Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH ----------------------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN : TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đ Ề TÀI 1
Phân tích những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Trong những luận điểm đó, luận điểm nào là luận điểm độc đáo, sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh? Tại sao? Lớp HP : 2288HCMI0111 Nhóm : 09
GVHD : Ngô Thị Minh Nguyệt Hà Nội , 2022
BẢNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THÀNH VIÊN NHÓM 09 STT Họ và Tên MSV Chức vụ Nhiệm vụ Nhận xét 81 Nguyễn Mai Phương 21D1 10129 Thành viên 82 Trần Thị Phương 21D1 10169 Thành viên 83 Nguyễn Kim Phượng 21D1 10208 Thành viên 84 Phạm Thị Ngọc Phượng 21D1 10247 Thành viên 85 Trần Văn Quang 21D1 10209 Nhóm trưởng 86 Nguyễn Thị Quyên 21D1 10286 Thành viên 87 Bạch Thúy Quỳnh 21D1 10130 Thành viên 88 Lưu Thị Quỳnh 21D1 10171 Thành viên 89
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh 21D1 10210 Thành viên 90
Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh 21D1 10248 Thành viên MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................1
NỘI DUNG .............................................................................................................................2
1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải theo con đường cách mạng vô
sản ................................................................................................................................... .........2
2. Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do
Đảng Cộng sản lãnh đạo........................................................................................................9
3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy
liên minh công nông làm nền tảng......................................................................................12
4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng
giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Đây chính là luận điểm độc đáo,
sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh ..........................................................................................15
5. Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách
mạng ............................................................................................................................... .......26
KẾT LUẬN............................................................................................................................29
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................30 MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của
Tổ quốc. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã nhiều lần phải
đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội và từ thực tiễn đấu tranh chống
ngoại xâm, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu. Trí tuệ đánh giặc, giữ
nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam.
Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang theo hành trang truyền thống, bản
lĩnh và trí tuệ của dân tộc. Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm hiểu thêm tư tưởng
của một số nhà yêu nước lỗi lạc trên thế giới. Theo đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng
giải phóng dân tộc cũng là giải phóng giai cấp, giải phóng con người chiếm một vị trí quan
trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng là vấn đề cơ bản của đường lối cách
mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người vừa là sự kết hợp tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện
được tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo của người trong việc vận dụng những nguyên lý phổ
biến của chủ nghĩa Mac-Lenin vào hoàn cảnh Việt Nam. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí
Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người được coi
là bước phát triển mới của học thuyết Mac-Lenin về cách mạng thuộc địa ở thời điểm các
dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh cho độc lập, tự do. Đồng thời, qua các giai đoạn cách
mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, định hướng con đường đúng đắn của
cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử; thấm sâu vào trái tim, khối
óc quần chúng nhân dân; trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác. Đồng hành cùng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục soi đường
cho Đảng, nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, vững bước hội nhập trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0. có thể nói, Người
chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch
sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về
phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách
của dân tộc và của loài người. 1 PHẦN NỘI DUNG
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH
MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
* Quá trình trước khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
- Trước khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn cách mạng giải phóng dân tộc ở
Việt Nam đã đi theo con đường: con đường theo ý thức hệ phong kiến và con đường theo ý
thức hệ dân chủ tư sản.
+ Con đường cứu nước bằng ý thức hệ phong kiến xuất phát từ một triết lý có từ
nghìn năm trước: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh
thổ của tổ quốc, người Việt Nam tự quản lý công việc nội bộ. Ý nghĩa triết lý ấy thật giản dị.
Và kể từ ngày 5/6/1858 khi thực dân Pháp và Tây Ban Nha xâm lược đất nước, nhiều thế hệ
của người Việt Nam đã đánh Tây, cứu nước theo tư duy ấy.
+ Con đường theo ý thức hệ dân chủ tư sản phức tạp hơn một chút, là giải phóng dân
tộc và sau đó, phát triển đất nước theo con đường TBCN. Ý thức hệ chi phối con đường này
là tư tưởng dân chủ tư sản. Nó xuất hiện từ khá sớm, trước cả sự kiện 1858. Nhiều bậc thức
giả, sỹ phu của triều Nguyễn đã ý thức được tình trạng lạc hậu của Việt Nam và bối cảnh thế
giới đang trong cuộc “mưa Âu, gió Á” với nhiều chuyển động từ chế độ phong kiến sang chế
độ dân chủ tư sản và họ đã đi tìm đường cứu nước từ tư duy ấy.
=> Thế nhưng, các giải pháp để cứu nước theo hai con đường ý thức hệ phong
kiến và con đường theo ý thức hệ dân chủ tư sản đều đã thất bại.
- Nguyên nhân sâu xa của sự thất bại theo hai con đường này là: 2
+ Con đường theo ý thức hệ phong kiến lạc hậu về tư tưởng, hủ bại về thể chế. Các
nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu và Nguyễn Khắc Viện đều đã chỉ ra: Chủ nghĩa
bảo thủ Nho giáo; chủ nghĩa quan liêu của quan lại; tư tưởng tiểu nông của nông dân... là
những vật cản lớn của giải phóng và phát triển. Các phong trào yêu nước do những bậc sĩ
phu, tướng lĩnh và thủ lĩnh nông dân đương thời liên tục nổ ra khắp đất nước với tinh thần
dũng cảm ngất trời: “đầu dám thay đầu, chân nối chân”. Song dường như với triết lý giản dị
“Sông núi nước Nam…” hay lòng dũng cảm “Vì nước tấm thân đã trải, còn mất cũng cam,
giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại”… thì chưa đủ để giải phóng và phát triển.
+ Con đường theo ý thức hệ dân chủ tư sản thất bại là do nó cũng như ý thức hệ
phong kiến, đã không giải quyết được đồng thời hai nhiệm vụ của lịch sử Việt Nam là giải
phóng (dân tộc và các giai cấp bị áp bức) và phát triển đất nước. Nó lại thiếu cơ sở xã hội
(lúc đó giai cấp tư sản dân tộc còn rất non yếu) và không giải quyết triệt để những nhu cầu
dân chủ của đông đảo xã hội là công nhân và nông dân. . Điều đáng chú ý là nó mang tính
phi logic, vì không thể lấy tư tưởng tư sản để chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân
cùng việc giải quyết những hệ quả chính trị xã hội do chính chế độ gây ra.
+ Thêm một lí do khiến hai con đường này thất bại là do thiếu đường lối chính trị
đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai
trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế
quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh
hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và
phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do,
hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng
đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Vì thế, lúc bấy giờ, Cách mạng Việt Nam
đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.
- Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ
xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư
tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể
hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời là tự ra đi tìm đường cứu nước, 3
không dựa dẫm vào nước nào; không nhờ vả, kêu gọi người khác giúp mình. Người cho
rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác
gì đến xin giặc rủ lòng thương; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi
Pháp chẳng khác nào đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau; chủ trương của cụ Hoàng Hoa
Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, còn mang nặng cốt cách phong kiến.
- Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học,
truyền thống yêu nước. Từ lúc nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của
phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc
với văn hoá phương Tây. Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái và thôi
thúc bởi ý định tìm hiểu cái gì ẩn giấu sau những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu
hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh,
tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận
nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn
châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.
- Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà
Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Gần mười năm,
vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước
thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ. Nguyễn Tất Thành đã
tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra ở đâu cũng có người nghèo khổ như
xứ sở mình do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Từ đó, Người đã
có nhận thức quan trọng là: Cách mạng tư sản là “cách mệnh không đến nơi”, nó không đưa
lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.
- Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí
Minh trong việc lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người cho rằng : “Trên
thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân
được hưởng hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế
quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam... Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã 4
Khắc Tư và Lênin”. Sự thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga đã làm chủ nghĩa Mác –
Lê nin đã trở thành hiện thực, đồng thời mở ra một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống
đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách mạng Tháng
Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân Châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay”. Thắng lợi
của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga và những chính sách tiến bộ của nó thực
sự đem lại lợi ích cho đông đảo quần chúng nhân dân. Nó chứng tỏ được sự tiến bộ của hình thức cách mạng này.
- Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919,
với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản
yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân
dân An Nam. Nhưng bản yêu sách đó đã không được chấp thuận nhưng đã vạch trần bản
chất giả dối của các cường quốc thống trị đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một
nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản
thân mình. Người đã kết luận : “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào
mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.
- Năm 1920, sau khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra chân lý thời đại và “chìa
khóa” cho con đường cứu nước,giải phóng dân tộc : con đường cách mạng vô sản. Người chỉ
rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách
mạng vô sản”. Đây chính là con đường cách mạng triệt để nhất phù hợp với yêu cầu của
cách mạng Việt Nam xà xu thế phát triển của thời đại. Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ
nghĩa Lênin”, viết nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh Lênin, Người kể lại : “Luận cương
của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng
đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên, như đang nói trước quần
chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là
con đường giải phóng chúng ta!”. Dưới ánh sáng của Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấ đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ con đương cứu nước và giải
phóng dân tộc, đó là đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới và đi theo Quốc tế Cộng sản. 5
=> Những lí do Bác lựa chọn con đường Cách mạng vô sản đó là:
- Người nhận thấy từ những thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh đã nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong
kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản.
- Sau nhiều năm bôn ba ở phương Tây Bác đã rõ một điều đó là Cách mạng tư sản
xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến nhưng cách mạng xong rồi dân
chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Và Người đi đến kết
luận rằng: chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này.
- Một lí do quan trọng nữa đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã
ảnh hưởng sâu sắc tới Hồ Chí Minh trong lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
- Năm 1919 khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêu sách đòi quyền lợi cho nhân dân Việt
Nam nhưng không được chấp nhận. Người nhận ra rằng: muốn được giải phóng, các dân tộc
chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình.
- Năm 1920, Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp, cùng năm này, Người đọc
luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa và tìm thấy ở đây cái mình cần. Từ
đó, Hồ Chí Minh hoàn toàn tin theo Lênin và chủ nghĩa Cộng Sản.
- Học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin được Hồ Chí Minh vận
dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cách mạng Việt Nam.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công học thuyết cách mạng vô sản của
Mác - Lênin vào xây dựng đường lối cách mạng Việt Nam - cuộc cách mạng ở một nước
thuộc địa nửa phong kiến. Đó là quá trình vận dụng hết sức sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin phù hợp với cách mạng Việt Nam nhờ kinh nghiệm sâu sắc từ quá trình khảo nghiệm
thực tiễn, đặc thù của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Điểm sáng tạo đó được thể hiện như sau: 6
+ Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là
trước hết, trên hết. Trước hết, chúng ta nói đến sự khác biệt giữa cách mạng vô sản Châu Âu
và cách mạng vô sản Việt Nam đó là: theo như Mác và Ăngghen thì con đường cách mạng
vô sản ở châu Âu là đi từ giải phóng giai cấp - giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải
phóng con người; còn theo Hồ Chí Minh, thì ở Việt Nam và các nước thuộc địa do hoàn
cảnh lịch sử - chính trị khác với châu Âu nên phải là: giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội
- giải phóng giai cấp - giải phóng con người.
Hồ Chí Minh chọn việc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội trước giải phóng giai
cấp bởi lẽ: khi xác định đối tượng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy sự phân hóa giai
cấp ở các nước thuộc địa nói chung, ở Việt Nam nói riêng có những điểm khác với các nước
phương Tây. Mâu thuẫn chủ yếu ở các nước phương Tây là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản
và giai cấp tư sản, còn mâu thuẫn chủ yếu ở các nước xã hội thuộc địa phương Đông lại là
giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân. Do vậy, cuộc đấu tranh giai cấp không giống
như các nước phương Tây. Đối tượng cách mạng mà các dân tộc thuộc địa cần tập trung
đánh đổ không phải là giai cấp tư sản bản xứ, càng không phải là giai cấp địa chủ nói chung,
mà là chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động. Nhận thức đầy đủ, đúng đắn đặc điểm xã hội
Việt Nam, xác định đúng đối tượng chính của cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng
sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp. Nếu như chủ nghĩa Mác - Lênin
đề cao đấu tranh giai cấp thì Nguyễn Ái Quốc đặt ưu tiên hàng đầu cho cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc và giành độc lập, tự do cho đất nước. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã kết
hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng dân
tộc. Người cho rằng phải “đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp, lấy mục tiêu độc lập
dân tộc làm mục tiêu hàng đầu”. Khẳng định tính dân tộc nổi trội hơn tính giai cấp là tư
tưởng đúng đắn, sáng tạo phản ánh đúng tình hình thực tế Việt Nam cũng như các nước thuộc địa nói chung.
+ Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã
xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội. Học thuyết này đề cao các giá trị độc lập dân tộc;
khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng
tạo học thuyết Mác - Lênin vào vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Người chỉ 7
rõ: tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là bước phát triển tất yếu, khách quan ở Việt Nam
sau khi đã giành được độc lập dân tộc. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Hồ
Chí Minh đã khẳng định phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam: làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Phương hướng này vừa
phù hợp với xu thế phát triển của thời đại vừa hướng tới giải quyết một cách triệt để những
yêu cầu khách quan, cụ thể mà cách mạng Việt Nam đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Trong văn kiện Đại hội VI Quốc tế cộng sản, khái niệm “cách mạng tư sản dân
quyền” không bao hàm đầy đủ nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa. Còn trong Chánh cương vắn tắt, Hồ Chí Minh nêu rõ: Cách mạng tư sản dân
quyền trước hết là phải đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn
toàn độc lập…Cũng theo Quốc tế cộng sản, thì hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến
phải được thực hiện đồng thời, khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau, nhưng xuất phát từ
một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh không coi hai nhiệm vụ đó nhất loạt phải thực hiện ngang
nhau, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, còn nhiệm vụ chống
phong kiến, mang lại ruộng đất cho nông dân thì sẽ từng bước thực hiện. Cho nên trong
Chánh cương vắn tắt , Người chỉ nêu “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của
công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu ra chủ trương “người cày có ruộng”. Đấy là nét
độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh.
* Liên hệ thực tiễn cách mạng Việt Nam
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, cách mạng giải phóng dân muốn thắng lợi
phải đi theo con đường cách mạng vô sản là một trong những sáng tạo nổi bật về mặt lý luận
của Hồ Chí Minh, và thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn này là hoàn toàn đúng đắn.
Năm 1930 là năm đánh dấu sự thắng lợi của khuynh hướng cách mạng vô sản, Đảng cộng
sản Việt Nam được thành lập vào năm này. Chính theo con đường cách mạng vô sản, nhân
dân Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 “long trời lở đất” dưới sự lãnh
đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (2/9/1945). Trong Tuyên ngôn độc lập độc trước toàn thể đồng bào vào ngày 8
2/9/1945, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Với Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã
tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ
và quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam. Trong đó, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, toàn vẹn lãnh thổ vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết của chế độ dân chủ cho việc
xác lập và bảo vệ quyền con người.
Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo
đã mở ra một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam – thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Kiên trì với con đường đã lựa chọn, trải qua 30 năm trường kỳ kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập,
tự do”; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của thực dân, đế quốc
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ này, tất cả người
dân Việt Nam đã kiên cường đấu tranh cho độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. Quyền
vốn dĩ tự nhiên đó của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam được cộng đồng quốc tế
đón nhận như là một trong những tư tưởng lớn của thời đại.
2. Cách mạng giải phòng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải
do Đảng Cộng sản lãnh đạo
- Đây là một luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh có ý nghĩa bổ sung, phát triển lý
luận mácxít về đảng cộng sản.
- Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ tầm quan trọng của tổ chức đảng đối với cách mạng:
Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
mình. Giai cấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng, đảng đó phải thuyết phục, giác ngộ và
tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng và đưa quần chúng ra đấu tranh. 9
- Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và rất chú trọng đến việc
thành lập Đảng Cộng sản, khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải phóng
dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927) Người đặt vấn đề: Cách mệnh trước hết
phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững
cách mệnh mới thành công… Đảng đó phải được xây dựng theo nguyên tắc đảng kiểu mới
của V.I.Lênin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng
Cộng sản là: Xác định mục tiêu của cách mạng, xây dựng đường lối cách mạng giải phóng
dân tộc; thông qua cương lĩnh, tổ chức vận động, tập hợp các lực lượng cách mạng, xây
dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đối với cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản phải thực
hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chống đế quốc và chống phong kiến, giành độc lập dân tộc,
đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ
trong Chính cương vắt tắt, Sách lược vắt tắt, Chương trình tóm tắt và Lời kêu gọi của Đảng
khi Đảng mới thành lập: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản”,… “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”,… Làm
cho nước Việt Nam được độc lập;… Giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư
bản; Mở mang nông nghiệp và công nghiệp;… Đem lại mọi quyền lợi tự do cho nhân dân”.
Thực tế cho thấy, khi chưa có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản các phong trào yêu
nước và các cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tục và sôi nổi những đều không mang lại kết quả.
Phong trào Cần Vương – phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong
kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng
(năm 1896). Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa
Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản do các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo
cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất
bại. Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống 10
yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu
đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt
thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại, là
một bức ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Trải qua gần 90 lãnh
đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm
sau khi thành lập, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đánh
đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở
Đông Nam châu Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên
độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc
Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối
cùng đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hoà bình ở miền
Bắc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đất nước tạm bị chia làm hai miền, Đảng đã lãnh đạo nhân
dân cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi Mỹ đưa quân vào xâm lược ở miền
Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng
chiến tranh xâm lược ra miền Bắc (1964), Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân
hai miền "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất Tổ quốc (1975), đưa cả nước đi lên CNXH.
- Trong hoàn cảnh Việt Nam là một nước thuộc địa – phong kiến, Hồ Chí Minh cho
rằng, Đảng Cộng sản vừa là đội tiên phong của giai cấp công nhân vừa là đội tiên phong của
nhân dân lao động, kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự
Tổ quốc. Đó còn là Đảng của cả dân tộc Việt Nam. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của
Đảng (1951), Người viết: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Năm 1961, khi
nhân dân miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Hồ Chí Minh một lần nữa
khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”. 11
- Thực tiễn phong phú cách mạng Việt Nam chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn
và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã được tôi luyện, thử thách và
không ngừng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm để ngày càng xứng đáng với vai trò và sứ
mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân; qua đó, khẳng định một
chân lý, “ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt
Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi
khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc”
3. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc,
lấy liên minh công-nông làm nền tảng
3.1. Phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc vì:
- Một là, Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng của các nhà lý luận kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng: “ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân;
quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử”. V.I. Lênin viết: “Không có sự đồng tình
ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai
cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”. Người quan niệm: “Có dân là
có tất cả, trên đời này không gì quý bằng dân, được lòng dân thì được tất cả, mất lòng dân thì
mất tất cả”; “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”.
Vậy nên phải tập hợp và đoàn kết toàn dân thì cách mạng mới thành công.
- Hai là, trước khi chúng ta đi theo con đường cách mạng vô sản, phong trào yêu
nước của chúng ta đi theo con đường phong kiến, đi theo khuynh hướng dân chủ tư sản, thì
lực lượng tham gia vào các cuộc cách mạng này không phải toàn dân tộc. Phong trào yêu
nước theo khuynh hướng phong kiến tiêu biểu có thể kể đến như: Khởi nghĩa Ba Đình
( 1881-1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, diễn ra tại Thanh Hóa; Khởi
nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, diễn ra ở các tỉnh Hải Dương,
Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình; khởi nghĩa Hương Khê (1885 -1896) do Phan Đình Phùng
và Cao Thắng lãnh đạo, diễn ra ở địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh; khởi
nghĩa nông dân Yên Thế (1885 – 1913) do Hoàng Hoa Thám và Lương Văn Nắm lãnh đạo, 12
diễn ra tại Bắc Giang…các cuộc khởi nghĩa diễn ra vô cùng sôi nổi, anh dũng song đều
không thành công. Mà một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại đó là chưa tập hợp
được sức mạnh quần chúng nhân dân. Khởi nghĩa nổ ra ở địa phương nào thì lực lượng chủ
yếu là một bộ phận nông dân, binh lính ở địa phương đó hoặc vùng lân cận đó tham gia vào
giành lại chính quyền. Sang đầu thế kỉ XX, nổi lên các phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản tiêu biểu như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng
( 1905 - 1909), phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động ( 1906 - 1908), phong
trào Đông Kinh nghĩa thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ khác phát
động ( từ tháng 3 đến tháng 11/1907),... nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp. Lực lượng tham
gia vào những phong trào này chủ yếu là những thanh niên trí thức, song lực lượng này
không lớn nên dẫn đến sự thất bại. Qua đó, cho thấy rõ vai trò của lực lượng đại đoàn kết
toàn dân tộc trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
- Ba là, Hồ Chí Minh cũng được kế thừa tư tưởng thân dân của cha ông trong lịch sử.
“Thân dân” chính là gần gũi, gắn bó với nhân dân, Nhà nước lấy dân làm gốc, phải biết tin
tưởng vào dân, dựa vào dân để xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời phải biết quan
tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo hạnh phúc của nhân dân thì dân mới tin tưởng và ủng
hộ. Người đã được kế thừa tư tưởng khoan, giản, an, lạc - một đường lối chính trị thân dân
xuất hiện từ rất sớm. Khoan dung, độ lượng, vị tha, thương người chính là tinh thần cơ bản
của một nền chính trị thân dân, tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc trong dựng nước và
giữ nước. Đã yêu nước thì phải yêu dân. Và đã gắn bó với dân thì tự nhiên nảy sinh lòng tự
hào dân tộc. Khúc Hạo, nhà cải cách đầu tiên ở thế kỷ X quan niệm “Chính trị cốt chuộng
khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Khoan dung, tức là không thắt buộc, khắt
khe quá quắt đối với dân, chống bọn tham quan ô lại, một tệ nạn lớn của thời Bắc thuộc.
Giản dị, là không làm phiền hà, nhiễu dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu. Yên
vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng. Càng về sau, tư
tưởng thân dân càng được thể hiện rõ. Trong thời kỳ chống quân Nguyên - Mông, Hưng Đạo
Vương đã trăn trở với vua Trần về kế sách giữ nước là: “Phải biết khoan thư sức dân để làm
kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Sau này, Nguyễn Trãi cũng đã để lại cho đời
sau bài học về luôn đề cao nhân dân, coi trọng sức dân với câu nói nổi tiếng: “Chở thuyền là 13
dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như sức nước.”... Kế thừa những tư tưởng đó, Hồ Chí
Minh đi đến kết luận: “Dân là gốc của nước; nước lấy dân làm gốc; gốc có vững thì cây mới
bền; xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng vào sức
mạnh và trí tuệ của nhân dân, Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, tức là phải dựa vào sức dân.
- Trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác định lực lượng cách mạng bao
gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợp đại bộ phận dân
cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng liên lạc với tiểu tư sản, trí thức,
trung nông để lôi kéo họ về phía vô sản giai cấp; còn đối với phá nông, trung, tiểu địa chủ và
tư sản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập.
- Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Hồ Chí Minh thiết tha
kêu gọi mọi người không phân biệt giai tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái... đoàn kết đấu
tranh chống kẻ thù chung của dân tộc. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng
12/1946). Người viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già. người trẻ, không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”.
3.2. Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, không được quên “công nông
là người chủ cách mệnh… là gốc cách mệnh”
- Hồ Chí Minh đã làm rõ sức mạnh to lớn của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
và khối liên minh công - nông. Trong đó, nông dân đóng vai trò rất quan trọng : “Pa-ri Công
xã vì tổ chức không khéo và vì không liên lạc với dân cày, đến nỗi thất bại” và cách mạng
năm 1905 của Nga thất bại cũng là do chưa biết liên lạc với dân cày, “thợ thuyền với dân cày
không nhất trí. Khi thợ thuyền nổi lên thì dân cày chưa theo ngay”. Chỉ khi hai giai cấp được
thống nhất về chiến lược và chiến thuật như đã từng diễn ra ở Nga năm 1917, cách mạng
mới có thể thành công. Người khẳng định “công nông là người chủ cách mệnh”, “là gốc
cách mệnh” vì “công nông bị áp bức nặng hơn”, “công nông là đông nhất cho nên sức mạnh 14
hơn hết”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực
khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”.
- Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người giải thích:
+ Giai cấp công nhân và nông dân là hai giai cấp đông đảo và cách mạng nhất. Sở dĩ
như vậy là bởi giai cấp công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông dân, có mối liên hệ máu
thịt với nông dân. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để thực hiện sự liên minh giai cấp, trước
hết là đối với giai cấp nông dân.. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong nỗi nhục mất
nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai
cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và
tính triệt để của cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công
nhân và giai cấp nông dân đều có chung bản chất của người lao động.Trong xã hội tư bản
chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nông dân cũng như nhiều tầng lớp lao động khác đều là
những người lao động đều bị áp bức bóc lột, bên cạnh đó họ được kế thừa truyền thống đấu
tranh anh dũng kiên cường của dân tộc nên họ hăng hái kháng chiến, hăng hái cách mạng để
giành lại quyền lợi cho chính mình.
+ Giai cấp công nhân và nông dân bị bóc lột nặng nề nhất. Giai cấp công nhân có
nguồn gốc từ những người nông dân, họ bị cướp ruộng đất, phải đi làm thuê mướn ở các đồn
điền, lợi ích của họ đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản. Giai cấp nông dân cũng phải chịu
nhiều tầng áp bức bóc lột ( đế quốc thực dân, tư bản trong nước và địa chủ phong kiến). Vì
thế “lòng cách mệnh càng bền, chỉ cách mệnh càng quyết.., công nông là tay không chân rồi,
nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc.”
=> Do đó có thể khẳng định rằng lực lượng“ Công nông là chủ cách mệnh … là gốc của cách mạng”.
4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả
năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. 15
Điểm giống nhau và khác nhau giữa Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản:
- Giống : Đều đi theo con đường cách mạng vô sản - Đều do Đảng lãnh đạo:
Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng giải phóng dân tộc, muốn giành thắng lợi triệt
để phải do Ðảng Cộng sản lãnh đạo. Người nói: Cách mệnh trước hết "phải có đảng cách
mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và
vô sản giai cấp mọi nơi. Ðảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái
có vững thuyền mới chạy".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa
làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Hồ Chí Minh đã khẳng định nguyên tắc xây dựng Đảng: Đảng của giai cấp công
nhân phải được xây dựng theo các nguyên tắc Đảng kiểu mới của Lênin. Thành công trong
việc xây dựng Ðảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện thiên tài về trí tuệ, sự mẫu mực trong việc
vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh. Ðồng thời là một đóng góp to lớn
của Người về lý luận xây dựng đảng cộng sản trên thế giới, làm phong phú thêm kho tàng lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Khác : về mục tiêu ; về đối tượng cách mạng ; lực lượng tham gia cách mạng :
+ Cách mạng giải phóng dân tộc:
Bằng hoạt động thực tiễn và tư duy lý luận, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cách cơ
bản vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trong thời
đại đế quốc chủ nghĩa. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin
vào thực tiễn Việt Nam qua các chặng đường gian nan thử thách, Hồ Chí Minh luôn luôn
khẳng định một chân lý là: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác là cách mạng vô sản. 16
Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc trước hết là phải giành lại nền độc lập
cho Tổ quốc. Đối tượng cách mạng ở thuộc địa không phải là giai cấp tư sản bản xứ, càng
không phải là giai cấp địa chủ nói chung, mà là chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động. Về
phía lực lượng cách mạng, lực lượng chủ yếu là liên minh công – nông. Trong cách mạng
giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương cần vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp
nhân dân Việt Nam đang mất nước, đang bị làm nô lệ trong một Mặt trận dân tộc thống nhất
rộng rãi nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập, tự do. Trong
khi chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc chống đế quốc, Hồ Chí Minh
vẫn nhắc nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp: “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò,
nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3
hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”. Và trong khi liên lạc với các giai
cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp. + Cách mạng vô sản:
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng cách mạng vô sản là cuộc cách mạng do giai cấp vô
sản (giai cấp công nhân) tiến hành, đồng thời là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Bản chất của
cách mạng là do bản chất công nhân của giai cấp đó quy định. Cách mạng vô sản có nguyên
nhân sâu xa là do lực lượng sản xuất trong xã hội đã mang tính chất xã hội hóa cao độ không
còn thích ứng với quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu
thuẫn khi phát triển tới đỉnh cao đã chuyển hóa về mặt xã hội thành cuộc đấu tranh giai cấp
gay gắt giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, đưa tới cuộc cách mạng vô sản, nhằm giải
phóng lực lượng sản xuất, thực hiện lợi ích của giai cấp vô sản. Cách mạng vô sản khác hẳn
với những cuộc cách mạng trước đó là những cuộc cách mạng chỉ thay thế chế độ sở hữu tư
nhân, chế độ người bóc lột người này bằng một chế độ người bóc lột người khác, trong khi
đó cách mạng vô sản nhờ thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất tạo ra cơ sở để giải
phóng toàn thể xã hội, xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, biến tất cả những
người lao động thành người chủ xã hội thật sự. 17