



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906
CTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA ĐẦU TƯ BÀI TẬP
MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ 1
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA LÝ THUYẾT QUỸ ĐẦU
TƯ NỘI BỘ. VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH
ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY Lớp tín chỉ: DTKT1106(124)_01 Thành viên: Hoàng Tuấn Anh 11232354 Đoàn Thuỳ Duyên 11232383 Nguyễn Thái Hà 11232408 Nguyễn Trần Lực 11232456 Trịnh Quốc Quân 11232505
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hùng
Hà Nội, tháng 10 năm 2024 lOMoAR cPSD| 58707906 MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................3
NỘI DUNG.....................................................................................................................................4 I.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ THUYẾT QUỸ ĐẦU TƯ NỘI
BỘ......................................4 1.
Khái niệm và nội dung lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ...................................................................4 2.
Ưu điểm lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ...........................................................................................5 3.
Nhược điểm lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ.....................................................................................6 II.
ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH ÁP DỤNG LÝ THUYẾT QUỸ ĐẦU TƯ NỘI BỘ
CỦA VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY..............................................................................7 1.
Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023...............................................................7 2.
Mục tiêu, cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023....................8 2.1.
Mục tiêu..................................................................................................................... .............................8 2.2.
Cơ hội....................................................................................................................... ...............................8 2.3.
Thách thức................................................................................................................... ...........................9 3.
Thực trạng pháp luật các chính sách áp dụng lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ...........................11
3.1. Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp...........................................................................11
3.2. Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn COVID-19 đang nghiêm trọng....................14 3.3.
Chính sách thuế thu nhập doanh đưa ra giai đoạn phục hồi sau COVID – 19.....................................19 II.
BÀI HỌC RÚT RA...........................................................................................................24
1. Bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam...................................................................................24
2. Bài học dành cho nhóm..............................................................................................................27 TÀI LIỆU THAM
KHẢO.............................................................................................................29 lOMoAR cPSD| 58707906 LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội tối ưu, quản lý đầu tư là một hoạt động vô cùng quan
trọng đối với các chủ thể tham gia vào nền kinh tế của một quốc gia. Bên cạnh việc vận
dụng sáng tạo các quy luật kinh tế khách quan, việc chú trọng, xem xét kỹ lưỡng và áp
dụng hiệu quả các quy luật vận động đặc thù trong lĩnh vực đầu tư cũng đóng vai trò không
kém phần quan trọng. Một trong số các quy luật này là lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ, do nhà
kinh tế học Jan Tinbergen (người được trao giải Nobel năm 1969) đưa ra.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm: “quỹ đầu tư” và “lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ". Quỹ đầu tư
là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng, có nhiệm vụ thu hút nguồn vốn nhàn
rỗi từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư vào các loại tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, tiền
tệ, hay các tài sản khác. Công ty quản lý quỹ là đơn vị quản lý các quỹ đầu tư, và các quỹ
đầu tư chính là các sản phẩm, dịch vụ mà công ty quản lý quỹ cung cấp cho khách hàng.
Trong khi đó, lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ là một quy luật vận động trong lĩnh vực đầu tư,
được sử dụng để phân tích hiệu quả hoạt động đầu tư, từ đó đưa ra các phương án và chính
sách phát triển phù hợp. Hiện nay, nhiều tổ chức và doanh nghiệp đang triển khai các hoạt
động đầu tư dựa trên mô hình của lý thuyết này. Ngoài ra, còn có những lý thuyết khác như
lý thuyết gia tốc đầu tư, lý thuyết đầu tư tân cổ điển,… Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết
này, chúng ta sẽ tập trung phân tích sâu hơn về lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ, các ưu và nhược
điểm của nó, cũng như đưa ra cái nhìn tổng quan về một số chính sách đầu tư tại Việt Nam trong ba năm gần đây. lOMoAR cPSD| 58707906 NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ THUYẾT QUỸ ĐẦU TƯ NỘI BỘ
1. Khái niệm và nội dung lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
Lý thuyết Quỹ đầu tư nội bộ được nhà Kinh tế học người Hà Lan Jan Tinbergen
(người đầu tiên nhận được giải thưởng Nobel Kinh tế 1969) nghiên cứu và phát triển. Lý
thuyết này được hiểu một cách đơn giản là vốn đầu tư được trích từ một phần lợi nhuận
của doanh nghiệp và đầu tư có tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế.
Theo ông, vay mượn là hình thức huy động vốn từ bên ngoài như từ các ngân hàng
thương mại, tổ chức tín dụng,... những trường hợp này khi đi vay đều cần phải có tài sản
thế chấp và phải trả cả gốc lẫn lãi khi đến thời điểm đáo hạn. Trong những trường hợp nền
kinh tế tăng trưởng tốt, doanh nghiệp làm ăn kinh doanh tốt thì việc đi vay mượn này cũng
giống như đòn bẩy giúp doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, tăng thêm lợi nhuận. Nhưng
nền kinh tế không phải lúc nào cũng tốt, trong thời kỳ suy thoái (lãi suất cao), doanh nghiệp
có thể không trả được nợ và có thể lâm vào tình trạng phá sản. Vậy nên, đi vay không phải
là điều hấp dẫn, trừ khi được vay với lãi suất ưu đãi.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tăng vốn đầu tư bằng cách phát hành trái phiếu,
cổ phiếu. Tuy vậy, những hình thức này cũng không thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Với
trường hợp phát hành cổ phiếu thì việc bán cổ phiếu chỉ được thực hiện khi hiệu quả của
dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập của dự án trong tương lai hứa hẹn sẽ cao hơn chi phí
bỏ ra. Hơn nữa, để phát hành trái phiếu hay cổ phiếu đến tay các nhà đầu tư thì cần phải có
các thủ tục chứng minh khả năng sinh lời trong tương lai đủ sức thuyết phục, các dự án mà
doanh nghiệp làm phải là dự án thực,... hay phải công bố công khai các thông tin nội bộ
của doanh nghiệp ra công chúng.
Chính vì thế, các doanh nghiệp thường chọn biện pháp đầu tư được tài trợ từ các
nguồn vốn nội bộ của doanh nghiệp.
Khái niệm: Tài trợ nội bộ là việc một công ty sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại của
mình làm nguồn vốn cho một khoản đầu tư mới, chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm
cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
Theo lý thuyết này, tương quan giữa vốn đầu tư và lợi nhuận thực tế được xác định bằng công thức:
I = f (lợi nhuận thực tế) lOMoAR cPSD| 58707906
o Do đó, dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu
nhập giữ lại cho đầu sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn nữa.
o Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu
hao, đi vay các loại, bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu. Trong
đó lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanh
nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ
bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy
thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tình trạng phá sản. Do đó
việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi. Các doanh nghiệp
thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và sự gia tăng của
lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
2. Ưu điểm lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
• Kiểm soát rủi ro: Lý thuyết này cho phép các doanh nghiệp kiểm soát rủi ro bằng
cách đầu tư vào các dự án có khả năng sinh lời cao và phù hợp với chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp. Điều này giúp giảm nguy cơ mất tiền do đầu tư vào các
dự án có rủi ro cao hoặc không phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp.
• Tiềm năng sinh lời cao: Lý thuyết này khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào
các dự án có khả năng sinh lời cao, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động
và tăng trưởng doanh thu.
• Chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời cơ trong kinh doanh.
• Tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn: Sử dụng quỹ nội bộ có thể giúp tiết kiệm chi
phí liên quan đến việc tìm kiếm, đàm phán và quản lý các nguồn tài chính bên ngoài.
Thay vì phải trả lãi suất cho vay hoặc chi phí phát hành cổ phiếu mới, công ty có
thể sử dụng lợi nhuận nội bộ để đầu tư và phát triển mà không phải chịu các chi phí này.
• Giữ được quyền kiểm soát doanh nghiệp: Sử dụng quỹ nội bộ của đầu tư có thể
mang lại lợi ích về việc giữ chặt kiểm soát và quyền lực quyết định của công ty. lOMoAR cPSD| 58707906
Thay vì phải dựa và các nhà đầu tư bên ngoài, công ty có thể tự quyết định về việc
sử dụng và phân phối quỹ nội bộ một cách linh hoạt và hiệu quả.
• Tránh được áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn.
3. Nhược điểm lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
Lý thuyết này bỏ qua yếu tố lợi nhuận kỳ vọng. Đối với một số ngành đã bão hoà,
không còn dư địa để phát triển thêm thì sau khi sử dụng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư,
doanh nghiệp không những không gia tăng lợi nhuận mà còn phải gánh thêm các chi phí
khấu hao hay chi phí quản lý doanh nghiệp,... Hoặc khi doanh nghiệp dự báo rằng tương
lai sẽ gặp nhiều khó khăn do các yếu tố vĩ mô không ổn định như tình hình lạm phát cao
duy trì trong thời gian dài, chuỗi cung ứng bị gián đoạn,... hay các yếu tố vi mô như người
lao động đình công, giá nguyên vật liệu trong thời gian tới tăng cao,... những yếu tố này sẽ
khiến cho lợi nhuận kỳ vọng bị hạ thấp. Do đó việc sử dụng lợi nhuận nhằm mục đích tái
đầu tư vào những thời điểm như vậy là không sáng suốt.
Lý thuyết dường như chỉ đúng khi áp dụng ở những nước phát triển, nơi mà có
những tập đoàn kinh tế hùng mạnh hàng đầu thế giới với mức lợi nhuận hàng tỷ USD mỗi
năm. Trong khi đó, với các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi tồn tại chủ yếu là các
công ty vừa và nhỏ. Với quy mô như vậy, rất khó để cho các doanh nghiệp này có thể mở
rộng quy mô bằng lợi nhuận mà họ kiếm được. Cách duy nhất mà cũng dễ dàng nhất với
họ đó là vay mượn hoặc phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO).
II. ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH ÁP DỤNG LÝ THUYẾT QUỸ ĐẦU TƯ
NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY
1. Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023
Đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều khó khăn nghiêm trọng cho nền kinh tế Việt
Nam, đặc biệt khi dịch bệnh tác động mạnh mẽ đến các đối tác thương mại và đầu tư quốc
tế của đất nước. Ngành dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề, trong khi năng suất lao động giảm
sút nhưng nhu cầu hàng hóa vẫn duy trì, dẫn đến giá cả tăng cao. Nhà nước buộc phải can
thiệp để ổn định kinh tế và kiểm soát lạm phát. Đại dịch cũng bộc lộ rõ những điểm yếu
trong cơ cấu kinh tế trước Covid-19, đòi hỏi sự khắc phục và cải thiện để chuẩn bị cho giai lOMoAR cPSD| 58707906
đoạn hậu dịch. Do đó, Nhà nước cần đưa ra các định hướng và giải pháp hiệu quả nhằm tái
cấu trúc nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong tương lai.
Sau thời kỳ Covid-19, với sự bảo trợ của Nhà nước và tỷ lệ tiêm vaccine cao, Việt
Nam đã đạt được miễn dịch cộng đồng, tạo điều kiện cho nền kinh tế dần hồi phục. Đến
cuối năm 2022, các chỉ số kinh tế như tăng trưởng GDP, thu ngân sách đều đạt hoặc vượt
kế hoạch đề ra, đánh dấu sự khởi sắc sau giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, tình hình thương
mại gặp nhiều thách thức khi Trung Quốc, một trong những đối tác lớn của Việt Nam, vẫn
duy trì chính sách Zero Covid, khiến việc giao thương và nhập cảnh trở nên khó khăn.
Thêm vào đó, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đã làm xáo trộn hòa bình thế giới, đẩy
giá năng lượng lên cao và gây ra lạm phát mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trong ba năm gần
đây. Khi các nước thắt chặt chi tiêu và giảm nhập khẩu, nền kinh tế Việt Nam, vốn phụ
thuộc nhiều vào xuất khẩu, phải đối mặt với những khó khăn lớn trong việc duy trì đà tăng trưởng.
2. Mục tiêu, cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023 II.1. Mục tiêu
Theo Nghị quyết Đại hội Trung ương XIII của Đảng, Việt Nam đặt ra mục tiêu đến
năm 2025 trở thành một quốc gia đang phát triển, có nền công nghiệp theo hướng hiện đại
và vượt mức thu nhập trung bình thấp. Để đạt được mục tiêu này, các chỉ tiêu cụ thể đã
được xác định trong văn kiện Đại hội XIII. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong
5 năm cần đạt từ 6,5-7%, với GDP bình quân đầu người vào năm 2025 ước đạt khoảng
4.700 USD. Tỷ trọng công nghiệp chế biến trong GDP phải chiếm trên 25%, trong khi kinh
tế số cần đạt khoảng 20%. Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp dự kiến giảm xuống còn
khoảng 25% tổng số lao động, và tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%. Đồng thời, tỷ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị phải duy trì dưới 4%, và tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 1-1,5% mỗi năm. II.2. Cơ hội
Trong bối cảnh nhiều biến động, Việt Nam đối mặt với cả thách thức lẫn cơ hội để
phát triển. Khủng hoảng do đại dịch Covid-19 đã giúp đất nước nhận ra những điểm mạnh
và yếu trong nền kinh tế, từ đó đưa ra các giải pháp quan trọng để củng cố và nâng cao khả năng chống chịu. lOMoAR cPSD| 58707906
Việt Nam đã tạo thêm nhiều mối quan hệ với các quốc gia khác, mở rộng thị trường
nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Đồng thời, việc duy trì sự phát
triển bền vững trong nền kinh tế toàn cầu nhiều biến động, khi các nền kinh tế lớn tăng
trưởng chậm lại hoặc suy thoái, là yếu tố chiến lược giúp Việt Nam tiến gần hơn đến các
mục tiêu được đặt ra tại Đại hội XIII. Nhiều tổ chức quốc tế dự báo Việt Nam sẽ đạt mức
tăng trưởng tương đương mục tiêu, khoảng 6,5%, trong đó Standard Chartered dự báo cao nhất lên đến 6,7%.
II.3. Bất cập của kinh tế Việt Nam hiện ra trong giai đoạn COVID-19
Về doanh nghiệp, các doanh nghiệp từ thời gian dài hưởng lợi từ nền kinh tế ổn định
và có mức lợi nhuận đều đặn, tuy nhiên phần lợi nhuận thu về phần lớn được chia ra cho
các cổ đông, chỉ có một phần rất nhỏ lợi nhuận được giữ lại để hình thành quỹ tái đầu tư
nội bộ. Khi dịch bệnh xảy ra, doanh thu suy giảm, doanh nghiệp không có nguồn tiền sẵn
có để sản xuất và trả lương cho lao động. Hoạt động kinh doanh không thể duy trì, các
doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ đóng cửa sản xuất.
Đối mặt với nguy cơ nền kinh tế suy yếu, nhà nước bắt buộc phải đưa ra các chính
sách hỗ trợ, các gói cứu trợ kinh tế duy trì trong đại dịch.
Nền kinh tế nhà nước cũng bộc lộ ra nhiều lỗ hổng:
Vào giai đoạn trước đại dịch, xuất khẩu luôn là điểm mạnh của kinh tế VIệt Nam,
tuy nhiên đại dịch xảy ra, thời điểm các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Trung
Quốc, Mỹ dừng nhập khẩu, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nguy cơ chưa từng có. Hàng
hoá không có thị trường tiêu thụ, nhiều cuộc “giải cứu” nông sản và các hàng hoá chế biến
đi vào thực hiện để hỗ trợ nền kinh tế. Thách thức được mở ra là nhu cầu về một thị trường
nội địa đủ mạnh mẽ để tự duy trì ổn định trong đại dịch, là nền tảng cho nền kinh tế phát
triển trong thời kì đại dịch kết thúc. II.4. Thách thức
Thách thức cho mục tiêu của Việt Nam về mức tăng trưởng GDP, theo kết quả thực
tế: Năm 2021 nước ta ghi nhận mức tăng trưởng 2.56%, năm 2022 tăng trưởng 8.02, năm
2023 tăng trưởng 5.05. Do vậy các năm còn lại phải có tốc độ tăng trưởng cao hơn, dự kiến
từ 7-9% thì mới đạt chỉ tiêu chung theo dự kiến. Đây là một bài toán khó và là thách thức
cho các mục tiêu của Việt Nam trong thời gian tới.
Hơn hết, Việt Nam phải đối mặt những thách thức chung như sau: lOMoAR cPSD| 58707906
Các động lực tăng trưởng mặc dù đã chuyển biến tích cực hơn, nhưng khó tạo bước
đột phá cho tăng trưởng năm 2024. Về phía cung, khu vực nông nghiệp tăng trưởng ổn
định (quanh khoảng 3-4%), khó tạo bứt phá cho tăng trưởng kinh tế chung. Khu vực công
nghiệp khó chuyển biến nhanh do phụ thuộc nhều vào thị trường thế giới, các nền kinh tế
lớn. Khu vực dịch vụ, du lịch có chuyển biến, nhưng thiếu yếu tố đột phá, cạnh tranh gay
gắt từ các điểm đến quốc tế, cần thúc đẩy hơn nữa để phát huy tiềm năng đóng góp lớn hơn
cho tăng trưởng năm 2024. Các ngành, lĩnh vực động lực mới cho tăng trưởng như kinh tế
số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sản xuất chíp, bán dẫn… còn chậm, nguy cơ không bắt
kịp được với các nước trên thế giới, khu vực, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nước đã ban
hành các gói chính sách quy mô lớn để thúc đẩy. Doanh nghiệp vẫn đối mặt với 3 vấn đề
lớn về thị trường, vốn và pháp lý; một số quy định, thủ tục hành chính, tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh còn rườm rà, chưa được cắt giảm triệt để. Một số bộ,
ngành, địa phương, trong một số trường hợp chưa thực sự theo sát, đồng hành cùng doanh
nghiệp; chưa coi khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của mình để đồng hành tháo
gỡ, hỗ trợ. Về phía cầu, tiêu dùng trong nước 5 tháng mặc dù tăng khá, nhưng dự báo cả
năm khó có thể tăng trưởng cao như năm 2023 và các năm trước dịch 2015-2019; để trở
thành một động lực thúc đẩy tăng trưởng thì cần tiếp tục có chính sách mạnh hơn để khuyến
khích tăng tiêu dùng trong nước. Tăng trưởng xuất khẩu là điểm sáng, nhưng cũng đối mặt
với không ít khó khăn từ thị trường thế giới; áp lực cạnh tranh gia tăng; rủi ro bị áp thuế
chống bán phá giá và các rào cản thương mại mới. Doanh nghiệp phải đáp ứng tốt các tiêu
chuẩn mới, tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị
(ESG)… đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, trong khi thời gian để chuyển đổi không còn nhiều
(nhiều nước dự kiến áp dụng từ năm 2026). Đầu tư tư nhân phục hồi chậm; tốc độ tăng vốn
FDI đăng ký có dấu hiệu giảm dần qua từng tháng, có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng trong trung và dài hạn.
Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát còn đối mặt với nhiều thách thức, tiềm
ẩn rủi ro. Dư địa điều hành lạm phát cả năm không còn nhiều (bình quân 5 tháng tăng
4,03% so với cùng kỳ), có những yếu tố tác động lên lạm phát rất khó dự báo, đặc biệt là
biến động giá cả thế giới và tâm lý, kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp. Cung ứng điện
vẫn là lo ngại lớn đối với doanh nghiệp FDI; nhu cầu sử dụng điện tái tạo của doanh nghiệp
ngày càng lớn để đáp ứng tiêu chuẩn xanh, bảo vệ môi trường, giảm khí thải cácbon.
Các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp… đã phát
triển bền vững hơn, nhưng còn nhiều vấn đề cần tháo gỡ như: tăng trưởng tín dụng; xử lý lOMoAR cPSD| 58707906
nợ xấu, ngân hàng yếu kém, ngân hàng “0 đồng”; tháo gỡ vướng mắc cho các dự án bất
động sản, nhất là các dự án lớn; áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp; nâng hạng thị trường chứng khoán…
Thiên tai, dịch bệnh, thiếu nước, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, phát triển đô thị,
phòng cháy, chữa cháy, tai nạn giao thông… vẫn là thách thức lớn đối với phát triển KTXH nước ta.
Để kinh tế phát triển và đạt được mức kì vọng, nhu cầu cấp bách hiện tại là đưa ra
những chính sách phát triển phù hợp, tăng mức đầu tư công, khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế.
3. Thực trạng pháp luật các chính sách áp dụng lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
Chính sách gắn liền với lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ là chính sách thuế thu nhập doanh
nghiệp. Thuế TNDN là một khoản đóng mang tính chất bắt buộc do Nhà nước ban hành
thông qua pháp luật, đây là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các
khoản chi phí hợp lý, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng nộp thuế nhằm điều
tiết hoạt động đầu tư. Các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đóng vai trò quan
trọng trong thúc đẩy đầu tư, đặc biệt là trong 3 năm vừa qua, dịch COVID-19 đã gây ra
những hậu quả nghiêm trọng cho nhiều lĩnh vực, ngành nghề, việc giữ nguyên đã khó, tăng
thêm đầu tư lại càng khó, thậm chí là không thể. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp
đã có thể thành công vượt qua đại dịch, có sự phục hồi và gia tang đầu tư sau khi đại dịch
qua đi. Góp phần không nhỏ vào thành công ấy chính là các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.
3.1. Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 01/VBHN-VPQH, mức thuế tiêu
chuẩn ở Việt nam là 20% (trừ các doanh nghiệp hoạt động dầu khí, các doanh nghiệp hoạt
động tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm khác). So với các nước trong khu
vực như Thái Lan 20%, Maylaysia 24%, Indonesia 22%, Singapore 17%,… và trên thế giới
như Hoa Kỳ 21%, Trung Quốc 25%, Nhật Bản khoảng 30%, Đức khoảng 3033%... thì mức
thuế ở Việt Nam khá ưu đãi. Với các quốc gia có quy mô kinh tế tương đối so với Việt Nam
như Philipines, Maylaysia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn từ 4-5%. Điều này
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam chịu ít áp lực thuế hơn. Cắt giảm chi phí, từ
đó hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam. Ngoài ra mức lOMoAR cPSD| 58707906
thuế suất ưu đãi này còn thu hút nguồn vốn FDI lớn từ nước ngoài đổ về, góp phần tích cực
nâng cao mức lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Nội dung của Điều 13 Luật này nêu rõ mức ưu đãi thuế đối với các đối tượng là doanh
nghiệp đạt đủ yêu cầu, doanh nghiệp thuộc một số ngành nghề nhất định. Với mức thuế là
10%, 15%, 17% thấp hơn so với mức thuế 20% được quy định tại Điều 10 của luật này (trừ
trường hợp doanh nghiệp là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của mục 1.2, mục 1.3.).
Những chính sách này có mối liên hệ chặt chẽ đối với lý thuyết đầu tư nội bộ, các doanh
nghiệp cần một lượng vốn lớn để đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất, việc áp dụng chính
sách thuế này có tác động lớn đến quyết định của các nhà đầu tư. Ưu đãi thuế cắt giảm chi
phí, tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Từ đó tận dụng tốt các yếu tố nội tại của doanh nghiệp.
Việc áp dụng mức thuế này còn giúp giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp, đặc biệt là
trong giai đoạn đầu thành lập và phát triển.
Các nhà hoạch định chính sách nước ta áp dụng lý thuyết đầu tư nội bộ nhằm thu hút
đầu tư vào các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, tạo việc làm và thúc đẩy
phát triển kinh tế địa phương, khuyến khích nghiên cứu và phát triển công nghệ, nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, định hướng phát triển nền kinh tế hiện đại hóa. Khuyến
khích đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như công
nghệ thông tin, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao..., đồng thời phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành nghề nói trên.
Trong Điều 14 của luật này còn nêu rõ ưu đãi thời gian miễn thuế, giảm thuế. Việc ưu
đãi khoảng thời gian tương đối dài, tạo điều kiện rất tốt cho các doanh nghiệp nhất là các
doanh nghiệp vừa, nhỏ, các doanh nghiệp mới thành lập với đặc trưng chung là có nguồn
vốn hạn chế. Khi áp dụng tốt lý thuyết đầu tư nội bộ miễn, giảm thuế thời gian dài giúp các
doanh nghiệp nhanh chóng ổn định sản xuất, kinh doanh và tạo tâm thế yên tâm hoạt động
lâu dài; nhanh chóng thu hồi vốn ban đầu, tạo điều kiện hơn cho việc sản xuất kinh doanh.
Việc áp dụng lý thuyết đầu tư nội bộ vào hoạch định chính sách ở Việt Nam không
chỉ giúp tối ưu hóa quy trình ra quyết định mà còn tạo ra những chính sách hiệu quả hơn,
khuyến khích đầu tư bền vững và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Bằng cách giảm
thiểu các rào cản và tăng tính hấp dẫn của dự án đầu tư, ưu đãi thuế đã góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn. Từ đó, Việt Nam có thể phát triển
một môi trường đầu tư thuận lợi, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững. lOMoAR cPSD| 58707906
Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định,
đảm bảo được tính chặt chẽ, đúng với nhu cầu thực tiễn ở nước ta. Song, vẫn còn một số
hạn chế cần lưu ý như:
Thiếu tính ổn định của chính sách, các quy định về thuế TNDN thường xuyên được sửa
đổi, bổ sung, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch dài hạn và tuân thủ
pháp luật, doanh nghiệp khó dự đoán được những thay đổi trong chính sách thuế, dẫn đến
rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Vấn đề này còn tồn tại là do tính bất ổn của kinh tế thị
trường, để khắc phục đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, ban, ngành
làm sao để vừa có chính sách sát với thực tế, vừa thông tin kịp thời đến các doanh nghiệp.
Thủ tục hành chính phức tạp, rủi ro thiếu minh bạch của cơ quan quản lí. Thủ tục hành
chính còn rườm rà, liên quan nhiều khâu, làm mất thời gian, công sức và tiền bạc cho doanh
nghiệp. Việc thủ tục hành chính rườm ra nhiều khâu còn đem lại rủi ro thiếu minh từ cơ
quan quản lí, có thể dẫn đến gian lận, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
Để giải quyết vấn đề này, nhà nước ta cần có nhưng biện pháp nhằm tinh giảm thủ tục hành
chính, hướng đến tinh gọn và minh bạch.
3.2. Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn COVID-19 đang nghiêm trọng
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách
hỗ trợ các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh, đặc biệt là các biện pháp
gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Những chính sách này giúp giảm bớt gánh nặng tài chính và tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3.2.1. Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc gia hạn thời hạn nộp
thuế và tiền thuê đất
Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc gia hạn thời hạn nộp thuế và
tiền thuê đất được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng
nề từ đại dịch COVID-19. Tình hình dịch bệnh đã gây ra những khó khăn lớn cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh,
và cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực như vận tải, du lịch, nông nghiệp, và sản xuất công
nghiệp. Chính phủ nhận thấy cần có những biện pháp hỗ trợ kịp thời để giảm gánh nặng
tài chính cho doanh nghiệp và người dân, qua đó duy trì sự ổn định kinh tế và thúc đẩy quá
trình phục hồi sau đại dịch. Nghị định này không chỉ là một giải pháp cấp bách nhằm tháo lOMoAR cPSD| 58707906
gỡ khó khăn mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc đồng hành cùng
doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn đầy thách thức.
Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT), các doanh nghiệp và tổ chức trong nhiều ngành
kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp bởi đại dịch; bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản,
chế biến thực phẩm, dệt may, xây dựng, vận tải, kho bãi, bất động sản, và dịch vụ việc làm,
doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp
hỗ trợ ưu tiên phát triển,… được hưởng chính sách gia hạn nộp thuế GTGT (trừ thuế GTGT
hàng nhập khẩu). Cụ thể, doanh nghiệp được gia hạn 5 tháng đối với thuế GTGT phải nộp
từ kỳ tính thuế tháng 3 đến tháng 6/2020 (đối với doanh nghiệp khai thuế theo tháng) hoặc
của kỳ tính thuế quý I và quý II/2020 (đối với khai thuế theo quý). Điều này giúp doanh
nghiệp có thêm thời gian chuẩn bị tài chính mà không phải đối mặt với áp lực nộp thuế ngay lập tức.
Chính sách này tiếp tục được mở rộng và áp dụng trong năm 2021 thông qua Nghị
định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021. Đối tượng được gia hạn nộp thuế không chỉ kế
thừa từ năm 2020 mà còn mở rộng thêm các lĩnh vực như khai thác dầu thô, khí đốt tự
nhiên, thoát nước, xử lý nước thải, và dịch vụ hỗ trợ khai khoáng. Thời gian gia hạn cũng
tương tự năm 2020, giúp hỗ trợ thêm nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau.
Năm 2022, chính sách gia hạn nộp thuế GTGT tiếp tục được thực hiện theo Nghị định số
34/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022. Đối tượng và thời gian gia hạn không thay đổi nhiều so
với năm 2021, giúp đảm bảo tính nhất quán và tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn
phục hồi sau đại dịch.
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày
8/4/2020 của Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành bị ảnh
hưởng nặng nề như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, sản xuất chế biến thực phẩm, và
các dịch vụ liên quan, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất
sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển… được gia hạn 5 tháng đối với thuế TNDN
kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế TNDN của kỳ tính thuế năm 2019 và các khoản tạm
nộp thuế TNDN quý I, quý II năm 2020.
Chính sách gia hạn nộp thuế TNDN tiếp tục được gia hạn trong năm 2021 thông qua
Nghị định số 52/2021/NĐ-CP. Tương tự với thuế GTGT, chính sách này mở rộng thêm một
số ngành sản xuất và dịch vụ như khai thác dầu thô, khí đốt tự nhiên và dịch vụ xử lý nước
thải, giúp tăng cường khả năng hỗ trợ cho các lĩnh vực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. lOMoAR cPSD| 58707906
Năm 2022, chính sách gia hạn nộp thuế TNDN cũng được tiếp tục áp dụng theo
Nghị định số 34/2022/NĐ-CP. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp có thêm thời gian để
thích ứng và phục hồi sau đại dịch mà còn đảm bảo sự nhất quán trong chính sách hỗ trợ
của Chính phủ qua các năm. Những biện pháp gia hạn thuế này là một phần trong nỗ lực
lớn của Chính phủ nhằm giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động và phục hồi nhanh chóng
sau đại dịch, đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính cho các tổ chức, doanh nghiệp trong
bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn.
3.2.2. Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội khoá XV và Nghị định số
114/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm thuế TNDN đối với một số đối
tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi COVID – 19
Theo đó, DN thành lập theo pháp luật Việt Nam, hợp tác xã được thành lập
theo Luật Hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam, tổ chức khác
được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu
nhập được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2020 nếu có doanh thu
trong kỳ tính thuế năm 2020 không quá 200 tỷ đồng.
Chính sách ưu đãi thuế hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh năm 2020
tiếp tục được kế thừa sang năm 2021 nhưng có một sự điều chỉnh về đối tượng được giảm
thuế. Chính sách này được quy định tại Nghị quyết số 406/UBTVQH15 ngày 19/10/2021
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV và Nghị định số 92/2021/NĐ-CP ngày
27/10/2021 của Chính phủ. Theo đó, DN thành lập theo pháp luật Việt Nam, hợp tác xã
được thành lập theo Luật Hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam,
tổ chức khác được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh
doanh có thu nhập được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế năm 2021 khi
đáp ứng đồng thời 2 điều kiện là: (1) Có doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2021 không quá
200 tỷ đồng; (2) Doanh thu kỳ tính thuế 2021 giảm so với doanh thu kỳ tính thuế năm 2019.
Không áp dụng tiêu chí thứ hai đối với DN mới thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách
trong kỳ tính thuế 2020 và 2021.
3.2.3. Đánh giá tổng thể
Xét một cách tổng thể, đại dịch COVID-19 đã gây ra những hậu quả nặng nề về kinh
tế . Hầu như tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau.
Kinh tế thế giới chỉ dần dần phục hồi từ cuối năm 2021 khi mà phần lớn các quốc gia trên
thế giới đã chuyển từ chiến lược “Zero COVID” sang chiến lược “Chung sống an toàn với lOMoAR cPSD| 58707906
COVID”. Trong bối cảnh như vậy, có thể nhận xét về chính sách thuế hỗ trợ các doanh
nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 của Việt Nam:
Các chính sách hỗ trợ về thuế được ban hành kịp thời, đúng thời điểm các đối tượng
trong nền kinh tế cần. Chỉ sau khoảng hơn 2 tháng kể từ khi có đợt bùng phát dịch bệnh
đầu tiên, ngày 8/4/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về gia hạn
nộp thuế GTGT, thuế TNDN đối với DN nhỏ, siêu nhỏ và DN thuộc lĩnh vực kinh doanh
chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh. Hai tháng sau, ngày 19/6/2020, Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 về giảm thuế TNDN đối với một số đối tượng chịu
ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19. Những chính sách ưu đãi thuế hỗ trợ doanh
nghiệp của thời gian từ năm 2020 đến 2022 đều được ban hành đúng thời điểm mà các chủ
thể kinh doanh trong nền kinh tế cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Điều này xuất phát từ việc
Bộ Tài chính đã chủ động trong tham mưu các chính sách tài khóa. Trong điều kiện bình
thường phải mất từ 3 tháng đến 9 tháng để thực hiện các công việc chuẩn bị cho ban hành
Nghị định của Chính phủ hoặc Nghị quyết của Quốc hội. Tuy vậy, nhờ sự chủ động, nhạy
bén của Bộ Tài chính và sự tích cực của toàn hệ thống chính trị mà quy trình này rút ngắn
xuống chỉ còn khoảng từ 1 đến 2 tháng, và trường hợp đặc biệt thời gian từ khi chuẩn bị
đến khi ban hành chỉ chưa đầy 1 tháng.
Chính sách ưu đãi thuế hỗ trợ doanh nghiệp đã được xác định đúng đối tượng cần hỗ
trợ và phù hợp với các điều kiện thực thi, thẩm quyền ban hành. Từ các đối tượng được hỗ
trợ của chính sách thuế có thể thấy, chính sách ưu đãi thuế tập trung vào hỗ trợ các nhóm
đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch bệnh như các đối tượng kinh doanh yếu về
tiềm lực tài chính; các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh gặp khó khăn do dịch bệnh.
Kết hợp các chính sách ưu đãi thuế khác nhau tùy theo đối tượng thụ hưởng chính sách và
yêu cầu thực tiễn. Từ việc hệ thống hóa các chính sách ưu đãi thuế hỗ trợ doanh nghiệp nói
trên cho thấy, đã có nhiều loại ưu đãi thuế được áp dụng với những đối tượng khác nhau
trong những giai đoạn khác nhau và ở những mức độ khác nhau. Khi cần giải quyết nhanh,
quyết định sớm để tạo nguồn tài chính cho doanh nghiệp thì thực hiện chính sách gia hạn
nộp thuế và tiền thuê đất. Khi cần hỗ trợ sâu hơn riêng cho những đối tượng đặc thù thì sử
dụng chính sách giảm thuế TNDN và miễn thuế GTGT. Khi cần hỗ trợ rộng hướng đến
kích cầu để phát triển sản xuất, kinh doanh thì áp dụng chính sách giảm thuế GTGT. Chính
sách ưu đãi thuế được ban hành thận trọng áp dụng cho những giai đoạn nhất định, sau đó,
kéo dài thời gian áp dụng hoặc tăng mức độ hoặc dừng chính sách ưu đãi tùy theo điều
kiện thực tiễn của nền kinh tế. lOMoAR cPSD| 58707906
Việc tổ chức thực hiện các chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian diễn
ra đại dịch COVID- 19 cho thấy chính sách thuế đã có những tác động rất tích cực đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế: Chính sách gia hạn nộp thuế
đã hỗ trợ nguồn tài chính, tăng khả năng thanh khoản khi doanh nghiệp gặp khó khăn bởi
sự suy giảm của thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Các chính sách gia hạn nộp thuế và
tiền thuê đất thực tế đã hỗ trợ doanh nghiệp tương đương với việc được cấp nguồn tín dụng
lãi suất 0% năm 2020 là 87.246,6 tỷ đồng (Tổng cục Thuế, 2021) và năm 2021 là 96.909
tỷ đồng (Tổng cục Thuế, 2022). Dự kiến năm 2022, số thuế và tiền thuê đất gia hạn cho
người nộp thuế là 125.300 tỷ đồng.
Chính sách thuế đã hỗ trợ về nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo cú hích
giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tạo đà phát triển sản xuất, kinh doanh. Thực tế gói
miễn thuế và giảm thuế năm 2020 đã hỗ trợ doanh nghiệp khoảng 20.000 tỷ đồng, năm
2021 là 24.000 tỷ đồng. Gói giảm thuế GTGT năm 2022 dự kiến sẽ hỗ trợ doanh nghiệp
khoảng 51.400 tỷ đồng. Có thể thấy, tuy số tiền hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chính sách
miễn, thuế giảm thuế không quá lớn nhưng dành cho những đối tượng dễ bị tổn thương
nhất nên có tác động quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khan tương tự như một
cú hích để tạo đà cho tăng trưởng. Thực tiễn cho thấy, cùng với các chính sách tài khóa và
tiền tệ khác, chính sách thuế đã hỗ trợ kinh tế Việt Nam tang trưởng 2,93% năm 2020 và
2,58% năm 2021, trong khi rất nhiều nước trên thế giới tăng trưởng kinh tế âm trong giai đoạn này.
Chính sách thuế đã góp phần rất lớn trong việc giảm bớt gánh nặng tài chính cho
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, từ đó thúc đẩy
quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nhờ chính sách ưu đãi, giảm thuế TNDN, nhiều doanh
nghiệp đã thúc đẩy hoạt động đầu tư trong giai đoạn này:
• VinFast là một trong những doanh nghiệp có hoạt động đầu tư tăng trưởng mạnh mẽ
sau khi được hưởng ưu đãi thuế TNDN. Trong năm 2022, VinFast đã đầu tư khoảng
1,6 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất xe điện tại Hải Phòng. Đây là nhà máy sản
xuất xe điện lớn nhất Đông Nam Á, với công suất thiết kế 150.000 xe/năm.
• Trung Nam Group là một doanh nghiệp đầu tư lớn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Trong năm 2021-2022, Trung Nam Group đã đầu tư nhiều, với con số lên tới hang
nghìn tỷ đồng để xây dựng nhà máy sản xuất điện gió ngoài khơi tại Ninh
Thuận. Đây là nhà máy điện gió lớn nhất Việt Nam, với công suất thiết kế 360 MW. lOMoAR cPSD| 58707906
Sự gia tăng đầu tư của các doanh nghiệp này cũng đóng góp lớn vào quá trình thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn Covid-19.
3.3.Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đưa ra giai đoạn phục hồi sau COVID – 19
Mặc dù đại dịch covid 19 đã quá thời kỳ khó khăn nhất nhưng nó vẫn để lại tác động
đến nền kinh tế. Vì thế nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm phục hồi và thúc đẩy nền
kinh tế. Một trong số đó là chính sách về thuế thu nhập doanh nghiệp.
3.3.1. Nghị định 91/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
126/2020/NĐ - CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
Nghị định số 91/2022/NĐ-CP được ban hành trong bối cảnh thực tiễn thực hiện Nghị
định số 126/2020/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế phát sinh
một số vướng mắc và bất cập, đặc biệt liên quan đến việc xác định thu nhập chịu thuế và
các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Nền kinh tế Việt Nam đang
trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, đòi hỏi các chính sách thuế phải phù hợp
và linh hoạt hơn để hỗ trợ doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng
thời, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thuế là cần thiết để bảo đảm tính minh bạch,
đồng bộ, và thống nhất trong quản lý thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho cả cơ quan thuế và
người nộp thuế. Nghị định số 91/2022/NĐ-CP ra đời nhằm giải quyết những bất cập, đảm
bảo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, đồng thời phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế và các cam kết hội nhập quốc tế.
Theo Nghị định 91/2022/NĐ-CP, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung về
ưu đãi thuế TNDN, bao gồm:
Sửa đổi quy định về thuế suất thuế TNDN đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực
hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Trước đây, thuế suất thuế TNDN đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự
án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là 10%
trong thời gian 15 năm, kể từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư. Tuy
nhiên, theo quy định mới tại Nghị định 91/2022/NĐ-CP, thuế suất thuế TNDN đối với thu
nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu lOMoAR cPSD| 58707906
khoa học và phát triển công nghệ là 10% trong thời gian 20 năm (tang thêm 5 năm ưu đãi
so với trước đây), kể từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.
Bổ sung quy định về thuế suất thuế TNDN đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực
hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Trước đây, Nghị định 126/2020/NĐ-CP không quy định về thuế suất thuế TNDN đối
với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Tuy nhiên, theo quy định mới tại Nghị định 91/2022/NĐ-CP, thuế suất thuế TNDN đối với
thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo là
10% trong thời gian 15 năm, kể từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư.
3.3.2. Nghị quyết 146/NQ-CP về chính sách hỗ trọ lãi suất cho doanh nghiệp, hợp
tác xã, hộ kinh doanh
Nghị quyết số 146/NQ-CP về chính sách hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, hợp tác xã
và hộ kinh doanh được ban hành trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động
tiêu cực từ đại dịch COVID-19 và những biến động kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp,
hợp tác xã và hộ kinh doanh, đặc biệt trong các ngành bị ảnh hưởng nặng như du lịch, vận
tải, và sản xuất, gặp khó khăn lớn trong việc duy trì hoạt động, trả nợ và tái đầu tư. Trước
tình hình đó, Chính phủ nhận thấy cần có các biện pháp hỗ trợ tài chính thiết thực để giúp
giảm bớt gánh nặng chi phí vốn vay, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo đà phục hồi kinh
tế. Nghị quyết 146/NQ-CP được đề ra không chỉ nhằm hỗ trợ ngắn hạn cho các đối tượng
chịu tác động từ dịch bệnh mà còn hướng tới việc tăng cường năng lực cạnh tranh, góp
phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn hậu đại dịch.
Theo Nghị quyết 146/NQ-CP, Chính phủ hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, hợp tác
xã, hộ kinh doanh vay vốn từ các ngân hàng thương mại để đầu tư, sản xuất, kinh doanh
trong 2 năm 2022-2023. Mức hỗ trợ lãi suất là 2%/năm đối với lãi suất vay vốn của các NHTM.
Đối tượng được hỗ trợ lãi suất bao gồm:
• Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ DNVVN.
• Doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Nghị quyết 146/NQ-CP. • Hộ kinh doanh. lOMoAR cPSD| 58707906
Theo Nghị quyết 146/NQ-CP, doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh được hỗ trợ lãi suất bao gồm:
• Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản • Ngành công nghiệp • Ngành xuất khẩu
Ngoài ra, doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực:
• Sản xuất, chế tạo thiết bị, máy móc, vật tư, linh kiện phục vụ sản xuất, lắp ráp ô tô,
máy móc, thiết bị công nghiệp.
• Sản xuất, chế tạo, lắp ráp ô tô, máy móc, thiết bị công nghiệp.
• Sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.
• Sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
• Sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm năng lượng mới, năng lượng tái tạo.
• Sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao.
Điều kiện được hỗ trợ lãi suất: Doanh nghiệp được hỗ trợ lãi suất khi đáp ứng các điều kiện sau:
• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh được phê duyệt hoặc chấp thuận
theo quy định pháp luật.
• Có khả năng tài chính để trả nợ gốc, lãi vay theo cam kết.
• Có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm vay vốn.
• Không thuộc đối tượng bị cấm tiếp cận tín dụng của NHTM theo quy định của pháp luật. 3.3.3. Đánh giá
Trong bối cảnh Đại dịch Covid-19 được kiểm soát, vấn đề cấp thiết nhất đối với các
nhà lập pháp trong những tháng cuối cùng của năm 2022 đó là phục hồi lại nền kinh tế bị
tàn phá sau Đại dịch. Tuy Việt Nam đã kiểm soát khá tốt dịch trong nước tuy nhiên, Covid
cũng đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và làm chậm lại tốc độ phát triển kinh
tế của nước ta. Để tiếp tục “giai đoạn phát triển thần kì” của đất nước, chính phủ nhà nước
đã ngay lập tức ban hành nhiều chính sách và đã có tác động tốt đến nền kinh tế.
Các chính sách được kiểm duyệt và thông qua theo đó là nguồn trợ cấp đầy đủ và kịp
thời từ các gói hỗ trợ.Giá trị các gói hỗ trợ của Chính phủ từ nửa cuối năm 2022 đến nay lOMoAR cPSD| 58707906
là rất lớn, ước tính khoảng 230 nghìn tỷ đồng. Trong đó, Nghị định 91/2022/NĐ-CP có giá
trị khoảng 50 nghìn tỷ đồng, Nghị quyết 146/NQ-CP có giá trị khoảng 100 nghìn tỷ đồng,...
Tiến độ giải ngân của các gói hỗ trợ của Chính phủ từ nửa cuối năm 2022 đến nay là khá
khả quan. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2022, tổng giải ngân của
các gói hỗ trợ này đạt khoảng 100 nghìn tỷ đồng, tương đương với 43,5% tổng giá trị các gói hỗ trợ.
Trong đó, tiến độ giải ngân của các gói hỗ trợ cụ thể như sau:
• Nghị định 91/2022/NĐ-CP: Giải ngân đạt 20 nghìn tỷ đồng, tương đương với 40%
tổng giá trị gói hỗ trợ.
• Nghị quyết 146/NQ-CP: Giải ngân đạt 60 nghìn tỷ đồng, tương đương với 60% tổng giá trị gói hỗ trợ.
• Tiến độ giải ngân của các gói hỗ trợ được đánh giá là khá khả quan, thể hiện sự quyết
tâm của Chính phủ trong việc triển khai các gói hỗ trợ, góp phần thúc đẩy phục hồi
và phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn
tại, hạn chế trong quá trình giải ngân các gói hỗ trợ, như:
• Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp
trong quá trình tiếp cận các gói hỗ trợ.
• Công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách hỗ trợ còn chưa được thực hiện hiệu
quả, dẫn đến nhiều doanh nghiệp chưa nắm được thông tin về các gói hỗ trợ.
Qua đó các chính sách phần nào cải thiện tình trạng ì ạch của nền kinh tế bấy giờ:
• Tăng trưởng kinh tế: Theo Tổng cục Thống kê, GDP quý 3/2022 ước tính tăng 7,72%
so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 6,42% của quý 2/2022. Đây
là mức tăng trưởng cao nhất trong 2 năm qua.
• Tạo việc làm: Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong quý 3/2022, cả nước
có 955.000 lao động được tạo việc làm, tăng 27,6% so với quý 2/2022.
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong 9 tháng đầu
năm 2022, tổng vốn FDI đăng ký đạt 29,2 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.
• Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Theo Tổng cục Thuế, trong 9 tháng đầu năm
2022, tổng thu thuế TNDN đạt 402.500 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước
Mặc dù chính sách thuế đã được cải thiện nhiều, nhưng các doanh nghiệp vẫn phản
ánh về sự phức tạp trong thủ tục kê khai và kiểm tra thuế. Một số lĩnh vực chưa nhận được
ưu đãi phù hợp để kích thích tăng trưởng, chẳng hạn như công nghệ thông tin và thương