1 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
1 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
“NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” (Nguyn Tuân) FULL
LP CP TC 14 NGÀY
3 BUI HC 18.19.20 (06.2024)
I. KHÁI QUÁT TÁC GIẢ TÁC PHẨM
- Nguyễn Tuân nhà văn một phong cách nghệ thuật rất độc đáo, phong
cách nghệ thuật Nguyễn Tuân thể thâu m trong một chữ "ngông", mỗi
trang viết của ông đều muốn chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác; mọi sự vật được
tác giả miêu tả quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật
***ngông: NT không thích người đi vào những lối mòn kĩ, đi những chặng đường
đã in quá nhiều dấu chân
Ông có khao khát khám phá đến tận cùng, say mê những
điều độc đáo đến phi thường, nỗ lực tìm tòi những đề tài mới hoặc làm mới những đề
tài tưởng chừng đã quá quen thuộc. Không chỉ ở phương diện nội dung, cả ở hình
thức biểu hiện, ông được xem“bậc thầy trong sáng tạo sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt”. => HÃY MRỘNG NHỮNG CÁNH CỬA CỦA TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
ĐỂ THỰC SỰ BƯỚC CHÂN VÀO THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN
TUÂN.
+ Trước Cách mạng tháng Tám: Ông chênh vênh giữa hiện tại, không nhiều
niềm tin vào tương lai nên thường ng mình v quá kh, đi tìm cái đẹp ca
thời xưa còn vương lại, cái ông ưu ái gọi Vang bóng mt thi. Hình
ảnh con người trong trang văn NT ở giai đoạn này: thường khc ha v nhng
người ngh sĩ, những người mang v đẹp “đặc chng, đc tuyn”
+ Sau Cách mạng tháng Tám: tìm thấy mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại
tương lai. Mặc ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện
văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ
sĩ ở cả nhân dân đại chúng chứ không chỉ ở những con người “đặc chủng đặc
tuyển” như trước đây.
- một người theo "chủ nghĩa dịch", Nguyễn Tuân đã lấy những chuyến đi làm
chất liệu sáng tác; bộc lthể hiện những tính cách phi thường, những tình cảm, cảm
xúc mãnh liệt trước những phong cảnh tuyệt của thiên nhiên, đất nước con người
qua ngòi bút nội lực được mệnh danh “bậc thầy sáng tạo ngôn ngữ Tiếng Việt”.
thể đưa vào phần đánh giá ND – NT
2 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
2 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
- Ông quan niệm: “Đời một trường du hí’’ - sống đtrải nghiệm, để chơi, để khám
phá và sáng tạo nghệ thuật mang một nét độc đáo, đậm chất riêng cho chính mình. Ông
còn được mệnh danh cây bút duy m’’ bi ông luôn khám phá, tìm tòi m ra
những cái đẹp bt c nơi nào trên khắp mi min T quc.
2. TÁC PHM
Hoàn cảnh ra đời:
- “Người lái đò Sông Đà” là tùy bút được in trong tập “Sông Đà” (1960)
- Tác phẩm kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc của tác giả - vừa để thỏa
mãn tphiêu lãng vừa để tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên cùng “chất vàng mười
đã qua thử lửa” trong m hồn của những con người lao động, “chiến đấu”
trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó.
Chất vàng mười của thiên nhiên
vẻ đẹp sẵn mà tạo hóa ban tặng cho sông núi,
thiên nhiên của đất nước ta
Chất vàng mười đã qua thử lửa của con người
con người phải trải qua những thử
thách mới thể trở thành phiên bản hoàn thiện nhất của chính mình
hình tượng
người lái đò trong tùy bút của Nguyễn Tuân tượng trưng cho vẻ đẹp của con người
khi chinh phục những bão giông, thử thách lớn từ cuộc đời.
Một số nhận định hay về Nguyễn Tuân “Người lái đò Sông Đà’’: => LINH
HOẠT VẬN DỤNG (có thể đưa vào bất cứ vị trí nào trong bài làm miễn là kết
nối, dẫn dắt phợp: MB, khái quát tác giả tác phẩm, phần phân tích, đánh
giá chung nội dung nghệ thuật, kết bài)
“… Nguyễn Tuân - một cây bút vốn luôn khao khát những cảm giác, cảm xúc
mới lạ, nồng nàn, say đắm…”.(Nguyễn Đăng Mạnh)
“Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân
không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức.’’ (Vũ Ngọc Phan)
‘’Ðây là một nhà văn "suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật." (Nguyễn Ðình Thi)
"Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót
trầm bổng, khi thì bồ bừa i như ném ra trong một cơn say chếnh choáng,
khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa." (Nguyễn Ðăng Mạnh)
3 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
3 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Ông xứng đáng được mnh danh là "chuyên viên cao cp tiếng Việt", là "người
th kim hoàn ca ch" (Ý ca T Hu)
“… Đọc Người lái đò sông Đà, ta ấn tượng rt v s t do ca mt tài
năng, của một đấng hóa công thc s trong ngh thut ngôn từ… Khi gân guc,
khi mm mi, khi nghiêm ngh như một nhà bác hc, khi hồn nhiên như một
đứa tr thơ, nhng trang viết, nhng câu văn ca Nguyễn Tuân mang hơi th
m nóng ca cuộc đời phc tạp, phong phú, đa dng. S t ý thc sâu sc v
tài năng của mình không phi mt biu hin tiêu cc, trái li, to n s
giải phóng năng ng rt cn thiết để nhà văn thể sáng to nên nhng tác
phẩm kì vĩ…”. (Phan Huy Đông, in trong Vẻ đẹp văn học cách mng).
**Lưu ý kĩ năng với ký:
Sau đoạn khái quát tác giả tác phẩm, bạn sẽ có thêm 1 đoạn khái quát về đối
tượng được miêu tả trong đoạn trích đề cho. ~1/2 trang giấy thi
+ Giới thiệu khái quát về đối tượng
+ Phân tích lời đề từ khắc họa đối tượng ấy (đối với hình tượng dòng sông =>
ta phân tích lời đề từ của nhà thơ NQB; đối với hình tượng người lái đò/người
lao động ta phân tích lời đề từ của nhà thơ – nhà Cách mạng người Ba Lan)
+ Khái quát ngắn gọn về đối tượng những đoạn trên (trước đó, nhà văn đã
miêu tả về dòng sông/ông đò như thế nào?)
II. PHÂN TÍCH
1. Hình tượng dòng sông Đà tượng trưng cho “chất vàng của thiên
nhiên” Tây Bắc
a. Lời đề từ định hướng về nội dung và cảm hứng chủ đạo trong tác
phẩm.
“Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”
(Nhà thơ Nguyễn Quang Bích)
(Mọi dòng sông đều chảy về hướng đông Duy chỉ ng Đà chảy
về phương bắc)
Nhà thơ không nhấn mạnh yếu tcủa tự nhiên, địa lý, khắc họa
Đà giang như một sinh thể độc lập tự mình lựa chọn con đường của
riêng mình. Thủy trình của Đà giang không đi theo quy luật tự nhiên,
4 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
4 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
không đi theo số đông, đi theo mong muốn khám phá của bản
thân dòng chảy ấy.
Dường như, Nguyễn Tuân cũng ấn tượng với vẻ độc đáo, tính ấy
của dòng sông Tây Bắc. Ông tìm thấy một sợi dây kết nối đặc biệt về
tâm hồn, ông như soi chiếu chính dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của mình
khi nhìn vào Đà giang bởi lẽ, chính Nguyễn Tuân cũng một “Đà
giang độc bắc lưu” trên dòng chảy của văn học Việt.
b. Con sông Đà hung bạo, dữ dội (Đoạn 1 từ đầu đến cái gậy đánh
phèn.”)
b.1 Sông Đà hung bạo, d di vách đá thành bờ sông
“Hùng vĩ của Sông Đà không phải ch thác đá. Mà nó còn là nhng cảnh đá bờ sông, dng
vách thành, mt sông ch y ch c đúng ngọ mi mt tri. vách đá thành cht lòng
Sông Đà như một cái yết hu. Đứng bên này b nh tay ném hòn đá qua bên kia vách.
quãng con nai con h đã lần vt t b này sang b kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng
ấy, đang mùa cũng thấy lnh, cm thấy mình như đứng mt cái nngóng
vng lên mt khung ca s nào trên cái tng nhà th my nào va tt pht đèn điện.
- Bng ngòi bút liên tưng đầy độc đáo, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc ha cái hp
sâu thẳng đứng của vách đá thành b sông qua rt nhiu hình ảnh khơi gợi hình
dung nơi bạn đọc:
+ mt sông ch y ch lúc đúng ngọ mi có mt tri vách đá dựng thẳng đứng và nh
hẹp đến mc ch cn mt tri chếch sang mt phía không th chiếu xung lòng
sông.
Phải “lúc đúng ngọ”, mặt nước mới được gp g với ánh dương, khu vực y mới được
chiếu ng sưởi m. nói v mt tri nhưng ờng như nhà văn lại nhn
mnh vào cm giác thiếu vng ánh nng thay vì mt bu không khí ấm áp, tràn đầy
sc sng; ch “chỉ” khẳng định khonh khắc được ánh sáng chiếu sáng vào lòng
sông rt hiếm hoi ngn ngi trong ngày; qua đó cho độc gi cm nhận được không
gian sông nước đây rất lnh lo, hiu qunh. khơi gi s bất an trong người đọc.
+ so sánh “…như mt cái yết hu” (li so sánh rt lạ: vì bình thường hiếm ai li ví von
cnh vt thiên nhiên vi mt b phận trên cơ thể con người)
Nhà văn nhn mnh s nh hp ca vách đá, kết hp vi động t “chẹt” to
cm giác bc bi, nght th “yết hầu” là một b phn nm vùng c, vì thế
đọc câu văn lên ta cảm giác như bị bóp nghn li c hng, đẩy ni s trước
thiên nhiên hoang dã y thêm mt bc na.
5 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
5 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Liên tưởng vách đá ấy vi mt b phận trên cơ thể nam gii, phải chăng cũng
mt cách nhìn nhn đầy thú v của “cây bút duy mỹ” khi khắc ha v sông
Đà hung bạo rng dòng sông y, vi v d dội này, mang đầy tính nam
mnh m?
+ hai b gần nhau đến nỗi đứng bên này b ch cn “nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia
vách” Nhà văn sử dng mt li ví von rt gần gũi, tự nhiên, rng không cn dùng
chút lực nào cũng th nh tay ném được một hòn đá qua bờ n kia. Nhng cách
khơi gi tri nghim rt bình d như thế khiến độc gi d dàng hình dung điều văn
nhân mun khc ha, đồng thi dn dn m rộng trí tưởng tượng ca chính mình
để thc s c chân vào không gian ca vùng Tây Bắc trên trang văn Nguyễn Tuân.
- Cm giác ca những người ngi trong khoang đò đi qua quãng y chng
kiến/tri nghim s lnh lo ca thiên nhiên Tây Bc:
+ “đang mùa cũng thấy lnh cái lnh y phải chăng không ch bi vì nhiệt đ
h thấp hơn nhng khu vực không được mt tri chiếu ti, mà còn đến t ni s
hãi, lo lng, bt an khi đi qua khúc sông nguy hiểm này…
+ cm thấy mình như đng hè mt cái ngõ mà ngóng vng lên mt khung ca s nào trên
cái tng nhà th my nào va tt phụt đèn điện
Khc ha v sông nước vùng Tây Bắc, nhà văn lại s dng nhng hình nh
ng chừng quá xa xôi, như khung cửa s, nhà cao tầng, đèn điện. Phi
chăng, ông muốn độc gi k c ch sng nơi phố thị, chưa bao giờ trc tiếp
khám phá nhng dòng sông, vn s cho mình những tưởng tượng gần gũi
nht?
T chiếc thuyn trôi trên khúc sông âm u, lnh lo ch lúc đúng ngọ mi mt
tri ấy, nhà văn “đặt” bạn đọc vào mt cái ngõ, ngóng vọng lên ánh đèn
đin trên cao:
+) Phải chăng, ánh đèn điện y chính mt tri, va mi ghé qua chiếu sáng mt
khúc sông ri li vi vã rời đi ngay lập tc?
+) Giống như khi ta đi vào một cái ngõ ti, ngóng vng lên khung ca s duy nht còn
sáng đèn trên cao, coi đó như một điểm ta; vy va mới nhìn lên đèn điện
đã “tắt phụt” - nghĩa là tt một cách đột ngt trong s ng ngàng của người quan sát.
+ Đèn điện tt pht, mt trời nhanh chóng “thu hồi” ánh dương ở nơi y; tr li không
gian s tĩnh mịch và bóng đêm âm u; để li cho người ngi trên thuyn cm giác ht
hẫng, chơi vơi, lo lắng.
6 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
6 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Người đọc đã từng biết ti những trang tùy bút, bút kí đầy ắp liên tưng của Vũ Bằng, Thch
Lam vi mt thế gii bàng bc chất thơ qua những liên tưởng nh nhàng tinh tế, Hoàng
Ph Ngọc Tường để li du ấn trong người đọc s liên tưởng phóng khoáng đy cht suy
ng, linh cm. Còn đến vi Nguyn Tuân, ta b bt ng vi s liên tưởng mãnh lit, d di
dày đặc. Nguyễn Tuân đã quan sát s vt, hiện tượng bng con mt ca nhiu ngành ngh.
ờng như nhà văn đã đem cả cuc sng muôn hình vn trạng vào trong trang văn của mình.
(liên h này có th áp dng khi phân tích khá nhiều đoạn trích trong văn bản)
b.2 quãng mt ghnh Hát Loóng
VD câu ch đề chuyển đoạn: Đến quãng mt ghềnh Hát Loóng, dường như sự hung
bo ca con sông lại tăng thêm mt bc, không ch dng li vic gieo rc cm giác
lnh lo, rùng mình cho những người đi qua khúc đó – mà còn có th gây nên nhng
nguy him trc tiếp ti ai dám c gan “bén mảng” đến địa phn của sông Đà.
(cách viết câu ch đề đây: nhắc li nội dung đoạn trên và m ra nội dung đoạn sp phân tích)
Lại như quãng mt ghnh Hát Loóng, dài hàng cây s ớc xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió,
cun cun lung gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bt c người lái đò
Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lt nga bng
thuyn ra.
+ Quãng sông này dài ti hàng cây s Nhà văn không đưa ra một con s c th,
chính xác, khc họa độ dài ca quãng sông bng cm t “hàng cây số”, như để to
cho độc gi cm giác không biết phải đi đến bao gi mi kết thúc nhng th thách
mt ghềnh này. Con đường trước mắt như trở nên dài vô tn, liên tiếp nhng th
thách. (Ni s như cũng được kéo dài hơn…)
+ Các s vật thiên nhiên như đang giao tranh trực tiếp trong mt cm t va s dng
th pháp lit kê, li vừa có phép điệp vô cùng ấn tượng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng
gió.”
ờng như đến con ch như cũng đang đẩy nhau, chng th nm gn
gàng, ngay ngắn. Nước đá sóng như đang giao tranh kch lit trong nhng
lung gió mnh m đầy d tn vùng thiên nhiên Tây Bc him tr.
+ H thng t láy để khc ha dòng chy mnh m cun trào ca con sông: cun cun,
gùn ghè
T “cuồn cuộn” thiên về ng hình, gi hình nh những đợt sóng gió c
đá cứ liên tiếp ni nhau, gi vào nhau liên tc không ngng; t “cuồn cuộn”
cũng chỉ dành cho nhng đợt sóng ln, mnh, tác động đến quãng đường ca
con thuyn khiến cho thuyn không lúc nào không chênh vênh
T “gùn ghè” lại như đem đến một thanh âm đầy gin dữ, như tiếng gm g
để đe dọa đối th ca nhng loài thú d (t ng thanh)
Độc gi dn dn
7 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
7 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
phi m rng tt c các giác quan để ởng tượng v bức tranh NT đang
khc ha: ta phi quan sát, phi lng nghe, phi cm nhn.
Đây dường như không chỉ là trng thái t nhiên ca dòng chy mà còn trng
thái tâm lý hung hãn, quyết lit của Đà giang.
+ So sánh “như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”
Bn thân cm t “đòi nợ”: hành động quyết liệt để giành ly nhng gì thuc v mình
Nhưng sông Đà vô lý chỗ, nó quanh năm suốt tháng đi “đòi nợ xuýt”: nghĩa là đòi
n t những người không h mc n mình như một cách gây gổ, “kiếm chuyện” với
con người
Kết hp với động t “tóm”: một động tác mạnh, như thể hiện khao khát “truy bắt”
người lái đò của con sông
Nhà văn đưa ra mt li nhn nh, dn vi nhng ai sau này s khám phá
khúc sông y của Đà giang; hay cũng chính là lại mt ln na nhn mnh vi
bạn đọc v s nguy him tt cùng ca quãng mt ghnh Hát Loóng: Quãng này
khinh suất tay lái thì cũng d lt nga bng thuyn ra. Không được phép ch
quan, thiếu thn trọng khi đi qua nơi y, nếu không mun gp tai nn thm
khc, có th ớp đi sinh mạng ca những người trên thuyn.
b.3 quãng Tà Mường Vát: Những cái hút nước tàn độc hin lên qua ngòi bút khc
họa vô cùng phong phú, đa dạng của nhà văn Nguyễn Tuân
Lại như quãng ờng Vát phía ới Sơn La. Trên sông bng những cái hút nước
giống như cái giếng bê tông th xuống sông để chun b làm móng cu. Nước đây thở
và kêu như cửa cng cái b sc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay l l nhng
cánh qu đàn. Không thuyền nào dám men gn những cái hút nước y, thuyền nào qua cũng
chèo nhanh để t quãng sông, y như ô sang s ấn ga cho nhanh đ vút qua mt
quãng đường mượn cp ra ngoài b vc. Chèo nhanh và tay lái cho vng mà phóng qua cái
giếng sâu, nhng cái giếng sâu nước c c lên như vừa rót du sôi vào. Nhiu g rừng đi
nghênh ngang ý nhng cái giếng hút y lôi tut xung. nhng thuyền đã bị cái
hút nó hút xung, thuyn trng ngay cây chuối ngược ri vt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới
lòng sâu đến mươi phút sau mới thy tan xác khuỷnh sông dưới.”
+ S dng mt lot hình ảnh so sánh độc đáo để làm bt lên s nguy hiểm giăng
mc khp dòng sông t những cái hút nước:
Giống như cái giếng tông Tác gi khc ha cái hút nước như mt cái giếng
sâu không th thấy điểm tn cùng, càng khiến ta d cm thy lo lng, s hãi
trước nhng hiểm nguy không báo trước.
8 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
8 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Kết hp vi t “bỗng”, tác giả càng nhn mnh vào s bt ng, sng st, không
chun b trước của người trên thuyn.
Đưc von vi những cái xoáy nước đầy hung bo, ràng cái giếng tông
đây không phải hình nh giếng lãng mn, nh nhàng trong tuổi thơ hay trong
tình yêu lứa đôi như nhiều câu ca dao, dân ca giống như nh nh ca
mt cái giếng vi phn ming ln khng l, có th hút vào trong không gian
tn ca nó tt c nhng chiếc thuyền nào dám đi qua quãng sông.
Cách gi những cái hút nước dường như cũng nhấn mnh s nguy him ca
nm kh năng “hút” hết tt c các s vt xung quanh bng mt lực nước
vô cùng mnh m.
Người ta th ng bê tông xuống để làm móng cu thì cn phi th xung rất sâu, đào tới tn
b mặt đất dưới cùng của lòng sông để th đt cho móng cu tht chc, vng chãi. thế,
tới đây, ví von của NT dường như gi ra một cái hút nưc va sâu hun hút, li vừa đột ngt
xut hiện. Chưa kịp hoàn hn khi va phải đi qua vách đá dựng thành thẳng đứng, qua mt
ghnh Hát Loongs với đá, sóng gió nhau, ta li b con thy quái Sông Đà hăm dọa
cun và nut chngo trong miệng xoáy nước.
Tác gi đã vn dng kiến thức đa lĩnh vực để khc ha v những cái hút nước
Tà Mường Vát.
Thanh âm của “nước giếng” cũng không h d chu: th và kêu như cái cửa
cng cái b sặc” tiếng rt to, khó chu, to cm giác rợn người khi đi qua khúc
y.
Kết hp vi phép nhân hóa nhng t ng giàu sc gợi hình để khc ha
chân dung những cái hút nước: l l, c c, nghênh ngang, lôi tut, trng cây chui
ngược, vt biến đi, tan xác, ờng như những cái hút nước không h khoan
nhưng với con người, chúng tn công bng tt c s hung hăng, hiếu chiến
ca mình; dồn con người vào đường cùng vào thế yếu trong mt trn chiến
không cân sc cho đến khi con thuyền “tan xác khuỷu sông dưới” Con
thuyn chu tai nn thm khốc thì người trên thuyền cũng chung số phn
qu mt thm cnh kinh hoàng nếu như ta dám ngông nghênh thách thc
những cái hút nước tàn độc đó.
+ Thái độ ca nhng chiếc thuyền đi qua quãng Tà Mường Vát:
Đối din với thái độ tiếp đón chẳng chút nim n y ca những cái hút nước, nhng
chiếc thuyền dường như cũng không dám nghênh ngang, vênh váo khi qua đây…
Nhà văn khẳng định “Không thuyền nào dám men gn những cái hút nước” mt
ý văn rt ngn gn, súc tích, ràng, cho ta thấy được những cái hút nước
sc tn công khng khiếp đến ra sao. (Điều đó không cho thấy h hèn nhát, né
9 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
9 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
tránh th thách ca thiên nhiên, chứng minh được rng h phân tích tình
hình kĩ càng để đưa ra chiến thut phù hp nht)
So sánh kết hp liên h kiến thc thú v v lái xe ô tô: chiếc thuyền được đối
chiếu, ví von với ô tô đang sang số ấn ga cho nhanh để “lướt” qua quãng sông
được xem như một b vực đầy nguy him, th thách.
Đi qua khúc sông ấy, vượt qua những hút ớc tàn độc đó, đòi hỏi ngưi
lái đò phảithuật điều khin chiếc thuyền đến mức điêu luyện, cc
tnh táo dt khoát trong từng động tác nh nhất để th đưa được
thuyền “bay” qua bờ vc y. Nếu như người lái xe ô th tn dng
đưc lc t chiếc xe, thì người lái đò chỉ có th da vào kh năng của chính
bn thân mình cộng hưởng vi sức nước lúc đó mà thôi. Con thuyền đâu
động cơ hay một s che chn kiên c nào đó đ bo v cho con người, vì thế
nh hung càng tr nên nguy him.
- Để khc ha s khng khiếp ca những cái hút nước, nhà văn còn tạo nên
nhiu đim nhìn độc đáo, vn dng kiến thức đa lĩnh vực để khơi dy nhng
xúc cm bên trong bạn đọc:
“Tôi sợ hãi nghĩ đến mt anh bn quay phim táo tn nào mun truyn cm giác l
cho khán giả, đã dũng cảm dám ngi vào mt cái thuyn thúng tròn vành ri cho c thuyn
c mình c máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà – t đáy cái hút nhìn ngược lên vách
thành hút mt sông chênh nhau ti mt cột nước cao đến vài si. Thế ri thu nh. Cái thuyn
xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngưc contre-plongée lên mt cái
mt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve mt áng thy tinh khối đúc dày,
khối pha xanh như sp v tan p vào c máy c người quay phim c người đang
xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cm li cho người xem
phim s thy mình đang lấy gân ngi gi cht ghế nghì lấy mép mt chiếc rng
b vt vào mt cốc pha lê nước khng l va rút lên cái gậy đánh phèn.”
+ Nhà văn đan xen bày tỏ cm xúc của chính mình để khc ha tri nghim mt cách
chân thc, ấn tượng hơn nữa: “Tôi s hãi nghĩ đến…” Nhà văn không kể đơn
thuần là “Tôi nghĩ đến…” để v ra vin cảnh độc đáo trong trí tưởng tưng ca ông,
còn lng ghép c s s hãi như một cách để định hướng cm xúc ca bạn đọc khi
ớc vào trang văn này.
+ T “táo tợn” đã khiến độc gi hình dung được v người quay phim trong câu chuyn
ca Nguyn Tuân: dám th sc mình vi những điều mà chưa ai dám làm, thm chí
chưa ai dám nghĩ ti, không mun ch s dng những góc máy đã quá quen thuộc
đến mc nhàm chán.
+ Vn dng kiến thức quay phim điện ảnh để m rng tri nghim ca bạn đọc đặt
bn đọc vào những điểm nhìn cực kì độc đáo để quan sát những cái hút nước.
10 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
10 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
đoạn trên, ta nhìn cái hút nước t trên thuyn, thấy nó như cái giếng bê tông
c th và kêu như cửa cng cái b sc (giống như góc nhìn của một người
trên thuyn)
Còn gi đây, ngưc li, nhìn t i lòng sông lên: (góc nhìn ca anh bn
quay phim táo tợn đã dìm cả mình c máy quay trên chiếc thuyn thúng tròn
vành không vững chãi để có được một thước phim giá): thành giếng xây toàn
bằng nước sông xanh ve mt áng thu tinh khối đúc dày ợng nưc “cuốn” vào
bên trong xoáy nước lúc này như bị dn nén li thành mt khi dày, càng
thêm nng khi ta nhìn góc độ t i lên
Ta tưởng tượng như thể khi pha xanh y s v tan bt c lúc nào, đổ p
vào người mình, dìm c thuyn c mình c chiếc máy quay ca anh bn quay
phim y.
Thông qua mt anh bn quay phim táo tợn, cây bút đã đưa bạn đọc bước chân lên chiếc thuyn
thúng tròn vành, cùng anh quay phim cùng máy quay xuống đáy cái hút sông Đà mà chiêm
ngưỡng trn vn s khng khiếp của nó. Dường như, sự ởng tượng thú v này của văn
nhân v anh bạn quay phim kia cũng chính cách Nguyn Tuân gi nhc v hình nh
ca mình trong sáng to ngh thut một người ưa những d di, táo bo, tuyệt đối;
một người sn sàng liều lĩnh để có cho mình nhng cht liu mi m đem tới cho độc gi; mt
người kiên quyết không đi vào những lối mòn cũ kĩ, dẫu cho phải “táo tợn” đến thế nào.
+ Nhà văn còn đưa ra những góc độ - nhng v thế cm nhận khác nhau đ nâng cao
tri nghim ca bạn đọc:
Với người quay phim: liều lĩnh khám phá đ có được nhng khung hình khác
biệt, độc đáo đến vô giá thc smột người ngh sĩ trong lĩnh vực mà anh
đang khao khát theo đuổi (không mun dng những điểm nhìn đã quá cũ kĩ,
quen thuc)
Với người xem phim: ta như bị anh bn quay phim táo tn kia kéo tut xung
chiếc thuyền thúng tròn vành, đ ri bất đắc bị cun sâu vào xoáy nước, càng
lúc càng đối din vi nhng nguy him khng khiếp hơn
Tri nghim y khiến người xem lo lng đến mc phi “lấy gân ngi gi cht
ghế” như một phn x t nhiên khi chun b đối din với điều đó khiến
mình s hãi, choáng ngp, lo lng.
Thế nhưng, những n lc y hóa ra trong hoàn cảnh đó, trong trải nghim
ởng tượng độc đáo đó, chỉ như “ghì lấy mép mt chiếc rừng” mỏng
manh… Chiếc lá y có th rách tan và nhàu nát bt c lúc nào, sau đó bị vứt đi
một cách phũ phàng vào chiếc cốc pha lê nước khng l kia. Chiếc cốc đó chính
cái xoáy nước kinh hoàng quãng Mường Vát, thiên nhiên Tây Bc
đang “pha chế” một món nước nào đó bng chiếc gậy đánh phèn, c thế quy
mnh liên tc to nên những đợt sóng nước cun trào, cuối cùng đột ngt rút
11 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
11 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
lên cái gậy đó, để li cho thuyn, cho ta, cho nhng chiếc rng mng manh
yếu đuối mt sức nước tn công mãnh lit, toàn b khi pha lê như thực s v
tan.
Ta không ch “đọc” văn Nguyễn Tuân, còn như được “xem” thước phim
độc đáo của nhà biên kch đạo din kiêm quay phim tài ba đó.
*** HT BUI 01.
BUI 02.
Đon 3 vòng trùng vi thch trn mình s phân tích khi phân tích hình tượng người lái đò Sông
Đà (bởi nhà văn khc họa hình tượng dòng sông con ngưi trong mi quan h tương
quan vi nhau), thế mình để dành c đoạn: Cuộc sng của người lái đò Sông Đà quả
mt cuc chiến đấu hng ngày với thiên nhiên … Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo.” Sau khi phân
tích xong hết v con sông mình s quay li hc nha.
c. Con sông Đà thơ mộng, trữ tình:
Bằng sự quan sát tài tình khả năng vận dụng ngôn ngữ độc đáo, nhà văn
Nguyễn Tuân đã ngắm nhìn dòng sông nhiều góc độ khác nhau, tạo nên
những ng kính đa chiều thú vị, giúp người đọc có một điểm nhìn toàn diện
về Sông Đà:
- Góc nhìn của nhà văn khi là một nhà quay phim, một đạo diễn:
“Trên Sông Đà, thỉnh thoảng có tàu bay lượn vòng ở quãng này ở quãng khác, có lẽ để
chỉnh về bản đồ đất nước Tổ quốc. Tôi nghĩ nếu sau này làm phim truyện hoặc
phim kí sự (tôi không muốn dùng mấy chữ phim tài liệu) màu về Sông Đà, nếu muốn
phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông Đà của thác Sông Đà, cũng phải đưa ống
quay phim n tàu bay. Cho bay là là trên thác mà gí máy xuống mà lượn ống máy theo
những luồng sinh của thác, trên thác hiên ngang một người lái đò Sông Đà tự do,
người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà.”
+ Chi tiết nhỏ đầu tiên đã cho độc giả thấy rõ về bối cảnh ra đời của tùy bút:
thỉnh thoảng có tàu bay lượn vòng ở quãng này quãng khác, có lẽ để chỉnh lí về bản
đồ đất nước Tổ quốc”
Tác phẩm ra đời trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã
hội tại miền Bắc với rất nhiều đổi thay, đất nước đang trong qtrình vươn
mình hoàn thiện, tấm bản đồ” của Tổ quốc cũng đang được thực hiện với một
niềm tự hào sâu sắc từ mỗi người con đất Việt.
+ Nguyễn Tuân hình dung nếu mình làm phim truyện hoặc phim kí sự màu về
Đà giang:
12 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
12 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Ông thẳng thắn bày tỏ mình không muốn dùng từ “phim tài liệu”, phải
chăng bởi thể loại phim này tôn trọng sự thật khách quan gần như tuyệt
đối nên sẽ tình giới hạn sự sáng tạo của người nghệ sĩ? Trong khi phim
truyện thiên về yếu tố hư cấu, tưởng tượng; còn phim kí sự vẫn có thể in
đậm cái “tôi” của người kể chuyện dựa trên chất liệu thực tế.
“Góc y” “nhà làm phim” Nguyễn Tuân lựa chọn để thu vào ống
kính “cái dữ tợn cái lớn của Sông Đà của thác Sông Đàcũng một
điểm nhìn đầy độc đáo, mới mẻ: ông không dừng tầm quan sát
mặt đất, quyết định “đưa ống quay phim lên tàu bay” để linh hoạt,
chủ động những góc nhìn trên cao, thu được toàn cảnh rộng lớn của
thác nước vùng Tây Bắc.
Trung tâm của bức tranh khoáng đạt ấy, nổi bật trên nền cảnh thiên nhiên
hùng dữ tợn, điểm thu t của những khuôn hình những thước phim
trong lăng kính văn nhân, không phải Đà giang mà chính là người lái đò
Tây Bắc: “trên thác hiên ngang một người lái đò Sông Đà có tự do”…
thế hiên ngang cộng hưởng với ba chữ “có tự do” đã khẳng định
vị thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời mới của những người lao
động bình dị, lặng thầm.
Thiên nhiên như trở thành “đòn bẩy” để làm bật lên vẻ đẹp của con
người. Con người dường như không còn vơ, độc, nhỏ giữa
không gian vũ trụ rộng lớn như trong văn học trung đại.
(đoạn này đthể hỏi liên quan đến hình tượng dòng sông nối vào đoạn trữ nh
phía sau; hoặc hỏi về hình tượng người lao động nối vào đoạn chiến đấu của người
lao động ở phía trước)
***
- Từ trên cao nhìn xuống:
“Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần…”
+ Sông Đà mang một diện mạo hoàn toàn khác với chân dung của con thủy
quái hung tợn:
“Tôi bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, thấy đó cũng thêm cho mình một
góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình.” Một lần
nữa, sự say văn nhân dành cho Sông Đà lại được khẳng định, khi dù ở
bất cứ nơi đâu, chỉ cần có cơ hội được ngắm nhìn Đà giang là ông sẽ chẳng thể
bỏ lỡ. Câu văn dường như cũng thấp thoáng niềm vui, sự mừng rỡ của người
13 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
13 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
nghệ ấy khi “thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn” về con sông
ông đã đem lòng thương.
Để đem tới một góc nhìn, một cách nhìn trọn vẹn nhất về dòng sông ấy,
văn nhân đã khái quát lại hai nét tính cách nổi bật nhất của sông Đà
với năm chữ ngắn gọn: “hung bạo trữ tình”.
Hung bạo nhưng trữ tình/hung bạo trữ tình nhấn mạnh vào sự
tương phản, đối lập giữa hai tính chất của Đà giang; theo trình tự diễn
đạt sẽ vô tình nhấn mạnh vẻ đẹp thứ hai (“trữ tình”) hơn.
Chữ “và” khẳng định sự hài hòa, kết nối giữa hai tính chất trái ngược ấy.
Bởi nếu như chỉ “sở hữu” một trong hai, sông Đà đã không khoác lên
mình vẻ đẹp độc đáo, tính đến vậy. i riêng của dòng sông chính
được tạo nên từ sự cộng hưởng của cả hai nét tính cách đó. Văn nhân
nâng niu, quý trọng trọn vẹn những gì thuộc về con sông Tây Bắc.
+ Nhà văn đã mở rộng trải nghiệm cho bạn đọc khi khắc họa một góc nhìn
không phải ai cũng hội được trông thấy: nhìn sông Đà ttrên cao
nhìn xuống.
“Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây
thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính cái con sông hằng năm và đời
đời kiếp kiếp làm nh làm mẩy với con người Tây Bắc phản ứng giận dỗi
vô tội vạ với người lái đò Sông Đà.
góc độ này, dường như cả Nguyễn Tuân tất cả những người trên
tàu bay đều bất ngờ trước diện mạo của dòng sông Tây Bắc
Cây bút gọi dòng sông “cái dây thừng ngoằn ngoèo” hình ảnh thật bình
dị, gần gũi. Từ láy “ngoằn ngoèo” cũng nhấn mạnh để di chuyển trên
quãng sông đó quả thực không phải điều dễ dàng.
Cách sử dụng từ ngữ của NT vừa cho thấy tính cách khó chiều của Đà
giang, nhưng phần nào cũng lại bộc ltình yêu strìu mến của người
cầm bút khi viết về con sông đó.
“làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc…
“phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà”
ràng, dòng sông ấy cùng hung bạo dữ dội, thậm chí khoác lên
mình diện mạo của thủy quái vùng Tây Bắc sẵn sàng đòi “ăn chết” người
lái đò con thuyền nhỏ; ấy vậy trong lăng kính nâng niu, yêu
chiều của văn nhân, cơn thịnh nộ của thiên nhiên lại trở nên mềm mại
14 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
14 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
biết mấy. Nhà văn cho rằng chỉ đang “làm mình làm mẩy“giận
dỗi” với con người mà thôi.
Đâu chỉ xuất hiện trong cuộc sống đời thường của giai đoạn mới, dòng
sông ấy n con sông của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy
Tinh, tượng trưng cho cơn giận dữ của Thủy Tinh m nào cũng “báo
oán”, “đánh ghen”, tấn công con người. Thế nhưng, hóa ra, bên cạnh
sự hung bạo ấy, dòng sông Tây Bắc ng thể khoác lên mình một
màu sắc thật dịu ngọt, êm đềm, nhẹ nhàng biết mấy.
Bên cạnh ngòi bút miêu tả tỉ mỉ, tính tạo hình cao, khơi gợi trí tưởng
tượng của độc giả; nvăn còn đan xen trong tùy bút của mình những
câu văn bộc lộ cảm xúc với dòng sông ông đem lòng tương tư. Ông
tin rằng: “Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ ng núi, thì mỗi lúc ngồi
trên tàu bay trên chiều cao nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy
quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lbóng mây ới
chân mình.” Dường như, ngòi bút của NT cũng mềm mại hóa theo sự
nữ tính, duyên dáng của dòng chảy với những câu văn dài, nhịp điệu
chậm rãi, êm ả. Ông khẳng định mình là một người “đã quen đọc bản đồ
sông núi”, yêu mến và trân trọng từng điều nhỏ nhất trên mảnh đất quê
hương, ông tự hào kiêu hãnh khi thu vào đôi mắt mình hình ảnh bao la
của Tổ quốc, ông say một cách tỉ mỉ vẻ đẹp của vùng Tây Bắc đến
mức “quen thuộc với từng nét sông tãi ra”… Và ở trên tàu bay, với điểm
nhìn cao rộng ấy, ông còn được một “góc máy” đầy lãng mạn khi
ngắm nhìn sông i xuyên qua những làn mây mỏng manh, để cảm nhận
được “đại ơng đá lờ lbóng mây” ngay dưới chân mình, một hình
ảnh phiêu du, bồng bềnh.
+ Lúc này đây, dòng sông Tây Bắc hiện lên với vẻ dịu dàng, duyên dáng của
một người thiếu nữ…
Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói
núi Mèo đốt nương xuân.”
Nhà văn sử dụng phép điệp với hai từ “tuôn dài” được lặp lại liên tiếp
khắc họa vẻ đẹp miên man của “suối tóc” Đà giang
Kết hợp với so sánh tinh tế không kém phần độc đáo: “như một áng
tóc trữ tình”
15 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
15 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
+) Cách ví von này gợi nhắc đến hình ảnh của một người thiếu nữ bởi lẽ mái
tóc dài thường là biểu tượng cho sự nữ tính, uyển chuyển của những cô gái
+) Tuy nhiên, nhà n không viết như cách thông thường mái tóc”, lại
dùng chữ “áng gợi nhắc đến “áng văn”, “áng thơ” Phải chăng bởi trong
đôi mắt “kẻ si tình”, Đà giang cũng một nàng thơ dịu dàng, nhẹ nhàng, mang
theo bao nét đẹp của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc…
+) Đó không phải một áng tóc bình thường, một “áng tóc trữ tình
Phải chăng, rất nhiều cây bút đã gửi những nỗi niềm vào áng tóc” ấy? Đà
giang đẹp thơ mộng như khơi gợi bao cảm hứng sáng tác dạt dào tuôn trào nơi
tâm hồn những người nghệ sĩ, quyến luyến không rời ngòi bút của những văn
nhân khi có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp này.
+) Trong tác phẩm “Cô Tô", đứng trước một cơn bão lớn đang đổ ập về vùng biển,
Nguyễn Tuân đã nhìn cái sự hâm hấp, oi bức, khó chịu, đùng đục, nồng nồng của Cô
Tô tới hình ảnh của một người con gái: "Chân trời đàng đông, mây xám buông thõng
buông song, như một thần nữ đang bực mình quạt phanh phách hong tóc trên thau
nước gội bồ kết đục ngầu". thể thấy, đặt bút miêu tả về sự vật thiên nhiên, nhưng
ông luôn đưa về với những liên tưởng gắn liền với chân dung con người đặc biệt
những người thiếu nữ với vẻ đẹp đầy sinh động, thu hút của họ.
Nhà văn dùng từ “ẩn hiện”: một vẻ đẹp vừa vừa thực, phải chăng bởi
được nhìn qua lăng kính thấp thoáng những bóng mây?
“Áng tóc trữ tình” ấy như được cài thêm sắc trắng tinh khôi thuần khiết
của hoa ban, lại được điểm xuyết màu đỏ rực rỡ của hoa gạo, quyện hòa
trong hương thơm đậm chất núi rừng: “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xuân”. Dường như, áng tóc tuôn dài ấy đã trở thành một nét
đẹp đặc trưng trong khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc, là điểm nhấn ngọt
ngào cho bức họa văn nhân đã vẽ nên Mùa xuân vùng rẻo cao sẽ
chẳng thể ngọt ngào và tươi mới đến thế nếu thiếu đi dòng sông Đà thơ
mộng, uyển chuyển, trữ tình.
- Nhà văn nhận thấy màu nước sông Đà biến đổi theo mùa nhận ra
những sắc màu của dòng sông ấy, tuyệt nhiên không như người Pháp
mô tả:
Để khắc họa về trải nghiệm và sự quan sát của mình với dòng sông, nhà văn đã
kết hợp giữa kể và tả, lồng ghép cảm xúc của bản thân để khắc họa dòng nước
16 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
16 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
mùa xuân và mùa thu: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà,
tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà.”
Cái nhìn mà Nguyễn Tuân trao cho Đà giang là ánh mắt say sưa của một “kẻ si
tình”, là sự lãng mạn hóa mọi góc nhìn của mình về dòng chảy mà cây bút đem
lòng yêu. Phải khao khát khám phá mạnh mẽ, phải tương dòng ng ấy đến
thiết tha thế nào, ta mới thể ngắm nhìn nó chăm chú, mê say; ta mới có thể
viết nó một cách tình tứ đến vậy?
+ Mùa xuân: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu
xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô.”
Màu xanh ngọc bích là sự hòa quyện giữa màu lục và lam, là sự soi chiếu
giữa mặt nước bao la bầu trời rộng lớn, lại sắc màu gắn liền với một
loại ngọc quý
Cảm nhận nhân của bạn khi hình dung, tưởng tượng đến sắc xanh
ngọc bích trong trẻo, diễm lệ ấy? (sắc xanh giúp ta tìm thấy sự bình yên
trong tâm hồn, như dịu dàng chữa lành những tổn thương nơi trái tim; sắc
xanh thiên về vẻ cổ điển trầm lắng như đưa ta về những tháng ngày cũ; hay
sắc xanh đầy mới mẻ, sôi nổi, mang tinh thần hiện đại của giai đoạn xây dựng
đất nước thời kì mới…?)
Sắc xanh ngọc bích được khắc họa thật mộc mạc nhưng cùng quý phái,
diễm lệ qua góc nhìn của nhà văn Nguyễn Tuân.
Nhà văn còn khẳng định sắc xanh ấy khác hoàn toàn màu xanh canh hến
dân dã, mc mạc, bình dị của sông Gâm, sông Lô. Trong lăng kính của
Nguyễn Tuân, ràng sắc xanh mùa xuân của Đà giang sẽ màu xanh
đẹp nhất, ấn tượng nhất, in sâu trong tâm trí nhất.
Trong bài kí “Cô Tô”, văn nhân cũng từng dụng công để khắc họa sắc xanh của
màu nước biển cũng với chất văn giàu sức liên tưởng: "Biển xanh như gì nhỉ?
Xanh như chuối non? Xanh như chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm
làng Vòng. ớc biển đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác.
xanh như màu áo Kim Trọng trong tiết thanh minh…" Chỉ một màu xanh thôi,
nhà văn sử dụng một loạt các so sánh, von, vừa bình dị gần gũi, lại vừa
liên tưởng đến các tác phẩm nghệ thuật qua đó, cũng mở rộng trí ởng tượng
cùng cảm giác của bạn đọc đến mức tối đa. Quả thật, để ớc chân vào những
trang văn của Nguyễn Tuân, độc giả phải sẵn sàng mở tung cánh cửa tưởng
17 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
17 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
tượng, không nên chỉ cảm nhận theo bề nổi của ngôn từ hoặc tự giới hạn mình
bởi chính những hình dung hạn hẹp của mình.
+ Mùa thu:
“Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa,
lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì đó mỗi độ thu về.”
Nhà văn sử dụng từ láy kết hợp với phép điệp, từ “lừ lừ” được lặp lại tới
hai lần trong một câu văn ngắn để nhấn mạnh tâm trạng của SĐ khi a
thu chạm vào mặt nước. Từ “lừ lừ” đây khắc họa hình ảnh một người
lặng lẽ, chậm rãi, có cái nhìn dường như hơi bực bội.
Tác giả so sánh mặt nước sông với biểu cảm trên khuôn mặt con người,
với trạng thái tâm lý của con người đầy sinh động
+) Khiến cho hình ảnh SĐ trở nên gần gũi hơn, bình dị hơn, có hồn hơn. Giống
như một con người mang theo cảm xúc đa dạng, Đà giang cũng có nhiều biểu
cảm phong phú như thế.
+) Màu nước lừ lừ bực bội phải chăng vì mùa thu đẹp mà trôi qua nhanh quá,
mang theo bao nỗi niềm dở dang, bao xúc cảm còn bỏ ngỏ nay tuột khỏi tầm
tay một cách quá đỗi vội vàng…
+) Gợi nhắc tới mùa thu khi thực dân Pháp xâm lược đất nước, ta buộc phải
đón những vị khách không mời mà tới dòng sông cũng bày tỏ thái độ không
niềm nở tiếp đón của mình với những kẻ có ý định xâm lược quê hương.
Nguyễn Tuân bày tỏ quan điểm đầy mạnh mẽ, dứt khoát:
Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con
sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên láo lếu, rồi cứ thế phiết vào
bản đồ lai chữ.”
“Chưa hề bao giờ” lời khẳng định của một người nghệ sĩ tương tư Đà
giang, đã m hiểu và khám phá kĩ càng về dòng sông đến mức chắc chắn
không thể bỏ lỡ một giây phút nào, một sắc màu o của con sông Tây
Bắc.
Câu văn thể hiện thái độ quả quyết phần khinh thường, châm
biếm của nhà văn NT với thực dân Pháp: “đè ngửa con sông ta ra mà đổ
mực Tây vào”, “cái tên láo lếu”, “bản đồ lai chữ”.
Nhà văn gọi sông Đà là “con sông ta” một cách bình dị, tha thiết nhưng
đầy quyết liệt, mạnh mẽ; khẳng định đó con sông của người Việt Nam,
dòng chảy của ta chứ không “phục vụ” cho bất cứ một âm mưu xâm
18 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
18 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
lược nào. Thực dân Pháp đâu quyền đặt tên lại cho một dòng
sông, “nhuộm đen” cả sắc xanh sắc hồng đỏ của dòng chảy Tây Bắc
bằng thứ mực Tây của mình? Tinh thần dân tộc sâu sắc đã được thể
hiện một cách dứt khoát qua nỗ lực bảo vệ dòng sông như gìn giữ một
nét đẹp văn hóa đáng tự hào.
- Sông Đà gợi cảm như một cố nhân:
+ Dòng sông gợi cảm trong mắt kẻ “si tình”:
Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi
nhìn Sông Đà như một cố nhân.
**gợi cảm: nhấn mạnh vẻ đẹp thu hút, quyến rũ, khơi gợi nhiều xúc cảm của
dòng sông.
**cố nhân: người quen cũ, một người đặc biệt trên hành trình đã qua ta
luôn nâng niu, quý trọng.
Nhà văn ưu ái dùng một tính từ thật diễm lệ để nói về dòng sông, đó
“gợi cảm” Đặc biệt hơn nữa, vẻ đẹp y thậm chí sự thay đổi khi
dòng sông “gặp gỡ” từng người, như NT nhận định: Đối với mỗi người,
Sông Đà lại gợi một cách.
Dường như, NT tin rằng, SĐ giống như một cô gái không chỉ có diện mạo
yêu kiều, còn nét duyên dáng trong cách ứng xử, giao tiếp… Nàng
thơ xinh đẹp của núi rừng Tây Bắc biết chủ động « gợi một cách » riêng khi
gặp gỡ từng người, trong từng hoàn cảnh nhất định. Hay cũng bởi vẻ đẹp
của sông Đà quá phong phú, đa dạng, nên nàng có thể thu hút bất cứ ai ?
Với nhà văn NT, ông coi dòng sông TB như một “cố nhân” của cuộc đời
mình. Cách gọi «cố nhân» thật đặc biệt, ta đâu thể dùng từ ấy chỉ cho một
người quen đã nán lại một khoảng nhỏ trong quá khứ mênh mông?
Phải từng rất gần gũi, gắn bó, thậm chí phải từng coi nhau tri âm tri kỉ,
người ấy phải quan trọng với ta cùng ta mới nâng niu gọi họ hai
chữ «cố nhân»…
Bên cạnh các yếu tố như miêu tả, biểu cảm; nhà văn Nguyễn Tuân còn
lồng ghép cả nh chất tự sự vào trang viết của mình một cách đầy tự
nhiên để giãi bày trải nghiệm với bạn đọc, đưa bạn đọc bước chân vào kỉ
niệm riêng của ông với Đà giang. Đó một cuộc i ngộ thật bình dị
đáng nhớ: “Chuyến ấy rừng đi núi ng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ
thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà.”
19 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
19 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
Cảm giác của văn nhân lúc đó là “thấy thèm chỗ thoáng” nghĩa là mong
mỏi một không gian khoáng đạt, rộng lớn cộng hưởng với việc ông quên
bẵng đi sắp đổ ra dòng sông ấy sẽ càng khiến cho cảm xúc như ngỡ
ngàng, say đắm, vỡ òa trong giây phút tái ngộ.
Nhà văn so sánh thật bình dị vtrải nghiệm lúc ấy, như cảm giác một
đứa trẻ nghịch gương chiếu sáng vào mắt mình rồi bỏ chạy. Nhà văn
viết về xúc cảm của mình thật đơn giản, mộc mạc. Câu văn không khắc
họa âm thanh sao ta cảm giác nghe thấy tiếng trẻ con cười khúc
khích, hồn nhiên trong trò đùa dỏm? Hay phải chăng bởi được gặp lại
Đà giang, được thu vào trong ánh mắt đắm say cái vệt nắng phản chiếu
trên mặt nước, khiến cho tâm hồn nhà văn cũng như trong trẻo, thuần
khiết trở lại?
Văn nhân đã liên tưởng màu nắng Sông Đà khi ấy với nắng tháng ba
trong thơ Đường, qua đó nhấn mạnh vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng, nhuốm
màu thời gian của dòng sông cũng đẹp như những câu thơ xưa cũ vậy.
Ý thơ của Lí Bạch cũng không chỉ dừng lại ở miêu tả, mà còn có tính tự sự - kể
chuyện, lồng ghép với những xúc cảm của người cầm bút khi tiễn bạn lên đường:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”
(Bạn đi khỏi lầu Hoàng Hạc phía tây, xuôi xuống Dương Châu giữa tháng ba đang
mùa hoa khói). Nếu xét theo nghĩa thông thường của bản dịch, nhiều độc giả có thể chỉ
cảm nhận hai câu thơ như những câu thơ trần thuật, miêu tả đơn thuần với những
thông tin cụ thể đã được xác định rõ ràng: Nơi chia tay là lầu Hoàng Hạc; thời gian là
vào một ngày tháng ba; điểm đến của Mạnh Hạo Nhiên là ơng Châu. Nhưng khi ta
đọc kĩ, khi ta đặt mình vào buổi chia ly ấy, khi ta thấm thía hơn hai chữ “cố nhân”, ta
sẽ cảm nhận được cả một nỗi buồn u kín của người cầm bút khi tiễn đưa bạn lên
đường. Cố nhân” đâu chỉ là từ để dùng gọi một người bạn thông thường, đó hẳn phải
một người cùng đặc biệt, gắn sâu sắc thì người viết mới ưu ái gọi họ “cố
nhân”. Riêng hai chữ ấy thôi đã buồn biết mấy… Để thấy rằng, giữa Nguyễn Tuân với
Đà giang cũng là một tình cảm đong đầy, nâng niu, tha thiết đến như vậy.
+ Niềm vui khi gặp lại “cố nhân”:
“Bờ ng Đà, bãi ng Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên ng Đà. Chao ôi, trông con
sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt
quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như
20 | H C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
20 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết lắm bệnh lắm chứng, chốc
dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.”
u văn đầu, nhà văn sử dụng phép liệt kê với hình thức u đặc biệt,
qua đó trải dài trước mắt bạn đọc những svật thiên nhiên phong phú,
đa dạng, tràn đầy sức sống quanh dòng sông ấy: đó là bờ, là bãi, chuồn
chuồn bươm bướm trên sông.
Nhịp điệu chậm rãi, nhẹ nhàng, trìu mến: Văn nhân ờng nmuốn
nâng niu từng sự vật trong bức tranh về Đà giang, tất cả đều được thu
vào trong ánh mắt và trái tim của người cầm bút với hết thảy những lưu
luyến trong giây phút bất ngờ được gặp lại.
Để rồi sau đó, dòng chảy cảm xúc miên man tuôn trào nơi đầu ngọn bút,
bộc lộ niềm vui vỡ òa của cả người cầm bút và lẽ của cdòng sông
ấy trong giây phút tái ngộ tri kỉ của mình: Chao ôi, trông con sông, vui như
thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.
+) Thán từ “Chao ôi” bộc lộ cảm xúc trực tiếp tình cảm của văn nhân thiết
tha, dạt dào, chẳng thể kìm nén…
+) Nhà văn sử dụng 2 so sánh khắc họa một cách tinh tế nhưng không kém
phần độc đáo, duyên dáng cảm xúc của người nghệ khi gặp lại con sông
của mình:
vui như thấy nắng giòn tan sau mưa dầm
Cảm giác hạnh phúc thăng hoa khi sự chờ đợi bấy lâu cuối cùng cũng
được hồi đáp. Sau chuỗi ngày mưa dầm dề, dai dẳng, cuối cùng ánh nắng
cũng xuất hiện hong khô sưởi ấm mọi thứ… Hai chữ “giòn tan” như
một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhấn mạnh tính chất của ánh nắng, khiến
cho tia nắng cũng như được “hữu hình”, có thể cầm lấy mà nâng niu, cất
giữ…
vui như nối lại chiêm bao đứt quãng
Chiêm bao những giấc mơ, thể những mộng ước chưa thành s
thật đã vội khép lại dang dở, “đứt quãng”. thế, cảm c vỡ òa
đây giống như niềm hạnh phúc khi ta được viết tiếp một u chuyện
tưởng chừng đã định rõ hồi kết.
Có lẽ, trong lăng kính và tâm trí của văn nhân, dòng sông ấy chính là
ánh nắng giòn tan xua đi những mây tăm tối những cơn mưa

Preview text:

1 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
“NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” (Nguyễn Tuân) FULL
LỚP CẤP TỐC 14 NGÀY
3 BUỔI HỌC 18.19.20 (06.2024) I.
KHÁI QUÁT TÁC GIẢ TÁC PHẨM
- Nguyễn Tuân là nhà văn có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo, phong
cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông", mỗi
trang viết của ông đều muốn chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác; mọi sự vật được
tác giả miêu tả quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật
***ngông: NT không thích là người đi vào những lối mòn cũ kĩ, đi những chặng đường
đã in quá nhiều dấu chân Ông có khao khát khám phá đến tận cùng, say mê những
điều độc đáo đến phi thường, nỗ lực tìm tòi những đề tài mới hoặc làm mới những đề
tài tưởng chừng đã quá quen thuộc. Không chỉ ở phương diện nội dung, mà cả ở hình
thức biểu hiện, ông được xem là “bậc thầy trong sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt”. => HÃY MỞ RỘNG NHỮNG CÁNH CỬA CỦA TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
ĐỂ THỰC SỰ BƯỚC CHÂN VÀO THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN.
+ Trước Cách mạng tháng Tám: Ông chênh vênh giữa hiện tại, không nhiều
niềm tin vào tương lai nên thường hướng mình về quá khứ, đi tìm cái đẹp của
thời xưa còn vương lại, cái mà ông ưu ái gọi là “Vang bóng một thời.” → Hình
ảnh con người trong trang văn NT ở giai đoạn này: thường khắc họa về những
người nghệ sĩ, những người mang vẻ đẹp “đặc chủng, đặc tuyển”
+ Sau Cách mạng tháng Tám: tìm thấy mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại và
tương lai. Mặc dù ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện
văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ
sĩ ở cả nhân dân đại chúng chứ không chỉ ở những con người “đặc chủng đặc
tuyển” như trước đây.
- Là một người theo "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân đã lấy những chuyến đi làm
chất liệu sáng tác; bộc lộ và thể hiện những tính cách phi thường, những tình cảm, cảm
xúc mãnh liệt trước những phong cảnh tuyệt mĩ của thiên nhiên, đất nước và con người
qua ngòi bút nội lực được mệnh danh “bậc thầy sáng tạo ngôn ngữ Tiếng Việt”.
thể đưa vào phần đánh giá ND – NT
1 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
2 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
- Ông quan niệm: “Đời là một trường du hí’’ - sống là để trải nghiệm, để chơi, để khám
phá và sáng tạo nghệ thuật mang một nét độc đáo, đậm chất riêng cho chính mình. Ông
còn được mệnh danh là “cây bút duy mỹ’’ bởi ông luôn khám phá, tìm tòi và mở ra
những cái đẹp bất cứ nơi nào trên khắp mọi miền Tổ quốc. 2. TÁC PHẨM
Hoàn cảnh ra đời:
- “Người lái đò Sông Đà” là tùy bút được in trong tập “Sông Đà” (1960)
- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc của tác giả - vừa để thỏa
mãn thú phiêu lãng vừa để tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên cùng “chất vàng mười
đã qua thử lửa” trong tâm hồn của những con người lao động, “chiến đấu”
trên miền sông núi hùng vĩ và thơ mộng đó.
Chất vàng mười của thiên nhiên vẻ đẹp sẵn có mà tạo hóa ban tặng cho sông núi,
thiên nhiên của đất nước ta
Chất vàng mười đã qua thử lửa của con người con người phải trải qua những thử
thách mới có thể trở thành phiên bản hoàn thiện nhất của chính mình hình tượng
người lái đò trong tùy bút của Nguyễn Tuân tượng trưng cho vẻ đẹp của con người
khi chinh phục những bão giông, thử thách lớn từ cuộc đời.
Một số nhận định hay về Nguyễn Tuân và “Người lái đò Sông Đà’’: => LINH
HOẠT VẬN DỤNG (có thể đưa vào bất cứ vị trí nào trong bài làm miễn là kết
nối, dẫn dắt phù hợp: MB, khái quát tác giả tác phẩm, phần phân tích, đánh
giá chung nội dung – nghệ thuật, kết bài)
“… Nguyễn Tuân - một cây bút vốn luôn khao khát những cảm giác, cảm xúc
mới lạ, nồng nàn, say đắm…”.(Nguyễn Đăng Mạnh)
“Chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị, vì văn Nguyễn Tuân
không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức.’’ (Vũ Ngọc Phan)
‘’Ðây là một nhà văn "suốt đời đi tìm cái Ðẹp, cái Thật." (Nguyễn Ðình Thi)
"Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót
trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng,
khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa." (Nguyễn Ðăng Mạnh)
2 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
3 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
Ông xứng đáng được mệnh danh là "chuyên viên cao cấp tiếng Việt", là "người
thợ kim hoàn của chữ" (Ý của Tố Hữu)
“… Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài
năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ… Khi gân guốc,
khi mềm mại, khi nghiêm nghị như một nhà bác học, khi hồn nhiên như một
đứa trẻ thơ, những trang viết, những câu văn của Nguyễn Tuân mang hơi thở
ấm nóng của cuộc đời phức tạp, phong phú, đa dạng. Sự tự ý thức sâu sắc về
tài năng của mình không phải là một biểu hiện tiêu cực, trái lại, nó tạo nên sự
giải phóng năng lượng rất cần thiết để nhà văn có thể sáng tạo nên những tác
phẩm kì vĩ…”. (Phan Huy Đông, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).
**Lưu ý kĩ năng với ký:
Sau đoạn khái quát tác giả tác phẩm, bạn sẽ có thêm 1 đoạn khái quát về đối
tượng được miêu tả trong đoạn trích đề cho. ~1/2 trang giấy thi
+ Giới thiệu khái quát về đối tượng
+ Phân tích lời đề từ khắc họa đối tượng ấy (đối với hình tượng dòng sông =>
ta phân tích lời đề từ của nhà thơ NQB; đối với hình tượng người lái đò/người
lao động ➔ ta phân tích lời đề từ của nhà thơ – nhà Cách mạng người Ba Lan)
+ Khái quát ngắn gọn về đối tượng ở những đoạn trên (trước đó, nhà văn đã
miêu tả về dòng sông/ông đò như thế nào?) II. PHÂN TÍCH
1. Hình tượng dòng sông Đà – tượng trưng cho “chất vàng của thiên nhiên” Tây Bắc
a. Lời đề từ định hướng về nội dung và cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm.
“Chúng thủy giai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”
(Nhà thơ Nguyễn Quang Bích)
(Mọi dòng sông đều chảy về hướng đông – Duy chỉ có Sông Đà là chảy về phương bắc)
 Nhà thơ không nhấn mạnh yếu tố của tự nhiên, địa lý, mà khắc họa
Đà giang như một sinh thể độc lập – tự mình lựa chọn con đường của
riêng mình. Thủy trình của Đà giang không đi theo quy luật tự nhiên,
3 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
4 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
không đi theo số đông, mà đi theo mong muốn khám phá của bản thân dòng chảy ấy.
 Dường như, Nguyễn Tuân cũng ấn tượng với vẻ độc đáo, cá tính ấy
của dòng sông Tây Bắc. Ông tìm thấy một sợi dây kết nối đặc biệt về
tâm hồn, ông như soi chiếu chính dấu ấn nghệ thuật đặc sắc của mình
khi nhìn vào Đà giang – bởi lẽ, chính Nguyễn Tuân cũng là một “Đà
giang độc bắc lưu” trên dòng chảy của văn học Việt.
b. Con sông Đà hung bạo, dữ dội (Đoạn 1 – từ đầu đến … cái gậy đánh phèn.”)
b.1 Sông Đà hung bạo, dữ dội ở vách đá thành bờ sông
“Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng
vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng
Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có
quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng
ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng
vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.”

- Bằng ngòi bút liên tưởng đầy độc đáo, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họa cái hẹp
– sâu – thẳng đứng của vách đá thành bờ sông
qua rất nhiều hình ảnh khơi gợi hình dung nơi bạn đọc:
+ mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời → vách đá dựng thẳng đứng và nhỏ
hẹp đến mức chỉ cần mặt trời chếch sang một phía là không thể chiếu xuống lòng sông.
Phải “lúc đúng ngọ”, mặt nước mới được gặp gỡ với ánh dương, khu vực ấy mới được
chiếu sáng và sưởi ấm. → Dù nói về mặt trời nhưng dường như nhà văn lại nhấn
mạnh vào cảm giác thiếu vắng ánh nắng
thay vì một bầu không khí ấm áp, tràn đầy
sức sống; chữ “chỉ” khẳng định khoảnh khắc được ánh sáng chiếu sáng vào lòng
sông rất hiếm hoi và ngắn ngủi
trong ngày; qua đó cho độc giả cảm nhận được không
gian sông nước ở đây rất lạnh lẽo, hiu quạnh. → khơi gợi sự bất an trong người đọc.
+ so sánh “…như một cái yết hầu” (lối so sánh rất lạ: vì bình thường hiếm ai lại ví von
cảnh vật thiên nhiên với một bộ phận trên cơ thể con người)
• Nhà văn nhấn mạnh sự nhỏ hẹp của vách đá, kết hợp với động từ “chẹt” tạo
cảm giác bức bối, nghẹt thở → “yết hầu” là một bộ phận nằm ở vùng cổ, vì thế
đọc câu văn lên ta có cảm giác như bị bóp nghẹn lại ở cổ họng, đẩy nỗi sợ trước
thiên nhiên hoang dã ấy thêm một bậc nữa.
4 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
5 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
• Liên tưởng vách đá ấy với một bộ phận trên cơ thể nam giới, phải chăng cũng
là một cách nhìn nhận đầy thú vị của “cây bút duy mỹ” khi khắc họa về sông
Đà hung bạo – rằng dòng sông ấy, với vẻ dữ dội này, mang đầy tính nam mạnh mẽ?
+ hai bờ gần nhau đến nỗi đứng bên này bờ chỉ cần “nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia
vách”
→ Nhà văn sử dụng một lối ví von rất gần gũi, tự nhiên, rằng không cần dùng
chút lực nào cũng có thể nhẹ tay ném được một hòn đá qua bờ bên kia. Những cách
khơi gợi trải nghiệm rất bình dị như thế khiến độc giả dễ dàng hình dung điều văn
nhân muốn khắc họa, đồng thời dần dần mở rộng trí tưởng tượng của chính mình
để thực sự bước chân vào không gian của vùng Tây Bắc trên trang văn Nguyễn Tuân.
- Cảm giác của những người ngồi trong khoang đò đi qua quãng ấy – chứng
kiến/trải nghiệm sự lạnh lẽo của thiên nhiên Tây Bắc:
+ “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh” → cái lạnh ấy phải chăng không chỉ bởi vì nhiệt độ
hạ thấp hơn ở những khu vực không được mặt trời chiếu tới
, mà còn đến từ nỗi sợ
hãi, lo lắng, bất an
khi đi qua khúc sông nguy hiểm này…
+ “cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên
cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”
• Khắc họa về sông nước vùng Tây Bắc, nhà văn lại sử dụng những hình ảnh
tưởng chừng quá xa xôi, như khung cửa sổ, nhà cao tầng, đèn điện. → Phải
chăng, ông muốn độc giả kể cả chỉ sống ở nơi phố thị, chưa bao giờ trực tiếp
khám phá những dòng sông, vẫn sẽ có cho mình những tưởng tượng gần gũi nhất?
• Từ chiếc thuyền trôi trên khúc sông âm u, lạnh lẽo chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt
trời ấy, nhà văn “đặt” bạn đọc vào hè một cái ngõ, ngóng vọng lên ánh đèn
điện ở trên cao:
+) Phải chăng, ánh đèn điện ấy chính là mặt trời, vừa mới ghé qua chiếu sáng một
khúc sông rồi lại vội vã rời đi ngay lập tức?
+) Giống như khi ta đi vào một cái ngõ tối, ngóng vọng lên khung cửa sổ duy nhất còn
sáng đèn ở trên cao, coi đó là như một điểm tựa; vậy mà vừa mới nhìn lên đèn điện
đã “tắt phụt” - nghĩa là tắt một cách đột ngột trong sự ngỡ ngàng của người quan sát.
+ Đèn điện tắt phụt, mặt trời nhanh chóng “thu hồi” ánh dương ở nơi ấy; trả lại không
gian sự tĩnh mịch và bóng đêm âm u; để lại cho người ngồi trên thuyền cảm giác hụt
hẫng, chơi vơi, lo lắng.
5 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
6 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
Người đọc đã từng biết tới những trang tùy bút, bút kí đầy ắp liên tưởng của Vũ Bằng, Thạch
Lam với một thế giới bàng bạc chất thơ qua những liên tưởng nhẹ nhàng mà tinh tế, Hoàng
Phủ Ngọc Tường để lại dấu ấn trong người đọc ở sự liên tưởng phóng khoáng đầy chất suy
tưởng, linh cảm. Còn đến với Nguyễn Tuân, ta bị bất ngờ với sự liên tưởng mãnh liệt, dữ dội
dày đặc. Nguyễn Tuân đã quan sát sự vật, hiện tượng bằng con mắt của nhiều ngành nghề.
Dường như nhà văn đã đem cả cuộc sống muôn hình vạn trạng vào trong trang văn của mình.
(liên hệ này có thể áp dụng khi phân tích khá nhiều đoạn trích trong văn bản)

b.2 Ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng
VD câu chủ đề chuyển đoạn: Đến quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dường như sự hung
bạo của con sông lại tăng thêm một bậc, không chỉ dừng lại ở việc gieo rắc cảm giác
lạnh lẽo, rùng mình cho những người đi qua khúc đó – mà còn có thể gây nên những
nguy hiểm trực tiếp tới ai dám cả gan “bén mảng” đến địa phận của sông Đà.
(cách viết câu chủ đề ở đây: nhắc lại nội dung đoạn trên và mở ra nội dung đoạn sắp phân tích)
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió,
cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò
Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

+ Quãng sông này dài tới hàng cây số → Nhà văn không đưa ra một con số cụ thể,
chính xác, mà khắc họa độ dài của quãng sông bằng cụm từ “hàng cây số”, như để tạo
cho độc giả cảm giác không biết phải đi đến bao giờ mới kết thúc những thử thách ở
mặt ghềnh này. Con đường trước mắt như trở nên dài vô tận, liên tiếp những thử
thách. (Nỗi sợ như cũng được kéo dài hơn…)
+ Các sự vật thiên nhiên như đang giao tranh trực tiếp trong một cụm từ vừa sử dụng
thủ pháp liệt kê, lại vừa có phép điệp vô cùng ấn tượng: “nước xô đá, đá xô sóng, sóng
xô gió.”
dường như đến con chữ như cũng đang xô đẩy nhau, chẳng thể nằm gọn
gàng, ngay ngắn. Nước – đá – và sóng như đang giao tranh kịch liệt trong những
luồng gió mạnh mẽ đầy dữ tợn ở vùng thiên nhiên Tây Bắc hiểm trở.
+ Hệ thống từ láy để khắc họa dòng chảy mạnh mẽ cuộn trào của con sông: cuồn cuộn, gùn ghè
• Từ “cuồn cuộn” thiên về tượng hình, gợi hình ảnh những đợt sóng – gió – nước
– đá cứ liên tiếp nối nhau, gối vào nhau liên tục không ngừng; từ “cuồn cuộn”
cũng chỉ dành cho những đợt sóng lớn, mạnh, tác động đến quãng đường của
con thuyền – khiến cho thuyền không lúc nào không chênh vênh
• Từ “gùn ghè” lại như đem đến một thanh âm đầy giận dữ, như tiếng gầm gừ
để đe dọa đối thủ của những loài thú dữ (từ tượng thanh) Độc giả dần dần
6 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
7 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
phải mở rộng tất cả các giác quan để tưởng tượng về bức tranh mà NT đang
khắc họa: ta phải quan sát, phải lắng nghe, phải cảm nhận.
➔ Đây dường như không chỉ là trạng thái tự nhiên của dòng chảy mà còn là trạng
thái tâm lý hung hãn, quyết liệt của Đà giang.
+ So sánh “như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”
Bản thân cụm từ “đòi nợ”: hành động quyết liệt để giành lấy những gì thuộc về mình
Nhưng sông Đà vô lý ở chỗ, nó quanh năm suốt tháng đi “đòi nợ xuýt”: nghĩa là đòi
nợ từ những người không hề mắc nợ mình như một cách gây gổ, “kiếm chuyện” với con người
Kết hợp với động từ “tóm”: một động tác mạnh, như thể hiện khao khát “truy bắt”
người lái đò của con sông
➔ Nhà văn đưa ra một lời nhắn nhủ, dặn dò với những ai sau này sẽ khám phá
khúc sông ấy của Đà giang; hay cũng chính là lại một lần nữa nhấn mạnh với
bạn đọc về sự nguy hiểm tột cùng của quãng mặt ghềnh Hát Loóng: Quãng này
mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
Không được phép chủ
quan, thiếu thận trọng khi đi qua nơi ấy, nếu không muốn gặp tai nạn thảm
khốc, có thể cướp đi sinh mạng của những người trên thuyền.
b.3 Ở quãng Tà Mường Vát: Những cái hút nước tàn độc hiện lên qua ngòi bút khắc
họa vô cùng phong phú, đa dạng của nhà văn Nguyễn Tuân

Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La. Trên sông bỗng có những cái hút nước
giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở
và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những
cánh quạ đàn. Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng
chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một
quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực
. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái
giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Nhiều bè gỗ rừng đi
nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Có những thuyền đã bị cái
hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới
lòng sâu đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.”

+ Sử dụng một loạt hình ảnh so sánh độc đáo để làm bật lên sự nguy hiểm giăng
mắc khắp dòng sông từ những cái hút nước:

• Giống như cái giếng bê tông → Tác giả khắc họa cái hút nước như một cái giếng
sâu không thể thấy điểm tận cùng, càng khiến ta dễ cảm thấy lo lắng, sợ hãi
trước những hiểm nguy không báo trước.
7 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
8 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
• Kết hợp với từ “bỗng”, tác giả càng nhấn mạnh vào sự bất ngờ, sửng sốt, không
chuẩn bị trước của người trên thuyền.
• Được ví von với những cái xoáy nước đầy hung bạo, rõ ràng “cái giếng bê tông”
ở đây không phải hình ảnh giếng lãng mạn, nhẹ nhàng trong tuổi thơ hay trong
tình yêu lứa đôi như nhiều câu ca dao, dân ca → Nó giống như hình ảnh của
một cái giếng với phần miệng lớn khổng lồ, có thể hút vào trong không gian vô
tận của nó tất cả những chiếc thuyền nào dám đi qua quãng sông.
• Cách gọi những cái hút nước dường như cũng nhấn mạnh sự nguy hiểm của
nó nằm ở khả năng “hút” hết tất cả các sự vật xung quanh bằng một lực nước
vô cùng mạnh mẽ.
Người ta thả ống bê tông xuống để làm móng cầu thì cần phải thả xuống rất sâu, đào tới tận
bề mặt đất dưới cùng của lòng sông để có thể đặt cho móng cầu thật chắc, vững chãi. Vì thế,
tới đây, ví von của NT dường như gợi ra một cái hút nước vừa sâu hun hút, lại vừa đột ngột
xuất hiện. Chưa kịp hoàn hồn khi vừa phải đi qua vách đá dựng thành thẳng đứng, qua mặt
ghềnh Hát Loongs với đá, sóng và gió xô nhau, ta lại bị con “thủy quái” Sông Đà hăm dọa
cuốn và “nuốt chửng” vào trong miệng xoáy nước.

➔ Tác giả đã vận dụng kiến thức đa lĩnh vực để khắc họa về những cái hút nước
ở Tà Mường Vát.
• Thanh âm của “nước giếng” cũng không hề dễ chịu: “thở kêu như cái cửa
cống cái bị sặc” → tiếng rất to, khó chịu, tạo cảm giác rợn người khi đi qua khúc ấy.
• Kết hợp với phép nhân hóa và những từ ngữ giàu sức gợi hình để khắc họa
chân dung những cái hút nước: lừ lừ, ặc ặc, nghênh ngang, lôi tuột, trồng cây chuối
ngược, vụt biến đi, tan xác, …
→ Dường như những cái hút nước không hề khoan
nhượng với con người, chúng tấn công bằng tất cả sự hung hăng, hiếu chiến
của mình; dồn con người vào đường cùng – vào thế yếu trong một trận chiến
không cân sức cho đến khi con thuyền “tan xác ở khuỷu sông dưới”… Con
thuyền chịu tai nạn thảm khốc thì người ở trên thuyền cũng chung số phận →
quả là một thảm cảnh kinh hoàng nếu như ta dám ngông nghênh thách thức
những cái hút nước tàn độc đó.
+ Thái độ của những chiếc thuyền đi qua quãng Tà Mường Vát:
Đối diện với thái độ tiếp đón chẳng chút niềm nở ấy của những cái hút nước, những
chiếc thuyền dường như cũng không dám nghênh ngang, vênh váo khi qua đây…
• Nhà văn khẳng định “Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước” – một
ý văn rất ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, cho ta thấy được những cái hút nước có
sức tấn công khủng khiếp đến ra sao. (Điều đó không cho thấy họ hèn nhát, né
8 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
9 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
tránh thử thách của thiên nhiên, mà chứng minh được rằng họ phân tích tình
hình kĩ càng để đưa ra chiến thuật phù hợp nhất)
• So sánh kết hợp liên hệ kiến thức thú vị về lái xe ô tô: chiếc thuyền được đối
chiếu, ví von với ô tô đang sang số ấn ga cho nhanh để “lướt” qua quãng sông
được xem như một bờ vực đầy nguy hiểm, thử thách.
 Đi qua khúc sông ấy, vượt qua những hút nước tàn độc đó, đòi hỏi người
lái đò phải có kĩ thuật điều khiển chiếc thuyền đến mức điêu luyện, cực kì
tỉnh táo và dứt khoát trong từng động tác nhỏ nhất để có thể đưa được
thuyền “bay” qua bờ vực ấy. Nếu như người lái xe ô tô có thể tận dụng
được lực từ chiếc xe, thì người lái đò chỉ có thể dựa vào khả năng của chính
bản thân mình cộng hưởng với sức nước lúc đó mà thôi. Con thuyền đâu có
động cơ hay một sự che chắn kiên cố nào đó để bảo vệ cho con người, vì thế
tình huống càng trở nên nguy hiểm.
- Để khắc họa sự khủng khiếp của những cái hút nước, nhà văn còn tạo nên
nhiều điểm nhìn độc đáo, vận dụng kiến thức đa lĩnh vực để khơi dậy những
xúc cảm bên trong bạn đọc:

“Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ
cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền
cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà – từ đáy cái hút nhìn ngược lên
vách
thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền
xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái
mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày,
khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang
xem
. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem
phim kí sự
thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng
bị vứt vào một cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.”

+ Nhà văn đan xen bày tỏ cảm xúc của chính mình để khắc họa trải nghiệm một cách
chân thực, ấn tượng hơn nữa: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến…” → Nhà văn không kể đơn
thuần là “Tôi nghĩ đến…” để vẽ ra viễn cảnh độc đáo trong trí tưởng tượng của ông,
mà còn lồng ghép cả sự sợ hãi như một cách để định hướng cảm xúc của bạn đọc khi bước vào trang văn này.
+ Từ “táo tợn” đã khiến độc giả hình dung được về người quay phim trong câu chuyện
của Nguyễn Tuân: dám thử sức mình với những điều mà chưa ai dám làm, thậm chí
chưa ai dám nghĩ tới, không muốn chỉ sử dụng những góc máy đã quá quen thuộc đến mức nhàm chán.
+ Vận dụng kiến thức quay phim điện ảnh để mở rộng trải nghiệm của bạn đọc – đặt
bạn đọc vào những điểm nhìn cực kì độc đáo để quan sát những cái hút nước.
9 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
10 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
• Ở đoạn trên, ta nhìn cái hút nước từ trên thuyền, thấy nó như cái giếng bê tông
– nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc (giống như góc nhìn của một người trên thuyền)
• Còn giờ đây, ngược lại, nhìn từ dưới lòng sông lên: (góc nhìn của anh bạn
quay phim táo tợn đã dìm cả mình cả máy quay trên chiếc thuyền thúng tròn
vành không vững chãi để có được một thước phim vô giá): thành giếng xây toàn
bằng nước sông xanh ve một áng thuỷ tinh khối đúc dày
lượng nước “cuốn” vào
bên trong xoáy nước lúc này như bị dồn nén lại thành một khối dày, càng
thêm nặng khi ta nhìn ở góc độ từ dưới lên

➔ Ta tưởng tượng như thể khối pha lê xanh ấy sẽ vỡ tan bất cứ lúc nào, đổ ụp
vào người mình, dìm cả thuyền cả mình cả chiếc máy quay của anh bạn quay phim ấy.
Thông qua một anh bạn quay phim táo tợn, cây bút đã đưa bạn đọc bước chân lên chiếc thuyền
thúng tròn vành, cùng anh quay phim – cùng máy quay xuống đáy cái hút sông Đà mà chiêm
ngưỡng trọn vẹn sự khủng khiếp của nó. Dường như, sự tưởng tượng thú vị này của văn
nhân về anh bạn quay phim kia cũng chính là cách Nguyễn Tuân gợi nhắc về hình ảnh
của mình trong sáng tạo nghệ thuật
– một người ưa những gì dữ dội, táo bạo, tuyệt đối;
một người sẵn sàng liều lĩnh để có cho mình những chất liệu mới mẻ đem tới cho độc giả; một
người kiên quyết không đi vào những lối mòn cũ kĩ, dẫu cho phải “táo tợn” đến thế nào.

+ Nhà văn còn đưa ra những góc độ - những vị thế cảm nhận khác nhau để nâng cao
trải nghiệm của bạn đọc:
• Với người quay phim: liều lĩnh khám phá để có được những khung hình khác
biệt, độc đáo đến vô giá → thực sự là một người nghệ sĩ trong lĩnh vực mà anh
đang khao khát theo đuổi (không muốn dừng ở những điểm nhìn đã quá cũ kĩ, quen thuộc)
• Với người xem phim: ta như bị anh bạn quay phim táo tợn kia kéo tuột xuống
chiếc thuyền thúng tròn vành, để rồi bất đắc dĩ bị cuốn sâu vào xoáy nước, càng
lúc càng đối diện với những nguy hiểm khủng khiếp hơn
➔ Trải nghiệm ấy khiến người xem lo lắng đến mức phải “lấy gân ngồi giữ chặt
ghế” – như một phản xạ tự nhiên khi chuẩn bị đối diện với điều gì đó khiến
mình sợ hãi, choáng ngợp, lo lắng.
➔ Thế nhưng, những nỗ lực ấy hóa ra trong hoàn cảnh đó, trong trải nghiệm
tưởng tượng độc đáo đó, chỉ như “ghì lấy mép một chiếc lá rừng” mỏng
manh… Chiếc lá ấy có thể rách tan và nhàu nát bất cứ lúc nào, sau đó bị vứt đi
một cách phũ phàng vào chiếc cốc pha lê nước khổng lồ kia. Chiếc cốc đó chính
là cái xoáy nước kinh hoàng ở quãng Tà Mường Vát, và thiên nhiên Tây Bắc
đang “pha chế” một món nước nào đó bằng chiếc gậy đánh phèn, cứ thế quấy
mạnh liên tục tạo nên những đợt sóng nước cuộn trào, cuối cùng đột ngột rút
10 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
11 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
lên cái gậy đó, để lại cho thuyền, cho ta, cho những chiếc lá rừng mỏng manh
yếu đuối một sức nước tấn công mãnh liệt, toàn bộ khối pha lê như thực sự vỡ tan.
➔ Ta không chỉ “đọc” văn Nguyễn Tuân, mà còn như được “xem” thước phim
độc đáo của nhà biên kịch – đạo diễn – kiêm quay phim tài ba đó. *** HẾT BUỔI 01. BUỔI 02.
Đoạn 3 vòng trùng vi thạch trận mình sẽ phân tích khi phân tích hình tượng người lái đò Sông
Đà (bởi vì nhà văn khắc họa hình tượng dòng sông và con người trong mối quan hệ tương
quan với nhau), vì thế mình để dành cả đoạn: “Cuộc sống của người lái đò Sông Đà quả là
một cuộc chiến đấu hằng ngày với thiên nhiên … Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo.” Sau khi phân
tích xong hết về con sông mình sẽ quay lại học nha.

c. Con sông Đà thơ mộng, trữ tình:
Bằng sự quan sát tài tình và khả năng vận dụng ngôn ngữ độc đáo, nhà văn
Nguyễn Tuân đã ngắm nhìn dòng sông ở nhiều góc độ khác nhau, tạo nên
những lăng kính đa chiều thú vị, giúp người đọc có một điểm nhìn toàn diện về Sông Đà:
- Góc nhìn của nhà văn khi là một nhà quay phim, một đạo diễn:
“Trên Sông Đà, thỉnh thoảng có tàu bay lượn vòng ở quãng này ở quãng khác, có lẽ để
chỉnh lí về bản đồ đất nước Tổ quốc. Tôi nghĩ nếu sau này làm phim truyện hoặc
phim kí sự (tôi không muốn dùng mấy chữ phim tài liệu) màu về Sông Đà, nếu muốn
phản ánh lên cái dữ tợn và cái lớn của Sông Đà của thác Sông Đà, cũng phải đưa ống
quay phim lên tàu bay. Cho bay là là trên thác mà gí máy xuống mà lượn ống máy theo
những luồng sinh của thác, trên thác hiên ngang một người lái đò Sông Đà tự do, vì
người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước Sông Đà.”
+ Chi tiết nhỏ đầu tiên đã cho độc giả thấy rõ về bối cảnh ra đời của tùy bút:
thỉnh thoảng có tàu bay lượn vòng ở quãng này ở quãng khác, có lẽ để chỉnh lí về bản
đồ đất nước Tổ quốc” Tác phẩm ra đời trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã
hội tại miền Bắc với rất nhiều đổi thay, đất nước đang trong quá trình vươn
mình hoàn thiện, “tấm bản đồ” của Tổ quốc cũng đang được thực hiện với một
niềm tự hào sâu sắc từ mỗi người con đất Việt.
+ Nguyễn Tuân hình dung nếu mình làm phim truyện hoặc phim kí sự màu về Đà giang:
11 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
12 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
• Ông thẳng thắn bày tỏ mình không muốn dùng từ “phim tài liệu”, phải
chăng bởi thể loại phim này tôn trọng sự thật khách quan gần như tuyệt
đối nên sẽ vô tình giới hạn sự sáng tạo của người nghệ sĩ? Trong khi phim
truyện thiên về yếu tố hư cấu, tưởng tượng; còn phim kí sự vẫn có thể in
đậm cái “tôi” của người kể chuyện dựa trên chất liệu thực tế.
• “Góc máy” mà “nhà làm phim” Nguyễn Tuân lựa chọn để thu vào ống
kính “cái dữ tợn và cái lớn của Sông Đà của thác Sông Đà” cũng là một
điểm nhìn đầy độc đáo, mới mẻ: ông không dừng ở tầm quan sát là là
mặt đất, mà quyết định “đưa ống quay phim lên tàu bay” để linh hoạt,
chủ động những góc nhìn ở trên cao, thu được toàn cảnh rộng lớn của
thác nước vùng Tây Bắc.
• Trung tâm của bức tranh khoáng đạt ấy, nổi bật trên nền cảnh thiên nhiên
hùng vĩ dữ tợn, điểm thu hút của những khuôn hình – những thước phim
trong lăng kính văn nhân, không phải Đà giang mà chính là người lái đò
Tây Bắc: “trên thác hiên ngang một người lái đò Sông Đà có tự do”… →
Tư thế hiên ngang cộng hưởng với ba chữ “có tự do” đã khẳng định rõ
vị thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời mới của những người lao
động bình dị, lặng thầm.
 Thiên nhiên như trở thành “đòn bẩy” để làm bật lên vẻ đẹp của con
người. Con người dường như không còn bơ vơ, cô độc, bé nhỏ giữa
không gian vũ trụ rộng lớn như trong văn học trung đại.
(đoạn này đề có thể hỏi liên quan đến hình tượng dòng sông – nối vào đoạn trữ tình
phía sau; hoặc hỏi về hình tượng người lao động – nối vào đoạn chiến đấu của người
lao động ở phía trước) ***
- Từ trên cao nhìn xuống:
“Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần…”
+ Sông Đà mang một diện mạo hoàn toàn khác với chân dung của con thủy quái hung tợn:
“Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một
góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình.” → Một lần
nữa, sự say mê mà văn nhân dành cho Sông Đà lại được khẳng định, khi dù ở
bất cứ nơi đâu, chỉ cần có cơ hội được ngắm nhìn Đà giang là ông sẽ chẳng thể
bỏ lỡ. Câu văn dường như cũng thấp thoáng niềm vui, sự mừng rỡ của người
12 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
13 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
nghệ sĩ ấy khi “thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn” về con sông
ông đã đem lòng thương.
➔ Để đem tới một góc nhìn, một cách nhìn trọn vẹn nhất về dòng sông ấy,
văn nhân đã khái quát lại hai nét tính cách nổi bật nhất của sông Đà
với năm chữ ngắn gọn: “hung bạo trữ tình”.
• Hung bạo nhưng trữ tình/hung bạo trữ tình → nhấn mạnh vào sự
tương phản, đối lập giữa hai tính chất của Đà giang; và theo trình tự diễn
đạt sẽ vô tình nhấn mạnh vẻ đẹp thứ hai (“trữ tình”) hơn.
• Chữ “và” khẳng định sự hài hòa, kết nối giữa hai tính chất trái ngược ấy.
Bởi nếu như chỉ “sở hữu” một trong hai, sông Đà đã không khoác lên
mình vẻ đẹp độc đáo, cá tính đến vậy. Cái riêng của dòng sông chính là
được tạo nên từ sự cộng hưởng của cả hai nét tính cách đó. → Văn nhân
nâng niu, quý trọng trọn vẹn những gì thuộc về con sông Tây Bắc.
+ Nhà văn đã mở rộng trải nghiệm cho bạn đọc khi khắc họa một góc nhìn
mà không phải ai cũng có cơ hội được trông thấy: nhìn sông Đà từ trên cao nhìn xuống.
“Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây
thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và đời
đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắcphản ứng giận dỗi
vô tội vạ với người lái đò Sông Đà.
• Ở góc độ này, dường như cả Nguyễn Tuân và tất cả những người trên
tàu bay đều bất ngờ trước diện mạo của dòng sông Tây Bắc
• Cây bút gọi dòng sông là “cái dây thừng ngoằn ngoèo” – hình ảnh thật bình
dị, gần gũi. Từ láy “ngoằn ngoèo” cũng nhấn mạnh để di chuyển trên
quãng sông đó quả thực không phải điều dễ dàng.
• Cách sử dụng từ ngữ của NT vừa cho thấy tính cách khó chiều của Đà
giang, nhưng phần nào cũng lại bộc lộ tình yêu và sự trìu mến của người
cầm bút khi viết về con sông đó.
“làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc…”
“phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà”
➔ Rõ ràng, dòng sông ấy vô cùng hung bạo dữ dội, nó thậm chí khoác lên
mình diện mạo của thủy quái vùng Tây Bắc sẵn sàng đòi “ăn chết” người
lái đò và con thuyền bé nhỏ; ấy vậy mà trong lăng kính nâng niu, yêu
chiều của văn nhân, cơn thịnh nộ của thiên nhiên lại trở nên mềm mại
13 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
14 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
biết mấy. Nhà văn cho rằng nó chỉ đang “làm mình làm mẩy” và “giận
dỗi” với con người mà thôi.
• Đâu chỉ xuất hiện trong cuộc sống đời thường của giai đoạn mới, dòng
sông ấy còn là con sông của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy
Tinh, tượng trưng cho cơn giận dữ của Thủy Tinh – năm nào cũng “báo
oán”, “đánh ghen”, tấn công con người. → Thế nhưng, hóa ra, bên cạnh
sự hung bạo ấy, dòng sông Tây Bắc cũng có thể khoác lên mình một
màu sắc thật dịu ngọt, êm đềm, nhẹ nhàng biết mấy.
• Bên cạnh ngòi bút miêu tả tỉ mỉ, có tính tạo hình cao, khơi gợi trí tưởng
tượng của độc giả; nhà văn còn đan xen trong tùy bút của mình những
câu văn bộc lộ cảm xúc với dòng sông mà ông đem lòng tương tư. Ông
tin rằng: “Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi
trên tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy
quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới
chân mình.” → Dường như, ngòi bút của NT cũng mềm mại hóa theo sự
nữ tính, duyên dáng của dòng chảy với những câu văn dài, nhịp điệu
chậm rãi, êm ả. Ông khẳng định mình là một người “đã quen đọc bản đồ
sông núi”, yêu mến và trân trọng từng điều nhỏ nhất trên mảnh đất quê
hương, ông tự hào kiêu hãnh khi thu vào đôi mắt mình hình ảnh bao la
của Tổ quốc, ông say mê một cách tỉ mỉ vẻ đẹp của vùng Tây Bắc đến
mức “quen thuộc với từng nét sông tãi ra”… Và ở trên tàu bay, với điểm
nhìn cao và rộng ấy, ông còn có được một “góc máy” đầy lãng mạn khi
ngắm nhìn sông núi xuyên qua những làn mây mỏng manh, để cảm nhận
được “đại dương đá lờ lờ bóng mây” ngay dưới chân mình, một hình
ảnh phiêu du, bồng bềnh.
+ Lúc này đây, dòng sông Tây Bắc hiện lên với vẻ dịu dàng, duyên dáng của
một người thiếu nữ…
Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói
núi Mèo đốt nương xuân.”
• Nhà văn sử dụng phép điệp với hai từ “tuôn dài” được lặp lại liên tiếp
→ khắc họa vẻ đẹp miên man của “suối tóc” Đà giang
• Kết hợp với so sánh tinh tế và không kém phần độc đáo: “như một áng tóc trữ tình”
14 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
15 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
+) Cách ví von này gợi nhắc đến hình ảnh của một người thiếu nữ → bởi lẽ mái
tóc dài thường là biểu tượng cho sự nữ tính, uyển chuyển của những cô gái
+) Tuy nhiên, nhà văn không viết như cách thông thường là “mái tóc”, mà lại
dùng chữ “áng” – gợi nhắc đến “áng văn”, “áng thơ” → Phải chăng bởi trong
đôi mắt “kẻ si tình”, Đà giang cũng là một nàng thơ dịu dàng, nhẹ nhàng, mang
theo bao nét đẹp của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc…
+) Đó không phải một áng tóc bình thường, mà là một “áng tóc trữ tình” →
Phải chăng, rất nhiều cây bút đã kí gửi những nỗi niềm vào “áng tóc” ấy? Đà
giang đẹp thơ mộng như khơi gợi bao cảm hứng sáng tác dạt dào tuôn trào nơi
tâm hồn những người nghệ sĩ, quyến luyến không rời ngòi bút của những văn
nhân khi có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp này.
+) Trong tác phẩm “Cô Tô", đứng trước một cơn bão lớn đang đổ ập về vùng biển,
Nguyễn Tuân đã nhìn cái sự hâm hấp, oi bức, khó chịu, đùng đục, nồng nồng của Cô
Tô tới hình ảnh của một người con gái: "Chân trời đàng đông, mây xám buông thõng
buông song, như một thần nữ đang bực mình quạt phanh phách hong tóc trên thau
nước gội bồ kết đục ngầu". Có thể thấy, dù đặt bút miêu tả về sự vật thiên nhiên, nhưng
ông luôn đưa về với những liên tưởng gắn liền với chân dung con người – đặc biệt là
những người thiếu nữ với vẻ đẹp đầy sinh động, thu hút của họ.
• Nhà văn dùng từ “ẩn hiện”: một vẻ đẹp vừa hư vừa thực, phải chăng bởi
được nhìn qua lăng kính thấp thoáng những bóng mây?
• “Áng tóc trữ tình” ấy như được cài thêm sắc trắng tinh khôi thuần khiết
của hoa ban, lại được điểm xuyết màu đỏ rực rỡ của hoa gạo, quyện hòa
trong hương thơm đậm chất núi rừng: “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xuân”. → Dường như, áng tóc tuôn dài ấy đã trở thành một nét
đẹp đặc trưng trong khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc, là điểm nhấn ngọt
ngào cho bức họa mà văn nhân đã vẽ nên… Mùa xuân vùng rẻo cao sẽ
chẳng thể ngọt ngào và tươi mới đến thế nếu thiếu đi dòng sông Đà thơ
mộng, uyển chuyển, trữ tình.
- Nhà văn nhận thấy màu nước sông Đà biến đổi theo mùa – nhận ra
những sắc màu của dòng sông ấy, tuyệt nhiên không như người Pháp mô tả:
Để khắc họa về trải nghiệm và sự quan sát của mình với dòng sông, nhà văn đã
kết hợp giữa kể và tả, lồng ghép cảm xúc của bản thân để khắc họa dòng nước
15 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
16 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
mùa xuân và mùa thu: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà,
tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà.”
Cái nhìn mà Nguyễn Tuân trao cho Đà giang là ánh mắt say sưa của một “kẻ si
tình”, là sự lãng mạn hóa mọi góc nhìn của mình về dòng chảy mà cây bút đem
lòng yêu. Phải khao khát khám phá mạnh mẽ, phải tương tư dòng sông ấy đến
thiết tha thế nào, ta mới có thể ngắm nhìn nó chăm chú, mê say; ta mới có thể
viết nó một cách tình tứ đến vậy?
+ Mùa xuân: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu
xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô.”
• Màu xanh ngọc bích là sự hòa quyện giữa màu lục và lam, là sự soi chiếu
giữa mặt nước bao la và bầu trời rộng lớn, lại là sắc màu gắn liền với một loại ngọc quý
• Cảm nhận cá nhân của bạn khi hình dung, tưởng tượng đến sắc xanh
ngọc bích trong trẻo, diễm lệ ấy? (Là sắc xanh giúp ta tìm thấy sự bình yên
trong tâm hồn, như dịu dàng chữa lành những tổn thương nơi trái tim; là sắc
xanh thiên về vẻ cổ điển trầm lắng như đưa ta về những tháng ngày cũ; hay là
sắc xanh đầy mới mẻ, sôi nổi, mang tinh thần hiện đại của giai đoạn xây dựng
đất nước thời kì mới…?)
➔ Sắc xanh ngọc bích được khắc họa thật mộc mạc nhưng vô cùng quý phái,
diễm lệ qua góc nhìn của nhà văn Nguyễn Tuân.
• Nhà văn còn khẳng định sắc xanh ấy khác hoàn toàn màu xanh canh hến
dân dã, mộc mạc, bình dị của sông Gâm, sông Lô. → Trong lăng kính của
Nguyễn Tuân, rõ ràng sắc xanh mùa xuân của Đà giang sẽ là màu xanh
đẹp nhất, ấn tượng nhất, in sâu trong tâm trí nhất.
Trong bài kí “Cô Tô”, văn nhân cũng từng dụng công để khắc họa sắc xanh của
màu nước biển cũng với chất văn giàu sức liên tưởng: "Biển xanh như gì nhỉ?
Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm
làng Vòng. Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó
xanh như màu áo Kim Trọng trong tiết thanh minh…" Chỉ một màu xanh thôi,
nhà văn sử dụng một loạt các so sánh, ví von, vừa bình dị gần gũi, lại vừa có
liên tưởng đến các tác phẩm nghệ thuật – qua đó, cũng mở rộng trí tưởng tượng
cùng cảm giác của bạn đọc đến mức tối đa. Quả thật, để bước chân vào những
trang văn của Nguyễn Tuân, độc giả phải sẵn sàng mở tung cánh cửa tưởng
16 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
17 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
tượng, không nên chỉ cảm nhận theo bề nổi của ngôn từ hoặc tự giới hạn mình
bởi chính những hình dung hạn hẹp của mình. + Mùa thu:
“Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa,
lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì đó mỗi độ thu về.”
• Nhà văn sử dụng từ láy kết hợp với phép điệp, từ “lừ lừ” được lặp lại tới
hai lần trong một câu văn ngắn để nhấn mạnh tâm trạng của SĐ khi mùa
thu chạm vào mặt nước. Từ “lừ lừ” ở đây khắc họa hình ảnh một người
lặng lẽ, chậm rãi, có cái nhìn dường như hơi bực bội.
• Tác giả so sánh mặt nước sông với biểu cảm trên khuôn mặt con người,
với trạng thái tâm lý của con người đầy sinh động
+) Khiến cho hình ảnh SĐ trở nên gần gũi hơn, bình dị hơn, có hồn hơn. Giống
như một con người mang theo cảm xúc đa dạng, Đà giang cũng có nhiều biểu cảm phong phú như thế.
+) Màu nước lừ lừ bực bội phải chăng vì mùa thu đẹp mà trôi qua nhanh quá,
mang theo bao nỗi niềm dở dang, bao xúc cảm còn bỏ ngỏ nay tuột khỏi tầm
tay một cách quá đỗi vội vàng…
+) Gợi nhắc tới mùa thu khi thực dân Pháp xâm lược đất nước, ta buộc phải
đón những vị khách không mời mà tới → dòng sông cũng bày tỏ thái độ không
niềm nở tiếp đón của mình với những kẻ có ý định xâm lược quê hương.
→ Nguyễn Tuân bày tỏ quan điểm đầy mạnh mẽ, dứt khoát:
Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con

sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào
bản đồ lai chữ.”
• “Chưa hề bao giờ” → lời khẳng định của một người nghệ sĩ tương tư Đà
giang, đã tìm hiểu và khám phá kĩ càng về dòng sông đến mức chắc chắn
không thể bỏ lỡ một giây phút nào, một sắc màu nào của con sông Tây Bắc.
• Câu văn thể hiện rõ thái độ quả quyết và có phần khinh thường, châm
biếm của nhà văn NT với thực dân Pháp: “đè ngửa con sông ta ra mà đổ
mực Tây vào”, “cái tên láo lếu”, “bản đồ lai chữ”.
• Nhà văn gọi sông Đà là “con sông ta” một cách bình dị, tha thiết nhưng
đầy quyết liệt, mạnh mẽ; khẳng định đó là con sông của người Việt Nam,
là dòng chảy của ta chứ không “phục vụ” cho bất cứ một âm mưu xâm
17 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
18 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
lược nào. Thực dân Pháp đâu có quyền gì mà đặt tên lại cho một dòng
sông, mà “nhuộm đen” cả sắc xanh sắc hồng đỏ của dòng chảy Tây Bắc
bằng thứ mực Tây của mình? → Tinh thần dân tộc sâu sắc đã được thể
hiện một cách dứt khoát qua nỗ lực bảo vệ dòng sông như gìn giữ một
nét đẹp văn hóa đáng tự hào.
- Sông Đà gợi cảm như một cố nhân:
+ Dòng sông gợi cảm trong mắt kẻ “si tình”:
Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi
nhìn Sông Đà như một cố nhân.
**gợi cảm: nhấn mạnh vẻ đẹp thu hút, quyến rũ, khơi gợi nhiều xúc cảm của dòng sông.
**cố nhân: người quen cũ, là một người đặc biệt trên hành trình đã qua mà ta
luôn nâng niu, quý trọng.
• Nhà văn ưu ái dùng một tính từ thật diễm lệ để nói về dòng sông, đó là
“gợi cảm” → Đặc biệt hơn nữa, vẻ đẹp ấy thậm chí có sự thay đổi khi
dòng sông “gặp gỡ” từng người, như NT nhận định: Đối với mỗi người,
Sông Đà lại gợi một cách.
→ Dường như, NT tin rằng, SĐ giống như một cô gái không chỉ có diện mạo
yêu kiều, mà còn có nét duyên dáng trong cách ứng xử, giao tiếp… Nàng
thơ xinh đẹp của núi rừng Tây Bắc biết chủ động « gợi một cách » riêng khi
gặp gỡ từng người, trong từng hoàn cảnh nhất định. Hay cũng bởi vẻ đẹp
của sông Đà quá phong phú, đa dạng, nên nàng có thể thu hút bất cứ ai ?
• Với nhà văn NT, ông coi dòng sông TB như một “cố nhân” của cuộc đời
mình. Cách gọi «cố nhân» thật đặc biệt, ta đâu thể dùng từ ấy chỉ cho một
người quen cũ đã nán lại một khoảng nhỏ trong quá khứ mênh mông?
Phải từng rất gần gũi, gắn bó, thậm chí phải từng coi nhau là tri âm tri kỉ,
người ấy phải quan trọng với ta vô cùng ta mới nâng niu mà gọi họ hai chữ «cố nhân»…
• Bên cạnh các yếu tố như miêu tả, biểu cảm; nhà văn Nguyễn Tuân còn
lồng ghép cả tính chất tự sự vào trang viết của mình một cách đầy tự
nhiên để giãi bày trải nghiệm với bạn đọc, đưa bạn đọc bước chân vào kỉ
niệm riêng tư của ông với Đà giang. Đó là một cuộc tái ngộ thật bình dị
mà đáng nhớ: “Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ
thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà.”
18 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
19 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
➔ Cảm giác của văn nhân lúc đó là “thấy thèm chỗ thoáng” nghĩa là mong
mỏi một không gian khoáng đạt, rộng lớn cộng hưởng với việc ông quên
bẵng đi là sắp đổ ra dòng sông ấy sẽ càng khiến cho cảm xúc như ngỡ
ngàng, say đắm, vỡ òa trong giây phút tái ngộ.
• Nhà văn so sánh thật bình dị về trải nghiệm lúc ấy, như cảm giác một
đứa trẻ nghịch gương chiếu sáng vào mắt mình rồi bỏ chạy. → Nhà văn
viết về xúc cảm của mình thật đơn giản, mộc mạc. Câu văn không khắc
họa âm thanh mà sao ta có cảm giác nghe thấy tiếng trẻ con cười khúc
khích, hồn nhiên trong trò đùa dí dỏm? Hay phải chăng bởi được gặp lại
Đà giang, được thu vào trong ánh mắt đắm say cái vệt nắng phản chiếu
trên mặt nước, khiến cho tâm hồn nhà văn cũng như trong trẻo, thuần khiết trở lại?
• Văn nhân đã liên tưởng màu nắng Sông Đà khi ấy với nắng tháng ba
trong thơ Đường, qua đó nhấn mạnh vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng, nhuốm
màu thời gian của dòng sông cũng đẹp như những câu thơ xưa cũ vậy.
Ý thơ của Lí Bạch cũng không chỉ dừng lại ở miêu tả, mà còn có tính tự sự - kể
chuyện, lồng ghép với những xúc cảm của người cầm bút khi tiễn bạn lên đường:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”
(Bạn cũ đi khỏi lầu Hoàng Hạc ở phía tây, xuôi xuống Dương Châu giữa tháng ba đang
mùa hoa khói). Nếu xét theo nghĩa thông thường của bản dịch, nhiều độc giả có thể chỉ
cảm nhận hai câu thơ như những câu thơ trần thuật, miêu tả đơn thuần với những
thông tin cụ thể đã được xác định rõ ràng: Nơi chia tay là lầu Hoàng Hạc; thời gian là
vào một ngày tháng ba; điểm đến của Mạnh Hạo Nhiên là Dương Châu. Nhưng khi ta
đọc kĩ, khi ta đặt mình vào buổi chia ly ấy, khi ta thấm thía hơn hai chữ “cố nhân”, ta
sẽ cảm nhận được cả một nỗi buồn sâu kín của người cầm bút khi tiễn đưa bạn lên
đường. “Cố nhân” đâu chỉ là từ để dùng gọi một người bạn thông thường, đó hẳn phải
là một người vô cùng đặc biệt, gắn bó sâu sắc thì người viết mới ưu ái gọi họ là “cố
nhân”. Riêng hai chữ ấy thôi đã buồn biết mấy… Để thấy rằng, giữa Nguyễn Tuân với
Đà giang cũng là một tình cảm đong đầy, nâng niu, tha thiết đến như vậy.
+ Niềm vui khi gặp lại “cố nhân”:
“Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con
sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt
quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như
19 | # h o c v a n c o s u o n g m a i
20 | H Ọ C V Ă N C Ô S Ư Ơ N G M A I
gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc
dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.”
• Ở câu văn đầu, nhà văn sử dụng phép liệt kê với hình thức câu đặc biệt,
qua đó trải dài trước mắt bạn đọc những sự vật thiên nhiên phong phú,
đa dạng, tràn đầy sức sống quanh dòng sông ấy: đó là bờ, là bãi, là chuồn
chuồn bươm bướm trên sông.
➔ Nhịp điệu chậm rãi, nhẹ nhàng, trìu mến: Văn nhân dường như muốn
nâng niu từng sự vật trong bức tranh về Đà giang, tất cả đều được thu
vào trong ánh mắt và trái tim của người cầm bút với hết thảy những lưu
luyến trong giây phút bất ngờ được gặp lại.
• Để rồi sau đó, dòng chảy cảm xúc miên man tuôn trào nơi đầu ngọn bút,
bộc lộ niềm vui vỡ òa của cả người cầm bút và có lẽ của cả dòng sông
ấy trong giây phút tái ngộ tri kỉ của mình: Chao ôi, trông con sông, vui như
thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.
+) Thán từ “Chao ôi” bộc lộ cảm xúc trực tiếp → tình cảm của văn nhân thiết
tha, dạt dào, chẳng thể kìm nén…
+) Nhà văn sử dụng 2 so sánh khắc họa một cách tinh tế nhưng không kém
phần độc đáo, duyên dáng cảm xúc của người nghệ sĩ khi gặp lại con sông của mình:
vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm
➔ Cảm giác hạnh phúc thăng hoa khi sự chờ đợi bấy lâu cuối cùng cũng
được hồi đáp. Sau chuỗi ngày mưa dầm dề, dai dẳng, cuối cùng ánh nắng
cũng xuất hiện hong khô và sưởi ấm mọi thứ… Hai chữ “giòn tan” như
một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhấn mạnh tính chất của ánh nắng, khiến
cho tia nắng cũng như được “hữu hình”, có thể cầm lấy mà nâng niu, cất giữ…
vui như nối lại chiêm bao đứt quãng
➔ Chiêm bao là những giấc mơ, có thể là những mộng ước chưa thành sự
thật đã vội vã khép lại dang dở, “đứt quãng”. Vì thế, cảm xúc vỡ òa ở
đây giống như niềm hạnh phúc khi ta được viết tiếp một câu chuyện
tưởng chừng đã định rõ hồi kết.
 Có lẽ, trong lăng kính và tâm trí của văn nhân, dòng sông ấy chính là
ánh nắng giòn tan xua đi những mây mù tăm tối và những cơn mưa
20 | # h o c v a n c o s u o n g m a i