




Preview text:
7.
Xã hội thị tộc được chia thành mấy giai đoạn? Khái quát về thời
công xã thị tộc mẫu hệ, phụ hệ.
Giai đoạn đầu: Chế độ mẫu quyền
Trong buổi đầu của xã hội loài người, do tình trạng quần hôn, con cái chỉ
biết mẹ và quây quần xung quanh mẹ vì vậy người phụ nữ có uy quyền hơn đàn
ông. Lúc này thị tộc tuân theo chế độ mẫu hệ, là tập hợp những người cùng huyết
thống theo dòng máu mẹ. Phụ nữ có vai trò kinh tế trọng yếu trong thị tộc, trong
khi người đàn ông lo săn bắn thì người phụ nữ chủ yếu lo việc hái lượm, trồng
trọt...những công việc đó đem lại nguồn lương thực chính và phụ nữ cũng trông
nom con cái, nhà cửa và quản lý kinh tế thị tộc, phân phối thức ăn.
Công cụ lao động còn thô sơ nên muốn tồn tại, con người cần phải tiến hành
lao động tập thể. Lao động tập thể và sản xuất tập thể quyết định chế độ sở hữu tập
thể. Đất đai, rừng rú, đồng cỏ, ao hồ,... là của chung không của riêng ai. Do đó
quyền lợi của các thành viên trong thị tộc là ngang nhau. Trong thị tộc, các bô lão
và tộc trưởng được kính trọng và có quyền hưởng thụ nhiều hơn. Quy luật kinh tế
cơ bản của chế độ công xã nguyên thuỷ là sản xuất những tư liệu sinh hoạt để phục
vụ trong thị tộc bằng cách dùng những công cụ sản xuất thô sơ và dựa trên cơ sở lao động tập thể.
Quan hệ giữa các thành viên trong thị tộc bình đẳng, những người đứng đầu
không có quyền thống trị, tiếng nói của mọi thành viên là tiếng nói quyết định đối
với mọi vấn đề và trong mọi trường hợp như tuyên chiến, di dời nơi ở... Trong xã
hội nguyên thuỷ không có chiến tranh với mục đích cướp bóc, thống trị mà thường
là các cuộc xung đột vì danh dự, kết quả của nó không đem lại sự nô dịch.
Giai đoạn sau: Chế độ phụ hệ
Sự phân công lao động giữa phụ nữ và đàn ông mang tính chất tự nhiên, lực
lượng sản xuất xã hội nguyên thuỷ tiếp tục phát triển. Trồng trọt và chăn nuôi dần
trở thành nguồn sinh sống chủ yếu, có nhiều công việc nặng nhọc, sức khoẻ của
người phụ nữ không thể đảm đương được nên vai trò của người đàn ông dần tăng
lên. Chế độ mẫu quyền dần phải nhường chỗ cho chế độ phụ quyền.
Ở giai đoạn sau, chế độ công xã thị tộc chuyển dần sang giai đoạn phụ hệ,
gắn liền với quá trình xuất hiện công cụ kim loại, đây là giai đoạn đánh dấu sự
chuyển giao vai trò của người phụ nữ sang người đàn ông. Công xã thị tộc là giai
đoạn quá độ từ bầy người nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp.
Thị tộc phụ hệ có các đặc điểm: Có nghi lễ tôn giáo chung; có nghĩa địa
chung; quyền kế thừa tài sản trong nội bộ thị tộc; có nghĩa vụ giúp đỡ bảo vệ nhau;
có hôn nhân nội tộc trong trường hợp cần giữ tài sản của thị tộc, song hôn nhân
phổ biễn là ngoại hôn; tài sản là của chung; huyết tộc tính theo dòng cha; cấm nội
hôn; thị tộc có quyền nhận người làm con nuôi; thành viên có quyền bầu cử và bãi
miễn tù trưởng và thủ lĩnh quân sự. 9.
So sánh hai giai đoạn phát triển của thời kỳ công xã thị tộc.
Nguyên nhân của sự phát triển. So sánh Giống:
- Mọi thành viên đều bình đẳng
- Đứng đầu thị tộc là tộc trưởng
- Đứng đầu bộ lạc là tù trưởng Khác:
Về hoạt động kinh tế:
- Thị tộc mẫu hệ: tiếp tục săn bắt, hái lượm. Về sau chuyển dần từ săn bắt
săn bắn, từ hái lượm sang trồng trọt nguyên thủy, chăn nuôi gia súc gia cầm
-Thị tộc phụ hệ: Nền nông nghiệp dùng cày (thay cho dùng cuốc), chăn nuôi gia súc, đại gia súc.
Về quan hệ hôn nhân - Thị tộc mẫu hệ:
+ Tập thể con gái của thị tộc này kết hôn với tập thể con trai của thị tộc kia
+ Dựa trên 4 nguyên tắc: ngoại tộc hôn (kết hôn ngoài thị tộc), nội tộc hôn
(kết hôn trong bộ lạc), khác thế hệ và nữ giới luôn chủ động
+ Cuối thị tộc mẫu hệ: Xuất hiện hình thức hôn nhân đối ngẫu (trong số
những người chồng phụ nữ có 1 người chồng chính và ngược lai
- Thị tộc phụ hệ: Hôn nhân một vợ một chồng. Người đàn ông làm chủ gia
đình, cơ quyền lực vô hạn
Thị tộc mẫu hệ và phụ hệ có nhiều đặc điểm giống nhau. Sự khác nhau được
thể hiện ở chỗ: Thị tộc mẫu hệ, huyết tộc tính theo dòng mẹ, thị tộc phụ hệ tính
theo dòng cha; trong thị tộc mẫu hệ, quần hôn đậm nét, còn ở thị tộc phụ hệ đã mờ
nhạt, chuyển sang hôn nhân một vợ một chồng; hôn nhân ở thi tộc mẫu hệ là cư trú
bên vợ, còn thị tộc phụ hệ là cư trú bên chồng. Về tổ chức xã hội, thị tộc mẫu hệ
dừng ở liên minh bộ lạc, còn thị tộc phụ hệ đã xuất hiện bộ tộc (xã hội sơ kỳ có
giai cấp); chế độ tư hữu đã nảy sinh và đưa đến sự tan rã của xã hội công xã
nguyên thủy ở cuối giai đoạn thị tộc phụ hệ.
Nguyên nhân của sự phát triển:
11. Điều kiện tự nhiên và dân cư của Ai Cập cổ đại
Điều kiện tự nhiên tôi tri địa lý: Ai Cập nằm ở đông bắc châu Phi, là vùng
đất dài nằm c hai bên bờ sông Nin. Cập gồm 2 vùng: Hạ Ai Cập và Thượng Ai Cập.
Phía Bắc là vùng Hạ Ai Cập, nơi sông Nin đổ ra Địa Trung Hải.
Phía nam là vùng Thượng Ai Cập, nơi sông Nin với liều đồi núi và đồi cát
Phía đông và phía tây là sa mạc. Sông Nin mang đến nguồn nước, nguồn lương
thực dồi dào cho Ai Cập cổ đại.
Vào tháng 7, mực nước sông dâng lên cao, tháng 10 nước sông rút tạo nên
những lớp đất phù sa màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Dân cư:
Con người ngay từ thời kì đồ đá cũ đã xuất hiện và sinh sống ở khu vực hạ
lưu của sông Nile .Người Ai Cập cổ đại được xác định ban đầu là những người thổ
dân Châu Phi , hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và như đã trình bày ở trên , điều
kiện tự nhiên thuận lợi để thổ dân ở đây có thể định cư và phát triển trồng trọt và
chăn nuôi từ rất sớm . Về sau , một chi thuộc tộc người hamit bắt đầu xâm nhập
vào nơi này , chinh phục các bộ tộc thổ dân Châu Phi và sau 1 khoảng thời gian
hỗn hợp sự đồng hóa giữa thổ dân Hamit và thổ dân Châu Phi đã hình thành bộ tộc
người Ai Cập cổ đại mà ta biết đến. Họ thuộc chủng tộc môngôloit và Nêgroit.
13. Đặc trưng kinh tế, chính trị, xã hội của Ai Cập cổ đại. Xác định tính
chất của xã hội Ai Cập thời kỳ này Kinh tế:
Sự thống nhất Ai Cập đã thúc đẩy sức sản xuất phát triển lên một bước.
Những bức họa và điêu khắc còn giữ lại trong các lăng tẩm và đền đài thời Tân
vương quốc đều có mô tả những cảnh hoạt động sản xuất của Ai Cập thời ấy.
- Nông nghiệp có những bước phát triển mới:
+ Kĩ thuật canh tác: công cụ đồng thau đã được sử dụng rộng rãi trong sản
xuất. Người ta đã biết dùng loại cày cán đứng có lỗ cầm tạo cho người cày tư thế
thoải mái và biết dùng vồ để đập đất.
+ Sự quan tâm của nhà nước đến công tác thủy lợi. Thừa tướng Vidia nắm
quyền lãnh đạo mọi công tác sản xuất nông nghiệp trong cả nước. Trong nhiều
công văn của triều đình Ai Cập lúc bấy giờ có nói tới lệ quy định cứ 4 tháng 1 lần,
quý tộc các châu phải gửi báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp ở địa phương lên
Vidia theo dõi. Có tài liệu ghi: “Công văn các châu gửi về triều đình được giữ
trong dinh Vi-di-a; Vi-di-a xét mọi đơn kiện tụng về ruộng đất. Ông quy định ranh
giới của mỗi châu, mỗi trang viên của quý tộc và của tăng lữ, giữ sổ sách, địa bạ.
Công tác thủy lợi cũng do ông điều khiển. Ngày đầu mỗi tuần, ông nghiên cứu tình
hình nước các lạch, các sông ngòi, cử quan lại chuyên trách theo dõi từng địa
phương, do đó nắm vững được tình hình mùa màng trong cả nước, Ông theo dõi,
quan sát sao Lang xuất hiện và mực nước sông Nin lên xuống”. Điều đó chứng tỏ
chính quyền trung ương ra sức tập trung quyền lãnh đạo sản xuất nông nghiệp
trong cả nước một cách chặt chẽ, đồng thời cũng nói lên rằng nông nghiệp là ngành
sản xuất kinh tế chủ yếu của Ai Cập cổ đại, nên được nhà nước hết sức quan tâm.
Mậu dịch đối ngoại của Ai Cập chủ yếu là xuất cảng thóc lúa, cho nên việc nâng
cao sản lượng thóc lúa có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của mậu dịch đối ngoại. Chính trị:
Thể chế chính trị là thể quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, trong đó
vua là người đứng đầu có quyền lực tối cao, dưới vua là bộ máy hành chính quan
liêu gồm toàn quý tộc đứng đầu là Vidia. Chế độ này còn gọi là chế độ chuyên chế cổ đại.
– Để cai trị nông dân công xã và nô lệ vua đã dựa vào quý tộc và tôn giáo,
bắt mọi người phải phục tùng. Vua tự coi mình là người đại diện của thần thánh ở
dưới trần gian, tự quyết định mọi chính sách và công việc. Xã hội:
Sự phân chia giai cấp : Xã hội Ai Cập cổ đại được phân chia cấp bậc rất rõ
ràng, được xếp theo cấu trúc giống như một kim tự tháp, ở những cấp bậc cao là
các vua chúa, quan lại trị vị các cấp bậc ở dưới là các nông dân công xã, nô
lệ,.... :Các cấp bậc ở trên cùng: gồm các pharaoh, quang lại,...
+ Pharaoh ( trong tiếng Ai Cập có nghĩa là “ngôi vĩ đại”) là tước hiệu chỉ các
vị vua ở thời Ai Cập cổ đại từ vương triều thứ nhất cho đến khi bị La Mã thôn tính.
+ Pharaoh có quyền lực tối cao, có quyền sở hữu toàn bộ đất đai trong cả
nước. Mọi mệnh lệnh của vua đều trở thành pháp luật. Bằng nhiều biện pháp, vua
quản lí chặt chẽ hệ thống quan lại ở trung ương và địa phương. Vua có quyền bãi
nhiệm, bãi miễn hoặc trừng phạt bất cứ người nào. Ngoài chức năng cai trị thần
dân, Pharaoh còn kiêm chức năng thẩm phán tối cao, thống lĩnh quân đội và đứng
đầu tăng lữ. Về cơ bản, Pharaoh được tín ngưỡng hóa và được coi như một vị thần sống.
+Dưới vua là một hệ thống quan lại do một Vizier điều hành . Vậy một
Vizier là gì ? ở thời Ai Cập cổ đại, một Vizier (tạm dịch là tể tướng) là vị trí quyền
lực nhất sau vị vua, là người đại diện cũng như là tiếng nói của Vua.