LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta dần dần chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều thị trường của nước ta đã từng bước được
hình thành phát triển, song trình độ phát triển còn thấp so với các nước sự phát
triển của còn thiếu đồng bộ. Một trong những thị trường được hình thành đó là thị
trường sức lao động (hay còn gọi thị trường lao động). Cho đến nay vẫn còn chưa
có nhận thức rõ và thống nhất về thị trường sức lao động. Trước đổi mới,chúng ta hầu
như không thừa nhận thị trường sức lao động. Trong điều kiện hiện nay, việc thừa
nhận nó là tất yếu. Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt. Tuy nhiên, sự phát
triển của thị trường sức lao động đã kéo theo sự mất việc làm và thất nghiệp của người
lao động, sự biến động phức tạp của thị trường và sản xuất kinh doanh đưa đến người
lao động thất nghiệp.
Thất nghiệp một hiện tượng kinh tế hội hầu hết các nước trên thế giới phải
đương đầu. Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được biểu lộ một cách nét
nhất, nóhệ quả tất yếu của phát triển công nghiệp. Giảm tỉ lệ thất nghiệp nhiệm vụ
vĩ mô được đặt lên hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới.
Đề tài “Phân tích hàng hóa sức lao động. Nêu giải pháp để giải quyết bài toán thất
nghiệp ở việt nam hiện nay” tìm hiểu phân tích về hàng hóa sức lao động thực
trạng của vấn đề thất nghiệp. Từ đó, vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam để đề xuất
giải pháp giúp cho Chính phủ Việt Nam những chính sách nhằm giảm tỉ lệ thất
nghiệp bảo vệ được người lao động bị thất nghiệp, đặc biệt sau đại dịch Covid
19.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC
LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
I. LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1. Khái niệm sức lao động và hàng hóa sức lao động là gì?
1.1. Khái niệm sức lao động
Sức lao động toàn bộ thể lực trí lực tồn tại trong thể con người, được vận
dụng vào quá trình lao động sản xuất. Theo Wikipedia, sức lao động là một khái niệm
trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít. Mác định nghĩa sức lao động toàn bộ
những năng lực thể chất, trí tuệ tinh thần tồn tại trong một thể, trong một con
người đang sống, được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị
thặng nào đó. Sức lao động khả năng lao động của con người, điều kiện tiên
quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội.
Nhưng sức lao động mới chỉ khả năng lao động, còn lao động sự tiêu dùng sức
lao động trong hiện thực.
1.2. Hàng hóa sức lao động gì? Những điều kiện biến sức lao động thành hàng
hoá
• Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
Trong bất kỳ hội nào, sức lao động cũng đều yếu tố hàng đầu của quá trình lao
động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng hàng hoá. Sức lao
động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao
động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu
do bản con người sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người sức lao động
phải quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi
hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến. Hai là người lao động bị
tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong điều
kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách
nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ
sức lao động biến thành hàng hoá.
• Hàng hóa sức lao động là gì?
Dưới chủ nghĩa bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó. Một mặt, cách mạng
sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ chúa
phong kiến. Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị các biện pháp tích luỹ
nguyên thuỷ của bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành
sản tập trung liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức
lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn. Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá
lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc
phục vụ nhà nướcquốc phòng. Chỉ đến chủ nghĩa bảnmới trở nên phổ biến,
thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội. Sự cưỡng bức phi kinh
tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hoá, bình đẳng với
nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán”. Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự
phát triển tự donhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát
triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển
của văn minh nhân loại. Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết
định sự chuyển hoá tiền thành tư bản.
2. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng hai thuộc tính: giá trị
và giá trị sử dụng.
2.1. Giá trị hàng hoá sức lao động
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số
lượng thời gian lao động hội cần thiết để sản xuất tái sản xuất ra sức lao động.
Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong thể sống của con người. Để sản xuất tái
sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng liệu sinh
hoạt nhất định. Như vậy, thời gian lao động hội cần thiết để sản xuất ra sức lao
động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số
lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở
trạng thái bình thường. Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động
bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử
Điều đó thể hiện chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ nhu cầu về vật chất
còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…). Nhu cầu đó, cả về khối
lượng lẫn cấu những liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào
đâu cũng giống nhau. tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời
kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ
thuộc vào tập quán, vào điều kiện địavà khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp
công nhân. Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy
những liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động một đại lượng nhất định.
Do đó, thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những
liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là,
phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị nhữngliệu sinh hoạt cần thiết cho gia
đình người công nhân. Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những liệu sinh
hoạt vật chất tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân
và nuôi sống gia đình của anh ta. Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động
trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng
đối lập nhau. Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về
học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động. Mặt khác là sự tăng
năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động. Trong điều kiện tư bản
hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật những điều kiện
khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động
và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên. Tất cả những điều kiện
đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động. Không thể không dẫn đến
sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng
trung bình của giá trị sức lao động.
2.2. Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể
hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức quá trình người công nhân tiến
hành lao động sản xuất. Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể
hiện đó là Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với
giá trị sử dụng của các hàng hoá khác chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động,
nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó
chính là giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động thuộc tínhnguồn gốc
sinh ra giá trị. Đó đặc điểm bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao
động so với các hàng hoá khác. chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công
thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng
hoá. Thứ hai, con người chủ thể của hàng hoá sức lao động vậy, việc cung ứng
sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, hội của người lao
động. Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những
đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại ảnh hưởng
quyết định tới cung.
II. LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
1. Các khái niệm liên quan đến thất nghiệp
Những người trong độ tuổi lao động những người trong độ tuổi nghĩa vụ
quyền lợi lao động ghi trong Hiến pháp. Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi
lao động đang có việc làm hoặc chưaviệc làm nhưng đang tìm việc làm. Người có
việc là những người đang làm cho những cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hôi,… Người thất
nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốnđang tìm việc làm.
Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động
được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học,
nội trợ gia đình, những người không khả năng lao động do ốm đau bệnh tật,…
một bộ phận không muốn tìm kiếm việc làm với những lí do khác nhau.
2. Phân loại thất nghiệp
• Theo nguồn gốc thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi một số người lao động trong thời gian tìm kiếm
công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những người
mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm…Một
xã hội trong bất kỳ thời điểm nào đều tồn tại loại thất nghiệp này. Chỉ có sự khác nhau
về quy mô số lượng và thời gian thất nghiệp. Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất
cân đối cung cầu giữa các thị trường lao động (giữa các ngành nghề, khu vực,… ) loại
này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tếkhả năng điều chỉnh cung của các thị
trường lao động. Khi sự lao động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm
trọng chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Thất nghiệp do thiếu cầu: Do sự suy giảm
tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường
gắn liền với thơì kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh, xảy ra khắp mọi nơi mọi
ngành mọi nghề. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: xảy ra khi tiền lương
được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của
thị trường lao động.
• Theo sự tự nguyện
Thất nghiệp tự nguyện 1 bộ phận người lao động không làm việc do việc làm
mức lương không phù hợp với mong muốn của họ. Thất nghiệp không tự nguyện là bộ
phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhận làm việc với mức lương hiện tại.
3. Tỉ lệ thất nghiệp
Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực
lượng lao động. Tỉ lệ thất nghiệp một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất
nghiệp của một quốc gia.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ THẤT
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I. TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Thực trạng thất nghiệp Việt Nam năm 2020 Dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng
01/2020 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh
nghiệp và việc làm của người lao động, khiến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
tăng lên. Tỷ lệ tham gia lực lượng laođộng ghi nhận mức thấp kỷ lục trong vòng 10
năm qua với khoảng 75.4% dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động. Thất
nghiệp tăng lên, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi mức cao nhất trong
vòng 5 năm gần đây. Sáng ngày 24/4/2020, tại Nội, Tổng cục Thống tổ chức
họp báo công bố tình hình lao động việc làm quý I và 4 tháng đầu năm 2020. Tại buổi
Họp báo, Thị Thu Thủy Vụ trưởng Vụ Thống Dân số Lao động (Tổng
cục Thống kê) cho biết, tình hình lao động việc làm quý I 4 tháng đầu năm 2020
chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều yếu tố như thay đổi chính sách quản rủi ro về
thiên tai, dịch bệnh. Đặc biệt, sự bùng phát của dịch bệnh Covid-19 trên toàn cầu
không chỉ tạo ra sự khủng hoảng về y tế còn nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng đối với kinh tế và thị trường lao động trên toàn cầu và Việt Nam
cũng nằm trong vòng xoáy đó. Tại Việt Nam, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng
01/2020 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh và việc làm của người
lao động, khiến tình trạng tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc
làm tăng lên. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lao động việc làm phi chính
thức, lao động không có hợp đồng, lao động có thu nhập thấp, lao động trẻ tuổi và lao
động cao tuổi là những nhóm dễ bị tổn thương do dịch Covid-19. Kết quả Điều tra lao
động việc làm quý I/2020 cho thấy, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ghi nhận mức
thấp kỷ lục trong vòng 10 năm qua với khoảng 75.4% dân số từ 15 tuổi trở lên tham
gia lực lượng lao động, giảm từ 1,2 đến 1,3 điểm phần trăm so với quý trước và so với
cùng kỳ năm trước. Thất nghiệp tăng lên, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ
tuổi mức cao nhất trong vòng 5 năm gần đây. Số liệu của Tổng cục Thống cho
thấy, tỷ lệ thất nghiệp trong quý I/2020 2,22%, tăng 0,07% so với quý trước
0,05% so với cùng kỳ năm trước. khoảng 84.8% doanh nghiệp được khảo sát cho
biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong đó, doanh nghiệp quy
lớn và quy mô vừa chịu tổn thương nhiều hơn với tỷ lệ 90% tự đánh giá gặp khó khăn
trong 4 tháng đầu năm.
Bên cạnh đó, tốc độ tăng thu nhập của người lao động so với cùng kỳ năm trước chưa
bằng một nửa so với tốc độ tăng thu nhập của quý I/2019 so với quý I/2018. Lực
lượng lao động giảm, tỷ lệ lao động qua đào tạo bằng, chứng chỉ vẫn mứcương
về tình hình lao động việc làm, tính đến giữa tháng 4 năm 2020, gần 5 triệu lao
động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bị ảnh
hưởng nhiều nhất (1,2 triệu lao động), tiếp theo ngành n buôn, bán lẻ (1,1 triệu
lao động), ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống (740.000 lao động). Trong số này, 59% là
tạm nghỉ việc, 28% là giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, và 13% là mất việc. Có khoảng
84.8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch
Covid-19. Trong đó, doanh nghiệp quy lớn quy vừa chịu tổn thương nhiều
hơn với tỷ lệ 90% tự đánh giá gặp khó khăn trong 4 tháng đầu năm. Các dự báo
cũng cho thấy, với tác động của dịch bệnh đến tình hình sản xuất kinh doanh và người
lao động, các khó khăn vẫn thể sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới. Thực tế cho
thấy, diễn biến của Covid-19 trên thế giới vẫn đang tác động tiêu cực đến sản xuất
thương mại toàn cầu dù hiện nay các nước đang nỗ lực để mọi thứ bình thường trở lại.
Do vậy, việc triển khai thực hiện hiệu quả các gói hỗ trợ của Chính phủ cho doanh
nghiệp người lao động cấp thiết giúp vực dậy nền kinh tế nói chung, thị trường
lao động và doanh nghiệp nói riêng.
II. NGUYÊN NHÂN THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Lực lượng lao động đang ra tăng với tỷ lệ nhanh chóng với hơn một triệu việc làm
mới mỗi năm. Tỷ lệ thất nghiệp giữa thanh niên đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng
Việt Nam, nơi dân số dưới độ tuổi 24, chiếm phần lớn trong số người thất
nghiệp. Tỷ lệ của những người tìm việc làm lần đầu, đa số họ là những người lao động
trẻ phụ nữ, trong tổng số người thất nghiệp đã tăng lên trong thập kỷ qua. Việc
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đã làm suy giảm
số người lao động hiện đang làm việc tại các xí nghiệp, hợp tác xã quốc doanh. Trong
vòng từ 3-5 năm tới, dự tính hơn 500.000 công nhân sẽ bị mất việc làm tại các
nghiệp quốc doanh, đấy chưa tính số công nhân về hưu trước tuổi. Tương tự như
một số nước, việc tự do hoá nền kinh tế cải cách cấu đã khuyến khích cho các
doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính quy và khuyến khích việc ký hợp đồng lao
động. Những yếu này được xem sẽ tạo ra một thị trường năng động, tích cực hơn,
giảm các chi phí về lao động, năng suất cao hơn nhưng cũng là cách thức để lẩn tránh
các điều luật quy định về lao động . Điều này dẫn tới mất sự bảo đảm về nghề
nghiệp, những lợi ích về kinh tế, xã hội và sự suy giảm có thể về việc làm và điều kiện
lao động cho công nhân. Các hội về việc làm bị suy giảm trong khu vực quốc
doanh đối với những người lao động mới và những sinh viên tốt nghiệp đại học bởi vì
việc giảm quy của khu vực dân sự các doanh nghiệp quốc doanh. Trong năm
2000, Nhà nước đã tuyển dụng khoảng 1,4 triệu người vào làm việc, tăng khoảng
2,5% so với năm 1999. Tuy nhiên, việc cắt giảm 15% người lao động trong khu vực
dịch vụ dân sự đã trong kế hoạch với hơn 70.000 người lao động sẽ mất việc làm
vào năm 2002. Trong khi đó, 8% số người lao động trong bộ máy quản lý ở cấp trung
ương cấp thành phố cấp tỉnh 1 tỷ đồng cũng đang bị cắt giảm. Chính phủ đang bị
cắt giảm 72% số người lao động trong các tổ chức nhà nước đã kế hoạch dành
hơn 1 tỷ tỷ Đồng Việt nam cho việc cắt giảm chỗ làm việc trong khu vực dịch vụ dân
sự. Việt Nam cũng đang trong tình trạng thiếu những công nhân lành nghề và bán lành
nghề. Chỉ 22% trong tổng số người lao động đã được qua đào tạochỉ 13,4% được
đào tạo nghề. Cuộc điều tra lực lượng lao động được tiến hành năm 1999 đã chỉ ra
rằng 86% trong lực lượng lao động không tay nghề. dụ, tổng công ty Bưu
chính Viễn thông Việt Nam (VNPT ) dự tính rằng 50% trong số lao động của Tổng
công ty những người lao động không chuyên môn (chủ yếu những người làm
công việc dịch vụ thư tín ) họ cần được đào tạo. Hơn 100 nghiệp hoạt động tại
miền nam nhu cầu tuyển dụng 17.000 kỹ vào làm việc, tuy nhiên họ không
tuyển dụng được những người lao động trình độ kinh nghiệm vào làm việc.
Những khu công nghiệp (IPs) được thành lập một số tỉnh Việt Nam đã tạo được
việc làm cho người lao động tại các khu vực tập trung, tuy nhiên thường thì họ không
tuyển dụng những người dân địa phương vào làm việc vì đó là những người không có
tay nghề, (Ví dụ các khu công nghiệp Bình Dương tuyển dụng hơn 35.000 người lao
động Việt Nam nhưng trong số này, chỉ 13% người tại địa phương Đại đa số
những người lao động đến từ những tỉnh miền Bắc miền Trung. Tỉnh Bình Dương
đang đầu vào đất đai xây nhà cho những người lao động đến từ các địa phương
khác, nhưng phần lớn họ vẫn sống những ngôi nhà chuột. Bình Dương cũng đã
đầu tư vào một trung tâm đào tạo nghề để cung cấp một lao động có tay nghề cho các
khu công nghiệp). Việt Nam phải đầu tư một số lượng lớn hơn nữa vào việc dạy nghề
dựa trên các nhu cầu của người sử dụng lao động đối với các lao động lành nghề để
chuẩn bị những trách nhiệm mới những việc làm mới cho người lao động. Phụ nữ
thì ít được đào tạo về mặt kỹ thuật hơn thường được tuyển dụng vào làm việc tại
các xí nghiệp sản xuất, nơi tuyển dụng những người lao động không có tay nghề. Phụ
nữ thường ít tham gia vào các công việc được trả lương, nhiều phụ nữ đã tự đứng
ra vận hành những doanh nghiệp gia đình. Phần lớn lực lượng lao động của việt nam
vẫn làm việc trong khu vục nông nghiệp, chiếm 62,56% trong lực lượng lao động.
Trong khi đó,tỷ lệ này ở ngành công nghiệp, xây dựng là 13,15%và khu vực dịch vụ là
24,29%. Chính phủ đã đặt ra những mục tiêu mới sẽ có 50% trong lực lượng lao
động làm việc trong khu vực nông nghiệp, 23% trong lĩnh vực công nghiệp/ xây dựng
và 27% trong khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thiếu việc làm cũng khá cao trong khu
vực nông thôn chiếm hơn 25%. Số lượng đất đai canh tác sẵn không thể thu hút
được nhiều lao động hơn. Theo số liệu do Viện Khoa học Lao động các vấn đề
hội cung cấp, với khoảng 8,1 triệu héc ta đất nông nghiệp con số tối đa lao động
trong ngành nông nghiệp cần thiết là 19 triệu. Những việc làm ngoài thời gian mùa vụ
cần sớm được tạo để tránh tình trạng thất nghiệp ở vùng nông thôn đối với khoảng gần
10 triệu người. Khu vực kinh doanh ngoài quốc doanh trong nước của Việt Nam chủ
yếu tập trung ở những khu vực có thu nhập như là trồng trọt hộ gia đình và những dịch
vụ cửa hàng kinh doanh nhỏ, cả hai loại hình này đều không tạo ra nhiều việc m
mới. Tình trạng thất nghiệp thành thị cũng nảy sinh như một vấn đề chính,
nhiều công nhân đã di chuyển ra các vùng đô thị để tìm việc làm. Việt Nam dự đoán
rằng dân số thành thị sẽ tăng lên từ 20% đến 45% vào cuối năm 2020 so với mức hiện
nay (Con số dự đoán của ILO), và điều này có nghĩa là hơn 30 triệu người từ các vùng
nông thôn chuyển đến các thành phố để tìm việc làm. Vấn đề này đang gây áp lực đối
với các thành phố trong việc tạo thêm những việc làm mới cho họ. Tỷ lệ thất nghiệp ở
đô thị đã tăng từ 6,5% năm 1999 lên 8% năm 2000. Tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên
đang ở mức cao nguy hiểm ở một số khu vực ở đô thị (tỷ lệ này là 52% đối với những
người trong độ tuổi từ 15- 24 ). Ngày càng nhiều thanh niên di chuyển đến các thành
phố với hy vọng tìm được việc làm đôi khi họ làm nghề bán hàng rong trên đường
phố, bán bưu thiếp, đánh giày hoặc bán thuốc lá để kiếm kế sinh nhai và gửi tiền về hỗ
trợ gia đình. Chiến lược về việc làm Việt Nam cũng phụ thuộc vào số công nhân đi
lao động nước ngoài. Việt Nam đã thành công trong lĩnh vực đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài. Trong khoảng thời gian từ 1995- 2000, hơn 95.000 người lao động
đã được đưa đi làm việc các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Li bi. Những
người lao động này đã gửi tiền lương của họ về để giúp đỡ thân nhân trong nước với
số tiền từ 80 triệu đến 220 triệu đồng mỗi người mỗi năm. Tuy nhiên, thực tế cũng
nhiều nước khác sẵn sàng đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài, do đó cũng
chưa thể biết được liệu các nước nhập khẩu lao động trong tương lai sẽ cần bao nhiêu
lao động nước ngoài. Việc sắp xếp lại ngành công nghiệp tạo ra nhiều hội việc
làm mới cũng cần nhiều thời gian, thế, tỷ lệ thất nghiệp số học cũng gia ng. Sự
phát triển nhanh của đầu tưnhân cần thiết cho việc tạo việc làm. Sự tăng trưởng
về đầu nhân cũng đang dưới mức cần thiết để tạo ra số việc làm cần thiết
Việt Nam nhằm đáp ứng được nhu cầu của những người mới bước vào lực lượng lao
động mỗi năm. Cần một khoảng thời gian đối với một người tìm việc cho tới khi
tìm thấy một việc làm thích hợp. Việt Nam vẫn cần phải bắt đầu sự chuyển đổi từ các
ngành công nghiệp cần nhiều lao động sang một nền công nghiệp có tay nghề chuyên
môn cao. Thiên tai có thể ảnh hưởng đến một bộ phận lớn trong lực lượng lao động tại
những vùng bị thiệt hại bị mất việcm cho tới khi họ thể khắc xây dựng cuộc
sống kế sinh nhai của họ Bảo hiểm thất nghiệp không thể giải quyết tất cả về
nguyên nhân thất nghiệp nói trên. Tuy nhiên, thể góp vào việc làm giảm đi
những tác động của thất nghiệp đối với công nhân và cũng đóng góp được cho chế độ
bảo hiểm xã hội. Các hình thức khác của trợ cấp thất nghiệp có thể được sử dụng như
là một phần của chiến lược việc làm hội nhập để hỗ trợ cơ bản về thu nhậpđào tạo
tay nghề để tạo hội tốt hơn cho người lao động tìm được việc làm. Các chính sách
đều nhằm vào việc cải thiện chất lượng của lực lượng lao động, thông qua đào tạo
nghề và giáo dục, dường như sẽ làm giảm đi số lượng người lao động có tay nghề kém
trong thời gian tới. Mục đích của chế độ trợ cấp thất nghiệp thường được xem như
biện pháp để tạo điều kiện cho những người bị mất việc làm, không phải do lỗi của
bản thân họ, một khoản bồi thường đủ để đáp ứng được nhũng nhu cầu ngay lập tức
của họ và khoản thu nhập tương tự này sẽ giúp họ chi trả được những chi phí cần thiết
cho đến khi tìm được việc làm mới.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA THẤT NGHIỆP
1. Lợi ích của thất nghiệp
Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý phù hợp với
nguyện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội.
Lợi ích hội: Làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn góp
phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn.
• Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe.
• Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.
• Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả.
2. Tác hại
Hao phí nguồn lực hội: con người máy móc. Quy luật Okun áp dụng cho nền
kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sản
lượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên).
• Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài.
• Khủng hoảng gia đình do không có thu nhập.
• Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp.
• Chính phủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp.
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp các
nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí hội sản xuất thêm sản phẩm
dịch vụ.
Thất nghiệp còn nghĩa sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo
quy mô.
• Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu
dùng, hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm giá cả tụ giảm. Hơn nữa, tình
trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó
mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
VIỆT NAM
1. Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết
• Đối với loại thất nghiệp tự nguyện:
Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức
lương thu hút được nhiều lao động hơn.
− Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường
lao động.
• Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:
Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích
các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.
− Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến phát triển
kinh tế hội. Nền kinh tế sẽ phải từ bỏ những sản phẩm, dịch vụ những người
công nhân bị thất nghiệp làm ra. Hơn nữa, đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực
đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào
tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Do đó, cần phải
những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp
tục lan rộng.
2. Kích cầu.
Việc đầu hay nói đúng hơn kích cầu nhắm vào các doanh nghiệp vừa nhỏ
trọng tâm đã được xác định. Việc “bơm vốn” áp dụng các chính sách ưu đãi cho
khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản xuất, từ đó tạo ra việc làm.
Bên cạnh đó, kích cầu bằng việc đầu vào phát triển hoàn thiện cơ sở hạ tầng
đang được đánh giá là giải pháp tối ưu hơn cả. Đây cũng là giải pháp mà các quốc gia
đã từng áp dụng trước đây. Việc đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công
làm mới, cải tạo, nâng cấp các công trình đã xuống cấp trên phạm vi rộng không chỉ
giải quyết bài toán yếu kém về sở hạ tầng của nước ta như “phàn nàn” của nhiều
nhà đầu tư nước ngoài, mà hơn thế là sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, giải
quyết vấn đề lao động dôi do mất việc làm từ ảnh hưởng của suy thoái. Một khi
vấn đề yếu kém của cơ sở hạ tầng được giải quyết, cộng hưởng các chính sách kinh tế
khác thì việc thu hút nhà đầu nước ngoài sẽ trở nên khả quan hơn khi nền
kinh tế thế giới hồi phục trở lại.
3. Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc.
Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội. Trước
tình hình lao động của quý I/2009, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã đưa ra ba
giải pháp chủ yếu để hỗ trợ lao động mất việc làm. Thứ nhất, Tổng liên đoàn lao động
các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động sớm tìm được việc m mới. Hiện nay
Tổng liên đoàn hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm (31 trung tâm). Theo báo
cáo của Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành thì đã 80% lao động mất việc tìm
được việc làm trở lại. Tổng liên đoàn lao động cũng chỉ đạo các sang c các doanh
nghiệp các tỉnh lân cận. Thứ hai, các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm
vụ nâng cao tay nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề,
tranh thủ lúc không có việc. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác
dạy nghề cũng biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng. Trong bối cảnh lực
lượng lao động mất việc làm tăng nhanh như hiện nay, hằng năm chúng ta phải giải
quyết tối thiểu cho khoảng 1,2 triệu việc làm mới, khoảng trên 1 triệu lao động chuyển
từ khu vực nông thôn ra thành thị thì sức ép giải quyết việc làm càng trở nên nặng nề
hơn. Trong khi đó, nếu chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009 không đạt được mức
6,5% thì tỉ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ càng ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến an sinh xã
hội làm “mất an toàn hội” theo cách đánh giá của ILO. Đấy chưa tính đến
việc số hộ nghèo, người nghèo sẽ tăng cao nếu chúng ta áp dụng chuẩn nghèo mới.
Thứ ba, cho vay vốn từ quỹ quốc gia của Tổng liên đoàn. Những người lao động mất
việc do suy thoái kinh tế sẽ được vay vốn để họ có thu nhập giải quyết khó khăn trước
mắt. Ngoài ra, ở một số tình, thành phố con có thêm quỹ trợ vốn cho lao động nghèo.
Quỹ này cũng cho người lao động mất việc làm vay vốn để tạo công việc. Điều này đã
mang lại hiệu quả tương đối tốt, giúp người lao động ổn định cuộc sống.
4. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống hỗ trợ cho người lao
động được học nghề tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Bên cạnh đó bảo
hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp.
5. Những biện pháp khác
− Trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp. Họ cũng có thể hỗ
trợ doanh nghiệp trong nghĩa vụ nộp bảo hiểm hội, quỹ lương hưu v.v… mục
đích không khác ngoài việc giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí nhân lực liên
quan mà không cần phải sa thải nhân công.
Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với
hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến
doanh nghiệp do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh
đình đốn.
− Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp
chấp nhận một mức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong
doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được những nơi
có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.
− Đào tạo nghề cho bà con ở nông thôn đặc biệt là con cái của họ, khi diện tích đất sản
xuất của họ bị thu hồi thì có thể dể dàng chuyển sang làm những ngành nghề khác.
− Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình
trạng thất nghiệp trong nước còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc
gia.
− Chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
− Hạn chế tăng dân số.
− Khuyến khích sử dụng lao động nữ.
− Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các
đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình
công cộng.
KẾT LUẬN
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong
bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T - H). Hàng hóa
đó không thể một hàng hóa thông thường, phải một hàng hóa đặt biệt, hàng
hóa giá trị sử dụng của đặc tính nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng hóa
đó là sức lao độngnhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường. Thất nghiệp là một hiện
tượng hội tồn tại khách quan gây ra những hậu quả xấu ngăn cản sự phát triển
của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, vấn đề giải quyết thất nghiệp là vấn đề cấp bách hơn
bao giờ hết, giảm bớt thất nghiệp không những tạo điều kiện để phát triển kinh tế
còn thúc đẩy ổn định hội. Một hội nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp
thấp thì tệ nạn xã hội sẽ bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được nâng cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Tiếng Việt:
1. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lê nin
Tài liệu trực tuyến:
2. “Hàng hóa sức lao động là gì? Lý luận chung về hàng hóa sức lao động”, Nguyễn
Tuyết Anh, truy cập vào ngày 09/11/2023 https://luanvan1080.com/hang-hoa-suc-lao-
dong.html
3. “Vấn đề thất nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam”, Luật Quang Huy
https://luatquanghuy.vn/bai-tap-luat/kinh-te-hoc-vi-mo-bai-tap-luat/van-de-ve-that-
nghiep-ly-thuyet-va-thuc-tien-o-viet-nam/
4. “9 tháng năm 2019: Số người có việc làm tăng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm
giảm dần”, Kinh tế và Dự báo, truy cập vào ngày 09/11/2023.
http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/2-15004-9-thang-nam-2019--so-nguoi-co-viec-lam-
tang-ty-le-that-nghiep-va-thieu-viec-lam-giam-dan.html
5. “Thất nghiệp tăng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp kỷ lục trong vòng 10 năm
qua”, Minh Khôi, truy cập vào 10/11/2023
https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/that-nghiep-tang-ty-le-tham-gia-luc-luong-
lao-dong-thap-ky-luc-trong-vong-10-nam-qua-322046.html
6. “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp”, Dân Kinh Tế
http://www.dankinhte.vn/nguyen-nhan-dan-den-tinh-trang-that-nghiep/
7. “Giải pháp giải quyết vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam.”, Dân Kinh Tế
http://www.dankinhte.vn/giai-phap-giai-quyet-van-de-that-nghiep-o-viet-nam/

Preview text:

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta dần dần chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều thị trường của nước ta đã từng bước được
hình thành và phát triển, song trình độ phát triển còn thấp so với các nước và sự phát
triển của nó còn thiếu đồng bộ. Một trong những thị trường được hình thành đó là thị
trường sức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động). Cho đến nay vẫn còn chưa
có nhận thức rõ và thống nhất về thị trường sức lao động. Trước đổi mới,chúng ta hầu
như không thừa nhận thị trường sức lao động. Trong điều kiện hiện nay, việc thừa
nhận nó là tất yếu. Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt. Tuy nhiên, sự phát
triển của thị trường sức lao động đã kéo theo sự mất việc làm và thất nghiệp của người
lao động, sự biến động phức tạp của thị trường và sản xuất kinh doanh đưa đến người lao động thất nghiệp.
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải
đương đầu. Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được biểu lộ một cách rõ nét
nhất, nó là hệ quả tất yếu của phát triển công nghiệp. Giảm tỉ lệ thất nghiệp nhiệm vụ
vĩ mô được đặt lên hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới.
Đề tài “Phân tích hàng hóa sức lao động. Nêu giải pháp để giải quyết bài toán thất
nghiệp ở việt nam hiện nay” tìm hiểu và phân tích về hàng hóa sức lao động và thực
trạng của vấn đề thất nghiệp. Từ đó, vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam để đề xuất
giải pháp giúp cho Chính phủ Việt Nam có những chính sách nhằm giảm tỉ lệ thất
nghiệp và bảo vệ được người lao động bị thất nghiệp, đặc biệt là sau đại dịch Covid 19.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC
LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
I. LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1. Khái niệm sức lao động và hàng hóa sức lao động là gì?
1.1. Khái niệm sức lao động
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận
dụng vào quá trình lao động sản xuất. Theo Wikipedia, sức lao động là một khái niệm
trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít. Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ
những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con
người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị
thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên
quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội.
Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức
lao động trong hiện thực.
1.2. Hàng hóa sức lao động là gì? Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
• Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao
động sản xuất. Nhưng không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá. Sức lao
động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau:
Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao
động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu
nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động
phải có quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi
hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến. Hai là người lao động bị
tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong điều
kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách
nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ
sức lao động biến thành hàng hoá.
• Hàng hóa sức lao động là gì?
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó. Một mặt, cách mạng tư
sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa
phong kiến. Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ
nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành
vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người. Việc mua bán sức
lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn. Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá
lâu trước chủ nghĩa tư bản, nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc
phục vụ nhà nước và quốc phòng. Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến,
thành hệ thống tổ chức cơ bản của toàn bộ nền sản xuất xã hội. Sự cưỡng bức phi kinh
tế được thay thế bằng hợp đồng của những người chủ sở hữu hàng hoá, bình đẳng với
nhau trên cơ sở “thuận mua, vừa bán”. Điều đó đã tạo ra khả năng khách quan cho sự
phát triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát
triển tự do cá nhân của các công dân và đánh dấu một trình độ mới trong sự phát triển
của văn minh nhân loại. Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết
định sự chuyển hoá tiền thành tư bản.
2. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
2.1. Giá trị hàng hoá sức lao động
Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác được quy định bởi số
lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động.
Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người. Để sản xuất và tái
sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh
hoạt nhất định. Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao
động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số
lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở
trạng thái bình thường. Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động
bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử
Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà
còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…). Nhu cầu đó, cả về khối
lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào
và ở đâu cũng giống nhau. Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời
kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ
thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp
công nhân. Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy
mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định.
Do đó, có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư
liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là,
phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia
đình người công nhân. Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh
hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân
và nuôi sống gia đình của anh ta. Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động
trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng
đối lập nhau. Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về
học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động. Mặt khác là sự tăng
năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động. Trong điều kiện tư bản
hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện
khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động
và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên. Tất cả những điều kiện
đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động. Không thể không dẫn đến
sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng
trung bình của giá trị sức lao động.
2.2. Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể
hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến
hành lao động sản xuất. Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể
hiện đó là Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với
giá trị sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động,
nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó
chính là giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc
sinh ra giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao
động so với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công
thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng
hoá. Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng
sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao
động. Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những
đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung.
II. LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
1. Các khái niệm liên quan đến thất nghiệp
Những người trong độ tuổi lao động là những người ở trong độ tuổi có nghĩa vụ và
quyền lợi lao động ghi trong Hiến pháp. Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi
lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm. Người có
việc là những người đang làm cho những cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hôi,… Người thất
nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm.
Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động
được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học,
nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau bệnh tật,… và
một bộ phận không muốn tìm kiếm việc làm với những lí do khác nhau.
2. Phân loại thất nghiệp
• Theo nguồn gốc thất nghiệp
Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số người lao động trong thời gian tìm kiếm
công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những người
mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm…Một
xã hội trong bất kỳ thời điểm nào đều tồn tại loại thất nghiệp này. Chỉ có sự khác nhau
về quy mô số lượng và thời gian thất nghiệp. Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất
cân đối cung cầu giữa các thị trường lao động (giữa các ngành nghề, khu vực,… ) loại
này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị
trường lao động. Khi sự lao động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm
trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Thất nghiệp do thiếu cầu: Do sự suy giảm
tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường
nó gắn liền với thơì kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh, xảy ra ở khắp mọi nơi mọi
ngành mọi nghề. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Nó xảy ra khi tiền lương
được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động. • Theo sự tự nguyện
Thất nghiệp tự nguyện là 1 bộ phận người lao động không làm việc do việc làm và
mức lương không phù hợp với mong muốn của họ. Thất nghiệp không tự nguyện là bộ
phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhận làm việc với mức lương hiện tại. 3. Tỉ lệ thất nghiệp
Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực
lượng lao động. Tỉ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất
nghiệp của một quốc gia.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I. TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2020 Dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng
01/2020 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh
nghiệp và việc làm của người lao động, khiến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
tăng lên. Tỷ lệ tham gia lực lượng laođộng ghi nhận mức thấp kỷ lục trong vòng 10
năm qua với khoảng 75.4% dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động. Thất
nghiệp tăng lên, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở mức cao nhất trong
vòng 5 năm gần đây. Sáng ngày 24/4/2020, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê tổ chức
họp báo công bố tình hình lao động việc làm quý I và 4 tháng đầu năm 2020. Tại buổi
Họp báo, bà Vũ Thị Thu Thủy – Vụ trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động (Tổng
cục Thống kê) cho biết, tình hình lao động việc làm quý I và 4 tháng đầu năm 2020
chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều yếu tố như thay đổi chính sách quản lý rủi ro về
thiên tai, dịch bệnh. Đặc biệt, sự bùng phát của dịch bệnh Covid-19 trên toàn cầu
không chỉ tạo ra sự khủng hoảng về y tế mà còn là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng đối với kinh tế và thị trường lao động trên toàn cầu và Việt Nam
cũng nằm trong vòng xoáy đó. Tại Việt Nam, dịch Covid-19 xuất hiện từ cuối tháng
01/2020 đã gây tác động lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh và việc làm của người
lao động, khiến tình trạng tham gia thị trường lao động giảm, thất nghiệp và thiếu việc
làm tăng lên. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lao động có việc làm phi chính
thức, lao động không có hợp đồng, lao động có thu nhập thấp, lao động trẻ tuổi và lao
động cao tuổi là những nhóm dễ bị tổn thương do dịch Covid-19. Kết quả Điều tra lao
động việc làm quý I/2020 cho thấy, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ghi nhận mức
thấp kỷ lục trong vòng 10 năm qua với khoảng 75.4% dân số từ 15 tuổi trở lên tham
gia lực lượng lao động, giảm từ 1,2 đến 1,3 điểm phần trăm so với quý trước và so với
cùng kỳ năm trước. Thất nghiệp tăng lên, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ
tuổi ở mức cao nhất trong vòng 5 năm gần đây. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho
thấy, tỷ lệ thất nghiệp trong quý I/2020 là 2,22%, tăng 0,07% so với quý trước và
0,05% so với cùng kỳ năm trước. Có khoảng 84.8% doanh nghiệp được khảo sát cho
biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong đó, doanh nghiệp quy mô
lớn và quy mô vừa chịu tổn thương nhiều hơn với tỷ lệ 90% tự đánh giá gặp khó khăn trong 4 tháng đầu năm.
Bên cạnh đó, tốc độ tăng thu nhập của người lao động so với cùng kỳ năm trước chưa
bằng một nửa so với tốc độ tăng thu nhập của quý I/2019 so với quý I/2018. Lực
lượng lao động giảm, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ vẫn ở mứcương
về tình hình lao động việc làm, tính đến giữa tháng 4 năm 2020, có gần 5 triệu lao
động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bị ảnh
hưởng nhiều nhất (1,2 triệu lao động), tiếp theo là ngành bán buôn, bán lẻ (1,1 triệu
lao động), ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống (740.000 lao động). Trong số này, 59% là
tạm nghỉ việc, 28% là giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, và 13% là mất việc. Có khoảng
84.8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch
Covid-19. Trong đó, doanh nghiệp quy mô lớn và quy mô vừa chịu tổn thương nhiều
hơn với tỷ lệ 90% tự đánh giá gặp khó khăn trong 4 tháng đầu năm. Các dự báo
cũng cho thấy, với tác động của dịch bệnh đến tình hình sản xuất kinh doanh và người
lao động, các khó khăn vẫn có thể sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới. Thực tế cho
thấy, diễn biến của Covid-19 trên thế giới vẫn đang tác động tiêu cực đến sản xuất và
thương mại toàn cầu dù hiện nay các nước đang nỗ lực để mọi thứ bình thường trở lại.
Do vậy, việc triển khai thực hiện hiệu quả các gói hỗ trợ của Chính phủ cho doanh
nghiệp và người lao động là cấp thiết giúp vực dậy nền kinh tế nói chung, thị trường
lao động và doanh nghiệp nói riêng.
II. NGUYÊN NHÂN THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Lực lượng lao động đang ra tăng với tỷ lệ nhanh chóng với hơn một triệu việc làm
mới mỗi năm. Tỷ lệ thất nghiệp giữa thanh niên đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng
ở Việt Nam, nơi mà dân số dưới độ tuổi 24, chiếm phần lớn trong số người thất
nghiệp. Tỷ lệ của những người tìm việc làm lần đầu, đa số họ là những người lao động
trẻ và phụ nữ, trong tổng số người thất nghiệp đã tăng lên trong thập kỷ qua. Việc
chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm suy giảm
số người lao động hiện đang làm việc tại các xí nghiệp, hợp tác xã quốc doanh. Trong
vòng từ 3-5 năm tới, dự tính hơn 500.000 công nhân sẽ bị mất việc làm tại các xí
nghiệp quốc doanh, đấy là chưa tính số công nhân về hưu trước tuổi. Tương tự như
một số nước, việc tự do hoá nền kinh tế và cải cách cơ cấu đã khuyến khích cho các
doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính quy và khuyến khích việc ký hợp đồng lao
động. Những yếu này được xem là sẽ tạo ra một thị trường năng động, tích cực hơn,
giảm các chi phí về lao động, năng suất cao hơn nhưng cũng là cách thức để lẩn tránh
các điều luật và quy định về lao động . Điều này dẫn tới mất sự bảo đảm về nghề
nghiệp, những lợi ích về kinh tế, xã hội và sự suy giảm có thể về việc làm và điều kiện
lao động cho công nhân. Các cơ hội về việc làm bị suy giảm trong khu vực quốc
doanh đối với những người lao động mới và những sinh viên tốt nghiệp đại học bởi vì
việc giảm quy mô của khu vực dân sự và các doanh nghiệp quốc doanh. Trong năm
2000, Nhà nước đã tuyển dụng khoảng 1,4 triệu người vào làm việc, tăng khoảng
2,5% so với năm 1999. Tuy nhiên, việc cắt giảm 15% người lao động trong khu vực
dịch vụ dân sự đã có trong kế hoạch với hơn 70.000 người lao động sẽ mất việc làm
vào năm 2002. Trong khi đó, 8% số người lao động trong bộ máy quản lý ở cấp trung
ương cấp thành phố và cấp tỉnh 1 tỷ đồng cũng đang bị cắt giảm. Chính phủ đang bị
cắt giảm và 72% số người lao động trong các tổ chức nhà nước đã có kế hoạch dành
hơn 1 tỷ tỷ Đồng Việt nam cho việc cắt giảm chỗ làm việc trong khu vực dịch vụ dân
sự. Việt Nam cũng đang trong tình trạng thiếu những công nhân lành nghề và bán lành
nghề. Chỉ 22% trong tổng số người lao động đã được qua đào tạo và chỉ 13,4% được
đào tạo nghề. Cuộc điều tra lực lượng lao động được tiến hành năm 1999 đã chỉ ra
rằng 86% trong lực lượng lao động là không có tay nghề. Ví dụ, tổng công ty Bưu
chính Viễn thông Việt Nam (VNPT ) dự tính rằng 50% trong số lao động của Tổng
công ty là những người lao động không có chuyên môn (chủ yếu những người làm
công việc dịch vụ thư tín ) và họ cần được đào tạo. Hơn 100 xí nghiệp hoạt động tại
miền nam có nhu cầu tuyển dụng 17.000 kỹ sư vào làm việc, tuy nhiên họ không
tuyển dụng được những người lao động có trình độ và kinh nghiệm vào làm việc.
Những khu công nghiệp (IPs) được thành lập ở một số tỉnh ở Việt Nam đã tạo được
việc làm cho người lao động tại các khu vực tập trung, tuy nhiên thường thì họ không
tuyển dụng những người dân địa phương vào làm việc vì đó là những người không có
tay nghề, (Ví dụ các khu công nghiệp Bình Dương tuyển dụng hơn 35.000 người lao
động Việt Nam nhưng trong số này, chỉ có 13% là người tại địa phương Đại đa số
những người lao động đến từ những tỉnh miền Bắc và miền Trung. Tỉnh Bình Dương
đang đầu tư vào đất đai xây nhà cho những người lao động đến từ các địa phương
khác, nhưng phần lớn họ vẫn sống ở những ngôi nhà ổ chuột. Bình Dương cũng đã
đầu tư vào một trung tâm đào tạo nghề để cung cấp một lao động có tay nghề cho các
khu công nghiệp). Việt Nam phải đầu tư một số lượng lớn hơn nữa vào việc dạy nghề
dựa trên các nhu cầu của người sử dụng lao động đối với các lao động lành nghề để
chuẩn bị những trách nhiệm mới và những việc làm mới cho người lao động. Phụ nữ
thì ít được đào tạo về mặt kỹ thuật hơn và thường được tuyển dụng vào làm việc tại
các xí nghiệp sản xuất, nơi tuyển dụng những người lao động không có tay nghề. Phụ
nữ thường ít tham gia vào các công việc được trả lương, có nhiều phụ nữ đã tự đứng
ra vận hành những doanh nghiệp gia đình. Phần lớn lực lượng lao động của việt nam
vẫn làm việc trong khu vục nông nghiệp, chiếm 62,56% trong lực lượng lao động.
Trong khi đó,tỷ lệ này ở ngành công nghiệp, xây dựng là 13,15%và khu vực dịch vụ là
24,29%. Chính phủ đã đặt ra những mục tiêu mới là sẽ có 50% trong lực lượng lao
động làm việc trong khu vực nông nghiệp, 23% trong lĩnh vực công nghiệp/ xây dựng
và 27% trong khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thiếu việc làm cũng khá cao trong khu
vực nông thôn chiếm hơn 25%. Số lượng đất đai canh tác sẵn có không thể thu hút
được nhiều lao động hơn. Theo số liệu do Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã
hội cung cấp, với khoảng 8,1 triệu héc ta đất nông nghiệp và con số tối đa lao động
trong ngành nông nghiệp cần thiết là 19 triệu. Những việc làm ngoài thời gian mùa vụ
cần sớm được tạo để tránh tình trạng thất nghiệp ở vùng nông thôn đối với khoảng gần
10 triệu người. Khu vực kinh doanh ngoài quốc doanh trong nước của Việt Nam chủ
yếu tập trung ở những khu vực có thu nhập như là trồng trọt hộ gia đình và những dịch
vụ cửa hàng kinh doanh nhỏ, cả hai loại hình này đều không tạo ra nhiều việc làm
mới. Tình trạng thất nghiệp ở thành thị cũng nảy sinh như là một vấn đề chính, vì
nhiều công nhân đã di chuyển ra các vùng đô thị để tìm việc làm. Việt Nam dự đoán
rằng dân số thành thị sẽ tăng lên từ 20% đến 45% vào cuối năm 2020 so với mức hiện
nay (Con số dự đoán của ILO), và điều này có nghĩa là hơn 30 triệu người từ các vùng
nông thôn chuyển đến các thành phố để tìm việc làm. Vấn đề này đang gây áp lực đối
với các thành phố trong việc tạo thêm những việc làm mới cho họ. Tỷ lệ thất nghiệp ở
đô thị đã tăng từ 6,5% năm 1999 lên 8% năm 2000. Tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên
đang ở mức cao nguy hiểm ở một số khu vực ở đô thị (tỷ lệ này là 52% đối với những
người trong độ tuổi từ 15- 24 ). Ngày càng nhiều thanh niên di chuyển đến các thành
phố với hy vọng tìm được việc làm và đôi khi họ làm nghề bán hàng rong trên đường
phố, bán bưu thiếp, đánh giày hoặc bán thuốc lá để kiếm kế sinh nhai và gửi tiền về hỗ
trợ gia đình. Chiến lược về việc làm ở Việt Nam cũng phụ thuộc vào số công nhân đi
lao động ở nước ngoài. Việt Nam đã thành công trong lĩnh vực đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài. Trong khoảng thời gian từ 1995- 2000, hơn 95.000 người lao động
đã được đưa đi làm việc ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Li bi. Những
người lao động này đã gửi tiền lương của họ về để giúp đỡ thân nhân trong nước với
số tiền từ 80 triệu đến 220 triệu đồng mỗi người mỗi năm. Tuy nhiên, thực tế là cũng
có nhiều nước khác sẵn sàng đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài, do đó cũng
chưa thể biết được liệu các nước nhập khẩu lao động trong tương lai sẽ cần bao nhiêu
lao động nước ngoài. Việc sắp xếp lại ngành công nghiệp và tạo ra nhiều cơ hội việc
làm mới cũng cần nhiều thời gian, vì thế, tỷ lệ thất nghiệp số học cũng gia tăng. Sự
phát triển nhanh của đầu tư tư nhân là cần thiết cho việc tạo việc làm. Sự tăng trưởng
về đầu tư tư nhân cũng đang ở dưới mức cần thiết để tạo ra số việc làm cần thiết ỏ
Việt Nam nhằm đáp ứng được nhu cầu của những người mới bước vào lực lượng lao
động mỗi năm. Cần có một khoảng thời gian đối với một người tìm việc cho tới khi
tìm thấy một việc làm thích hợp. Việt Nam vẫn cần phải bắt đầu sự chuyển đổi từ các
ngành công nghiệp cần nhiều lao động sang một nền công nghiệp có tay nghề chuyên
môn cao. Thiên tai có thể ảnh hưởng đến một bộ phận lớn trong lực lượng lao động tại
những vùng bị thiệt hại bị mất việc làm cho tới khi họ có thể khắc và xây dựng cuộc
sống và kế sinh nhai của họ Bảo hiểm thất nghiệp không thể giải quyết tất cả về
nguyên nhân thất nghiệp nói trên. Tuy nhiên, nó có thể góp vào việc làm giảm đi
những tác động của thất nghiệp đối với công nhân và cũng đóng góp được cho chế độ
bảo hiểm xã hội. Các hình thức khác của trợ cấp thất nghiệp có thể được sử dụng như
là một phần của chiến lược việc làm hội nhập để hỗ trợ cơ bản về thu nhập và đào tạo
tay nghề để tạo cơ hội tốt hơn cho người lao động tìm được việc làm. Các chính sách
đều nhằm vào việc cải thiện chất lượng của lực lượng lao động, thông qua đào tạo
nghề và giáo dục, dường như sẽ làm giảm đi số lượng người lao động có tay nghề kém
trong thời gian tới. Mục đích của chế độ trợ cấp thất nghiệp thường được xem như là
biện pháp để tạo điều kiện cho những người bị mất việc làm, không phải do lỗi của
bản thân họ, một khoản bồi thường đủ để đáp ứng được nhũng nhu cầu ngay lập tức
của họ và khoản thu nhập tương tự này sẽ giúp họ chi trả được những chi phí cần thiết
cho đến khi tìm được việc làm mới.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA THẤT NGHIỆP
1. Lợi ích của thất nghiệp
• Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý và phù hợp với
nguyện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội.
• Lợi ích xã hội: Làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn và góp
phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn.
• Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe.
• Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.
• Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả. 2. Tác hại
• Hao phí nguồn lực xã hội: con người và máy móc. Quy luật Okun áp dụng cho nền
kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sản
lượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên).
• Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài.
• Khủng hoảng gia đình do không có thu nhập.
• Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp.
• Chính phủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp.
• Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các
nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
• Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.
• Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu
dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụ giảm. Hơn nữa, tình
trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó
mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1. Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết
• Đối với loại thất nghiệp tự nguyện:
− Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức
lương thu hút được nhiều lao động hơn.
− Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động.
• Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:
− Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích
các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.
− Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến phát triển
kinh tế xã hội. Nền kinh tế sẽ phải từ bỏ những sản phẩm, dịch vụ mà những người
công nhân bị thất nghiệp làm ra. Hơn nữa, đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực
đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào
tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Do đó, cần phải có
những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp tục lan rộng. 2. Kích cầu.
Việc đầu tư hay nói đúng hơn là kích cầu nhắm vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
trọng tâm đã được xác định. Việc “bơm vốn” và áp dụng các chính sách ưu đãi cho
khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản xuất, từ đó tạo ra việc làm.
Bên cạnh đó, kích cầu bằng việc đầu tư vào phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng
đang được đánh giá là giải pháp tối ưu hơn cả. Đây cũng là giải pháp mà các quốc gia
đã từng áp dụng trước đây. Việc đẩy nhanh tiến độ các công trình đang thi công và
làm mới, cải tạo, nâng cấp các công trình đã xuống cấp trên phạm vi rộng không chỉ
giải quyết bài toán yếu kém về cơ sở hạ tầng của nước ta như “phàn nàn” của nhiều
nhà đầu tư nước ngoài, mà hơn thế là sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, giải
quyết vấn đề lao động dôi dư do mất việc làm từ ảnh hưởng của suy thoái. Một khi
vấn đề yếu kém của cơ sở hạ tầng được giải quyết, cộng hưởng các chính sách kinh tế
vĩ mô khác thì việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở nên khả quan hơn khi nền
kinh tế thế giới hồi phục trở lại.
3. Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc.
Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội. Trước
tình hình lao động của quý I/2009, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã đưa ra ba
giải pháp chủ yếu để hỗ trợ lao động mất việc làm. Thứ nhất, Tổng liên đoàn lao động
các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động sớm tìm được việc làm mới. Hiện nay
Tổng liên đoàn có hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm (31 trung tâm). Theo báo
cáo của Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành thì đã có 80% lao động mất việc tìm
được việc làm trở lại. Tổng liên đoàn lao động cũng chỉ đạo các sang cả các doanh
nghiệp các tỉnh lân cận. Thứ hai, các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm
vụ nâng cao tay nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề,
tranh thủ lúc không có việc. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác
dạy nghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng. Trong bối cảnh lực
lượng lao động mất việc làm tăng nhanh như hiện nay, hằng năm chúng ta phải giải
quyết tối thiểu cho khoảng 1,2 triệu việc làm mới, khoảng trên 1 triệu lao động chuyển
từ khu vực nông thôn ra thành thị thì sức ép giải quyết việc làm càng trở nên nặng nề
hơn. Trong khi đó, nếu chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2009 không đạt được mức
6,5% thì tỉ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ càng ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến an sinh xã
hội và làm “mất an toàn xã hội” theo cách đánh giá của ILO. Đấy là chưa tính đến
việc số hộ nghèo, người nghèo sẽ tăng cao nếu chúng ta áp dụng chuẩn nghèo mới.
Thứ ba, cho vay vốn từ quỹ quốc gia của Tổng liên đoàn. Những người lao động mất
việc do suy thoái kinh tế sẽ được vay vốn để họ có thu nhập giải quyết khó khăn trước
mắt. Ngoài ra, ở một số tình, thành phố con có thêm quỹ trợ vốn cho lao động nghèo.
Quỹ này cũng cho người lao động mất việc làm vay vốn để tạo công việc. Điều này đã
mang lại hiệu quả tương đối tốt, giúp người lao động ổn định cuộc sống.
4. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao
động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Bên cạnh đó bảo
hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp. 5. Những biện pháp khác
− Trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp. Họ cũng có thể hỗ
trợ doanh nghiệp trong nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội, quỹ lương hưu v.v… mà mục
đích không gì khác ngoài việc giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí nhân lực liên
quan mà không cần phải sa thải nhân công.
− Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với
hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến
doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn.
− Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp
chấp nhận một mức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong
doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi
có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.
− Đào tạo nghề cho bà con ở nông thôn đặc biệt là con cái của họ, khi diện tích đất sản
xuất của họ bị thu hồi thì có thể dể dàng chuyển sang làm những ngành nghề khác.
− Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình
trạng thất nghiệp ở trong nước mà còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia.
− Chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
− Hạn chế tăng dân số.
− Khuyến khích sử dụng lao động nữ.
− Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các
đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình và công cộng. KẾT LUẬN
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy ra trong
bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào (T - H). Hàng hóa
đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặt biệt, hàng
hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng hóa
đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường. Thất nghiệp là một hiện
tượng xã hội tồn tại khách quan và gây ra những hậu quả xấu ngăn cản sự phát triển
của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, vấn đề giải quyết thất nghiệp là vấn đề cấp bách hơn
bao giờ hết, giảm bớt thất nghiệp không những tạo điều kiện để phát triển kinh tế mà
còn thúc đẩy ổn định xã hội. Một xã hội có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp
thấp thì tệ nạn xã hội sẽ bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được nâng cao. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu Tiếng Việt:
1. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lê nin Tài liệu trực tuyến:
2. “Hàng hóa sức lao động là gì? Lý luận chung về hàng hóa sức lao động”, Nguyễn
Tuyết Anh, truy cập vào ngày 09/11/2023 https://luanvan1080.com/hang-hoa-suc-lao- dong.html
3. “Vấn đề thất nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam”, Luật Quang Huy
https://luatquanghuy.vn/bai-tap-luat/kinh-te-hoc-vi-mo-bai-tap-luat/van-de-ve-that-
nghiep-ly-thuyet-va-thuc-tien-o-viet-nam/
4. “9 tháng năm 2019: Số người có việc làm tăng, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm
giảm dần”, Kinh tế và Dự báo, truy cập vào ngày 09/11/2023.
http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/2-15004-9-thang-nam-2019--so-nguoi-co-viec-lam-
tang-ty-le-that-nghiep-va-thieu-viec-lam-giam-dan.html
5. “Thất nghiệp tăng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp kỷ lục trong vòng 10 năm
qua”, Minh Khôi, truy cập vào 10/11/2023
https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/that-nghiep-tang-ty-le-tham-gia-luc-luong-
lao-dong-thap-ky-luc-trong-vong-10-nam-qua-322046.html
6. “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp”, Dân Kinh Tế
http://www.dankinhte.vn/nguyen-nhan-dan-den-tinh-trang-that-nghiep/
7. “Giải pháp giải quyết vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam.”, Dân Kinh Tế
http://www.dankinhte.vn/giai-phap-giai-quyet-van-de-that-nghiep-o-viet-nam/