



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI
MỘT QUỐC GIA. LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM NHÓM 1 Họ và tên : Nguyễn Văn Hoàng Trần Đoàn Phương Nam Nguyễn Kim Phước Phan Sỹ Đại Lớp
: Kinh tế đầu tư_(124)_01_C_K32KT 1 Giảng viên : TS. Nguyễn Thị Thương Hà Nội, 2023 lOMoAR cPSD| 58707906 MỤC LỤC
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................ 4
1. Tổng quan về đầu tư .................................................................................................... 4
2. Tổng quan về tăng trưởng kinh tế ............................................................................... 4
2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế .......................................................................... 4
2.2. Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế: ...................................................................... 4
3. Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển kinh tế tại một quốc gia ................................. 5
3.1. Tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế .................................................... 5
3.1.1. Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế .... 5
3.1.2. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế ........................................ 6
3.1.3. Đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:................................ 7
3.2. Tác động của tăng trưởng kinh tế tới đầu tư .................................................... 9
3.2.1. Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư ...................... 9
3.2.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm 9
vốn cho đầu tư ..................................................................................................... 9
3.2.3. Tăng trưởng kinh tế góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, năng lực
........................................................................................................................... 10
công nghệ, tạp điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển ................. 10
II. THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 ĐẾN 2022 ..................................................... 11
1. Thực trạng đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022 ............................................... 11
2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022 .......................... 12
2.1. GDP ................................................................................................................ 12
2.2. Chỉ Số CPI (Chỉ Số Giá Tiêu Dùng) .............................................................. 13
2.3. Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI) ............................................................ 14
3. Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022 .... 14
4. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022 .... 15 lOMoAR cPSD| 58707906
5. Đánh giá chung về mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai
đoạn 2018-2022 ............................................................................................................. 16
5.1. Kết quả đạt được ............................................................................................. 16
5.2. Hạn chế, nguyên nhân .................................................................................... 18
III. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT
NAM ............................................................................................................................. 20
1. Giải pháp chung cho đầu tư phát triển ...................................................................... 20
2. Giải pháp thu hút đầu tư vốn đầu tư nước ngoài ....................................................... 22 lOMoAR cPSD| 58707906 I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu
được các kết quả và các mục tiêu trong tương lai.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản
lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái
phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính
trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư;
Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản
hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp
khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư. 2.
Tổng quan về tăng trưởng kinh tế
2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản
lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người
(PCI) trong một thời gian nhất định.
2.2. Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế:
Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng để đánh giá sức khỏe và hiệu
suất của một nền kinh tế. Dưới đây là một số chỉ tiêu phổ biến:
Tăng trưởng GDP (Gross Domestic Product): Đây là tổng giá trị của tất cả các hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. lOMoAR cPSD| 58707906
Tăng trưởng GDP thường được đo bằng tỷ lệ tăng trưởng theo thời gian, thường là hàng năm.
Tăng trưởng GDP bình quân đầu người: Đây là GDP trung bình mỗi người dân trong
một quốc gia. Nó cung cấp cái nhìn về mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân.
Tăng trưởng sản xuất công nghiệp và dịch vụ: Tăng trưởng trong các lĩnh vực sản
xuất công nghiệp và dịch vụ cũng là chỉ tiêu quan trọng, vì chúng phản ánh sức mạnh của
nền kinh tế và khả năng tạo ra việc làm.
Tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu: Mức tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu và
nhập khẩu thường là một chỉ số quan trọng cho thấy mức độ tích hợp của quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu.
Tăng trưởng công nghiệp và nông nghiệp: Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát
triển, tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng. Trong khi đó,
ở các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp thường được theo dõi chặt chẽ.
Tăng trưởng tỷ lệ thất nghiệp: Sự giảm tỷ lệ thất nghiệp thường là một chỉ tiêu quan
trọng, bởi vì nó phản ánh khả năng của nền kinh tế tạo ra việc làm và cải thiện mức sống của cư dân
Tăng trưởng vốn đầu tư: Mức độ tăng trưởng của vốn đầu tư, cả từ trong và ngoài
nước, thường là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức hấp dẫn của một quốc gia đối với
các nhà đầu tư và cũng là một yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. 3.
Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển kinh tế tại một quốc gia
3.1. Tác động của đầu tư tới tăng trưởng kinh tế
3.1.1. Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.
- Tác động đến tổng cầu :
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể lOMoAR cPSD| 58707906
hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư I làm cho tổng cầu AD
tăng (nếu các yếu tố khác không đổi). AD = C + I + G + X – M
Trong đó : C : Tiêu dùng, I: Đầu tư, G: Tiêu dùng của chính phủ, X: xuất khẩu, M: Nhập khẩu
- Tác động đến tổng cung:
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung từ nước
ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao
động, tài nguyên, công nghệ... thể hiện qua phương trình sau: Q = F(K, L, T, R...)
Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của
nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác, tác động của vốn đầu tư còn được
thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công
nghệ... Do đó, đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế.
Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệ
biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở lý luận
để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nước ta trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm.
3.1.2. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể
hiện ở công thức tính hệ số ICOR
Hệ số ICOR (tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa quy mô đầu tư
tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm.
Về phương pháp, ICOR được tính như sau:
ICOR = Vốn đầu tư tăng thêm/ GDP tăng thêm
= Đầu tư trong kỳ/ GDP tăng thêm
Chia cả tử và mẫu số cho GDP, ta có công thức sau:
ICOR = (Tỷ lệ vốn đầu tư /GDP) / tốc độ tăng trưởng kinh tế lOMoAR cPSD| 58707906
Từ công thức trên, ta thấy: Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc
vào vốn đầu tư. Theo một số nghiên cứu của các nhà kinh tế, muốn giữ tốc độ tăng trưởng
khá cao và ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm khoảng trên 25% so với GDP, tuỳ thuộc vào ICOR của các nước.
3.1.3. Đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Tác động của đầu tư đến chất lượng TTKT được thể hiện qua một số lĩnh vực sau: a.
Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt
chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy theo mục tiêu của nền kinh
tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành
nền kinh tế. Sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô
tốc độ giữa các ngành, vùng. Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao
gồm kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế.
Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối trên phạm vi nền kinh
tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi
trọng yếu tố ngoại lực. Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu
tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao… đều ảnh hưởng đến
tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật
chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành. Đối với
cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất mát cân đối về phát triển giữa các
vũng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối
đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả
năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
b. Tác động của đầu tư đến khoa học công nghệ
Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển
khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia. Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ
bản: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm (các văn bản, tài liệu. các bí quyết…), các lOMoAR cPSD| 58707906
yếu tố con người (các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ chức… Muốn có công nghệ
cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành.
Công nghệ là do doanh nghiệp nhập khẩu từ bên ngoài hoặc do tự nghiên cứu và ứng
dụng. Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều đường như mua thiết bị, linh kiện rồi lắp đặt,
mua bằng chế, thực hiện liên doanh… Công nghệ do tự nghiên cứu và triển khai được thực
hiện qua nhiều giai đoạn và từ nghiên cứu đến thí nghiệm sản xuất thử sản xuất thường mất
nhiều thời gian rủi ro cao. Dù vậy nhập hay tự nghiên cứu để có công nghệ đều đòi lượng
vốn đầu tư lớn. mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần có bước đi phù hợp để lựa chọn
công nghệ thích hợp. Trên cơ sở đó đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của từng
đơn vị cũng như toàn ngành kinh tế quốc dân.
Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của KHCN, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ / tổng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này cho thấy mức
độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kì.
Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị / tổng vốn đầu tư thực hiện. Chỉ tiêu này
cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu. Đối với các doanh nghiệp khai
khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệ này phải lớn.
Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu / tổng vốn đầu tư thực hiện. Đầu tư chiều sâu
thường gắn liền với đổi mới công nghệ. Do đó, chỉ tiêu này càng lớn phản ánh mức độ đầu tư đổi mới KHCN cao.
Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm. Các công trình trọng
điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, mang tính chất
đầu tư mới, tạo tiền đề để ĐTPT các công trình khác. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức
độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ.
c. Đầu tư góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Đầu tư làm xuất hiện những ngành sản xuất mới gắn liền với chuyên môn hóa và phân
công lao động xã hội mới, làm cho nền kinh tế phát triển năng động và hiệu quả hơn. Hàng
triệu việc làm mới được tạo ra, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp. lOMoAR cPSD| 58707906
Đầu tư tác động đến phát triển nguồn nhân lực: nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết, ý thức của người dân.
Đầu tư góp phần bảo tồn, tôn tạo, trùng tu những giá trị lịch sử, thiên nhiên, văn
hóa,… xây dựng hình ảnh của đất nước.
3.2. Tác động của tăng trưởng kinh tế tới đầu tư
3.2.1. Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư phải được hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước đảm bảo.
Hệ thống pháp luật trước hết là luật đầu tư công bằng, hợp lý và được đảm bảo thực thi
trong thực tiễn đối với mọi thành phần kinh tế, tạo dựng một nền kinh tế thị trường, với
những quy luật vốn có phát huy tác dụng tích cực của cơ chế thị trường nhờ đó các nguồn
vốn đầu tư được huy động, phân bổ sử dụng có hiệu quả. Vấn đề này trực tiếp liên quan
đến việc hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường (trong đó có thị trường tài chính), đến
quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế, đến việc hoàn thiện hệ thống chính sách
và khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho hoạt động nền kinh tế.
3.2.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm vốn cho đầu tư
Vấn đề tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sự hấp dẫn ngày càng
lớn đối với vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài. Vấn đề này liên quan đến một nguyên
tắc mang tính chủ đạo trong việc thu hút vốn đầu tư: Vốn được sử dụng càng hiệu quả thì
khả năng thu hút vốn cànglớn. Thực chất của mối quan hệ này nằm trong mối quan hệ nhân
quả của các sự vật. Thứ nhất với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của
nền kinh tế có khả năng gia tăng. Khi đó quy mô nguồn vốn trong nước có thể huy động sẽ
được cải thiện. Thứ hai triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt
thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó dẫn đến tích lũy được nhiều vốn cung cấp
cho hoạt động đầu tư. lOMoAR cPSD| 58707906
3.2.3. Tăng trưởng kinh tế góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, năng lực
công nghệ, tạp điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển
Chính phủ sẽ có các chính sách nhằm khuyến khích tiến bộ công nghệ như bao
gồm miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, có thể chính phủ sẽ trực tiếp cung
cấp vốn cho các nghiên cứu cơ bản.
Một đất nước phát triển sẽ sử dụng hiệu quả nguồn vốn hơn so với một đất nước chưa
có sự phát triển kinh tế. Điều này được thể hiện ở chỗ:
Cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp lưu thông, vận chuyển được nhanh chóng.
Nguồn nhân lực tốt sẽ đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả: đúng lúc, đúng chỗ, trọng tâm,
trọng điểm, tránh thất thoát, và để vốn chết.
Môi trường đầu tư minh bạch, môi trường chính trị ổn định: góp phần định hướng
phát triển lâu dài cho các doanh nghiệp, tạo sự tin tưởng, yên tâm để họ có thể tiến hành hoạt động của mình. lOMoAR cPSD| 58707906 II.
THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 ĐẾN 2022 1.
Thực trạng đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng 2 1 4 0
Trong giai đoạn từ 2018 đến 2023, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 2.426,4 nghìn
tỷ đồng lên 3.222,7 nghìn tỷ đồng (tỷ lệ tăng 32,82%). Trong đó, Khu vực ngoài Nhà nước
đóng góp giá trị lớn nhất, chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời cũng là
khu vực có tỷ lệ tăng nhanh nhất.
Trong khi đó, Khu vực FDI trong giai đoạn này có sự gia tăng không đáng kể, thậm
chí trong giai đoạn 2018-2020 có sự suy giảm. Trên thực tế, sự sụt giảm và dịch chuyển
dòng vốn FDI trên toàn cầu đã được định hình trong nhiều năm trở lại đây, đặc biệt kể từ
năm 2018, khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc diễn ra gay gắt cùng với xu hướng
bảo hộ sản xuất trong nước gia tăng đã khiến dòng vốn đầu tư trên thế giới sụt giảm (trên
10% trong cả hai năm 2018 và năm 2019). Trong bối cảnh đó, đại dịch COVID-19 xuất
hiện và lây lan nhanh chóng đã thúc đẩy quá trình dịch chuyển FDI diễn ra nhanh hơn, quyết liệt hơn.
Năm 2021, FDI toàn cầu đã phục hồi và vượt qua mức trước đại dịch COVID-19, lOMoAR cPSD| 58707906
Sự gia tăng này chủ yếu là do lợi nhuận đến từ các giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A)
cùng mức lợi nhuận giữ lại tương đối cao của các MNC. Điều này đã dẫn đến các dòng tài
chính nội bộ gia tăng đáng kể và xuất hiện những biến động mạnh về FDI tại các trung tâm đầu tư lớn 2.
Thực trạng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022 2.1. GDP 0 Tốc độ tăng trưởng
- Tăng trưởng ổn định và đáng chú ý: Trong giai đoạn này, GDP của Việt Nam đãduy
trì một mức tăng trưởng khá ổn định và đáng chú ý, đóng góp vào sự phát triển và ổn định của nền kinh tế.
- Tăng trưởng đáng kể trước đại dịch COVID-19: Trước khi đại dịch COVID-19 bùng
phát vào năm 2020, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng GDP đáng kể, phản ánh sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế.
- Sự ảnh hưởng của COVID-19: Năm 2020 là năm mà đại dịch COVID-19 lan rộngvà
gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam. GDP của
Việt Nam trong năm này đã giảm đi so với các năm trước đó, tuy nhiên, vẫn duy trì một
mức tăng trưởng dương. lOMoAR cPSD| 58707906
- Sự phục hồi và tăng trưởng trở lại: Sau năm 2020, nền kinh tế Việt Nam đã phụchồi
nhanh chóng và tăng trưởng trở lại. GDP đã tăng trưởng đáng kể trong các năm tiếp theo,
thể hiện sức mạnh phục hồi và sự linh hoạt của nền kinh tế.
- Chính sách và cải cách kinh tế: Sự phục hồi và tăng trưởng của GDP trong giaiđoạn
này cũng phản ánh sự hiệu quả của các chính sách kinh tế và cải cách được thực hiện bởi
chính phủ Việt Nam, đồng thời cũng là kết quả của sự nỗ lực và sự cống hiến của các nhà
quản lý và doanh nghiệp.
2.2. Chỉ Số CPI (Chỉ Số Giá Tiêu Dùng)
2018-2019: Ổn định và thấp: Trong giai đoạn này, CPI tại Việt Nam duy trì ở mức tăng
trưởng ổn định và thấp, đạt khoảng 3-4%. Điều này cho thấy mức độ lạm phát được kiểm
soát tốt trong nền kinh tế.
2020: Biến động do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19: Trong năm 2020, do ảnh hưởng
của đại dịch COVID-19, CPI tăng lên khoảng 3-4%, tăng nhẹ so với các năm trước đó. Tuy
nhiên, sự tăng trưởng này vẫn ở mức khá ổn định so với nhiều quốc gia khác trong cùng giai đoạn. lOMoAR cPSD| 58707906
2021-2023: Tiếp tục ổn định: Trong giai đoạn này, CPI tại Việt Nam tiếp tục duy trì ở
mức tăng trưởng ổn định, thường ở mức dưới 3%. Điều này cho thấy sự ổn định trong giá
cả và mức độ lạm phát, đồng thời cũng phản ánh sự kiểm soát chặt chẽ của chính sách tiền tệ và tài khóa.
2.3. Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI) 5 0
Việt Nam tiếp tục thu hút lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Sự tin tưởng
của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc phát triển và mở rộng kinh doanh tại Việt Nam tăng cao. 3.
Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Tăng cường sản xuất và cung cấp: Đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào cơ sở hạ tầng và
ngành công nghiệp, đã giúp tăng cường sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
Việt Nam đã thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong giai đoạn này, đóng
góp vào việc phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. lOMoAR cPSD| 58707906
Tạo việc làm: Đầu tư cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, đặc
biệt là trong các ngành công nghiệp chế biến, xây dựng, và dịch vụ. Việt Nam đã chứng
kiến sự gia tăng về tạo việc làm trong giai đoạn này nhờ vào các dự án đầu tư mới.
Thúc đẩy xuất khẩu: Đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất, từ đó
giúp tăng cường năng suất và chất lượng sản phẩm, góp phần thúc đẩy xuất khẩu của Việt
Nam. Các doanh nghiệp FDI thường có khả năng tiếp cận các thị trường quốc tế và có
nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển và tiếp thị sản phẩm.
Cải thiện năng suất lao động: Đầu tư vào công nghệ và quản lý cũng cải thiện
năng suất lao động, giúp tăng cường hiệu suất và cạnh tranh của nền kinh tế.
Tăng trưởng bền vững: Những đầu tư hướng tới phát triển bền vững, bao gồm các
dự án hạ tầng, năng lượng tái tạo, và công nghệ thông tin, đã đóng góp vào việc xây dựng
một nền kinh tế bền vững và kháng khái với các biến động và thách thức.
Gia tăng thu hút đầu tư trong các lĩnh vực mới: Trong giai đoạn này, Việt Nam
cũng chứng kiến sự gia tăng của các dự án đầu tư trong các lĩnh vực mới như công nghệ
thông tin, khoa học và công nghệ, và dịch vụ tài chính. 4.
Tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Tăng cầu tiêu dùng: Tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến sự gia tăng thu nhập và mức
sống của dân cư, từ đó tăng cầu tiêu dùng trong nước. Các nhà sản xuất và doanh nghiệp
thấy nhu cầu tiêu dùng tăng cao, tạo động lực để đầu tư vào sản xuất và cung ứng hàng hóa và dịch vụ.
Tăng trưởng xuất nhập khẩu: Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện thuận lợi cho
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Sự mở rộng của thị trường xuất khẩu đã kích thích các
doanh nghiệp và nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm, từ đó thu hút đầu tư trong quá trình sản xuất và xuất khẩu. lOMoAR cPSD| 58707906
Tăng cường niềm tin của nhà đầu tư: Một môi trường kinh doanh ổn định và tiềm
năng tăng trưởng kinh tế tích cực đã tăng cường niềm tin của nhà đầu tư. Sự ổn định chính
trị và các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh từ phía chính phủ đã tạo ra một môi
trường đầu tư an toàn và thuận lợi.
Tăng trưởng các ngành công nghiệp: Sự tăng trưởng kinh tế đã tạo ra cơ hội cho
sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Các nhà đầu tư nhận thấy tiềm năng
tăng trưởng của các ngành công nghiệp chế biến, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo
và dịch vụ tài chính, từ đó thúc đẩy đầu tư trong các lĩnh vực này.
Hỗ trợ từ chính sách và cơ chế đầu tư: Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy các chính
sách và cơ chế hỗ trợ để thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư. Các biện pháp như
cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, và tạo ra các
khu công nghiệp và khu kinh tế đặc biệt đã giúp kích thích hoạt động đầu tư.
5. Đánh giá chung về mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam giai đoạn 2018-2022
5.1. Kết quả đạt được
* Trong giai đoạn 2018 – 2022, Trong giai đoạn này, GDP của Việt Nam đã duytrì một
mức tăng trưởng khá ổn định và đáng chú ý, đóng góp vào sự phát triển và ổn định kinh tế.
* GDP năm 2022 tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giaiđoạn 2011
- 2022 do nền kinh tế khôi phục trở lại. Trong mức tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn
nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%, đóng góp 5,11%; khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24%; khu vực dịch tăng 9,99%, đóng góp 56,65%
* Sau đại dịch Covid 19, đặc biệt trong năm 2022, tình hình hoạt động của doanhnghiệp
có phần ổn định và tích cực hơn. lOMoAR cPSD| 58707906
Tính cả năm 2022, có 148,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (tăng
27,1%), với tổng số vốn đăng ký là 1.590,9 nghìn tỷ đồng (giảm 1,3%) và tổng số lao động
đăng ký là 981,3 nghìn lao động (tăng 14,9%). Đáng lưu ý, sự phục hồi của ngành dịch vụ
cũng thu hút gần 6.500 doanh nghiệp phân ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống thành lập mới,
tăng tới 53,0% so với cùng kỳ năm 2021. Tính chung cả năm 2022, có 59,8 nghìn doanh
nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 38,8%. Mức gia tăng nhanh của các doanh nghiệp mới
và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cho thấy một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp
đã nhìn nhận những cơ hội kinh doanh mới khi kinh tế Việt Nam phục hồi
* Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến thời điểm 21-12-2022,
tổng phương tiện thanh toán tăng 3,85% so với cuối năm 2021 (cùng thời điểm năm 2021
tăng 8,31%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,99% (cùng thời điểm năm 2021
tăng 7,73%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 12,87% (cùng thời điểm năm 2021
tăng 12,53%). Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ động, linh hoạt ổn định thị
trường tiền tệ, ứng phó xu hướng lạm phát và lãi suất tăng cao trên thế giới.
* Đầu tư phát triển có nhiều khởi sắc
Ước tính năm 2022, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 3.219,8
nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước, bao gồm: Vốn khu vực nhà nước đạt 824,7
nghìn tỷ đồng, chiếm 25,6% tổng vốn và tăng 14,6% so với năm trước; khu vực ngoài nhà
nước đạt 1.873,2 nghìn tỷ đồng, bằng 58,2% và tăng 8,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đạt 521,9 nghìn tỷ đồng, bằng 16,2% và tăng 13,9%.
Theo đó, Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư và kinh doanh năng động
nhất châu Á, hình ảnh một quốc gia đang nỗ lực hiện thực hóa những cam kết mạnh mẽ và
định hướng rõ ràng từ Hội nghị Thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm
2021 (COP26) về thu hút đầu tư chất lượng cao hướng đến nền kinh tế trung hòa các-bon
và tăng trưởng xanh. Bên cạnh đà phục hồi kinh tế khá vững chắc, tư duy hướng tới một lOMoAR cPSD| 58707906
nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh mới và sự quyết liệt trong chuyển đổi sang kinh
tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với đổi mới sáng tạo chính là những yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư.
* Đặc biệt, việc đầu tư phát triển cũng góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm chongười lao
động; cải thiện năng suất lao động; thúc đẩy mọi khía cạnh, hoạt động của nền kinh tế từ
đó giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển tăng trưởng bền vững.
5.2. Hạn chế, nguyên nhân
Vốn đầu tư tăng nhưng hấp thụ vốn thấp
Đáng chú ý là thời gian gần đây các tập đoàn kinh tế và nhiều DNNN khác có xu
thế mở rộng đầu tư kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Trong khi đó, công tác giám sát, nhất
là về tài chính cũng như năng lực quản trị rủi ro của các tập đoàn đó không theo kịp Điều
đáng nói là chính dòng vốn FDI tăng đột biến đã làm bộc lộ khả năng hấp thụ vốn chưa
cao của nền kinh tế, mà chủ yếu là do yếu kém về thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân
lực có kỹ năng. Đây đang là những “nút thắt cổ chai” đối với việc triển khai các dự án FDI.
* Hiệu quả đầu tư thấp
Tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, sử dụng vốn kém hiệu quả, chậm tiến
độ thi công hoặc nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản… chưa được cải thiện Điều đó có
nghĩa là để tạo ra cùng một năng lực sản xuất, nhà nước phải bỏ ra nhiều kinh phí hơn và
nhập khẩu nhiều đầu vào cho đầu tư hơn.
Đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và ngoài nhà nước, các dự án đầu tư
không hiệu quả là các dự án không tận dụng được lợi thế của nền kinh tế, không phù hợp
với lợi ích quốc gia. Tuy nhiên đó là những yếu tố mang tính khách quan, còn yếu tố mang
tính chủ quan của tình trạng yếu kém, thiếu hiệu quả trong đầu tư và xây dựng chủ yếu là
do công tác quy hoạch, vấn đề phân cấp đầu tư và công tác quản lý, giám sát, thanh kiểm tra. lOMoAR cPSD| 58707906
Hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh
tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém.
* Rào cản trong lĩnh vực đầu tư
- Sự khép kín trong lĩnh vực đầu tư từ ngân sách nhà nước
Một trong những rào cản lớn trong lĩnh vực đầu tư hiện nay đó là tình trạng khép
kín trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước, việc tách bạch giữa chức năng
quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh tại các bộ, các ngành, các địa phương chưa rõ
ràng, rành mạch. Như vậy sẽ tạo rào cản đối với các thành phần kinh tế khác nhau tham
gia đầu tư, hạn chế tính minh bạch và công khai trong hoạt động đầu tư. Từ đó nẩy sinh
tiêu cực và là nguồn gốc phát sinh thất thoát và lãng phí trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước
Tính khép kín trong đầu tư hiện nay thể hiện từ khâu quy hoạch cho đến công tác
chuẩn bị, thẩm định dự án, ban hành các định mức trong đầu tư, thiết kế kỹ thuật, thi công,
giám sát thi công. Hiện nay công tác quy hoạch chưa tốt, thiếu tính khác quan và khoa học,
ảnh hưởng đến chủ trương đầu tư chung. Trong khi đó việc phê duyệt các dự án phụ thuộc
vào các bản quy hoạch này. Chính vì vậy dẫn đến 2 vấn đề: một là: Các tổng công ty doanh
nhiệp nhà nước dùng quy hoạch để xin vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc xin các khoản ưu đãi
khác; hai là: nhiều doanh nghiệp không thực hiện được kế hoạch đầu tư của mình do không đúng quy hoạch
Tính khép kín và cục bộ trong đầu tư cũng dẫn đến việc lồng ghép các quy hoạch
như quy hoạch ngành, quy hoạch vùng lãnh thổ cũng như quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
xây dựng,... còn nhiều bất cập. Vấn đề này thực ra không chỉ là rào cản đối với quá trình
đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng. Bởi vì, sự khép kín
trong quy hoạch và trong chuẩn bị thực hiện đầu tư chính là nguồn gốc của tiêu cực và hậu
quả là sự thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.
- Đầu tư dàn trải và nợ đọng vốn đầu tư lOMoAR cPSD| 58707906
Tình trạng dàn trải đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của các bộ, ngành và các
tỉnh, thành phố đang là một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực đầu tư, nó đã tạo ra một rào cản
lớn cho sự phát huy hiện quả đầu tư, năng lực sản xuất. Tình trạng này tích tụ nhiều năm,
gây lãng phí cực lớn dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, không được khắc phục mà có chiều hướng gia tăng.
* Rào cản đối với đầu tư nước ngoài
- Sự cạnh tranh về thu hút FDI ngày càng gay gắt trên thế giới và khu vực
Với xu hướng toàn cầu hoá đã được định hình, sự cạnh tranh về thu hút FDI trên thế
giới và trong khu vực diễn ra ngày càng gay gắt
- Môi trường đầu tư kém minh bạch và thiếu nhất quán
Rào cản về môi trương đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới vẫn là: Khả năng thay
đổi và khó tiên liệu về chính sách, thông tin kém minh bạch và công khai, tình trạng tham
nhũng, chi phí của một số yếu tố đầu vào như cước viễn thông, điện nước, cước vận tải biển
nhìn chung còn cao, dịch vụ cơ sở hạ tầng còn chưa cao.
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp vừa thiếu vừa yếu
Sự yếu kém của dịch vụ phát triển tại Việt Nam hiện nay có nhiều nguyên nhân,
trong đó có hai nguyên nhân cơ bản là môi trường pháp lý tại Việt Nam chưa thuận lợi cho
sự phát triển loại dịch vụ này và tính minh bạch công khai về thông tin trên thị trường còn
hạn chế. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhất định trong môi trường pháp lý kinh doanh tại Việt
Nam, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều tồn tại cản trở sự phát triển của các dịch vụ này.
III. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Giải pháp chung cho đầu tư phát triển
Một là, tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp và cơ chế chính sách phù hợp với
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã cam kết, góp phần tạo môi trường thuận lợi để thu hút
nguồn lực của các thành phần kinh tế, cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Phát