Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề tài
Phân tích những luận điểm cơ bản
của Hồ Chí Minh về cách mạng giải
phóng dân tộc. Trong những luận điểm
đó, luận điểm nào là luận điểm độc
đáo, sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh? Vì sao? Nhóm thực hiện: 1
Lớp học phần: 2296HCMI0111
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt Hà Nội, 10 - 2022
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM VÀ ĐÁNH GIÁ STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá Duyệt nội dung Hoàn thành xuất sắc 1 Hoàng Thị Lan Anh Tổng hợp word
Tích cực đóng góp ý kiến Lê Phạm Ngọc Anh
Viết mở đầu, kết luận Hoàn thành tốt 2 (nhóm trưởng) Tổng hợp word
Tích cực đóng góp ý kiến 3 Lưu Trần Vân Anh Tìm thông tin phần 4 Hoàn thành tốt 4 Nguyễn Ngọc Anh Làm slide Hoàn thành tốt Tìm thông tin phần 3, 5 5 Nguyễn Phương Anh Hoàn thành tốt Tìm câu hỏi phản biện 6 Nguyễn Thị Ngọc Anh Làm slide Hoàn thành tốt Tìm thông tin phần 4
Hoàn thành nhưng cần sửa 7 Phạm Ngọc Anh Tìm câu hỏi phản biện nhiều, còn chậm deadline Tìm thông tin phần 1, 2 8 Phạm Trần Châu Anh Hoàn thành tốt Tìm câu hỏi phản biện Thuyết trình, phản biện Hoàn thành tốt 9 Vũ Thị Anh Tìm câu hỏi phản biện
Tích cực đóng góp ý kiến Thuyết trình, phản biện Hoàn thành tốt 10 Lê Ngọc Ánh Tìm câu hỏi phản biện
Tích cực đóng góp ý kiến 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 4 tháng 9 năm 2022 BIÊN BẢN HỌP NHÓM 1 Buổi 1 I. Thời gian, địa điểm
Thời gian: 21h ngày 4 tháng 9 năm 2022.
Địa điểm: họp online qua google meet. II. Thành phần tham gia
Chủ trì: Lê Phạm Ngọc Anh. Tổng số thành viên: 10. Số người tham gia: đủ. III. Nội dung cuộc họp Thống nhất đề cương. IV .Đánh giá chung
Các thành viên tham gia họp nghiêm túc, tích cực đóng góp ý kiến để làm đề cương hoàn chỉnh.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 23h cùng ngày.
Hà Nội, ngày 4 tháng 9 năm 2022 Nhóm trưởng Anh Lê Phạm Ngọc Anh 3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 8 tháng 9 năm 2022 BIÊN BẢN HỌP NHÓM 1 Buổi 2 I. Thời gian, địa điểm
Thời gian: 21h ngày 8 tháng 9 năm 2022.
Địa điểm: họp online qua google meet. II. Thành phần tham gia
Chủ trì: Lê Phạm Ngọc Anh. Tổng số thành viên: 10. Số người tham gia: đủ. III. Nội dung cuộc họp
Phân chia công việc cụ thể cho từng thành viên.
Giao lại thời hạn nộp bài cho các thành viên. IV . Đánh giá chung
Các thành viên tham gia họp nghiêm túc, tích cực đóng góp ý kiến để hoàn chỉnh nội dung bài thảo luận.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 23h cùng ngày.
Hà Nội, ngày 8 tháng 9 năm 2022 Nhóm trưởng Anh Lê Phạm Ngọc Anh 4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2022 BIÊN BẢN HỌP NHÓM 1 Buổi 3 I. Thời gian, địa điểm
Thời gian: 21h ngày 2 tháng 10 năm 2022.
Địa điểm: họp online qua google meet. II. Thành phần tham gia
Chủ trì: Lê Phạm Ngọc Anh. Tổng số thành viên: 10. Số người tham gia: đủ. III. Nội dung cuộc họp
Nhận xét, góp ý bài của từng thành viên.
Thống nhất lại cách làm việc của các thành viên.
Giao lại thời hạn nộp bài cho các thành viên. IV . Đánh giá chung
Các thành viên tham gia họp nghiêm túc, tích cực đóng góp ý kiến để hoàn chỉnh
sản phẩm báo cáo thảo luận cuối cùng.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 23h cùng ngày.
Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2022 Nhóm trưởng Anh Lê Phạm Ngọc Anh 5 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 7 NỘI DUNG 9
1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản 9
2. Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi
phải do Đảng cộng sản lãnh đạo 14
3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân
tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng 15
4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc 20
5. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng 27 KẾT LUẬN 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 6 LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là ngọn đèn soi
đường chỉ lối cho cách mạng nước ta giành được thắng lợi, đưa nhân dân thoát khỏi ách nô lệ đầy đau
khổ. Suốt cuộc đời, Người mang trong mình sứ mệnh giải phóng cho những
dân tộc thuộc địa bị áp bức. Không ngừng trau dồi, học hỏi cùng tầm nhìn xa trông rộng,
sáng tạo và bản lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một kho tàng tri thức vô cùng
đồ sộ và cả hệ thống tư tưởng có
ý nghĩa to lớn với cách mạng - Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin và điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hóa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và
quý giá của Đảng và dân tộc ta. Là người suốt đời đấu tranh cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng thế giới nên trong hệ
thống tư tưởng của Người, cách mạng giải phóng dân tộc là nội dung quan trọng nhất và
có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là với cách mạng ở Việt Nam.
Nhận biết được tầm quan trọng của nội dung trên, nhóm 1 chúng em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “Phân tích những luận điểm cơ bản
của Hồ Chí Minh về cách mạng
giải phóng dân tộc. Trong những luận điểm
đó, luận điểm nào là luận điểm độc đáo,
sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh? Vì sao?” để làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của
tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và cách mạng giải phóng dân tộc nói riêng. Cuối cùng, nhóm
1 xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Ngô Thị Minh Nguyệt đã
quan tâm, hướng dẫn chúng em trong từng buổi học và trao đổi về đề tài trên. Những
buổi học của cô đã giúp chúng em tích lũy được nhiều kiến thức về Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Tư tưởng của Người, cũng nhờ
đó mà chúng em có thể hoàn thành bài thảo luận
một cách tốt nhất. Mặc dù đã cố gắng hết
sức trong quá trình thực hiện đề tài, song không 7
thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế,
do vậy chúng em rất mong nhận được những lời
góp ý, nhận xét từ cô và các bạn để bài thảo luận được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 8 NỘI DUNG
1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Yêu nước, kiên quyết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền độc lập là truyền thống
quý báu của dân tộc Việt Nam. Chính vì thế nên khi thực dân Pháp tiến hành xâm
lược và đặt ách thống trị, nhân dân ta đã sớm nhận thức và hành
động đáp trả lại. Hàng loạt những
phong trào đấu tranh yêu nước theo con đường phong kiến đã nổ ra. Cụ thể, lịch sử phong trào chống
Pháp từ những năm đầu thế
kỷ XX trở về trước gắn liền với các
phong trào yêu nước diễn ra khắp Bắc – Trung - Nam như
phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Bãi
Sậy (Mỹ Hào - Hưng Yên), khởi nghĩa Ba
Đình, khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh).
Đi theo con đường đấu tranh
phong kiến còn có cuộc khởi nghĩa Yên Thế - khởi nghĩa của những người nông dân áo vải
do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài hơn 30
năm. Nhưng mà tất cả các cuộc khởi nghĩa này đều bị thực dân Pháp nhấn chìm trong
biển máu. Các phong trào kể trên đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, song tất cả
đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại, thể hiện được
khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo
và đường lối cách mạng. Dưới ách cai trị của chế độ phong kiến suy tàn, khi Pháp vào
xâm lược thì vua quan chống trả nhưng
không chiến đấu đến cùng, cuối cùng đầu hàng. Bên cạnh
đó, lực lượng tham gia vào các cuộc khởi nghĩa này rất là nhỏ bé, các phong
trào kháng chiến lẻ tẻ, diễn ra ở địa phương nào thì chỉ thu hút được một bộ phận nông dân ở địa phương đó hoặc những
vùng lân cận; lực lượng lãnh đạo chủ yếu là những văn thân, sĩ
phu yêu nước, những người được đào tạo trong chế độ nho giáo ra làm quan. Phương tiện,
vũ khí đấu tranh là gươm giáo, gậy gộc, chứ không phải súng ống, đạn
dược. Phương pháp lãnh đạo thì bị
động, chủ yếu là xây hào đắp lũy .Biết được những điều ấy ,thực dân Pháp đã chủ
động đem quân sang đánh trong khi chúng ta trong tâm thế bị
động, vì thế mà các cuộc khởi nghĩa đều thất bại, để lại bài học sâu sắc cho cách mạng
Việt nam: Phải có đường lối cách mạng
đúng đắn và phải dựa vào lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân. 9 Khi con đường
phong kiến thất bại thì chúng ta chuyển sang một con đường đấu tranh mới là theo
khuynh hướng dân chủ tư sản. Tiêu biểu cho con đường đấu tranh này
là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, phong trào Đông
Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Khuyến, nhưng cuối cùng đều thất bại. Chủ tịch Hồ Chí Minh
dù khâm phục các bậc tiền bối nhưng
không tán thành con đường
cứu nước của các cụ, bởi vì cứu nước như
Phan Bội Châu dựa vào Nhật Bản để đánh
Pháp thì khác gì "đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau",
Phan Châu Trinh tin vào lời nói khai hóa văn minh của
Pháp thì chẳng khác gì "cúi xin giặc Pháp rủ lòng thương" ... Lực lượng tham gia vào
khuynh hướng dân chủ tư sản chủ yếu là trí thức, lực lượng nhỏ bé
trong xã hội. Cuối cùng các phong trào đều thất bại. Ngày 5/6/191
1, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường
cứu nước. Người đã lựa chọn con đường mới - con đường của riêng mình - con đường
đến với phương Tây mà cụ thể là nước
Pháp, như người đã từng nói: “Tôi muốn đi ra
nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng
bào chúng ta”. Đó chính là bước ngoặt, một sự lựa chọn lịch sử có ý
nghĩa quan trọng nhất trong quá trình tìm đường cứu nước của chàng trai trẻ Nguyễn Tất
Thành. Để lý giải cho việc lựa chọn
Pháp là điểm đến đầu tiên của con đường cứu nước của mình thì vào năm
1923, tại Mát-xcơ-va, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí
“Ngọn lửa nhỏ”, Người đã nói trả lời rằng: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được
nghe những từ ngữ tiếng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”.
Đối với chúng tôi lúc ấy,
mọi người da trắng được coi là người Pháp – thế là tôi muốn làm quen với văn minh
Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Trong vòng mười năm, từ năm 191 1 đến năm
1920, Hồ Chí Minh đã tận
dụng mọi cơ hội để có thể đến được nhiều
nơi trên thế giới, từ các nước tư bản phát triển đến các nước thuộc địa, quan sát kỹ cuộc
sống của người dân ở các nước ấy và rút ra kết luận: Ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác,
vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và người lao
động cũng bị áp bức, bóc lột dã man.
Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở
đâu cũng là bạn. Mà theo Người kết luận thì “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ 10
có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột; mà cũng chỉ có một
tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” .Nghiên cứu cuộc cách mạng Mỹ năm 1776 và cuộc cách mạng Pháp năm
1789, Người khẳng định: Nhân dân Việt Nam không
thể đi theo con đường cách mạng Mỹ cũng như cách mạng
Pháp hay nói cách khác cách mạng Việt Nam
không thể đi theo con đường cách mạng tư sản vì:“Cách mệnh Pháp
cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư
bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng
hòa và dân chủ, kỳ thực tr ong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp
hẵng còn phải mưu cách mệnh lần
nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”. Năm
1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ
Chí Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải
phóng dân tộc. Cách mạng
Tháng Mười Nga (1917) là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra và giành
thắng lợi rung chuyển thế giới. Thực tiễn thành công của cách mạng Tháng Mười Nga đã
cho thấy tính ưu việt của chế
độ mới theo lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười được hiện thực hóa: xóa
bỏ tận gốc ách bóc lột người lao động, thực hiện quyền bình đẳng nam
nữ, thực hiện giáo dục, chữa bệnh
không phải trả tiền, người già cô đơn được chăm sóc,
nuôi dưỡng. Đồng thời, Cách mạng Tháng Mười Nga còn mở ra thời đại mới - thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cách mạng
vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và
ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười
Nga đã ảnh hưởng sâu sắc đến những quyết định quan trọng đối với cuộc đời và hoạt
động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc. Người cho rằng: “Tr ong thế giới bây giờ
chỉ có cách mệnh Nga là
đã thành công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình
đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như
đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư
bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập
đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản tr
ong thế giới…Nói tóm lại
là phải theo chủ nghĩa Mã Tư Khắc và Lênin” .Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhận định: “Giống như
mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức 11 tỉnh hàng triệu người bị
áp bức, bóc lột trên trái đất. Tr
ong lịch sử loài người từ trước tới nay chưa có
một cuộc cách mạng có ý nghĩa sâu xa như vậy” .Người nhận thấy trước hết
đây là cuộc dân tộc cách mạng, không chỉ giải
phóng giai cấp mà còn giải phóng dân tộc.
Như vậy ,Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã đem lại sự giúp đỡ có tính quyết định
cho các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Năm 1920, Khi Nguyễn
Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin (Luận cương của Lênin) công bố trên Báo Nhân đạo (L ’Humanité)
Pháp (7/1920), Người đã lập tức bị cuốn hút vì tính chất
cách mạng triệt để của nó, vì
nó đã giải đáp thỏa đáng những điều mà bấy lâu nay Người
hằng mong ước, đợi chờ. Đây là văn bản chính thức đầu tiên bênh vực cho các nước
thuộc địa, các dân tộc “nhược tiểu”. Những tư tưởng cơ bản trong Luận cương có nhiều điểm
phù hợp với tư tưởng của Nguyễn
Ái Quốc, đặc biệt là sự đau xót trước nỗi thống khổ của quần chúng lao
động khắp thế giới và sự quan tâm đến vấn đề giải phóng các dân
tộc thuộc địa cũng như tinh thần đoàn kết của quần chúng lao
động trong đấu tranh. Hơn
thế, Luận cương của Lênin đã giải đáp cho Người những băn khoăn, trăn trở về bạn - thù;
về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và con đường đấu tranh giành độc lập
cho dân tộc; đã trả lời các câu hỏi mà bấy lâu Người thắc mắc:
Ai là người lãnh đạo cách
mạng, ai tham gia lực lượng cách mạng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.
Luận cương của Lênin giúp Người tìm thấy phương hướng và phương pháp cách
mạng để đấu tranh giải
phóng dân tộc, nhận rõ kẻ thù của dân tộc Việt Nam. Qua đó, Người phát hiện ra
động lực to lớn của cách mạng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc với khối đoàn kết,
nòng cốt là liên minh công -
nông - trí, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Người khẳng định: Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con
đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, phải có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ
đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó là con đường gắn độc
lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại. Luận 12
cương của Lênin thực sự đem lại cho Người ánh sáng mới đầy hy
vọng và sự tin tưởng về
một tương lai tươi sáng đối với dân ta.
Sau này ,khi kể lại cảm xúc lần đầu được đọc bản
luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã nói: “Luận cương của Lênin
làm cho tôi rất cảm động,
phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình tr
ong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày
đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó, tôi
hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế ba”.
Như vậy ,chính Luận cương của Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong
sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ
nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ
người yêu nước trở thành người cộng sản và nhất quyết đi theo con đường cách mạng vô
sản để giành độc lập, tự
do, hạnh phúc cho dân tộc, cho nhân dân Nam. Cũng chính từ
đây mà Người đã dần dần thực hiện con đường cứu nước của mình theo hướng cách
mạng vô sản thế giới, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Bước đầu chính là sự
kiện tại Đại hội lần thứ
18 của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã quyết định
bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Người
chính thức trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Trong quá trình vận
dụng lý luận cách mạng
vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin
vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có những vận
dụng một cách sáng tạo dựa theo điều kiện
cách mạng Việt Nam. Trước hết, khác với quan niệm của Lê nin về con đường cách mạng
vô sản ở phương Tây là đi từ giải phóng giai cấp - giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội
- giải phóng con người; thì Hồ Chí Minh đã căn cứ mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn
dân tộc nên con đường cách mạng
vô sản ở Việt Nam phải đi từ giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải phóng giai cấp - giải
phóng con người. Quan điểm mới, sáng tạo của
Hồ Chí Minh chính là: giải
phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, trong đó giải
phóng dân tộc là trước hết, là tiền đề để giải phóng giai cấp. 13 Bên cạnh
đó, ta còn thấy được sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở
việc Người đề cao việc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì độc lập dân tộc là để giải
phóng dân tộc, nhưng nếu giải phóng dân tộc mà không giải phóng giai cấp thì nhân dân lao động vẫn
khổ, vẫn bị áp bức bóc lột. Chỉ khi nào chúng ta tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội, thực hiện công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu thì mới xóa bỏ tận gốc
áp bức bóc lột. Xây dựng nhà nước “của dân,
do dân, vì dân” thì mới đảm bảo địa vị
vững chắc cho nhân dân. Nhân dân là chủ, làm chủ đất nước thì
họ mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của V iệt Nam, muốn
thắng lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo
Về tầm quan trọng của tổ chức đảng đối với cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ
rõ: Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình. Giai cấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng, đảng
đó phải thuyết phục, giác ngộ và tập hợp
đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng và đưa quần chúng ra đấu
tranh. Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và rất chú trọng đến
việc thành lập Đảng Cộng sản, Người còn khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải
phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản. Đây là một sáng tạo của
Hồ Chí Minh về lý luận cách mạng giải
phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Đường cách
mệnh” (1927), Người đặt vấn đề: Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để tr ong thì vận động và tổ chức
dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị
áp bức và vô sản giai cấp
mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công… Đảng
đó phải được xây dựng theo nguyên tắc đảng kiểu mới của V.I. Lênin, được vũ
trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiệm
vụ lãnh đạo của Đảng Cộng sản là: Xác định
mục tiêu của cách mạng, xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc; thông qua
cương lĩnh, tổ chức vận
động, tập hợp các lực lượng cách mạng, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Đối với cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản phải thực hiện đồng thời 14
hai nhiệm vụ: chống đế quốc và chống
phong kiến, giành độc lập dân tộc, đem lại tự do
và hạnh phúc cho nhân dân.
Trong hoàn cảnh Việt Nam là một nước thuộc địa -
phong kiến, Hồ Chí Minh cho
rằng, Đảng Cộng sản vừa là đội tiên
phong của giai cấp công nhân vừa là đội tiên phong của nhân dân lao
động, kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực
phụng sự Tổ quốc. Đó còn là Đảng của cả dân tộc Việt Nam. Trong Báo cáo chính trị tại
Đại hội II của Đảng (1951), Người viết “Chính là Đảng Lao
động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” .Năm
1961, khi nhân dân miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất,
Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là
của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”.
Đây là một luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh có ý nghĩa bổ sung, phát triển
lý luận mácxít về đảng cộng sản. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo
đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã
được tôi luyện, thử thách và không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày
càng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân; qua
đó, khẳng định một chân lý: “ở Việt Nam không có
một lực lượng chính trị
nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ
bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả
năng lãnh đạo đất nước vượt qua
mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc
đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc”.
3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải
dựa trên lực lượng đại đoàn kết
toàn dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng
Sinh thời, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng
dân tộc là sự nghiệp đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm
nòng cốt” .Vậy đại đoàn kết toàn dân tộc là gì? 15
Đại đoàn kết toàn dân tộc – di sản
vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam được
hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước,
trọng nhân nghĩa, khoan dung, sự cố kết, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm
hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các
thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm tồn tại và phát
triển của dân tộc ta đã chứng minh truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc dù trong bất kỳ
hoàn cảnh nào cũng đều kết thành sức mạnh
vô địch, đưa Việt Nam vượt qua mọi khó
khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ
vang. Nhờ tinh thần đoàn kết, nhân dân ta đã vượt qua mọi gian lao, thử thách, đánh
thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững
non sông bờ cõi, viết nên những trang sử vàng hào hùng của dân tộc.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược lâu dài, nhất
quán xuyên suốt cách mạng Việt Nam; đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ
hàng đầu cách mạng Việt Nam. Người cho rằng: Muốn giải
phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao
động phải tự mình cứu lấy mình bằng cách mạng vô sản. Trong từng thời
kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương
pháp tập hợp lực lượng cho
phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết
dân tộc luôn luôn được Người coi là vấn đề sống còn của cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định “Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết
toàn dân”. Dựa vào cả mặt lý luận và cả về mặt thực tiễn, Về mặt thực tiễn Người đã kế
thừa tư tưởng “trọng dân”, “thân dân” của
ông cha ta; Về mặt lý luận Người cũng đã kế
thừa tư tưởng các nhà lý luận kinh điển Mác - Lênin.
Tư tưởng “Thân dân" đã được hình thành từ các triều đại phong kiến, tiêu biểu
nhất là tư tưởng của Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi - những bậc danh nhân đại tài của
dân tộc. Trần Hưng Đạo đã thể hiện tư tưởng này qua câu nói của ông vào tháng 6 năm 1300, khi
ông bị ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may ,mà giặc 16
phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?" Hưng Đạo Vương trả lời: "Ngày
xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoàn binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người
tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt
mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng
dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. V ua nhà Lý mở nền,
nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm,
Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi T oa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây .Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước
góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái,
nó cậy trường trận, ta dựa vào đoàn binh. Dùng
đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân
nó kéo đến như lửa, như gió thì thể dễ chế ngự. Nếu
nó tiến chậm như các tằm
ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng
giỏi, xem xét quyền biến, như
đánh cờ vây ,tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng
như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để
làm kế sâu rễ bền gốc, đó
là thượng sách giữ nước vậy." Ông đã biết coi trọng
sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân
để đánh giặc giữ nước, đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ mà ở thời đại đó rất ít người
có thể nhận ra vì các triều đại phong kiến xưa kia chỉ coi dân là cỏ dại, gọi là: “thảo dân”.
Tư tưởng “Thân dân" còn được Nguyễn Trãi thể hiện rõ nét hơn nữa qua tư tưởng
nhân nghĩa của mình. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời ông. Theo
đó, tư tưởng nhân nghĩa trong quan điểm của
Nguyễn Trãi, trước hết được gắn chặt với tư tưởng vì dân và an dân: “việc nhân nghĩa cốt
ở yên dân”, “dùng quân nhân nghĩa cứu dân
khổ, đánh kẻ có tội”, “đại đức hiếu sinh, thần
vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân”. Như vậy ,nhân nghĩa chính
là yêu nước, thương dân, là đánh giặc cứu nước, cứu dân. Nguyễn Trãi đã coi “an dân” là
mục đích của nhân nghĩa và “trừ bạo” là đối tượng, là phương tiện của nhân nghĩa. Như
vậy ,với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện chứng với tư tưởng thân dân, an
dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn, một đối tượng, là phương tiện của đích chiến
lược cần phải đạt tới. Tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đưa ra một chân lý, đó là: phải 17
giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết lòng dân làm sức mạnh của nước,
làm thế nước. Ông chủ trương cứu nước bằng
sức mạnh của dân, muốn lấy lại được nước
phải biết lấy sức dân mà kháng chiến. Đó là một chiến lược bất khả biến, có tính trường tồn, một
quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và một khía cạnh rất đáng
quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi,
đó là tư tưởng trọng dân, biết ơn dân.
“Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú
ý đề cao ngay cả sau khi kháng chiến đã
thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây dựng cuộc sống mới.
Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc gạo, cơm ăn, áo mặc là nhân
dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua chúa cũng đều
do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà có: “thường nghĩ
quy mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao
khổ của quân dân”. Chính
xuất phát từ suy nghĩ như vậy, nên khi đã làm quan trong triều đình, được hưởng lộc của
vua ban, Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm mưa, những người lao
động cực nhọc. Ông viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Trong suốt cuộc
đời của mình, Nguyễn Trãi đã có cuộc sống gần gũi, gắn
bó với nhân dân, hoà mình vào nhân dân. Do đó,
ông đã nhận thấy rất rõ những đức tính cao quý của nhân dân, hiểu được nguyện
vọng tha thiết của nhân dân, thấy rõ được
sức mạnh vĩ đại của nhân dân trong sáng tạo lịch sử.
Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức được vai trò của truyền thống yêu nước
- nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Người khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay , mỗi khi Tổ quốc bị
xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt
qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước". Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng
đồng của dân tộc Việt Nam là
cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Các nhà lý luận kinh điển Mác
– Lênin cũng khẳng định rằng: cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân; quần chúng nhân dân là sự sáng tạo ra lịch sử. V.I.
Lênin viết: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên
phong của mình, tức là với giai cấp vô sản, thi cách mạng vô sản không thể thực hiện 18
được”. Kế thừa tư tưởng của
ông cha ta và các nhà lý luận nói trên Hồ Chí Minh quan
niệm rằng: có dân là có tất cả, trên đời này không gì
quý bằng dân, được lòng dân là được
tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả. Người khẳng định “cách mệnh là việc chung của cả
dân chúng chứ không phải việc
một hai người”. Người lý giải rằng: “dân tộc cách mệnh thì chưa
phân giai cấp, nghĩa là sĩ,
nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường
quyền”. Vậy nên phải tập hợp và đoàn kết toàn dân thì cách mạng mới thành công.
Trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh cũng xác định lực lượng cách
mạng bao gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại
bộ phân giai cấp công nhân, tập hợp đại
bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để lôi kéo họ về phía
vô sản giai cấp; còn đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho
họ trung lập. Lực lượng ra mặt phản cách mạng như Đảng lập hiến thì chúng ta phải đánh đổ. Khi thực dân
Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Hồ Chí Minh thiết tha kêu gọi mọi người
không phân biệt giai tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái… đoàn kết
đấu tranh chống kẻ thù chung của dân tộc. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
(tháng 12/1946), Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn
bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái,
dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân
Pháp để cứu Tổ quốc” và “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có
gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”.
Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Hồ Chí Minh lưu ý rằng, không được quên “công
nông là người chủ cách mệnh… là gốc cách mệnh”.Giai cấp công nhân xuất thân từ
nông dân, có vị trí trung tâm trong xã hội bởi là giai cấp đại diện cho
phương thức sản xuất tiến
bộ nhất, là giai cấp có sứ mệnh lịch sử thông qua Đảng của
mình lãnh đạo cách mạng và toàn xã hội. Song để hoàn thành được sứ mệnh đó, giai cấp
công nhân cần lôi cuốn, tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động và cả dân tộc
đứng lên làm cách mạng. Còn giai cấp
nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất 19
trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là “đồng
minh chắc chắn nhất của
giai cấp công nhân” và là “quân chủ lực của cách mạng”. Người chỉ rõ: Giai cấp nông dân, trong đó bần nông và trung
nông là đội quân chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới. Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất và nghèo khổ nhất. Họ
bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần
nông hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng
và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc
chắn nhất của giai cấp công nhân. Trung
nông là lớp người mình cày ruộng của mình, cũng
không phải làm thuê cho ai. Họ cũng bị địa chủ,
bọn cho vay nặng lãi và bọn đế
quốc áp bức bóc lột. Thực hiện chính sách “dân cày có ruộng” thì họ cũng có lợi. Cho nên
họ cũng hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng. Vì vậy , họ là đồng minh chắc
chắn của giai cấp công nhân. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người giải thích: giai cấp công nhân và nông dân là hai giai cấp
đông đảo và cách mạng nhất, bị bóc lột nặng
nề nhất, vì thế “lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết… công nông là tay
không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất
một cái kiếp khổ, nếu được thì cả thế giới, cho nên họ gan góc”. Tóm lại, lực lượng góp thành
sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc là toàn dân, trong đó lấy liên minh công -
nông làm nền tảng được tập hợp trong một Mặt trận thống nhất
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn đã trả lời chỉ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc
này, đại đoàn kết dân tộc mới có sức sống bền vững và trường tồn.
4. Cách mạng giải phóng dân tộc
cần chủ động, sáng tạo, có khả năng
giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
Đây cũng chính là luận điểm độc đáo, sáng tạo nhất, luận điểm mang giá trị lý
luận và giá trị thực tiễn to lớn. Trước hết,
cần phải phân biệt giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa
và cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc. 20