bản về trình độ phân công lao động xã hội cũng như tạo bước
phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tính năng
mới trong kỹ thuật – công nghệ vào đời sống xã hội.
b) Lịch sử
Trước khi đến với vai trò to lớn mà các cuộc cách mạng khoa học mang lại, ta cùng điểm lại
những nội dung cơ bản của bốn cuộc cách mạng lớn trong lịch sử loài người.
lOMoARcPSD| 40660676
- Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên (1.0) trên thế giới được bắt đầu ở nước Anh từ
giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới
hóa sản xuất với những phát minh : máy móc ngành dệt, máy động lực, luyện kim, giao
thông vận tải
- Cuộc cách mạng công nghiệp 2.0 được khởi xướng từ cuối thế kỷ XIX, kéo dài đến đầu
thế kỷ XX, sử dụng năng lượng điện và động cơ điện để tạo ra dây chuyền sản xuất hàng
loạt với những phát minh: điện, xăng dầu, động cơ đốt trong, công nghệ luyện thép, in
ấn, các phương pháp quản lí sản xuất mới,…
- Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 diễn ra vào đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ XX,
sử dụng công nghệ thông tin và máy tính để tự động hóa sản xuất, với những thành tựu:
chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân, Internet
- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI và vẫn đang tác động mạnh
mẽ đến cuộc sống hiện tại của chúng ta. Đây là cuộc cách mạng sử dụng Internet of
things để thực hiện công việc thông minh và hiệu quả nhất, với những thành tựu: trí tuệ
nhận tạo, big data, in 3D,…
c) Vai trò
Thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
- Cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển lực
lượng sản xuất của các quốc gia. Và đồng thời, tác động mạnh mẽ đến quá trình điều
chỉnh cấu trúc và vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội.
- liệu lao động liên tục phát triển, từ chỗ máy móc ra đời thay thế lao động chân tay
cho đến sự ra đời của máy tính điện tử, chuyển nền sản xuất sang giai đoạn tự động hóa.
- Cách mạng công nghiệp có vai tò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực , nó vừa đặt ra
những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao nhưng mặt khác lại tạo điều
kiện để phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc máy móc thay thế lao động thủ công
ngày càng nhiều đã làm tăng nạn thất nghiệp, mức độ bóc lột lao động tăng làm nảy sinh
mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, đây cũng là nguyên nhân làm bùng nổ những cuộc đấu
tranh mạnh mẽ của công nhân nhiều nước châu Âu.
- Về đối tượng lao động, cách mạng công nghiệp đã đưa sản xuất của con người vượt quá
những giới hạn về tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phụ thuộc của sản xuất vào các
nguồn năng lượng truyền thống. Tuy nhiên, những đột phá của cuộc cách mạng 4.0 sẽ
làm mất đi những lợi thế sản xuất truyền thống.
- Thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để các nước tiên tiến tiếp tục
đi xa hơn trong phát triển khoa học công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học công
lOMoARcPSD| 40660676
nghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống. Ngoài ra, cách mạng công nghiệp còn thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất
- Các cuộc cách mạng công nghiệp tạo sự phát triển nhảy vọt về chất trong lực lượng sản
xuất và sự phát triển này tất yếu dẫn đến quá tình điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện
quan hệ sản xuất xã hội.
- Trước hết là sự biến đổi về sở hữu tư liệu sản xuất. quá tình tích tụ và tập trung tư bản
dưới tác động của quy luật giá trị thặng dư và cạnh tranh gay gắt đã đẻ ra những xí
nghiệp có quy mô lớn.
- Cách mạng công nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế thị trường, tạo
điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và trao đổi thành tựu khoa học công
nghệ giữa các nước.
- Cách mạng công nghiệp làm cho lĩnh vực tổ chức, quản lý kinh doanh cũng có sự thay
đổi to lớn. Việc quản lý quá trình sản xuất trở nên dễ dàng hơn, thông qua ứng dụng công
nghệ như internet, trí tuệ nhân tạo, robot,…
- Trong lĩnh vực phân phối, cách mạng công nghiệp mà nhất là cách mạng công nghiệp 4.0
đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập
và cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, nó khiến nạn thất nghiệp và phân hóa thu
nhập gay gắt hơn, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng, buộc các nước phải điều chỉnh các
chính sách phân phối thu nhập và an sinh xã hội.
- Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, quản lý
kinh tế- xã hội giữa các nước.Thông quan đó, các nước lạc hậu có thể rút ra những bài
học kinh nghiệm của các nước đi trước để hạn chế những sai lầm, thất bại trong quá trình
phát triển.
Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển
- Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 với công nghệ kỹ thuật số và Internet đã kết nối giữa
doanh nghiêp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cá nhân và giữa các cá nhân với
nhau, thị trường được mở rộng, đồng thời hình thành một “ thế giới phẳng”. Cuộc cách
mạng này đã tạo điều kiện để chuyển biến các nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế
tri thức.
lOMoARcPSD| 40660676
- Phương thức quản trị, điều hành của chính phủ cũng có sự thay đổi nhanh chóng để thích
ứng với sự phát triển của công nghệ mới, hình thành hệ thống tin học hóa trong quản lý
và “ chính phủ điện tử”.
Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ đế phương thức quản trị và điều hành của
Nhà nước. Việc quản trị và điều hành phải được thực hiện thông qua hạ tầng số và
Internet.
Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tác động mạnh mẽ tới phương thức quản trị và điều
hành của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh
xuất phát từ nguồn lực chủ yếu là công nghệ, trí tuệ đổi mới, sáng tạo. Làn sóng công
nghệ mới giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng chính xác hơn nhu
cầu của khách hàng nhưng cũng đặt ra vấn đề an ninh mạng trong việc bảo mật thông tin
và dữ liệu đối voeid chính phủ, doanh nghiệp và người dân.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 yêu cầu các quốc gia phải có hệ thống thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi hoạt động sản xuất lên một trình độ ca hơn, tri thức hơn, tạo năng suất và
giá trị cao hơn. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức vô cùng lớn, tạo sức ép cạnh
tranh rất lớn.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi nhận thức con người trong nhiều lĩnh vực,
tái tạo lại thế giới mà chúng ta đã biết, giúp chúng ta có những định hướng đúng đắn
trong tương lai.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 còn tạo điều kiện cho sự phát triển của những lĩnh vực như:
gen, công nghệ nano, máy tính lượng tử,…
- Cuối cùng, cách mạng công nghiệp làm cho cuộc sống của con người trở nên thuận tiện
và năng suất hơn đồng thời tạo điều kiện để mọi người đều có thể khởi nghiệp, tạo khả
năng giải phóng con người khỏi lao động chân tay nặng nhọc.
Câu 12: Phân tích những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển kinh
tế của Việt Nam
a) Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa
trên sự chia sẻ nguồn lực và lợi ích đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung.
b) Tác động: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt
Nam với nền kinh tế thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế ở Việt Nam vừa có tác động tích cực
nhưng cũng tồn tại nhiều hạn chế. Tác động tích cực
lOMoARcPSD| 40660676
- Tạo điều kiện mở rộng thị trường, vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước + Mở
rộng thị trường bằng việc: o hợp tác đa phương khi tham gia vào các tổ chức:
WTO, ASEAN, AFTA,
APEC, FTA
o hợp tác song phương với các quốc gia có quan hệ kinh tế chiến lược với Việt
Nam như Nhật Bản, Trung Quốc,…
+ Mở rộng vốn bằng việc đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp ODA
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế như tỉ trọng nông nghiệp giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại
tăng.
- Tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ
quốc gia. Nhờ đẩy mạnh hợp tác giáo dục- đào tạo và nghiên cứu khao học mà nâng cao
khả năng hấp thụ khoa học công nghệ hiện đại.
- Làm tăng cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, tiếp cận
phương thức quản trị để nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Tạo cơ hội để cải thiện tiêu dùng trong nước, người dân được hưởng thụ các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng, từ đó có cơ hội tìm kiếm việc làm trong và ngoài nước.
- Tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt tình hình và xu thế phát
triển của thế giới
- Tạo điều kiện thúc đẩy hội nhập văn hóa, chính trị, củng cố quốc phòng an ninh + Văn
hóa: tiếp thu những tinh hóa văn hóa thế giới, làm giàu thêm văn hóa dân tộc và thúc đẩy
tiến bộ xã hội
+ Chính trị, tạo điều kiện cải cách toàn diện hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, một xã hội mở, dân chủ, văn minh
+ Quốc phòng an ninh: đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định khu vực
và thế giới để tập trung phát triển kinh tế- xã hội Tác động tiêu cực
- Làm gia tăng sự cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế ở nước ta
gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, gây nhiều hậu quả bất lợi về kinh tế- xã hội
- Làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài, khiến kinh
tế dễ bị tổn thương trước những biến động về chính trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
- Dẫn đến phân phối không công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác
nhau trong xã hội, có nguy cơ làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
- Dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, có thể bị biến thành bãi thải công
nghiệp và công nghệ thấp, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường
ở mức độ cao.
lOMoARcPSD| 40660676
- Tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước, chủ quyền quốc gia và phát sinh
vấn đề phức tạp đối với duy trì an ninh, ổn đinh trật tự , an toàn xã hội
- Làm tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống Việt Nam bị xói mòn trước
sự “ xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.
- Làm tăng nguy cơ gia tăng tình trạng khủng bố, dịch bệnh, buôn lậu tội phạm xuyên
quốc gia, nhập cư bất hợp pháp
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa có khả năng tạo ra những cơ hội thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, vừa có thể dẫn đến những nguy cơ to lớn mà hậu quả của chúng là rất
khó lường. Vì vậy tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức trong hội nhập kinh tế là vấn đề
phải đặc biệt coi trọng.
| 1/27

Preview text:

lOMoAR cPSD| 40660676
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Môn: Kinh tế chính trị
Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời và sự tồn tại của sản xuất hàng hóa. Giải thích vì sao
hàng hóa lại có hai thuộc tính?
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm không
nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán.
Có hai kiểu tổ chức kinh tế:
+ Sản xuất tụ cung, tự cấp: là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người làm ra sản phẩm đó.
+ Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm đáp ứng
nhu cầu của thị trường thông qua trao đổi, mua bán
b) Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội
+ Là sự phân chia lao động xã hội theo các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên
sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau. + Kéo
theo sự phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất. Mỗi người sản xuất một
loại hàng hóa mà nhu cầu thì đa dạng, đòi hỏi nhiều loại sản phẩm để thỏa mãn những nhu
cầu khác nhau nên những người sản xuất phải phụ thuộc vào nhau, dẫn đến trao đổi mua
bán, từ đó có sản xuất hàng hóa.
+ Phân công lao động xã hội là cơ sở và tiền đề cho sản xuất hàng hóa. Phân công lao động
xã hội càng phát triển thì sản xuất và traođổi hàng hóa càng được mở rộng và đa dạng hơn.
Điều kiện thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
+ Cơ sở của sự tách biệt đó là do quan niệm khác nhau về sở hữu thu liệu sản xuất mà khởi
đầu là sự xuất hiện của chế độ tư hữu.
+ Chế độ tư hữu đã tạo nên sự độc lập giữa những người sản xuất, chia cắt họ thành đơn vị
riêng lẻ, khác nhau về lợi ích. Trong quá trình sản xuất, những người sản xuất có quyền
quyết định về việc sản xuất loại hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất như thế nào, trao đổi với ai. lOMoAR cPSD| 40660676
Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất hàng hóa làm cho những người sản xuất độc lập với nhau,
nhưng phân công lao động xã hội lại làm cho họ phụ thuộc vào nhau. Chính điều đó đã tạo
nên nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau.
Như vậy phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể
sản xuất là ha điều kiện cần và đủ cho sản xuất hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai điều kiện
này thì sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa. c) Giải thích
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: mặt cụ
thể và mặt trừu tượng của lao động.
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích lao động riêng, công cụ lao động
riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
VD: Lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may là hai lao động cụ thể khác nhau:
+ Với người thợ mộc: mục đích là làm ra bàn ghế ; công cụ là bào, cưa, mũi khoan,...
phương pháp là cưa, đẽo, đục,..; kết quả là tạo ra bàn ghế để ngồi
+ Với người thợ may: mục đích là làm ra quần ; công cụ là máy may, chỉ, vải,…
phương pháp: cắt, may,…; kết quả là tạo ra quần áo để mặc
Các loại lao động cụ thể khác nhau về chất tạo nên những sản phẩm cũng khác nhau về chất
và mỗi sản phẩm có giá trị sử dụng riêng. Trong đời sống xã hôi, có vô số những hàng hóa
với những giá trị sử dụng khác nhau do lao động cụ thể đa dạng, muôn hình muôn vẻ tạo
nên.Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều nganh nghề khác nhau,
do đó có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Khoa học, kỹ thuật, phân công lao động càng phát
triển thì các hình thức lao động lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng.
Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình
thức cụ thể của nó. Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về
cơ bắp, thần kinh, trí óc. Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng
tạo ra giá trị của hàng hóa. Có thể nói, giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người lOMoAR cPSD| 40660676
sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó. Đó là mặt vật chất của giá trị hành hóa. Lao
động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.
Câu 2: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa. Lấy ví dụ thực tiến để minh họa. a)
Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi mua bán. Hàng hóa gồm hàng hóa vật thể và hàng hóa phi vật thể.
Điều kiện để một san rphẩm là hàng hóa: hàng hóa phải là sản phẩm của lao động, nghĩa là
tất cả các sản phẩm không phải do lao động tạo ra thì dù có quan trọng như thế nào đối với
cuộc sống con người cũng không phải hàng hóa. Sản phẩm của lao động nhất thiết phải
thông qua trao đổi mua bán, hàng hóa phải có tính hữu dụng, tức là phải thỏa mãn được một
nhu cầu nào đó của con người.
b) Thuộc tính của hàng hóa
Dù khác nhau về hình thái tồn tại, song mọi thứ hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hóa
+ Là công dụng của hàng hóa thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, nhu cầu đó có
thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân,
có thể là nhu cầu tiêu dùng sản xuất
+ Đặc trưng của giá trị sử dụng của hàng hóa:
Một vật có thể có một hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau.
VD: chai nhựa thường được dùng để chứ chất lỏng như nước, rượu,… ngoài ra, chai nhựa
còn được dùng làm chậu hoaa, đồ chơi, hộp bút, đồ trang trí,…
Nền sản xuất phát triển, khia học, công nghệ tiên tiến, càng giúp cho con người phát
hiện ra nhiều và phong phú các giá tị sử dụng của hàng hóa khác nhau.
VD: Khi than đá mới được phát hiện thì nó được dùng để nấu và sưởi ấm. Về sau, khu
khoa học- kỹ thuật phát triẻn, nhiều loại nồi hiện đai ra đời thì than đá được dùng làm chất
đốt và nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp hóa chất.
Giá trị sử dụng là do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định. Với ý nghĩa này,
giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn
VD: cao su có thuộc tính đàn hồi, cách điện, cách nhiệt nên được dùng làm bóng bay, gang
tay, nệm, săm, lốp xe,…
Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng. Nhưng không
phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa. lOMoAR cPSD| 40660676
VD: Không khí rất cần thiết cho cuộc sống của chúng ta nhưng không phải là hàng hóa vì
không khí không phải do còn người tạo ra và cũng không thông qua quá trình trao đổi mua bán.
Bình oxi lại là hàng hóa vì nó là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi mua bán
và có ích đối với con người.
Giá trị sử dụng, với tư cách là một thuộc tính của hàng hóa khônghải là giá trị sử
dụng cho người sản xuất hàng hóa mà là giá trị sử dụng cho người tiêu dùng thông
qua trao đổi mua bán. Trogn nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị
trao đổi. Xã hội càng tiến bộ thì số lượng giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng
giá trị sử dụng ngày càng cao. Giá trị của hàng hóa
+ Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ
về lượng mà một giá trị sử dụng này đổi với những giá trị sử dụng khác + VD: 1 m vải = 10 kg thóc.
Vấn đề đặt ra là, tại sao vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại có
thể trao đổi được với nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?
Khi hai hàng hóa khác nhau là vải và thóc có thể trao đổi được với nhau, thì phải có một cơ
sở chung nào đó: Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, tuy sự khác nhau về giá trị sử
dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi. Song, cái chung đó phải nằm ở cả hai
hàng hóa. Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúng chỉ có một cái
chung: chúng đều là sản phẩm của lao động. Để sản xuất ra vải và thóc, nguời thợ thủ công
và người nông dân đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng. Hao phí lao động là cơ
sở chung để so sánh vải với thóc, để trao đổi giữa chúng với nhau.
Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, (1m vải = 10 kg thóc), vì người ta cho rằng
lao động hao phí sản xuất ra l m vải bằng lao động hao phí để sản xuất ra 10 kg thóc. Lao
động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính là giá trị của hàng hóa.
Từ sự phân tích trên, rút ra kết luận: giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó. Như vậy, chất của giá trị là lao động, vì vậy, sản
phẩm nào không có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó thì nó không có giá trị.
Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao.
+ Đặc trưng của giá tị hàng hóa;
Giá trị là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương thức sản xuất
có sản xuất và trao đổi hàng hóa lOMoAR cPSD| 40660676
Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực trao đổi. Giá trị tảo đổi chỉ là hình thức biểu
hiện của giá trị, giá trị là nội dung, cơ sở của giá trị trao đổi. Giá trị thay đổi thì giá
trị trao đổi cũng thay đổi theo.
Giá trị hàng hóa biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là những quan hệ kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa.
Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa.
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
+ Mặt thống nhất: Hai thuốc tính của hàng hóa có tính thống nhất vì chúng cùng đồng thời
tồn tại trong một hành hóa và do một lao động sản xuất ra hàng hóa quyết định. Hơn nữa,
mọi hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Nếu thiếu một trong hai
thuộc tính này thì sản phẩm đó không phải là hàng hóa. + Mặt mâu thuẫn:
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì hàng hóa khác nhau về chất, nhưng vơi tư
cách là giá trị thì hành hóa lại đồng nhất về chất.
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá tị cùng động thời tồn tại trong một hàng hóa nhưng
quá trình thực hiện chúng lại độc lập về không gian và thời gian. Giá trị được thực
hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, giá trị được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêu dùng
+ Trong nền sản xuất hàng hóa, một hàng hóa sản xuất ra có thể bán được hoặc không bán
được. Nếu hàng hóa bán được thì mâu thuẫn giữa hai thuộc tính được giải quyết.
+ Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Câu 3: Phân tích khái niệm, ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Liên hệ
với thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. a) Khái niệm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế
hàng hóa phát triển ở trình độ cao ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua
thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật hoạt động trên thị trường.
b) Ưu thế: kinh tế thị trường có 3 ưu thế nổi bật
Một là, kinh tế thị trường tạo động lực kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ, qua đó tập hợp và phát huy được trí tuệ,
tiềm lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, thúc đầy tăng trưởng kinh tế. Thông qua lOMoAR cPSD| 40660676
vai trò thị trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hữu hiệu kích thích sự
sáng tạo trong các chủ thể kinh tế. Nền kinh tế thị trường tạo môi trường rộng mở cho
các mô hình kinh doanh mới theo đà phát triển của xã hội.
Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lý kinh doanh
năng động, sáng tạo, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả.
VD: Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do kinh doanh. Doanh nghiệp muốn đứng
vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do
vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hóa để cho phép
thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ
thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ thế giới. Trong nền kinh tế
thị trường, mọi tiềm năng, lợi thế đều có thể được phát huy, đều có thể trở thành lợi ích đóng góp cho xã hội.
VD: Việt Nam chúng ta có 7 cùng kinh tế trọng điểm, mỗi vùng lại có những thế mạnh
riêng. Chẳng hạn, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là nơi giàu khoáng sản bậc nhất
nước ta nên nền kinh tế tập trung chủ yếu là khai thác, chế biến khoáng sản; đây cũng là
vùng có tiềm năng về thủy điện vì có trữ năng trên sông Hồng chiếm 1/3 trữ năng cả
nước. Hay với vùng Tây Nguyên, có lợi thế với diện tích đất bazan lớn nhất cả nước
cùng khí hậu cận xích đạo, nên thế mạnh của vùng là trồng cây công nghiệp lâu năm và chế biến lâm sản.
Với lợi ích quốc gia, Việt Nam là một đất nước giáp biển nên thuận lợi cho phát
triển các ngành kinh tế: khai thác, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, du lịch,…
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của
con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, các
thành viên của xã hội luôn có thể tìm thấy cơ hội tối đa để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Nền kinh tế thị trường với sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra sự phù hợp
giữa khối lượng, cơ cấu sản xuất với khối lượng,cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Kinh tế thị trường cũng là tiền đề để có được một lực lượng sản xuất lớn cho xã hội, tạo
ra hàng hóa, sản phẩm dư thừa giúp thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng ở mức tối đa.
c) Khuyết tật: Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường vẫn tồn tại một số khuyết tật lOMoAR cPSD| 40660676
Một là, xét trên phạm vi toàn nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn
những rủi ro khủng hoảng: Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ, có thể diễn ra trên phạm
vi tổng thể. Khủng hoảng có thể xảy ra với mọi loại thị trường,với mọi nền kinh tế thị
trường. Nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được những rủi ro tiềm ẩn do sự
vận động tự phát của các quy luật kinh tế.
VD: Dịch bệnh Covid trong suốt ba tháng qua đã dẫn đến sự suy thoái trầm trọng của
nền kinh tế. Xét ở một khía cạnh thông thương, đặc trưng của kinh tế thị trường là nền
kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, hợp tác để cùng nhau phát triển.
Nhưng cũng chính vì điều này, khi dịch bệnh bùng phát, các nước phải đóng cửa, ngừng
thông thương, hàng trong nước không xuất đi được, những mặt hàng trong nước không
sản xuất được, hay những mặt hàng của nước ngoài không nhập vào được khiến cho nền
kinh tế bị trì trệ. Chẳng hạn ở Việt Nam, do ảnh hưởng của đại dịch, gần 500 xe chở
nông sản (chủ yếu là dưa hấu và thanh long) đang tồn tại các cửa khẩu biên giới chưa thể
thông quan. Trong khi đó, các xe nông sản vẫn đang tiếp tục được chở lên.
Hai là, nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên
không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội. Do phần lớn các chủ
thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với nguồn lực tài nguyên, suy thoái
môi trường. Đây là những mặt trái mang tính khuyết tật của bản thân nền kinh tế thị trường.
VD:Trong khi cả nước cùng chung tay chống lại đại dịch, mỗi người dẫn góp 20.000
đồng, rồi người góp khẩu trang, người góp gạo,… thì giám đốc CDC Hà Nội lại lợi dụng
dịch bệnh để trục lợi cho bản thân. Hệ thống máy xét nghiệm Realtime PCR khi nhập
khẩu về Việt Nam chỉ 2,3 tỉ đồng nhưng Giám đốc CDC Hà Nội nâng khống giá trị gói
thầu hệ thống xét nghiệm COVID-19 lên gấp 3 lần, với giá 7 tỉ đồng nhằm trục lợi khoản
chênh lệch. Đó là một biểu hiện của sự duy thoái mội trường xã hội, suy thoái đạo đức.
Ba là, phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường là tự phát dưới tác động đa chiều
của các quy luật kinh tế. Điều này có thể dẫn tới phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu
nhập, phân cực của cải, thậm chí làm gia tăng tình trạng bất công xã hội, làm nảy sih
mâu thuẫn và xung đột xã hội.
VD: Một phúc trình của Ngân hàng Thế giới vừa công bố cho thấy thành phần giàu có ở
Việt Nam đã tăng gấp 3 trong thập niên qua, nhưng cũng vì điều này mà khoảng cách
giàu nghèo lại có khả năng tăng lên cao gấp nhiều lần so với tỷ lệ giảm nghèo. Có thể
thấy rõ, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi lOMoAR cPSD| 40660676
như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp. Chính vì
điều đó, đời sống vật chất và tinh thần khó khăn khiến cho cuộc sống khó mà tốt lên
được. Trong khi đó, những người ở những nơi thuận lợi, có thu nhập cao thì đời sống của
học cũng tốt hơn, có điều kiện chăm sóc sức khỏe,có nhiều cơ hội để tìm kiềm việc làm,
nâng cao đời sống. Từ đó, sự phân hóa càng rõ rệt, càng sâu sắc.
d) Liên hệ với Việt Nam
Ở Việt Nam,nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế, người sản
xuất trở nên năng đông, nhạy bén hơn với thời cuộc, sáng tạo sản phẩm đa dnagj, đa năng đáp ứng
nhu cầu của xã hội. Không chỉ khẳng định được khả năng phát triển trong nước mà còn vươn ra thị
trường quốc tế với chất lượng và giá thành sản phẩm mang tính cạnh tranh cao.Như các nghề thủ
công, mỹ nghệ mây tre đan, ban đầu chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước sau trở thành mặt hàng được
đưa ra thị trường quốc tế và trở thành mặt hàng độc đáo mang nét văn hóa riêng của người Việt.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế thị trường cũng tạo ra khủng hoảng hàng hóa, ô nhiễm môi
trường mà khó có thể khắc phục, vì lợi ích bản thân, lợi ích kinh doanh sản xuất đôi khi con người
sẵn sang đánh đổi thiên nhiên vì lợi ích kinh tế. Khí thải từ các nhà máy, các phương tiện giao thông
ngày một tăng lên,.. chưa kể đến ô nhiễm nguồn nước, đất đai, nạn chặt phá rừng,…tất cả đã dẫn
đến một con số đáng báo động là Việt Nam nằm trong top 11 quốc gia ô nhiễm bụi nhất thế giới.
Những tiềm năngtừ con người mà thiên nhiên mà Việt Nam có có thể giúp nền kinh tế thị trường
của nước ta phát triển hơn nữa nhưng sẽ không có kết quả gì nếu tình trạng của môi trường cứ ngày
càng xấu đi. Từ thực trạng này, rất cần đến các biện pháp giải quyết từ Nhà nước và ý thức của mỗi người dân Việt Nam.
Câu 4: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế
hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. a) Nội dung
Vị trí của quy luật giá trị: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa.
Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Quy
luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh tế khác.
Nội dung: sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí
lao động xã hội cần thiết. b) Yêu cầu
+ Thứ nhất, sản xuất hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Người
sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì lOMoAR cPSD| 40660676
lượng giá trị của một hàng háo cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.
+ Thứ hai, trong lĩnh vựa trao đổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải
đảm bảo bù đắp được chi phí cho người sản xuất và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng
c) Biểu hiện sự hoạt động
Quy luật giá tị biểu hiện sự hoạt động của nó thông qua sự biến động của giá cả. Giá cả là sự
biểu hiện bằng tiền của giá trị. Ngoài giá trị, giá cả phụ thuộc vào các yếu tố như: cạnh
tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền,…Giá cả của hàng hóa trên thị trường lên xuống xoay quanh giá trị
d) Tác động : 3 tác động
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
+ Điều tiết sản xuất thông qua cơ chế cung cầu và giá cả trên thị trường
• Cung < cầu giá cả > giá trị có lãi tăng đầu tư tăng quy mô sản xuất
• Cung > cầu giá cả < giá trị thua lỗ ngững hoặc giảm sản xuất thu hẹp quy mô sản xuất + Điều tiết lưu thông:
Thông qua cơ chế cung cầu và giá cả mà nguồn hàng, mặt hàng, chủng loại hàng hóa,…
được điều hòa từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, từ nơi thừa hàng đến nơi thiếu hàng, góp phần
làm cho hàng hóa giữa các vùng, các quốc gia có sự cân bằng nhất định. Như vậy, biến động
của giá cả thị trường không những chỉ rõ sự biến động kinh tế mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hóa.
VD: Theo trào lưu thời trang, những mẫu quần áo thời trang mới nhất sẽ được nhập về nước,
đầu tiên sẽ đến với người dân thành thị – nơi có cuộc sống sung túc, đầy đủ hơn. Cho đến
khi những loại quần áo đó đã trở nên lỗi thời, nó được chuyển về bán cho người dân nông thôn.
VD: người bán vải đang bán mặt hàng vải, nhưng khi trên thị trường mặt hàng vải bán quá
chậm, giá thấp mà mặt hàng may sẵn lại bán nhanh hơn, giá cao hơn; để ko bị ứ đọng,
không lỗ vốn và thu được lợi nhuận, vận dụng các tác động điều tiết lưu thông của quy luật
giá trị, ngưới bán vải tìm cách chuyển đổi từ kinh doanh mặt hàng vải sang kinh doanh mặt
hàng may sẵn một cách thích ứng
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển
Năng suất lao động tăng khối lượng hàng hóa tăng giá trị một đơn vị hàng hóa giảm
giá cả giảm nhu cầu tăng tổng lợi nhuận thu được nhiều hơn. Do đó, để năng ca năng lOMoAR cPSD| 40660676
suất lao động, người sản xuất phải tìm mọi cách để giảm giá trị cá biệt so với giá trị xã hội
của hàng hóa, qua đó mà thu lợi nhuận siêu ngạch. Muốn vậy, người lao động phải nâng cao
trình độ, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ; doanh nghiệp áp dụng khao học, cong nghệ mới
vào sản xuất,.. tức là làm cho nhân tố của lực lượng sản xuất phát triển.
VD: Trong điều kiện ngày càng có nhiều công ty bánh kẹo khác ra đời và có nhiều loại bánh
kẹo mới , công ty Kinh Đô đã nhập dây chuyền sản xuất bánh kẹo ở nước ngoài tạo nên
nhiều loại bánh kẹo mẫu mã mới, đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Phân hóa những người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo
Kinh tế hàng hóa với co chế thị trường tự nó sàng lọc yếu tố con người của nền kinh tế.
• Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường, trình độ
năng lực giỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội sẽ trở nên giàu có
• Ngược lại, những người do hạn chế về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp kém, trình độ
công nghệ lạc hậu,… thì giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội và dễ lâm vào tình
trạng thua lỗ, dẫn đến phá sản, thậm chí phải đi làm thuê.
Đây chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Như vậy, trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có tác động cả tích cực và tiêu cực. Do
đó, cần tôn trọng sự hoạt động khách quan của quy luật giá trị , tạo điều kiện cho quy luật giá trị
phát huy những tác động tích cực, đồng thời cần tăng cường sự quản lý của Nhà nước để hạn
chế các tác động tiêu cực.
e) Ý nghĩa thực tiễn
Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn của quy luật giá trị
trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phát huy vai trò tích cực
của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm
bảo sự công bằng xã hội.
Câu 5: Phân tích hàng hóa sức lao động. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
a) Hàng hóa sức lao động Sức lao động
+ Khái niệm: Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ
thể một con người đang sống và được người đó sử dụng vào sản xuất. lOMoAR cPSD| 40660676
+ Điều kện để sức lao động trở thành hàng hóa:
• Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao động
của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định
• Thứ hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với sức lao
động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động + Hai
thuộc tính của hàng hóa sức lao động
• Giá trị hàng hóa sức lao động o Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất sức lao động quy định
o Cấu thành của hàng hóa sức lao động gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (
cả về vật chất và tinh thần) để tái sản xuất sức lao động, nuôi con của người
lao động và phí tổn đào tạo người lao động
o Mang tính lịch sử và tinh thần, nghĩa là ngoài yêu cầu về vật chất thì những
người công nhân còn có nhu cầu về đời sống tinh thần. Những nhu cầu đó phụ
thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước.
• Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động o Mục đích là để thỏa mãn nhu cầu của
con người, tức là mua để tiêu dùng trong quá trình lao động
o Với hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng sẽ mất đi theo thời gian. Nhưng
với hàng hóa sức lao động, giá trị sử dụng luôn được phục hồi và tái tạo sau mỗi chu kì sản xuất
o Trong quá trình người lao động tiêu dùng sức lao động của mình thì họ tạo ra
một lượng giá trị mới lớn hơn. Đây là điểm khác biệt của hàng hóa sức lao
động và là nguồn gốc của giá trị thặng dư
VD: Ngày lao động 8 giờ gồm 4 giờ lao động tất yếu và 4 giờ lao động thặng
dư. Nếu nhà tư bản trả cho công nhân 100$ tiền lương, thì tỏng ngày lao động
ấy, người công nhân còn tạo ra 100$ cho nhà tư bản, Mác gọi đó là giá trị thặng dư b) Ý nghĩa
Là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản
Vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, lao động không công của công nhân là thuê tạo ra
trong quá trình sản xuất và bị các nhà tư bản chiếm đoạt không trả tiền
Vạch rõ bản chất cơ bản nhất của xã hội tư bản đó là quan hệ bóc lột của tư bản đối vowia lao động làm thuê
Vạch rõ các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư: lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi tức, địa tô,… lOMoAR cPSD| 40660676
Vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tích lũy tư bản
Câu 6: Vì sao sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Sở dĩ sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì trong quá trình sử dụng nó, không những giá tị
của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư. Phân tích: giống câu 5
Câu 7: Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, từ đó rút ra ý nghĩa của
việc nghiên cứu các phương pháp này.
Chúng ta biết rằng, mục đích của nhà tư bản là thu được nhiều gái trị thặng dư, và để có được
điều đó, nhà tư bản đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng khái quát lại có hai phương
pháp là: sản xuất giá trị thăng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thăng dư tương đối. a) Hai phương pháp
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
• GTTD tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá
thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời
gian lao động tất yếu không thay đổi.
• Phương pháp này được áp dụng chủ yếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản,
khi công cụ lao động thủ công thống trị và năng suất lao động thấp.
VD: Giả sử, ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4
giờ là thời gian lao động thặng dư. m’ = x 100% = 100%
Giả dụ nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân bằng cách kéo dài ngày lao động
từ 8 giờ lên 10 giờ trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, vẫn là 4
giờ, thì thời gian lao động thặng dư sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ. m’ = x 100% = 150%
Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một
cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất GTTD tyệt đối
• Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của chủ nghĩa tư bản, khi kỹ thuật còn thấp thì
phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công
nhân. Tuy nhiên, bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và
tinh thần, đồng thời vấp phải sức đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của công nhân nên lOMoAR cPSD| 40660676
với độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tư bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột
bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo
dài ngày lao động. Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, trình độ tự giác của người công
nhân tăng lên, họ ddunwsgk lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm vì thế nhà tư bản đã sử
dụng phương pháp sản xuất GTTD tương đối Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
• GTTD tương đối là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động
tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, do đó kéo dài thời gian lao động
thặng dư trong khi độ dài ngày lao đông, cường độ lao động không thay đổi, thậm chí rút ngắn.
• Được áp dụng trong giai đoạn sau, khi nên đại công nghiệp cơ khí đã phát triển VD:
Nếu thời gian lao động tất yếu rút từ 4 giờ xuống còn 2 giờ thì thời gian lao động
thặng dư sẽ tăng từ 4 giờ lên 6 giờ m’ = x 100% = 300%
Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu
để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn
như cũ gọi là phương pháp sản xuất GTTD tương đối.
• Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu nhà tư bản phải tìm cách hạ thấp giá trị sức lao
động bằng cách hạ thấp giá trị tư liệu sinh hoạt. Chỉ có nâng cao năng suất lao động
xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt cho công nhân, cũng như trong các
ngành sản xuất tư liệu sản xuất trực tiếp liên quan đến các ngành sản xuất tư liệu sinh
hoạt thì mới đạt được kết quả đó.
b) Giá trị thằng dư siêu ngạch
Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ cố gắng tăng năng suất lao động trong các xí nghiệp
của mình để giảm giá trị cá biệt của hàng hóa so với giá trị xã hội của hàng hóa.Nhà tư bản
sẽ chiếm số chênh lệch giữa giá trị xã hội và giá trị cá biệt.
• Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi doanh
nghiệp áp dụng công nghệ mới sớm hơn các doanh nghiệp khác làm cho giá trị cá
biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội.
• Giá trị thặng dư là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hoàn
thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm giá trị của hàng hóa. lOMoAR cPSD| 40660676
• Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư
tương đối vì chúng có chung một cơ sở: chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
• Tuy vậy, giữa chúng có sự khác nhau:
+ GTTD siêu ngạch dựa trên cơ sở năng suất lao động cá biệt, còn GTTD tương đối
dựa trên cơ sở năng suất lao động xã hội. GTTD siêu ngạch sẽ được thay bằng GTTD
tương đối khi kỹ thuật mới áp dụng ở các doanh nghiệp riêng biệt trở thành phổ biến trong xã hội.
+ Sự khác nhau giữa chúng còn thể hiện ở chỗ: GTTD tương đối thuộc về toàn bộ
giai cấp tư sản. Nó biểu hiện sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng
rộng rãi. Xét về mặt đó thì nó biểu hiện quan hệ giữa giai cấp c) Ý nghĩa
Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư, đặc biệt là phương pháp sản xuất GTTD tương đối và sản xuất GTTD siêu ngạch
có tác dụng mạnh mẽ, kích thích cá nhân, tập thể lao động cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản ký,
tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh.
Câu 8: Phân tích căn cứ, nội dung và ý nghĩa của việc phân chia tư bản thành cac
cặp phạm trù: Tư bản khả biến- tư bản bất biến và tư bản cố định- tư bản lưu động. Ý
nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. *) Khái niệm tư bản:
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Nếu hiểu theo
nghĩa này thì tư bản là một phạm trù lịch sử biểu hiện quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư bản và giai cấp công nhân làm thuê.
a) Tuy nhiên, trên thực tế không nhà tư bản nào thừa nhận họ bóc lột sức lao động của người
công nhân, và để vạch rõ bản chất bóc lột của nhà tư bản thì Mác là người đầu tiên phân
chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa
là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Cơ sở: lOMoAR cPSD| 40660676
Mác đã căn cứ vào vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong việc tạo ra giá trị thặng
dư, trong đó, tư bản bất biến đóng vai trò là điều kiện, còn tư bản khả biến đóng vai trò
quyết định trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Nội dung: • Tư bản bất biến
+ Khái niệm: là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất ( nhà xưởng, máy
móc, thiết bị, nguyện liệu, nhiên liệu vật liệu phụ,…) mà giá trị của nó được lao động cụ thể
của người công nhân chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mới, túc là giá trị không thay đổi về
lượng trong quá trình sản xuất gọi là tư bản bất biến, kí hiệu là c + Phân loại: c được chia
thành c1 và c2. o c1 tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng o c2 tồn tại dưới dạng
nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ • Tư bản khả biến
+ Khái niệm: Là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động trong quá trình sản xuất
đã có sự thay đổi về lượng. Sự tăng lên về lượng do giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động có tính chất đặc biệt khi được tiêu dùng thì nó tạo ra một lượng giá trị mới hơn lớn hơn
giá tị của bản thân nó, kí hiệu là v Ý nghĩa:
Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến là công lao vĩ đại của Mác.
Sự phân chia này đã vạch rõ nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư là do tư bản khả biến tạo
ra. C. Mác còn chỉ rõ vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình hình thành
giá trị thặng dư, từ đó làm rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
b) Tư bản cố định và tư bản lưu động Cơ sở
Căn cứ vào phương thức chuyển giá trị của các bộ phận tư bản vào giá trị sản phẩm mới Nội dung: • Tư bản cố định
+ Khái niệm: là một bộ phận của tư bản sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị
của nó được chuyển dần vào trong sản phẩm mới.
+ Quá trình sử dụng tư bản cố định có hai loại hao mòn: o Hao mòn hữu hình: Hao mòn
về giá trị sử dụng do tác động của tự nhiên, cơ học, hoá học sinh ra.
o Hao mòn vô hình: Hao mòn về giá trị do tác động của tiến bộ kỹ thuật. • Tư bản lưu động:
+ Khái niệm: là một bộ phận của tư bản sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị
của nó chuyển một lần vào giá trị sản phẩm mới. (Nguyên nhiên vật liệu, sức lao động). lOMoAR cPSD| 40660676 Ý nghĩa:
Là cơ sở để quản lý sử dụng vốn cố định, vốn lưu động một cách hiệu quả
Câu 9: Phân tích tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam a) Khái niệm
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở đó, các quan hệ kinh tế
đều được thực hiện thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của quy luật thị trường.
Trước kinh tế thị trường định hướng XHCN, ta đã được biết đến các mô hình kinh tế: - Mô hình KTTT tự do
+ Hầu hết các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ + Đặc trưng:
o Đề cao vai trò của chế độ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và cạnh tranh tự do.
o Sự can thiệp điều tiết của nhà nước vào các quá trình kinh tế được hạn chế ở mức thấp - Mô hình KTTT xã hội:
+ Các nước Tây - Bắc Âu, điển hình là Đức (quê hương của mô hình kinh tế thị trường –
xã hội), Thuỵ Điển, Na Uy và Phần Lan. + Đặc trưng:
o Coi các mục tiêu xã hội và phát triển con người là mục tiêu của chính quá trình
phát triển kinh tế thị trường
o Nhà nước dẫn dắt nền kinh tế thị trường phát triển không chỉ nhằm mục tiêu tăng
trưởng và hiệu quả kinh tế mà cả mục tiêu phát triển và hiệu quả xã hội.
Từ hai mô hình kinh tế trên, ta có thể nhận xét rằng: kinh tế thị trường không phát triển theo
một phương án duy nhất (phát triển thành kinh tế TBCN), cũng không theo một mô hình
đơn nhất (thị trường tự do). Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát
triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác
định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc. Một quốc gia đi sau không nhất
thiết phải vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nhất thiết phải rập
khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải
quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình.
- Trong quá trình tiến hoá về mô hình của kinh tế thị trường trên thế giới, các mô hình
xuất hiện sau đều phản ánh một xu hướng chung trong sự phát triển của kinh tế thị lOMoAR cPSD| 40660676
trường. Đó là: ngày càng nhấn mạnh các mục tiêu xã hội - con người và thừa nhận vai
trò định hướng, tổ chức và điều tiết phát triển của nhà nước.
Việc khẳng định tính phổ biến trong các mô hình kinh tế thị trường đặc thù hàm ý rằng
việc lựa chọn mô hình thị trường định hướng XHCN là đúng với xu hướng chung của loài người.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan
của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của nhà nước Việt
Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
b) Tính tất yếu khách quan
Một là, phát triển KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan
của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay.
- Mong muốn dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mong muốn
chung của các quốc gia trên thế giới. Do đó, việc định hướng tói xác lập những giá trị đó
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là phù hợp và tất yếu trong phát triển
- Không thể có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi hình thái kinh
tế- xã hội, cho mọi quốc gia, dân tộc, mọi giai đoạn phát triển. Trong lịch sử đã có kinh
tế hàng hóa giản đơn kiểu chiếm hữu nô lệ và phong kiến hay hay kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa. Ngay như trong cùng một chế độ tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường của
mỗi quốc gia, dân tộc cũng khác nhau, mang màu sắc và đặc tính khác nhau.
- Lịch sử cho thấy, mặc dù nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển cao
và phồn thịnh ở các nước tư bản phát triển, nhưng những mấu thuẫn vốn có của nó
không thể nào khắc phục được trong lòng xã hội tư bản. Do vậy, nhân loại muốn tiến lên,
muốn tiếp tục phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị tường tư bản chủ
nghĩa. Hơn nữa, nước ta đã bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi thẳng lên chủ nghĩa xã
hội nên sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt
Nam là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
Hai là, do tính ưu việt của kinh tế thị trường trong thúc đẩy phát triển
- Thực tiễn trên thế giới và Việt Nam cho thấy kinh tế thị trường là phương thức phân bổ
nguồn lực hiệu quả mà loại người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị trường.
Kinh tế thị trường luôn là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và có hiệu quả. lOMoAR cPSD| 40660676
- Dưới tác động của quy luật thị trường, nền kinh tế luôn phát triể theo hướng năng động,
kích thích tiến bộ kỹ thuật- công nghệ, nâng cao năng suất lao động. Do vậy trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần phải phát triển nền kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế
thị trường làm phương tiện để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và có hiệu
quả, thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là “ dân giàu , nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Ba là, do đó là mô hình kinh tế thị trường phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong
muốn dân giàu , nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
- Trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường, nhưng việc phát triển mà dẫn tới dân
không giàu, nước không mạnh, xã hội không dân chủ, kém văn minh thì không ai mong
muốn. Thế giới cũng vậy và nhân dân Việt Nam cũng vậy. Cho nên, phấn đấu vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là khát vọng của nhân dân
Việt Nam.Để thực hiện hóa khát vọng đó, việc thực hiện kinh tế thị trường mà trong đó
hướng tới những giá trị mới, do đó, là tất yếu khách quan.
- Mặt khác, cần khẳng định rằng: kinh tế thị trường sẽ còn tồn tại lâu dài ở nước ta là một
tất yếu khách quan, là sự cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển. Bở lẽ sự tồn tại
hay không tồn tại của kinh tế thị trường là do những điều kiện kinh tế- xã hội khách quan sinh ra nó quy định
- Hơn nữa, nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa về thực
chất là quá trình phát triển “ rút ngắn” của lịch sử, chứ không phải là sự “ đốt cháy” giai
đoạn. Với ý nghĩa đó, nước ta phải làm một cuộc cách mạng chuyển từ nên kinh tế lạc
hậu mang nặng tính tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ phá vỡ
tính chất tự cấp, tự túc của nền kinh tế, phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao
động, khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động, góp phần
từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, mở rộng giao lưu kinh tế
giữa các vùng miền trong nước và với nước ngoài,… Như vậy, có thể xem phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là bước đi quan trọng nhằm xã
hội hóa nền sản xuất, là bước đi tất yếu của sự phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn,
là bước đi quá độ để đi lên chủ nghĩa xã hội. c) Thành tựu
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được thành tựu
đáng kể. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước và có vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng
nhiều, hộ nông dân chuyển sang kinh doanh hàng hóa, hộ tư thương phát triển mạnh, thị lOMoAR cPSD| 40660676
trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày càng lớn, chủng loại phong phú hơn.
Thị trường tài chính, nhất là thị trường tín dụng và chứng khoán phát triển khá nhanh. Thị
trường bất động sản, thị trường lao động và khoa học - công nghệ, dù còn chưa phát triển
một cách chuẩn tắc, nhưng cũng đã hình thành. Xuất khẩu, nhập khẩu phát triển mạnh, đưa
nước ta trở thành nước có nền kinh tế mở ở mức độ cao trong khu vực. Thu nhập bình quân
đầu người từ khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986, lên 471 USD/người/năm vào năm
2003. Năm 2015, bình quân đầu người 2300 USD/người/năm. Năm 2017, thu nhập bình
quân đầu người khoảng 2385 USD/người/năm.Các vấn đề về an sinh xã hội cơ bản được
đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi cho mọi người đều phát triển khá đồng bộ và
ngày càng được cải thiện. Tuổi thọ trung bình của nước ta tăng, đạt 73,3 tuổi vào năm 2015;
năm 2016 là 73,4 tuổi; năm 2017 là 73,5 tuổi, vượt xa các nước có thu nhập thấp (58 tuổi)
và cao hơn các nước có thu nhập trung bình (71 tuổi).
Câu 10: Phân tích các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam a) Khái niệm
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở đó, các quan hệ kinh tế
đều được thực hiện thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của quy luật thị trường.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan
của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; có sự điều tiết của nhà nước Việt Nam, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo b) Đặc trưng
*) Những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường -
Về chủ thể kinh tế: Các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất kinh doanh theo luật pháp
và được bình đẳng không phân biệt đối xử. Các chủ thể kinh tế đều có cơ hội để tiếp cận các
nguồn lực phát triển có hiệu quả. -
Về thị trường: Thực hiện các giải pháp để tạo lập và phát triển các yếu tố thị trường
cơ bản như thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường vốn, tiền tệ; thị trường khoa học, công
nghệ; thị trường lao động, thị trường bất động sản và lành mạnh hóa các yếu tố thị trường đó
nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, bền vững và bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa. lOMoAR cPSD| 40660676 -
Về cơ chế vận hành: Tôn trọng tính khách quan của các quy luật kinh tế thị trường;
tính năng động của cơ chế thị trường. -
Về vai trò của Nhà nước: Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường trên cơ sở vận
dụng cácquy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường vào điều kiện Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế để định hướng phát triển nền kinh tế, tạo lập môi trường cho nền
kinh tế phát triển ổn định, bền vững và hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường.
**) Những đặc trưng riêng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Về mục tiêu, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực
lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân, thực hiên “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Đây là sự khác biệt cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã họi chủ nghĩa với kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa
- Ở Việt Nam, việc sử dụng cơ chế thị trường cùng các hình thức và phương thức quản lý
của kinh tế thị trường là để kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động, sáng tạo của
người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa- hiện đại hóa, đảm
bảo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
- Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người tăng
nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được thu hẹp.
- Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho
ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các bí
mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng.
- Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay
trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề
xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn
có giá trị cao về văn hóa, xã hội.
Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế: phát triển nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
- Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế sẽ tạo ra động lực cạnh
tranh để hình thành một nền kinh tế thị trường năng động và phát triển. Các chủ thể
thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp
luật. Đây không chỉ là điểm khác biệt với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà còn phản ánh
nhận thức mới về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ lOMoAR cPSD| 40660676
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mỗi thành phần kinh tế đều là một bộ phận cấu thành của nền
kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển, cùng hợp tác và
cạnh tranh lành mạnh. Chỉ có như vậy mới có thể khai thác được mọi nguồn lực, nâng
cao hiệu quả kinh tế, phát huy được tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế vào sự
phát triển chung của đất nước, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng
tăng của tầng lớp nhân dân.
- Kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo hướng dẫn chỉ đạo các thành phần kinh tế
khác. Với vai trò của mình, kinh tế Nhà nước không đứng độc lập, tách rời mà luôn có
mối quan hệ gắn bó hữu cơ với toàn bộ nền kinh tế và trong suốt quá trình phát triển.
Kinh tế Nhà nước là đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng nhanh,bền vững và giải quyết các
vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Về quan hệ quản lý nền kinh tế: Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, sự làm chủ và giám sát của nhân dân
- Nhà nước quản lý nền KTTT định hướng XHCN thông qua pháp luật, các chiến lược, kế
hoạch, quy hoạch và cơ chế chính sách cùng các công cụ kinh tế trên cơ sở tôn trọng
những nguyên tắc của thị trường, phù hợp với yêu cầu xây dựng XHXHCN ở Việt Nam.
VD: + Pháp luật Hiến pháp và các bộ luật, trong các bộ luật lại có luật dân sự, luật hình sự,…
+ Các chính sách, chiến lược, quy hoạch gồm:
o Chính sách kinh tế, chính sách tăng trưởng ( trong đó, chính sách tăng trưởng lại
gồm: chính sách tài chính và chính sách tiền tệ),…
o Chính sách xã hội gồm: chính sách việc làm và chính sách xóa đói giảm nghèo,…
o Chính sách văn hóa gồm: chính sách giáo dục, chính sách khoa học- công
nghệ,… o Chính sách đối ngoại o Chính sách quốc phòng, an ninh
Về quan hệ phân phối: Thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân
phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
- Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN,
là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu tư liệu sản xuất. Do vậy, đây
là hình thức phân phối chủ yếu ở nước ta hiện nay.
- Bên cạnh đó, thực hiện nhiều hình thức phân phối sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ xã hội, góp phần cải thiện và nâng cao đồi sống nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội. lOMoAR cPSD| 40660676
Về gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội một cách tự giác
- Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thực hiện gắn tăng trưởng KT với công bằng
xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển kinh tế - văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng XH ngay trong từng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và từng giai đoạn
phát triển của KTTT. Đây là đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng mang tính định
hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Không thể đợi tới khi có nền kinh tế phát triển cao mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội và càng không thể “ hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng
kinh tế đơn thuần. Ngày nay, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta không chỉ dựa vào
chính sách điều tiết thu nhập, an sinh xã hội,… mà còn phải tạo điều kiện để đảm bảo
cho mọi người dân đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như
giáo dục, y tế , việc làm,… để họ có thể tự lo liệu và cải thiện đời sống của bản thân, gia
đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước.
Với những đặc trưng trên, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là sự kết hợp
những mặt tích cực, ưu điểm của kinh tế thị trường với bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội
để hướng tới một nền kinh tế thị trường hiện địa, văn minh.
Câu 11: Phân tích vai trò của cách mạng công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế- xã
hội, từ đó rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
Nói đến cách mạng công nghiệp là nói đến sự thay đổi lớn lao mà nó mang lại trong các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, và xã hội. Nhìn lại lịch sử, con người đã trải qua bốn cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật lớn. Mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng bằng sự thay đổi về bản chất của sản xuất và
sự thay đổi này được tạo ra bởi các đột phá của khoa học và công nghệ.
a) Khái niệm cách mạng công nghiệp
Là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu lao động trên cơ sở những
phát minh đột phá về máy móc, kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân
loại kéo theo sự thay đổi căn bản về trình độ phân công lao động xã hội cũng như tạo bước
phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tính năng
mới trong kỹ thuật – công nghệ vào đời sống xã hội. b) Lịch sử
Trước khi đến với vai trò to lớn mà các cuộc cách mạng khoa học mang lại, ta cùng điểm lại
những nội dung cơ bản của bốn cuộc cách mạng lớn trong lịch sử loài người. lOMoAR cPSD| 40660676
- Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên (1.0) trên thế giới được bắt đầu ở nước Anh từ
giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới
hóa sản xuất với những phát minh : máy móc ngành dệt, máy động lực, luyện kim, giao thông vận tải
- Cuộc cách mạng công nghiệp 2.0 được khởi xướng từ cuối thế kỷ XIX, kéo dài đến đầu
thế kỷ XX, sử dụng năng lượng điện và động cơ điện để tạo ra dây chuyền sản xuất hàng
loạt với những phát minh: điện, xăng dầu, động cơ đốt trong, công nghệ luyện thép, in
ấn, các phương pháp quản lí sản xuất mới,…
- Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 diễn ra vào đầu những năm 1960 đến cuối thế kỷ XX,
sử dụng công nghệ thông tin và máy tính để tự động hóa sản xuất, với những thành tựu:
chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân, Internet
- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI và vẫn đang tác động mạnh
mẽ đến cuộc sống hiện tại của chúng ta. Đây là cuộc cách mạng sử dụng Internet of
things để thực hiện công việc thông minh và hiệu quả nhất, với những thành tựu: trí tuệ
nhận tạo, big data, in 3D,… c) Vai trò
Thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
- Cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển lực
lượng sản xuất của các quốc gia. Và đồng thời, tác động mạnh mẽ đến quá trình điều
chỉnh cấu trúc và vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội.
- Tư liệu lao động liên tục phát triển, từ chỗ máy móc ra đời thay thế lao động chân tay
cho đến sự ra đời của máy tính điện tử, chuyển nền sản xuất sang giai đoạn tự động hóa.
- Cách mạng công nghiệp có vai tò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực , nó vừa đặt ra
những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao nhưng mặt khác lại tạo điều
kiện để phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc máy móc thay thế lao động thủ công
ngày càng nhiều đã làm tăng nạn thất nghiệp, mức độ bóc lột lao động tăng làm nảy sinh
mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, đây cũng là nguyên nhân làm bùng nổ những cuộc đấu
tranh mạnh mẽ của công nhân nhiều nước châu Âu.
- Về đối tượng lao động, cách mạng công nghiệp đã đưa sản xuất của con người vượt quá
những giới hạn về tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phụ thuộc của sản xuất vào các
nguồn năng lượng truyền thống. Tuy nhiên, những đột phá của cuộc cách mạng 4.0 sẽ
làm mất đi những lợi thế sản xuất truyền thống.
- Thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để các nước tiên tiến tiếp tục
đi xa hơn trong phát triển khoa học công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học công lOMoAR cPSD| 40660676
nghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống. Ngoài ra, cách mạng công nghiệp còn thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất
- Các cuộc cách mạng công nghiệp tạo sự phát triển nhảy vọt về chất trong lực lượng sản
xuất và sự phát triển này tất yếu dẫn đến quá tình điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện
quan hệ sản xuất xã hội.
- Trước hết là sự biến đổi về sở hữu tư liệu sản xuất. quá tình tích tụ và tập trung tư bản
dưới tác động của quy luật giá trị thặng dư và cạnh tranh gay gắt đã đẻ ra những xí nghiệp có quy mô lớn.
- Cách mạng công nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế thị trường, tạo
điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và trao đổi thành tựu khoa học công nghệ giữa các nước.
- Cách mạng công nghiệp làm cho lĩnh vực tổ chức, quản lý kinh doanh cũng có sự thay
đổi to lớn. Việc quản lý quá trình sản xuất trở nên dễ dàng hơn, thông qua ứng dụng công
nghệ như internet, trí tuệ nhân tạo, robot,…
- Trong lĩnh vực phân phối, cách mạng công nghiệp mà nhất là cách mạng công nghiệp 4.0
đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập
và cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, nó khiến nạn thất nghiệp và phân hóa thu
nhập gay gắt hơn, dẫn đến gia tăng bất bình đẳng, buộc các nước phải điều chỉnh các
chính sách phân phối thu nhập và an sinh xã hội.
- Cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, quản lý
kinh tế- xã hội giữa các nước.Thông quan đó, các nước lạc hậu có thể rút ra những bài
học kinh nghiệm của các nước đi trước để hạn chế những sai lầm, thất bại trong quá trình phát triển.
Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển
- Cuộc cách mạng công nghiệp 3.0 với công nghệ kỹ thuật số và Internet đã kết nối giữa
doanh nghiêp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cá nhân và giữa các cá nhân với
nhau, thị trường được mở rộng, đồng thời hình thành một “ thế giới phẳng”. Cuộc cách
mạng này đã tạo điều kiện để chuyển biến các nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. lOMoAR cPSD| 40660676
- Phương thức quản trị, điều hành của chính phủ cũng có sự thay đổi nhanh chóng để thích
ứng với sự phát triển của công nghệ mới, hình thành hệ thống tin học hóa trong quản lý
và “ chính phủ điện tử”.
Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ đế phương thức quản trị và điều hành của
Nhà nước. Việc quản trị và điều hành phải được thực hiện thông qua hạ tầng số và Internet.
Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tác động mạnh mẽ tới phương thức quản trị và điều
hành của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh
xuất phát từ nguồn lực chủ yếu là công nghệ, trí tuệ đổi mới, sáng tạo. Làn sóng công
nghệ mới giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng chính xác hơn nhu
cầu của khách hàng nhưng cũng đặt ra vấn đề an ninh mạng trong việc bảo mật thông tin
và dữ liệu đối voeid chính phủ, doanh nghiệp và người dân.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 yêu cầu các quốc gia phải có hệ thống thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi hoạt động sản xuất lên một trình độ ca hơn, tri thức hơn, tạo năng suất và
giá trị cao hơn. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức vô cùng lớn, tạo sức ép cạnh tranh rất lớn.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi nhận thức con người trong nhiều lĩnh vực,
tái tạo lại thế giới mà chúng ta đã biết, giúp chúng ta có những định hướng đúng đắn trong tương lai.
- Cách mạng công nghiệp 4.0 còn tạo điều kiện cho sự phát triển của những lĩnh vực như:
gen, công nghệ nano, máy tính lượng tử,…
- Cuối cùng, cách mạng công nghiệp làm cho cuộc sống của con người trở nên thuận tiện
và năng suất hơn đồng thời tạo điều kiện để mọi người đều có thể khởi nghiệp, tạo khả
năng giải phóng con người khỏi lao động chân tay nặng nhọc.
Câu 12: Phân tích những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển kinh
tế của Việt Nam
a) Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa
trên sự chia sẻ nguồn lực và lợi ích đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung.
b) Tác động: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt
Nam với nền kinh tế thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế ở Việt Nam vừa có tác động tích cực
nhưng cũng tồn tại nhiều hạn chế. Tác động tích cực lOMoAR cPSD| 40660676
- Tạo điều kiện mở rộng thị trường, vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước + Mở
rộng thị trường bằng việc: o hợp tác đa phương khi tham gia vào các tổ chức: WTO, ASEAN, AFTA, APEC, FTA
o hợp tác song phương với các quốc gia có quan hệ kinh tế chiến lược với Việt
Nam như Nhật Bản, Trung Quốc,…
+ Mở rộng vốn bằng việc đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp ODA
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế như tỉ trọng nông nghiệp giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng.
- Tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ
quốc gia. Nhờ đẩy mạnh hợp tác giáo dục- đào tạo và nghiên cứu khao học mà nâng cao
khả năng hấp thụ khoa học công nghệ hiện đại.
- Làm tăng cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, tiếp cận
phương thức quản trị để nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Tạo cơ hội để cải thiện tiêu dùng trong nước, người dân được hưởng thụ các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng, từ đó có cơ hội tìm kiếm việc làm trong và ngoài nước.
- Tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt tình hình và xu thế phát triển của thế giới
- Tạo điều kiện thúc đẩy hội nhập văn hóa, chính trị, củng cố quốc phòng an ninh + Văn
hóa: tiếp thu những tinh hóa văn hóa thế giới, làm giàu thêm văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội
+ Chính trị, tạo điều kiện cải cách toàn diện hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, một xã hội mở, dân chủ, văn minh
+ Quốc phòng an ninh: đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa bình, ổn định khu vực
và thế giới để tập trung phát triển kinh tế- xã hội Tác động tiêu cực
- Làm gia tăng sự cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế ở nước ta
gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, gây nhiều hậu quả bất lợi về kinh tế- xã hội
- Làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài, khiến kinh
tế dễ bị tổn thương trước những biến động về chính trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
- Dẫn đến phân phối không công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác
nhau trong xã hội, có nguy cơ làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
- Dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, có thể bị biến thành bãi thải công
nghiệp và công nghệ thấp, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường ở mức độ cao. lOMoAR cPSD| 40660676
- Tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước, chủ quyền quốc gia và phát sinh
vấn đề phức tạp đối với duy trì an ninh, ổn đinh trật tự , an toàn xã hội
- Làm tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống Việt Nam bị xói mòn trước
sự “ xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.
- Làm tăng nguy cơ gia tăng tình trạng khủng bố, dịch bệnh, buôn lậu tội phạm xuyên
quốc gia, nhập cư bất hợp pháp
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa có khả năng tạo ra những cơ hội thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, vừa có thể dẫn đến những nguy cơ to lớn mà hậu quả của chúng là rất
khó lường. Vì vậy tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức trong hội nhập kinh tế là vấn đề
phải đặc biệt coi trọng.