Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề tài:
Đề tài 1: Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải
phóng dân tộc. Trong những luận điểm đó, luận điểm nào là luận điểm độc đáo,
sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh? Tại sao? Lớp học phần : 2292HCMI0111
Nhóm thực hiện : Nhóm 7 Giảng viên
: Th.S Ngô Thị Minh Nguyệt
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Hà Nội, tháng 10 năm 2022
Đề tài 1: Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân
tộc. Trong những luận điểm đó, luận điểm nào là luận điểm độc đáo, sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh? Tại sao?
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thị Minh Nguyệt
Lớp học phần: 2292HCMI0111
Danh sách thành viên nhóm 7: STT Tên thành viên Mã sinh viên Nhiệm vụ Nhận xét 61 Nguyễn Hữu Mạnh 21D260200 Làm phần: V
Tích cực xây dựng bài và + thuyết trình hoàn thiện nhiệm vụ. Làm PowerPoint + Tích cực đóng góp trong 62 Cao Tuyết Minh 21D260140 Tổng hợp
đề cương sơ lược và bài Word + thảo luận. Thuyết trình Tích cực đóng góp trong
đề cương sơ lược, Ý thức 63 Đoàn Thị Minh 21D260201 Làm phần: IV làm bài khá, nhanh chóng (1)
sửa đổi sai sót để hoàn thiện bài.
Ý thức làm bài khá, thái độ tích cực trong việc 64 Lê Thảo My 21D260142 Làm phần: III hoàn thiện nhiệm vụ và (3 + 4)
đóng góp ý kiến chỉnh sửa bài. Lời mở đầu + Kết luận +
Hoàn thành tốt nhiệm vụ Thuyết trình + dẫn dắt nhóm hoàn thành Kiểm tra, 65 Nguyễn Thu Nga 21D260203
nhiệm vũ và mục tiêu đề chỉnh sửa nội ra. Tích cực đóng góp ý dung hoàn kiến hoàn thiện bài. thiện bài thảo luận. 66 Nguyễn Thị Hồng Ngọc 21D260144 Làm phần: IV Tích cực đóng góp trong (2+3)
đề cương sơ lược. Ý thức làm bài tốt, nhanh chóng
sửa đổi sai sót để hoàn thiện bài.
Ý thức làm bài tốt, nhanh 67 Phan Thị Ánh Nguyệt 21D260204 Làm phần: I
chóng sửa đổi sai sót để hoàn thiện bài. Tích cực đóng góp trong đề cương sơ lược. 68 Vũ Đức Nhật 21D260205 Làm phần: II
Ý thức làm bài tốt, nhanh
chóng sửa đổi sai sót để hoàn thiện bài.
Ý thức làm bài tốt, nhanh 69 Đinh Vũ Yến Nhi 21D260008 Làm phần: III
chóng sửa đổi sai sót để (1 + 2) hoàn thiện bài. Làm phần: IV
Ý thức làm bài tốt, nhanh 70 Lê Tiểu Yến Nhi 21D260145 (4) + Thuyết
chóng sửa đổi sai sót để trình hoàn thiện bài. Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG................................................................................................................ 2
I. Về đường lối cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng phải đi theo
con đường cách mạng vô sản.............................................................................................2
II. Về lực lượng lãnh đạo cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện
của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo....................................4 1.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản........................................................................4 2.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam....................................5 3.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam.......................................5 4.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhiệm vụ của Đảng Cộng sản..................................................6
III. Về lực lượng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc: Cách mạng giải phóng dân
tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công - nông làm
nền tảng..............................................................................................................................6 1.
Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh
công – nông...................................................................................................................................7 2.
Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của những cuộc phong trào cách mạng trước đây.........7 3.
Lực lượng đại đoàn kết toàn dân........................................................................................9 4.
Công - nông là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, nền tảng..................................................11
IV. Về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách
mạng vô sản ở các nước chính quốc. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động,
sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc..............13 1.
Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, cách mạng vô sản ở chính quốc...13 2.
Sự hình thành tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh..........................................................15 3.
Cơ sở quan điểm của Hồ Chí Minh..................................................................................17 4.
Giá trị của quan điểm về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:...................................................19
V. Về phương pháp cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành
bằng phương pháp bạo lực cách mạng............................................................................19
PHẦN KẾT LUẬN..............................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................23 PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ
Quốc. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã nhiều lần phải
đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội và từ thực tiễn đấu tranh chống
ngoại xâm, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu. Trí tuệ đánh giặc, giữ
nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam.
Mang trong mình lòng nồng nàn yêu nước và trí tuệ đánh giặc đó, Hồ Chí Minh đã ra đi
tìm đường cứu nước cùng với những hành trang truyền thống và bản lĩnh dân tộc. Người đã
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm hiểu thêm tư tưởng của một số nhà yêu nước lỗi lạc trên
thế giới, nâng lên tầm cao mới của thời đại, gắn quyện thành tư tưởng giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Hồ Chủ tịch đã dành trọn cả cuộc đời của mình cho dân, cho nước, cho sự nghiệp đấu
tranh giải phóng con người, giải phóng nhân loại,... Thoát khỏi mọi bất công vươn tới cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Người được UNESCO tôn vinh là anh hùng giải phóng dân
tộc, nhà văn hoá kiệt xuất; chính bởi những đóng góp to lớn trước sự nghiệp đấu tranh của
dân tộc và nhân loại; một trong những cống hiến vĩ đại đó là Người đã tìm ra con đường giải
phóng dân tộc đúng đắn và lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Con đường giải phóng dân tộc của đất nước ta phải trải qua rất nhiều khó khăn. Chủ tịch
vĩ đại là người đã tìm ra con đường đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực thì Cách mạng giải
phóng dân tộc là một chủ đề lớn, khẳng định sự thành công của dân tộc ta là nhờ thực hiện
một đường lối cách mạng đúng đắn. Sau những năm bôn ba và học hỏi từ những nước có các
tư tưởng tiến bộ, Người đã tự học hỏi cho mình những tư tưởng, luận điểm cho mình nhằm
giúp phong trào và giúp tư tưởng của quân cách mạng nước ta trỗi dậy và giành chiến thắng.
Vậy các tư tưởng đó là gì, mang ý nghĩa ra sao? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng em quyết
định chọn và trình bày đề tài: “Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về
cách mạng giải phóng dân tộc” nhằm phân tích rõ hơn về Cách mạng giải phóng dân tộc,
tìm hiểu luận điểm nào là luận điểm độc đáo, sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh và để hiểu sâu
sắc hơn về con đường đi đến thắng lợi của dân tộc ta; để từ đó, hiểu rõ nội dung tư tưởng Hồ
Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là 1 vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về cách mạng Việt Nam, thấy được những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn của Người về vấn đề này. PHẦN NỘI DUNG
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
I. Về đường lối cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng phải đi theo con
đường cách mạng vô sản
Bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước trước đó
Thất bại của các phong trào yêu nước ở nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là do
chưa có đường lối và phương pháp đúng đắn. Hồ Chí Minh rất khâm phục tinh thần yêu
nước của những người đi trước, nhưng Người không tán thành con đường cứu nước của các
vị ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.
Cách mạng tư sản là không triệt để
Nhận thức được rằng, cách mạng tư sản chỉ thay thế chế độ bóc lột này bằng chế chế độ
bóc lột khác tinh vi hơn chứ không xóa bỏ được áp bức bóc lột, vì thế Người cho rằng đó là
những cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để. Do đó, cứu nước theo ngọn cờ của
giai cấp tư sản không phải là lối thoát cho dân tộc.
Từ khi đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lênin (7/1920), Hồ Chí Minh đã tìm thấy một con đường cứu nước mới: Con
đường cách mạng vô sản. Người đã khẳng định: "Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không
có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Như vậy, vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu
hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác
- Lênin; lựa chọn và quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản là một quyết định đánh
dấu sự trưởng thành vượt bậc về mặt nhận thức tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh, đồng thời mang tính bước ngoặt căn bản đối với cách mạng Việt Nam.
Ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của cách mạng Tháng Mười Nga đến phong trào cách
mạng Việt Nam
Trải qua bao năm bôn ba nước ngoài và khảo sát các cuộc cách mạng điển hình trên thế
giới như: cách mạng tư sản Pháp 1789, cách mạng tư sản Mỹ 1776, cách mạng Tháng 10
Nga 1917, Người đã rút ra những kết luận quan trọng. Người phát hiện ra rằng các cuộc cách
mạng tư sản như: cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng không triệt để,
tuy thành công nhưng không đến nơi đến chốn vì người lao động vẫn chưa hoàn toàn được
giải phóng, xã hội còn đầy bất công. Dưới nhãn quan của Hồ Chí Minh chỉ có cách mạng
Tháng Mười Nga là triệt để, nhân dân lao động đã được giải phóng và trở thành người chủ của xã hội.
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân
loại - thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Thành công của cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến phong trào
cách mạng trên thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam, nói riêng. Những ảnh hưởng to
lớn và sâu sắc đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất đầy đủ và hướng phong trào
giải phóng dân tộc Việt Nam đi theo. Nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện tập
trung trong tác phẩm “Đường cách mệnh” và tác phẩm “cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở
ra con đường giải phóng cho dân tộc”. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra tính triệt để
của cách mạng Tháng Mười Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Tháng Mười
Nga là đã thành công và thành công đến nơi”. Tính triệt để của cách mạng Tháng mười Nga
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức một cách rất sâu sắc. Đó là, chính quyền thuộc về
tay đại đa số quần chúng nhân dân lao động. Nếu chính quyền còn nằm trong tay “một bọn ít
người”-bọn tư bản, thì cách mạng không triệt để, “chưa đến nơi”. Bên cạnh đó, theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, tính triệt để của một cuộc cách mạng còn thể hiện ở chỗ: giải phóng nhân dân
lao động khỏi ách áp bức, bóc lột một cách triệt để và đem lại hạnh phúc, tự do và bình đẳng
thực sự cho họ. Điều này, sau này, được Người thể hiện dưới dạng khát vọng lớn lao: “Tôi
chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao nước nhà được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành”. Nhận xét này của của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lóe sáng khát vọng về xã hội tương
lai-xã hội xã hội chủ nghĩa.
Tiếp thu chân lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười
Nga, Nguyễn Ái Quốc đi đến khẳng định, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Và thực tế lịch sử đã chứng minh tính
đúng đắn trong nhận xét và vận dụng những bài học cách mạng Mười Nga vào cách mạng Việt Nam của Bác.
Có thể nói Hồ Chí Minh là một trong những người cộng sản đầu tiên vận dụng thành công
học thuyết cách mạng Mác - Lênin về cách mạng vô sản vào cách mạng của các dân tộc
thuộc địa, vào cách mạng Việt Nam, cách mạng của một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Tuy nhiên, nhân tố cơ bản đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam không chỉ đơn giản
là “sự vận dụng”, mà còn là sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với học thuyết đó.
II. Về lực lượng lãnh đạo cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của
Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng Sản
Trên cơ sở nhận thức, quán triệt và vận dụng sáng tạo luận điểm của Mác, Ăngghen,
Lênin: “Cách mạng vô sản chỉ có thể giành thắng lợi khi có Đảng Cộng sản, chính đảng của
giai cấp công nhân lãnh đạo”, Lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng Việt Nam
“trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng Cộng sản Việt Nam là
chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân, vừa
mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; có khả năng
đoàn kết, tập hợp, lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh làm cách mạng - nhân tố
hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, Đảng muốn tồn tại, phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng tiến lên
thì trước hết “phải có chủ nghĩa làm cốt”, bởi “Không có lý luận cách mạng, thì không có
phong trào hành động cách mạng” và trong Đảng ai ai cũng phải hiểu, nắm vững tinh thần
đó làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn. Lấy chủ nghĩa “làm cốt”, theo Hồ Chí Minh đó là cơ
sở nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng để Đảng định ra cương lĩnh, đường lối, chiến lược,
sách lược và mục tiêu cần đạt tới của cách mạng, đảm bảo cho sự đoàn kết, thống nhất về tư
tưởng và hành động trong Đảng. Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”, nên
“Phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Nhờ đó, làm cho Đảng có thể trở thành hình
thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm
của dân tộc. Tuy nhiên, “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không
phải là kinh thánh”, cho nên cần “Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người,
và đối với bản thân mình; là học tập cái chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp
dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam
Năm 1953, Hồ Chí Minh viết: “Đảng Lao động là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao
và đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc… Đảng là Đảng của giai cấp lao động, mà cũng là
Đảng của toàn dân”. Năm 1957, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng là đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc. Trong thời kỳ Miền Bắc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, năm 1961, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: Đảng ta là Đảng của
giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Năm 1965, Hồ Chí Minh
cho rằng: Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của
nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Hồ Chí Minh khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta dựa trên cơ sở thấy rõ
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Còn các giai cấp, tầng lớp khác chịu sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân, trở thành đồng minh của giai cấp công nhân. Nội dung quy
định bản chất giai cấp công nhân không phải chỉ là số lượng đảng viên xuất thân từ công
nhân mà còn ở nền tảng lý luận và tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin; mục tiêu
của Đảng cần đạt tới là chủ nghĩa cộng sản; Đảng tuân thủ một cách nghiêm túc, chặt chẽ
những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Đảng đại diện cho lợi ích
của toàn dân tộc cho nên nhân dân Việt Nam coi Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của chính mình.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam
Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi được tập hợp, đoàn kết và được lãnh đạo
bởi một tổ chức chính trị là Đảng cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “lực lượng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng, vô tận. Nhưng lực
lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”, giai cấp mà không có Đảng lãnh
đạo thì không làm cách mạng được.
Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi
thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ, ý chí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ
chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh để đánh đổ kẻ địch, giành lấy chính quyền.
“Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo”. Sự ra đời, tồn tại và
phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, vì Đảng
không có mục đích tự thân, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, lợi
ích của toàn dân tộc Việt Nam, lợi ích của nhân dân tiến bộ trên thế giới, Đảng không có lợi ích nào khác.
Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tính quyết định hàng đầu từ sự lãnh đạo
của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được thực tế lịch sử chứng minh, không có một tổ
chức chính trị nào có thể thay thế được. Mọi mưu toan nhằm hạ thấp hoặc nhằm xóa bỏ vai
trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đều xuyên tạc thực tế lịch sử cách mạng dân tộc
ta, trái với lý luận lẫn thực tiễn, đều đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhiệm vụ của Đảng Cộng sản
Nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng Cộng sản: Xác định mục tiêu của cách mạng, xây dựng
đường lối cách mạng giải phóng dân tộc; thông qua Cương lĩnh, đường lối, Đảng tổ chức
vận động, tập hợp các lý luận cách mạng đấu tranh chống đế quốc phong kiến và giải phóng
dân tộc, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Trong Đường cách mệnh Hồ Chí Minh đã
khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của đảng cách mạng – nhân tố đầu tiên, quyết định sự
thắng lợi của cách mạng. Thấu hiểu bài học lịch sử về sức mạnh của quần chúng, lại được
soi rọi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Người chỉ rõ: công nông là gốc cách
mạng, nhưng “trước phải làm cho dân giác ngộ”. Dân phải được tổ chức, được lãnh đạo thì
mới trở thành lực lượng to lớn, mới là chủ, là gốc cách mạng được. Nếu dân không được tổ
chức thì như đũa “mỗi nơi một chiếc”. Tóm lại, Hồ Chí Minh nhất quán cho rằng: Cách
mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
III. Về lực lượng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc: Cách mạng giải phóng dân
tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công - nông làm nền tảng.
1. Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên
minh công – nông
Hồ Chí Minh viết: cách mạng “là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc việc của
một hai người”, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại
cường quyền”. Trong sự tập hợp rộng rãi đó, Người khẳng định cái cốt của nó là công –
nông, “công nông là người chủ cách mệnh... công nông là gốc cách mệnh”. Trong đó: bộ
phận trung tâm trong lý luận cách mạng giải phóng dân tộc là công nhân, nông dân và khối
liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương cần vận động, tập hợp
rộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam đang mất nước, bị làm nô lệ trong một Mặt trận
dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập, tự do.
Đảng cần có các chủ trương, chính sách tranh thủ vận động các tầng lớp nhân dân vì mục
tiêu chung. Trong sách lược vắn tắt, Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản,
trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối
với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải
lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng tập trung…
Trong khi chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc chống đế quốc, Hồ
Chí Minh vẫn nhắc nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp: “công nông là gốc cách mệnh;
còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng
công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”. Và trong khi liên lạc
với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông
mà đi vào đường thỏa hiệp” .
2. Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của những cuộc phong trào cách mạng trước đây
Vào giữa thế kỷ thứ XIX, đế quốc Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta, giữa lúc chế độ
phong kiến Việt Nam đang trên đà suy tàn, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp
địa chủ phong kiến trở nên gay gắt. Trước hành động xâm lược của đế quốc Pháp, chế độ
phong kiến mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn đã chọn con đường quỳ gối đầu hàng, dâng
nước ta cho Pháp. Chế độ phong kiến Việt Nam trước đây đại biểu cho dân tộc, đến nay bộc
lộ rõ sự thối nát, bất lực và phản động. Mặc dù vậy, ngay từ khi đế quốc Pháp xâm lược
nước ta, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta với truyền thống kiên cường
bất khuất đã liên tiếp nổ ra khắp Bắc, Trung, Nam. Cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của
nhân dân ta đã gây cho bọn xâm lược rất nhiều khó khăn, thiệt hại. Phải mất một phần ba thế
kỷ, đế quốc Pháp mới đặt được ách thống trị lên đất nước ta.
Các phong trào yêu nước của Nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi
nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý
thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với
cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này
không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa
Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh
lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.
Nguyên nhân khách quan dẫn đến thất bại là khi ta so sánh lực lượng giữa ta và địch.
Thực dân Pháp là một nước tư bản phát triển, có tiềm lực to lớn cả về kinh tế, quân sự và
quân lính được trang bị đầy đủ, vũ khí hiện đại, được huấn luyện chu đáo, được làm quen
với chiến tranh hiện đại, quân chỉ huy có kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh hiện đại.
Thực dân Pháp đã trải qua chiến tranh thế giới lần thứ nhất, qua các cuộc thôn tính nhiều dân
tộc thuộc địa. Ngược lại nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực về kinh tế và quân sự
đều rất hạn chế. Quân của ta tuy đông nhưng chưa được huấn luyện, chưa quen với chiến
tranh hiện đại, vũ khí thô sơ chủ yếu là vũ khí tự chế tạo, quân trang, quân dụng thiếu thốn,
thuốc men rất hạn chế. Quân ta lại hoạt động ở vùng rừng núi nên mắc nhiều loại bệnh rừng,
mà sự bổ sung, tiếp tế chưa được chuẩn bị đầy đủ.
Bên cạnh đó các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đều nổ ra lẻ tẻ, thiếu tổ chức, lãnh đạo
vì thế không kết hợp lại thành một khối chính. Tính chất rời rạc trong hoạt động của các tổ
chức ấy phản ánh thực chất khả năng lãnh đạo của giai cấp tư sản vì thế không có một tổ
chức nào trong số đó đóng vai trò lãnh đạo, có khả năng tập trung đông đảo các tầng lớp
nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nhận định phong trào chống Pháp của nhân dân ta thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau
này có viết: “Cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam. Bọn vua quan
và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và câu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch
nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại
bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam…Phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau
đứng dậy. Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu. Những
đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam”.
Nhận định nêu trên của Hồ Chí Minh xuất phát từ đặc điểm của xã hội Việt Nam đầu thế
kỷ XX, nơi thực dân Pháp tổ chức hệ thống cai trị trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội và tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội đều bị đặt dưới sự cai trị của thực dân
Pháp. Ngoài giai cấp công nhân và nông dân, các giai cấp, tầng lớp khác, như tư sản dân tộc,
tiểu tư sản, trí thức, địa chủ, phú nông, thậm chí cả các chức sắc tôn giáo Việt Nam,… đều là
những người dân chịu nỗi nhục mất nước, chịu sự cai trị của thực dân Pháp. Vì vậy, ở Việt
Nam, độc lập dân tộc là lợi ích chung của toàn dân tộc và tất cả các giai tầng trong xã hội
đều có khả năng tham gia phong trào giải phóng dân tộc. Đó chính là cơ sở thực tiễn của
quan điểm xây dựng lực lượng cách mạng trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội.
Từ những thất bại của những cuộc phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc
kết ra rằng sức mạnh của toàn dân tộc theo phương châm “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
thành công, thành công, đại thành công” để giành lại và bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây
dựng xã hội mới. Điều đó bắt nguồn từ sự phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải
quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.
Khi Hồ Chí Minh tổng kết lịch sử Việt Nam, Bác nói: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc
nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại, lúc nào dân ta
không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Tư tưởng này được thể hiện xuyên suốt trong cả
cuộc đời Hồ Chí Minh, cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Điều này thể hiện rõ
nét nhất trong việc Người chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh), năm 1941.
Trái lại, Mác-Lênin có nói: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”. Từ việc
kế thừa tư tưởng của cha ông và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò, sức mạnh
của nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc phải là
đại đoàn kết toàn dân”.
3. Lực lượng đại đoàn kết toàn dân
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách
lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được
hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của
dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa
Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn
cách mạng: Một là, tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc đã gắn kết mọi người trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Tài sản quý giá và tinh thần yêu nước của chủ tịch Hồ Chí
Minh đã phát huy đến đỉnh cao với khát vọng: độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho
đồng bào. Hai là, tình yêu thương con người, yêu thương nhân dân, hiểu rõ vai trò, sức
mạnh của nhân dân và sự thật vì dân. Hồ Chí Minh tự coi mình là người đầy tớ của dân, có
sức cảm hóa đặc biệt. Sự nghiệp mà Người phấn đấu: độc lập, tự do, hạnh phúc đã thống
nhất làm một với lợi ích và khát vọng của toàn dân. Người bồi đắp truyền thống nhân ái,
nhân văn, có tình có nghĩa, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Ba là, đoàn kết vững chắc lực
lượng của toàn dân tộc chỉ có được khi có Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo. Đảng cách
mạng đề ra Cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn, bảo đảm thực hiện những lợi ích căn
bản và thiết thực của mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo, mọi tầng lớp trong xã hội. Đảng là đội
tiên phong tổ chức, dẫn đường cho lực lượng của toàn dân hành động cách mạng; Giai cấp
lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân, thông qua Đảng Cộng sản.. Bốn là, Hồ Chí Minh
đặc biệt chú trọng xây dựng các tổ chức quần chúng, nhất là tổ chức Mặt trận Dân tộc thống
nhất để tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp, lực lượng trong dân chúng.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm,
nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ, nhằm phát huy
đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc
lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh có thể
kể đến: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng; Đoàn
kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng; Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn
kết toàn dân; Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận
dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Dù cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, song chiến lược đại
đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh luôn được xây dựng, hoàn thiện và tuân theo những
nguyên tắc nhất quán sau; Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi
ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người;
Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân; Đại đoàn kết một cách tự giác, có
tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững; Đại đoàn kết chân thành, thân
ái, thẳng thắn theo nguyên tắc tự phê bình, phê bình vì sự thống nhất bền vững; Đại đoàn kết
dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với
chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.
Sự nghiệp cứu nước toàn thắng ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước là thắng lợi của toàn
dân. Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vượt qua những thách thức hiểm nghèo. Trong suốt quá
trình đổi mới, Đảng, Nhà nước không ngừng mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
nhằm tăng cường nội lực và tinh thần độc lập, tự chủ, làm cơ sở để hộp nhập quốc tế, mở
rộng hợp tác toàn diện. Hay ngược dòng thời gian quay về cuối năm 1946 trong Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến, Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ,
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực
dân Pháp để cứu Tổ quốc”.
4. Công - nông là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, nền tảng
Kế thừa tư tưởng truyền thống của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đánh giá cao vai
trò của giai cấp trí thức. Ở nước ta, trí thức một số khá đông thuộc thành phần phú nông, địa
chủ, phong kiến, tư sản và bị đế quốc áp bức. Vì vậy, trí thức Việt Nam có tinh thần dân tộc
và cách mạng, biết được dân chủ, biết được lịch sử cách mạng, nên dễ hấp thụ được tinh
thần cách mạng. Lúc đã hiểu, trí thức ta dễ theo cách mạng. Tuy vậy lực lượng công - nông
mới là lực lượng nòng cốt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như
nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách
mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nông dân Việt Nam có tinh thần cách
mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một
phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập. Họ cũng không có khả năng tự
xây dựng một chế độ xã hội mới. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu, mà
nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải đoàn kết
họ, giúp tổ chức họ, và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là
công nông liên minh”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, liên minh giai cấp công nhân, nông dân
đóng vai trò nòng cốt của khối đại đoàn đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình đấu tranh
giành và giữ chính quyền của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ
chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm
nhuần một tư tưởng cách mạng nhất. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và
giáo dục các tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai
cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo. Giai cấp công nhân còn được trang bị chủ nghĩa Mác
- Lênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng cách mạng. “Đảng đề ra chủ
trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu
tranh, bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến. Đã có những phần tử trí thức tham gia
cách mạng và vô sản hoá từ đó đội ngũ chính trị của giai cấp công nhân ngày càng phát
triển. “Kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật,...” là những đặc điểm quan trọng
mà giai cấp công nhân có để giữ vai trò lãnh đạo. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
thông qua Đảng của mình lãnh đạo cách mạng và toàn xã hội. Song để hoàn thành được sứ
mệnh đó, giai cấp công nhân cần lôi cuốn, tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động
và cả dân tộc đứng lên làm cách mạng.
Giai cấp nông dân Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là “đồng minh chắc
chắn nhất của giai cấp công nhân” và là “quân chủ lực của cách mạng”. Người chỉ rõ: Giai
cấp nông dân, trong đó bần nông và trung nông là đội quân chủ lực của kháng chiến và của
cách mạng dân chủ mới. Ở nông thôn, bần nông là lớp người đông nhất và nghèo khổ nhất.
Họ bị địa chủ phong kiến bóc lột tàn tệ. Bần nông hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng
và rất mong muốn thực hiện chính sách dân cày có ruộng. Vì vậy, họ là đồng minh chắc
chắn nhất của giai cấp công nhân. Trung nông là lớp người mình cày ruộng của mình, cũng
không phải làm thuê cho ai. Họ cũng bị địa chủ, bọn cho vay nặng lãi và bọn đế quốc áp bức
bóc lột. Cho nên họ cũng hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng. Trong cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng, vì họ là lớp
người đông nhất trong nhân dân.
IV. Về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách
mạng vô sản ở các nước chính quốc. Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng
tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
1. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, cách mạng vô sản ở chính quốc
a, Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
Cách mạng giải phóng dân tộc là những cuộc cách mạng nổ ra ở những nước thuộc địa và
bị áp bức bóc lột, nó là kết quả tất yếu của mâu thuẫn giữa nhân dân các nước thuộc địa và chính quyền đế quốc.
Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc trước hết là phải giành lại nền độc lập cho Tổ
quốc. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc muốn thắng lợi phải
đi theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải
do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
b. Cách mạng vô sản ở chính quốc.
Cách mạng vô sản ở chính quốc là một cuộc cách mạng do giai cấp vô sản ở chính quốc
lãnh đạo chống lại ách thống trị của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, thiết lập nên nền
chuyên chính vụ sản. Các cuộc cách mạng này nhằm giải quyết những mâu thuẫn giai cấp ở các nước chính quốc.
Tư tưởng về cách mạng vô sản ở chính quốc:
Khi mà chủ nghĩa đế quốc đó trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân
tộc trở thành bộ phận của cách mạng vô sản, Lênin mới phát triển vấn đề dân tộc thành học
thuyết về cách mạng thuộc địa. Lênin cho rằng, cách mạng vô sản ở chính quốc không thể
giành thắng lợi nếu không liên minh với cuộc đầu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa.
c. So sánh cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc.
Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhất là thời kỳ trước khi nổ ra cách
mạng tháng Mười Nga, luôn tồn tại quan điểm cho rằng, thắng lợi của cách mạng ở các nước
thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Hồ Chí
Minh, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có
mối liên hệ mật thiết với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thù chung là chủ nghĩa đế quốc, phương hướng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là mối
liên hệ bình đẳng chứ không phải là mối liên hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính - phụ. Về bản
chất cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc
đều là cách mạng vô sản với lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản và
cùng có mục tiêu chung là xây dựng đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống kẻ thù chung là
chủ nghĩa đế quốc. Tuy nhiên, hai cuộc cách mạng này vẫn có một số tính chất khác nhau
như là: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa diễn ra ở các nước thuộc địa còn cách
mạng vô sản ở Chính quốc lại diễn ra ở các nước chính quốc. Bên cạnh đó, cách mạng giải
phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có sự khác nhau về địa điểm,
lực lượng lãnh đạo cũng như lực lượng tham gia. Nếu cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc
địa diễn ra ở thuộc địa , dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản của các nước thuộc địa và có
lực lượng tham gia là toàn dân, kể cả giai cấp tư sản và địa chủ. Thì cách mạng vô sản ở
chính quốc lại diễn ra ở các nước chính quốc và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản chính
quốc với lực lượng tham chiến là công nhân và nông dân lao động. Lực lượng ở các nước
thuộc địa sẽ đông đảo hơn rất nhiều, tinh thần cách mạng sẽ kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn
bởi vì ở các nước thuộc địa người dân chịu sự bóc lột, áp bức nặng nề nên họ luôn muốn đấu
tranh để tìm lấy sự tự do, giải phóng cho dân tộc cũng như giải phóng cho chính họ.
Quan điểm của Quốc tế cộng sản: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phụ thuộc
hoàn toàn vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Có nghĩa là khi nào cách mạng vô sản ở
chính quốc giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến thì cách mạng giải phóng dân
tộc mới giành được thắng lợi. Quan điểm này vô hình trung đã làm giảm tính chủ động sáng
tạo của các phong trào cách mạng thuộc địa. Trên cơ sở đánh giá đúng sức mạnh to lớn của
phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa, Bác Hồ lại có quan điểm khác: cách mạng giải
phóng dân tộc ở thuộc địa không nhất thiết phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc,
hơn nữa còn có tính độc lập riêng và có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô
sản ở chính quốc. Bằng thắng lợi của mình, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa sẽ tác
động trở lại đối với cách mạng chính quốc, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản ở chính quốc.
Như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân Hồ Chí Minh đã đi tìm đường cứu
nước. Người đã khảo sát nhiều nước thuộc địa, đi tìm hiểu cả ba nước tư bản phát triển nhất
thời kỳ đó là Mỹ, Anh, Pháp với những cuộc cách mạng tư sản điển hình... nhưng tất cả đều
chưa đưa lại lời giải đáp cho cách mạng Việt Nam. Chỉ đến khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác-
Lênin, tiếp thu tính khoa học, cách mạng và phát triển một cách sáng tạo học thuyết đó, Hồ
Chí Minh mới tìm ra được con đường giành độc lập dân tộc, con đường cách mạng cho đất
nước. Con đường cách mạng đó gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, gắn liền
cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa.
2. Sự hình thành tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh
Lý giải cho sự sáng tạo của Hồ Chí Minh
Có thể thấy rằng trong công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa thì
quan điểm: Chỉ có thể giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở
các nước tư bản tiến tiến đã trở thành một tôn chỉ duy nhất, bất di bất dịch, bởi đó là quan
điểm xuất phát từ tư tưởng Mác-Lênin. Nhưng với Hồ Chí Minh, Người lại khẳng định có
thể xảy ra điều ngược lại. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn của mỗi người.
Không thể đi so sánh giữa Hồ Chí Minh và Mác-Lênin, nhưng chúng ta có thể nhận thấy
rằng yếu tố thời đại có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của mỗi người.
Thời C.Mác và Ph. Ăngghen, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đã được mở rộng,
những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận
mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào
thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.
Đến thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng
vô sản, nên ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh
với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Bởi vậy, thay thế cho khẩu
hiệu thời C.Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả
các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Nhưng ông vẫn không nhận ra được cách
mạng ở các nước thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của các dân tộc bị áp
bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng
sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa. Mặt khác, so với
những bậc tiền bối đi trước, Người có điều kiện để đi nhiều nơi, từ Châu Á sang Châu Âu,
tới Châu Phi nên người có điều kiện tìm hiểu, tiếp cận cuộc sống ở những mảnh đất đó chứ
không phải chỉ gói gọn trong mỗi Châu Âu và một phần Châu Á (nước Nga) như Lênin,
Người nói: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập
trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”. Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh
bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó, Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con
đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai
cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt
cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai
cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”. Người đã lấy hình
ảnh con đỉa hai vòi để minh họa cho chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ với hai đầu hút máu ở
chính quốc và thuộc địa. Khi đánh vào đầu ở chính quốc, nó sẽ tích cực hút máu ở thuộc địa
làm cho sức sống của thuộc địa cạn kiệt, sức đấu tranh không còn, con đỉa bị đánh nhanh
chóng hồi phục và quay lại chống cách mạng chính quốc, điều đó không những gây tổn thất