Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
----------- 🙥 🕮 🙧 ----------- BÀI THẢO LUẬN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thị Thu Hà Nhóm thực hiện: 6 Lớp học phần: 241_HCMI0111_23 Hà Nội, 2024 MỤC LỤC
CHỦ ĐỀ 2:............................................................................................................................................1
A. MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................1 1.
Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................................1 2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................................2
B. NỘI DUNG................................................................................................................................... 3
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG, Ý NGHĨA LUẬN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH...........3
1.1. Hoàn cảnh ra đời “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm mà phải
trồng người”..................................................................................................................................3
1.2. Nội dung luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì
phải trồng người”.........................................................................................................................3
1.3. Ý nghĩa luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”..................................................................................................................................6
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI.................................................9
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.......................................................9
2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.....................................................11
2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người..................................................14
III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ THỰC HIỆN LỜI DẠY
TRỒNG NGƯỜI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH..............................................................21
3.1. Chính sách của Đảng về xây dựng con người....................................................................21
3.2. Một số thành tựu và hạn chế trong quá trình “trồng người”...........................................23
3.3. Nguyên nhân........................................................................................................................31
3.4. Giải pháp khắc phục dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh.....................................................35
IV. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM 43
4.1. Tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”
..................................................................................................................................................... 43
4.2. Đối với Đảng và Nhà nước..................................................................................................45
4.3. Đối với thanh niên...............................................................................................................47
C. KẾT LUẬN.................................................................................................................................... 51
CHỦ ĐỀ 1:.......................................................................................................................................... 52
A. PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 52
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................................................52
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................53
B. NỘI DUNG.....................................................................................................................................54
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI............54
1. Khái niệm................................................................................................................................54
2. Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ...........................................................54
3. Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ..................................55
II. LIÊN HỆ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. ...56
1. Thực trạng............................................................................................................................... 56
2. Nguyên nhân........................................................................................................................... 62
3. Giải pháp................................................................................................................................. 63
C. KẾT LUẬN.................................................................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................................1 CHỦ ĐỀ 2:
Phân tích luận điểm Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Liên hệ với việc xây dựng con
người Việt Nam hiện nay. A. MỞ ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo kiệt
xuất, người không chỉ đóng góp vào sự nghiệp cách mạng mà còn để lại những
tư tưởng quý giá về giáo dục, con người, và phát triển bền vững. Một trong
những luận điểm nổi tiếng của Người là: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng
cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Câu nói không chỉ thể hiện tầm
nhìn chiến lược dài hạn của Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực mà còn
khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và bồi dưỡng con người trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước đang tiến vào thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc vận dụng và
hiểu rõ tư tưởng này ngày càng trở nên cấp thiết. Xây dựng con người Việt Nam
mới – có đạo đức, tri thức, kỹ năng và tư duy đổi mới – là điều kiện tiên quyết
để đảm bảo sự phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước trong tương lai.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, sự phát triển của một quốc gia
không chỉ phụ thuộc vào những thành tựu về kinh tế hay công nghệ mà còn phải
dựa trên nền tảng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực đó chính
là những con người được giáo dục, rèn luyện và phát triển cả về năng lực lẫn
phẩm chất đạo đức. Trước sự chuyển mình mạnh mẽ của thế giới với những yêu
cầu mới về kỹ năng, kiến thức và thái độ, tư tưởng “trồng người” của Hồ Chí
Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời đại. Việc phân tích luận điểm này giúp chúng
ta không chỉ nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của giáo dục và phát triển
con người mà còn định hướng cụ thể cho quá trình xây dựng nguồn nhân lực
hiện tại và tương lai. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực xây dựng 1
một xã hội phát triển toàn diện, việc “trồng người” trở nên vô cùng cấp thiết và
là nhiệm vụ trọng tâm của quốc gia.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Tiểu luận này nhằm phân tích và làm sáng tỏ những ý nghĩa
sâu sắc trong luận điểm của Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng
cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Thông qua việc nghiên cứu,
người đọc sẽ thấy rõ sự liên kết giữa giáo dục, phát triển con người và sự phát
triển lâu dài, bền vững của đất nước. Đồng thời, tiểu luận sẽ liên hệ với thực tiễn
xây dựng con người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đối
mặt với những thách thức và cơ hội mới.
Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc phân tích
tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn đánh giá thực trạng, từ đó rút ra những bài học và
đề xuất giải pháp nhằm phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. 2 B. NỘI DUNG
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI, NỘI DUNG, Ý NGHĨA LUẬN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1. Hoàn cảnh ra đời “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm mà phải trồng người”
Quan điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
thì phải trồng người” của Hồ Chí Minh được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam
đang đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách cả về kinh tế, chính trị và xã hội.
Đây là giai đoạn đất nước đang trong quá trình xây dựng và phát triển sau khi
giành được độc lập, đồng thời phải khôi phục và phát triển giáo dục, đào tạo
nguồn nhân lực cho tương lai.
Hoàn cảnh ra đời:
Sau năm 1945, khi đất nước giành được độc lập nhưng vẫn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Và
HCM đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho tương lai, không chỉ
quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà còn phải quan tâm tới giáo dục và đào tạo “con người”.
Vào ngày 13/9/1958, đây cũng là lời của Chủ tịch HCM đã dự và phát
biểu tại “lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc”.
→ Như vậy, luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một tầm
nhìn sâu sắc, lâu dài về vai trò của con người và giáo dục trong sự nghiệp phát triển đất nước.
1.2. Nội dung luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người”
Trong bài nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II, cấp III
toàn miền Bắc (ngày 13/9/1958), Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp: “Vì lợi ích
mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta
phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà”. Bằng những
từ ngữ rất mộc mạc lại dễ hiểu, Bác Hồ đã thể hiện một tư tưởng rất mới lạ. Đó 3
là tư tưởng “trồng cây” đi đôi với quan điểm “trồng người”, thống nhất cả hình
thức và nội dung, thể hiện được nhân sinh quan cách mạng triệt để của Người.
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây”
Với sự gắn bó mật thiết giữa con người và môi trường sống, HCM đã đặc
biệt quan tâm tới việc “trồng cây gây rừng”. Người luôn coi đây là một trong
những vấn đề chiến lược góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống và
bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Và “trồng cây” theo Người còn có một ý nghĩ
thiết thực là bảo vệ môi trường tự nhiên.
Ngày 28-11-1959, Người viết bài Tết trồng cây và “đề nghị tổ chức một
ngày Tết trồng cây” để thiết thực “lấy
thành tích chào mừng Đảng 30 mươi
tuổi”. Người từng nói: trồng cây “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, cho nên “tất cả
nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và săn sóc
cho tốt” và “mỗi
Tết trồng được độ 15 triệu cây”, thì sau mươi năm, “nước ta
phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu sẽ điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ
hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân
ta”. Không chỉ viết về “Tết trồng cây”, Người còn nhấn mạnh rằng: “Trồng cây
phải là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục của Nhà nước” bởi ai cũng biết
muốn trồng cây có kết quả thì phải chọn được giống tốt, đất tốt, phải quan tâm
chăm sóc, những sự chăm sóc cũng phải đúng cách và khoa học, thì cây mới
sinh trưởng tốt được. Việc trồng người cũng như vậy; nó là cả một quá trình và
liên quan đến nhiều yếu tố như môi trường, phương pháp giáo dục v.v... Lấy một
cái cụ thể (trồng cây) để nói về một khái niệm trừu tượng (trồng người), Bác đã
giúp cho người nghe hình dung một cách dễ hiểu hơn rất nhiều lần một bài giảng
dài dòng về ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng v.v... của sự nghiệp giáo dục thế
hệ trẻ. Nếu trồng cây là vì lợi ích “mười năm”, thì trồng người lại là vì lợi ích “trăm năm”.
“Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Cùng với “trồng cây”, với tầm nhìn xa trông rộng của một vĩ nhân, Chủ
tịch HCM đặc biệt quan tâm tới chiến lược “trồng người”. Sự khác nhau về bản
chất, trồng cây là vì lợi trước mắt, trồng người là vì lợi ích lâu dài. Bởi nó đòi 4
hỏi sự bền bỉ hơn, tốn nhiều công sức hơn; đồng thời cái mà người ta thu hoạch
được từ công việc trồng người không phải là ngày một, ngày hai, mà gắn liền
với sự tồn vong, phát triển của cả một dân tộc qua nhiều thế hệ... Nói cách khác,
giáo dục thế hệ trẻ theo tư tưởng của Hồ Chủ Tịch là vun trồng, chăm sóc, bồi
dưỡng, đào tạo cho đời sau những con người, lớp người khoẻ khoắn cả về thể
chất và tinh thần, cũng như người nông dân trồng cây vậy, là để có những cây,
những rừng tươi tốt......Điều này có nghĩa là việc “trồng người” là công việc
trăm năm, không thể nóng vội một sớm một chiều, không phải một lúc là xong,
cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó. Và Người đã từng nói rằng: “Một
năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân
của xã hội”, Người đã chỉ rõ ra sự cần thiết phải chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ để
phục vụ cho cách mạng. Chính vì hành trình đi đến một đất nước Việt Nam độc
lập, tự do, hòa bình và thống nhất còn đầy gian truân và thử thách nên đòi hỏi
Đảng, Chủ tịch HCM và toàn dân ta phải từng bước vượt qua khó khăn về mọi
mặt. Và trọng trách đó đặt lên đôi vai của thế hệ trẻ Việt Nam. Dù bộn bề với
công việc quốc gia nhưng Người vẫn quan tâm đến vấn đề giáo dục trí lực, nâng
cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, nắm vững khoa học kỹ thuật; bồi dưỡng
lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, đặc biệt là việc giáo
dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, giúp họ có đầy đủ những điều kiện để trở
thành người công dân tốt, người chủ tương lai xứng đáng của đất nước. Bởi con
người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.
Như thế có nghĩa là nói rằng con người là yếu tố quan trọng trong việc phát triển
đất nước. Không chỉ yêu cầu về giáo dục, .... Người còn yêu cầu về đạo đức bởi
“Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân”. Theo Người, đạo đức là nền tảng và là sức
mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông
nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là
tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức 5
là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho
nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
Như vậy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “trồng cây” và “trồng
người” lúc sinh thời vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Từ những gì Người trăn trở,
những điều đã nói và cả những việc Người đã làm tận tâm, tận lực, có thể thấy
rõ rằng: trước những thách thức mới của thiên nhiên, việc trồng cây, gây rừng,
bảo vệ cây, bảo vệ rừng… phải trở thành ý thức thường trực của mỗi người dân,
để cây xanh không chỉ làm cho đất nước tươi đẹp, mà còn thiết thực xóa đói
giảm nghèo, phát triển kinh tế. Đồng thời, trước những yêu cầu mới của xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập, việc nâng cao tri thức, trình độ về mọi mặt và giáo dục
rèn luyện đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh “vừa
hồng vừa chuyên” không chỉ là thiết thực thực hiện tâm nguyện của Người, làm
theo tấm gương của Người, mà đó còn là một trong những nhiệm vụ cấp bách,
quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta vì một nước Việt Nam: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong hành trình phát triển.
1.3. Ý nghĩa luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người”
Luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
thì phải trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một tầm nhìn sâu sắc,
lâu dài về vai trò của con người và giáo dục trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Đây không chỉ là một nhận định mang tính chiến lược mà còn là kim chỉ nam
trong công cuộc xây dựng và phát triển con người toàn diện, phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Tầm quan trọng của con người đối với cách mạng và phát triển xã hội
Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng con người là yếu tố then chốt, là nhân
tố quyết định đến sự thành bại của mọi sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Trong
bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức
mạnh đoàn kết của nhân dân”. Điều này đồng nghĩa với việc, không có nhân 6
dân, không có sức mạnh quần chúng thì cách mạng không thể thành công. Con
người không chỉ là lực lượng sản xuất mà còn là người sáng tạo ra lịch sử.
Luận điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc đào tạo,
giáo dục và phát triển con người có ý nghĩa quan trọng cho tương lai lâu dài của
đất nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ tạm thời, giải quyết trước mắt, mà còn là
chiến lược mang tính dài hạn, giúp xây dựng một xã hội phát triển bền vững.
Nếu việc trồng cây đem lại lợi ích trong mười năm, tức là lợi ích ngắn hạn về
kinh tế, môi trường, thì việc “trồng người” mang lại lợi ích kéo dài đến hàng
trăm năm, tức là xây dựng nền móng vững chắc cho sự phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của cả dân tộc.
Giáo dục là nền tảng phát triển lâu dài của quốc gia
Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của giáo dục trong việc hình thành và
phát triển con người. Người ví việc “trồng người” giống như việc chăm sóc,
nuôi dưỡng một hạt mầm, giúp nó phát triển thành cây to. Điều này cho thấy sự
nhấn mạnh của Người về tầm quan trọng của việc giáo dục từ khi con người còn
nhỏ, bởi trẻ em như tờ giấy trắng, giáo dục tốt sẽ định hình nhân cách, lối sống
và lý tưởng của con người trong suốt cuộc đời.
Giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ,
dạy nghề, mà còn bao gồm cả việc giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, tư duy
làm chủ xã hội. Đặc biệt, Người nhấn mạnh giáo dục con người phải toàn diện,
vừa “hồng” vừa “chuyên”, tức là vừa có đạo đức cách mạng tốt, vừa có năng lực
chuyên môn giỏi. Đây là mục tiêu mà mọi hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa hướng tới.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng việc giáo dục phải phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của đất nước và sự tiến bộ của xã hội. Trong bất kỳ giai
đoạn lịch sử nào, nhiệm vụ “trồng người” luôn là một nhiệm vụ trọng tâm,
không thể tách rời khỏi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong tiến
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giáo dục có vai trò hết sức quan trọng, nhằm
tạo ra con người xã hội chủ nghĩa, làm nền tảng để xây dựng một xã hội không
có sự bóc lột, bất công. 7
Trách nhiệm của toàn xã hội trong việc “trồng người”
Luận điểm “vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” còn chỉ ra rằng
công cuộc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ không chỉ của riêng
cá nhân mà của cả cộng đồng và xã hội. Đây là công việc cần sự phối hợp chặt
chẽ giữa Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, và các cá nhân. Mỗi cá
nhân phải tự rèn luyện, tu dưỡng, nhưng đồng thời cũng cần có sự hỗ trợ từ hệ
thống giáo dục và chính sách của Nhà nước.
Hồ Chí Minh từng nói: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do
giáo dục mà nên”. Người cũng khẳng định rằng giáo dục có vai trò to lớn trong
việc hình thành nhân cách và định hướng lý tưởng của mỗi người. Điều này có
nghĩa là việc xây dựng con người không phải là trách nhiệm của một thế hệ hay
một cá nhân nào, mà là nhiệm vụ của toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực
của các tổ chức, đoàn thể, chính quyền và từng người dân.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến vai trò nêu gương, đặc
biệt là của người lãnh đạo và các cán bộ, đảng viên. Người thường nhấn mạnh
rằng “Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Điều này nhắc nhở rằng, việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa không thể
chỉ dựa trên lý thuyết, mà cần phải có những tấm gương thực tế để dẫn dắt và
truyền cảm hứng cho quần chúng.
Ý nghĩa chiến lược trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa
Việc “trồng người” không chỉ là công việc của một vài năm hay trong một
giai đoạn nhất định, mà là một quá trình lâu dài, xuyên suốt trong suốt tiến trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng để xây dựng được chủ
nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là những
con người có lý tưởng, đạo đức, và phẩm chất phù hợp với xã hội mới.
Con người xã hội chủ nghĩa phải có tình yêu quê hương, đất nước, tinh
thần quốc tế trong sáng, sẵn sàng cống hiến, làm chủ xã hội và tự nhiên, có khả
năng sáng tạo và đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là 8
những con người không chỉ có tri thức, năng lực chuyên môn, mà còn có đạo
đức và ý thức chính trị cao. Xã hội chỉ có thể phát triển nếu có những con người
đủ năng lực làm chủ vận mệnh của mình và góp phần vào sự phát triển chung.
→ Luận điểm “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm
thì phải trồng người” của Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của
con người trong quá trình phát triển đất nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Để
phát triển bền vững, lâu dài, không chỉ cần tập trung vào các lợi ích kinh tế trước
mắt mà còn phải chú trọng đến việc giáo dục, bồi dưỡng và phát triển con người
– yếu tố quyết định sự thành bại của mọi sự nghiệp. Công việc “trồng người” là
một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách và cần được thực hiện liên tục, kiên trì, góp
phần vào việc xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và thịnh vượng.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng quan
niệm về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một vấn đề
xuyên suốt, trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người. Trong quan niệm của
Hồ Chí Minh: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh con người là một thực thể thống nhất giữa
cái “riêng” và cái “chung” con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa
cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin
tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.
2.1.1. Con người là vốn quý nhất
Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lý luận, mà Người còn là nhà hoạt động
thực tiễn cách mạng. Người không chỉ thể hiện tư tưởng của mình qua hành
động của bản thân trong những việc làm hàng ngày, mà còn đưa các tư tưởng đó
vào trong chiến lược và sách lược, trong việc thành lập, giáo dục, rèn luyện Đảng của Người. 9
Những luận điểm của Hồ Chí Minh về con người nói chung và con người
là vốn quý nhất là sự hun đúc, chắt lọc những thành quả trí tuệ loài người qua
các thời đại và được nâng lên tầm cao trên cơ sở của thế giới quan khoa học và
nhân sinh quan cách mạng. Người nhìn nhận tin tưởng con người là nhân tố
quyết định tiến bộ xã hội, quyết định sự thành công của sự nghiệp giải phóng
dân tộc, xây dựng xã hội mới.
2.1.2. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
Trong khi khẳng định mục tiêu cách mạng là giải phóng con người, mang
lại tự do, hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định sự
nghiệp giải phóng là do chính bản thân con người thực hiện. Đây là tư tưởng chủ
đạo bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại
là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Có thể
là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai
cấp, tầng lớp và cá nhân. Con người là chiến lược số một “vì lợi ích trăm năm
thì phải trồng người”. Người phấn đấu cho một xã hội vì con người hạnh phúc,
tự do, được phát triển toàn diện.
2.1.3. Có mục tiêu, phương hướng đúng đắn sáng tạo để giải phóng con
người, phát triển con người
Mục tiêu phương hướng theo Hồ Chí Minh đó là: Giành độc lập dân tộc
cho các nước thuộc địa và phấn đấu cho sự bình đẳng cả tất cả các dân tộc;
giành quyền tự do cho những người bị áp bức bóc lột và phấn đấu cho quyền tự
do, bình đẳng của tất cả mọi người; đem lại cơm no, áo ấm, đáp ứng nhu cầu học
hành cho những người lao động nghèo khổ và phấn đấu hạnh phúc đầy đủ cho toàn nhân loại. 10
2.1.4. Kết hợp giải phóng con người về mặt chính trị với giải phóng con
người về mặt kinh tế, văn hóa. Không ngừng phát triển sản xuất để không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng đồng bào, Hồ Chí Minh đã
nghĩ đến một xã hội mới, một cuộc sống mới ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân. Muốn có cuộc sống mới đó, trước tiên phải giành lại độc lập cho dân tộc,
kế đó phải xây dựng đất nước vững mạnh cả về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì dân, không có gì khác hơn là vì nhu cầu
và đáp ứng ngày càng cao lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của nhân dân. Một xã
hội mới là một xã hội mà mọi người dân phải được hưởng ấm no, hạnh phúc.
Ðối với Người, nhân dân luôn là lực lượng vĩ đại và quyền lợi của dân
luôn là tối thượng. Ðó không chỉ là quyền độc lập dân tộc mà còn là những lợi
ích vật chất liên quan cuộc sống thường ngày của mỗi con người như ăn, mặc, học hành.
2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
2.2.1. Con người là mục tiêu của cách mạng
Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người. Đó có
thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt, lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận,
giai cấp, tầng lớp và cá nhân. Với hoạt động thực tiễn thì việc gì lợi cho dân, dù
nhỏ mấy - ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy - ta phải hết sức
tránh…Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại và năng lực
sáng tạo của quần chúng. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã
nhận rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội
chủ nghĩa”, “có dân thì có tất cả”. Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên
phải do chủ nghĩa xã hội tạo ra. Nhưng ở đây trên con đường tiến lên chủ nghĩa
xã hội thì “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Câu nói này có
thể được hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những
phẩm chất cơ bản, tiêu biểu của con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi 11
cuốn xã hội. Công việc này là một quá trình lâu dài, không ngừng hoàn thiện,
nâng cao và thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình, cá nhân mỗi
người. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa có hai
mặt gắn bó chặt chẽ với nhau. Một là kế thừa những giá trị tốt đẹp của con
người truyền thống Việt Nam và phương Đông.
Hai là, hình thành những phẩm chất mới như: Có tư tưởng xã hội chủ
nghĩa; có đạo đức xã hội chủ nghĩa và có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ bản thân,
gia đình, xã hội, thiên nhiên; có tác phong xã hội chủ nghĩa; có lòng nhân ái, vị
tha, độ lượng. Để làm được điều đó, ta cần có một chiến lược đúng đắn, do đó,
chiến lược “trồng người” sẽ trở thành là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Để thực hiện chiến lược “trồng
người”, cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là biện pháp quan
trọng bậc nhất. Bởi vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi
sáng cho thanh niên. Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên.
“Trồng người” là công việc “trăm năm”, không thể nóng vội “một sớm một
chiều”, không phải làm một lúc là xong cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay
đến đó. Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong
suốt cuộc đời mỗi con người, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hồ
Chí Minh cho rằng: “Việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học”. Ta
có thể thấy, con người là chiến lược đầu tiên trong tư tưởng và hành động của
Hồ Chí Minh. Mục tiêu này được cụ thể hóa trong ba giai đoạn cách mạng. Đầu
Tiên là giải phóng dân tộc, tiếp theo, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, cuối
cùng tiến dần lên xã hội chủ nghĩa. Điều này nhằm giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Giải phóng dân tộc là
xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành lại độc lập cho dân tộc. Con
người trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, còn trong
phạm vi thế giới là giải phóng các dân tộc thuộc địa. Giải phóng xã hội là đưa xã
hội phát triển thành một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội
nền sản xuất phát triển cao và bền vững, văn hóa tiên tiến, mọi người là chủ và
làm chủ xã hội, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, một xã hội văn minh, tiến 12
bộ. Xã hội đó phát triển cao nhất là xã hội cộng sản, giai đoạn đầu là xã hội xã
hội chủ nghĩa. Giải phóng giai cấp là xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của giai cấp này
đối với giai cấp khác; xóa bỏ sự bất công, bất bình đẳng xã hội; xóa bỏ nền tảng
kinh tế - xã hội đẻ ra sự bóc lột giai cấp; dần dần thủ tiêu sự khác biệt giai cấp,
các điều kiện dẫn đến sự phân chia xã hội thành giai cấp và xác lập một xã hội
không có giai cấp. Con người trong giải phóng xã hội là các giai cấp cần lao,
trước hết là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Phạm vi thế giới là giải
phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước. Giải phóng con người là
xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con người; xóa bỏ các điều kiện xã hội
làm tha hóa con người, làm cho mọi người được hưởng tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát huy khả năng sáng tạo, làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và làm
chủ bản thân, phát triển toàn diện theo đúng bản chất tốt đẹp của con người. Con
người trong giải phóng con người là cá nhân mỗi con người. Phạm vi thế giới là
giải phóng loài người. Các “giải phóng” đó kết hợp chặt chẽ với nhau, giải
phóng dân tộc đã có một phần giải phóng xã hội và giải phóng con người; đồng
thời nối tiếp nhau, giải phóng dân tộc mở đường cho giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người.
2.2.2. Con người là động lực của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, động lực, nhân tố quyết
định thành công của sự nghiệp cách mạng, vì “Lòng yêu nước và sự đoàn kết
của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”. Người nhấn
mạnh “mọi việc đều do người làm ra”, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”, “Ý
dân là trời”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng
xong”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhân dân là những người sáng
tạo chân chính ra lịch sử thông qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất như lao
động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội, sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Nói
đến nhân dân là nói đến lực lượng, trí tuệ, quyền hành, lòng tốt, niềm tin, đó
chính là gốc, động lực cách mạng. Niềm tin vào sức mạnh của dân còn được
nhận thức từ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ. Hồ Chí Minh 13
chỉ rõ: Nếu không có nhân dân thì Chính Phủ không đủ lực lượng: nếu không có
Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường. Đảng lãnh đạo nhưng nhân dân
là chủ. Dân như nước, bộ đội như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Tin
dân, học dân, tôn trọng dân, dựa vào dân theo đúng đường lối quần chúng sẽ tạo
nên sức mạnh vô địch. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thực hiện được với sự giác ngộ đầy đủ và
lao động sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh tin ở
dân còn xuất phát từ niềm tin vào tình người. Đã là người cộng sản thì phải tin
nhân dân và niềm tin quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh cho người cộng sản.
Người nói: dân tộc ta là một dân tộc anh hùng
2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược trồng người
2.3.1. Chiến lược “Trồng người” là khách quan và cũng là một chiến lược
Trên cơ sở khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
cách mạng. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo và rèn
luyện con người. Người nói đến “lợi ích trăm năm” và mục tiêu xây dựng chủ
nghĩa xã hội là những quan điểm mang tầm vóc chiến lược, cơ bản, lâu dài,
nhưng cũng rất cấp bách. Nó liên quan đến nhiệm vụ “trước hết cần có những
con người xã hội chủ nghĩa” và “trồng người”. Tất cả những điều này phản ánh
tư tưởng lớn về tầm quan trọng có tính quyết định của nhân tố con người; tất cả
vì con người, do con người. Xây dựng con người là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu, có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và
xây dựng chủ nghĩa xã hội, “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người”, tư tưởng có tính chiến lược đó đã được Hồ Chí Minh quán triệt
trong toàn Đảng, toàn dân ta, như một nhiệm vụ có tính quy luật của cách mạng.
Trong các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh chúng ta luôn thấy sự nổi bật của
vấn đề xây dựng con người, đặc biệt là con người mới xã hội chủ nghĩa.
Người nói: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có: người xã hội chủ nghĩa.
Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”. Con
người xã hội chủ nghĩa, theo Hồ Chí Minh, là con người thấm nhuần đạo đức 14
cách mạng, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức làm chủ đất nước,
đồng thời phấn đấu nâng cao trình độ hiểu biết về văn hóa, khoa học kỹ thuật để
đủ sức xây dựng và quản lý xã hội mới. Người luôn nhắc nhở Đảng ta bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau, phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho
học, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng
vừa chuyên. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, việc xây dựng con người mới và
việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là hai việc làm đặc biệt quan trọng
và có quan hệ biện chứng với nhau. Nếu không xây dựng con người mới - những
người đang trực tiếp giữ vai trò quyết định trong tất cả các lĩnh vực, thì việc bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, khó mà thực hiện được, bởi tấm gương của
con người là bài học giáo dục có tính thuyết phục nhất. Ngược lại, chăm lo bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, thì sẽ tạo ra những con người mới kế tục
và phát triển sự nghiệp cách mạng theo định hướng đúng đắn.
2.3.2. Để thực hiện chiến lược “trồng người” buộc phải coi trọng vai trò
của giáo dục và đào tạo
Hồ Chí Minh luôn lưu ý sự nghiệp “trồng người” phải được thực hiện
ngay từ rất sớm: Uốn cây từ lúc cây non, cho nên cần ưu tiên chăm lo giáo dục,
đào tạo các cháu thiếu niên, nhi đồng. Uốn nắn cả một lớp người, một thế hệ đó
là trách nhiệm của toàn xã hội, của Đảng và Chính phủ. Để thực hiện chiến lược
“trồng người”, cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục - đào tạo là biện pháp
quan trọng nhất. Bởi vì, giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện đem lại tương lai tươi
sáng cho thanh niên. Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên.
Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải đặt
đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng
đầu. Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, trong đó đức là gốc, là nền tảng cho
tài năng phát triển. Phải kết hợp giữa nhận thức và hành động, lời nói với việc
làm... có như vậy mới có thể học để làm người. Trồng người là công việc làm rất
lâu dài, không thể nóng vội, không phải làm một lúc là xong, cũng không phải
tùy tiện đến đâu hay đến đó. Mà phải là chiến lược lâu dài, bền bỉ trong suốt
cuộc đời mỗi con người, suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Người rất chú 15
trọng đến việc đào tạo con người, đặc biệt là đào tạo cán bộ. Vì, cán bộ là cái
gốc của mọi công việc, “không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói
gì đến kinh tế văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu”. Do
vậy, trong quá trình hoạt động, Người luôn nghĩ đến việc đào tạo cán bộ cách
mạng. Việc đào tạo cán bộ phải được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau
như: gửi người sang đào tạo ở trường Phương Đông, tổ chức huấn luyện trực
tiếp, viết sách báo, tài liệu tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, ... Nhờ vào việc
đào tạo bài bản đã cho ra đời những cán bộ có tâm, có tầm và có trí để giáo dục
quần chúng và đưa cách mạng Việt Nam phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Việc giáo dục đó đã xây dựng được một đội ngũ thấm nhuần chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, vừa hồng vừa chuyên. Đó là những con người
mới có đạo đức cách mạng, vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi, hiện diện trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền việc
giáo dục, đào tạo con người với hoạt động thực tiễn và lấy kết quả trong hoạt
động thực tiễn làm thước đo giáo dục, đào tạo.
2.3.3. Chiến lược “Trồng người” của Hồ Chí Minh là đào tạo ra một thế
hệ có đầy đủ các yếu tố “tâm, trí, thể”
Vấn đề giáo dục đạo đức cho con người được Hồ Chí Minh đặc biệt chú
trọng. Việc giáo dục đạo đức phải được bắt đầu từ nhỏ, nhiệm vụ của việc giáo
dục đạo đức đối với các cháu thiếu niên, nhi đồng là của toàn xã hội, và phương
pháp giáo dục tốt nhất là phương pháp nêu gương. Trong nội dung giáo dục, Hồ
Chí Minh chủ trương phải giáo dục toàn diện bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục
và đức dục. Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (7-5-1958), Người nói:
“Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự
nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của
mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”. Người thanh niên có đạo đức là
những người luôn sẵn sàng đối mặt với những khó khăn thử thách. Làm việc gì
cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và phải luôn kịp thời sửa chữa những khuyết
điểm của mình. Phải luôn biết kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, lao động trí óc
nếu không biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn thì chỉ là lao động trí óc một 16
nửa, còn lao động chân tay mà không có văn hóa, không có trí tuệ thì làm việc gì
cũng hỏng. Đối với công nhân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Công đoàn phải giáo
dục cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng”. Giai cấp công nhân
là lực lượng nòng cốt của Đảng do vậy phải hiểu tương lai của công nhân và
tương lai của xí nghiệp luôn gắn liền với nhau. Mỗi cá nhân phải hiểu mình là
chủ xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công,
chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều,
màu, rẻ. Công nhân cần phải hiểu lao động là vẻ vang, là động lực cho toàn xã
hội phát triển. Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc việc phát huy vai trò của tất cả tầng
lớp nhân dân trong việc xây dựng con người mới trong quá trình bảo vệ và xây
dựng đất nước. Việc giáo dục tâm, trí cho toàn dân là việc làm cần thiết. Tuy
nhiên việc giáo dục phải có tính phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Người chú
trọng xây dựng con người toàn diện, nhưng đạo đức cách mạng luôn đặt lên hàng đầu.
Hồ Chí Minh cho rằng, người có “tâm” chính là người có đạo đức và đạo
đức phải xét trên hai phương diện đó là lý luận và thực tiễn đối với con người.
Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và
toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một
mặt không thể thiếu của con người nói chung và của cán bộ, đảng viên nói riêng.
“Tâm” ở đây chính là người có lý tưởng về sự giải phóng con người, có lý tưởng
mang lại hạnh phúc, tự do cho con người. Người có tâm là người không vì danh
vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tô „c, của loài người tiến
bô „. Hồ Chí Minh quyết tâm xây dựng đạo đức cách mạng vì Người chủ trương
xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân, phụng sự nhân dân vì mục
tiêu chung. Do vậy, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách
mạng để có thể “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân, thực sự là đầy tớ của nhân dân. Nếu người cách mạng không có đạo
đức thì khó có sức chịu đựng kiên trì, dẻo dai và không thể hoàn thành được
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Người nói: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp
khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”. Nếu người cán 17