Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO *** ***
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI *** *** BÁO CÁO THẢO LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TH ẢO LUẬN Đề tài: Phân tíK c I h N q H ua T n Ế đi ểCÔ m cN ủ G a HC ồ Ộ C N hí G Minh về những
chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức cách mạng. Liên hệ với
Đề tài: Phân biệt hàng hoá công cộng và hàng hoá cá nhân?
việc chống hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hóa của
Trên cơ sở đó, xác định dịch vụ giáo dục đại học là Đảng viên hiện nay. hàng hoá gì?
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Thị Thu Hà
Lớp Ghiọảcn gp hvầiên n hướng dẫ:n 2 :3 2 N 4 g H ô C H M ảIi0 T 11h1a nh Nhóm thực hiện : 2 Lớp học phần : 2306FEC00921
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Hà Nội – 2023 1 *** *** BÁO CÁO THẢO LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn
mực, nguyên tắc đạo đức cách mạng. Liên hệ với việc chống
hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hóa của Đảng viên hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Thị Thu Hà Lớp học phần : 2324HCMI0111 Nhóm thực hiện : 2 Hà Nội – 2023 2 THÀNH VIÊN NHÓM STT Họ và tên Mã sinh viên Ghi chú 16 Ngụy Thị Ngọc Ánh 21D280166 17 Trần Thị Ngọc Ánh 21D280106 18 Phạm Thị Thanh Bình 21D280107 19 Lê Hà Chi 21D280001 20 Nguyễn Quỳnh Chi 21D300005 21 Nguyễn Văn Chiến 21D300164 22 Hoàng Thị Chúc 21D280169 23 Bùi Ngọc Diệp 21D180265 24 Huỳnh Tuấn Duy 21D300006 25 Trần Khánh Duy 21D300106 26 Trần Thị Hương Giang 21D280175 27 Nguyễn Thị Hà 21D160323 28 Phạm Thu Hà 21D280176 29 Nguyễn Sơn Hải 21D300007 3 30 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 21D280117 Ngô Thị Vân Anh 20K620010 4 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 6
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ CHUẨN MỰC, NGUYÊN TẮC
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG ................................................................................................ 7
1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng .................................. 7
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng .......... 8
1.2.1. Trung với nước, hiếu với dân .............................................................................. 8
1.2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư ............................................................... 9
1.2.3. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa ...................................................... 11
1.2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng ............................................................................. 11
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc đạo đức cách mạng ........ 12
1.3.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức ....................................................... 12
1.3.2. Xây đi đôi với chống ........................................................................................ 14
1.3.3. Tu dưỡng đạo đức suốt đời ............................................................................... 15
1.4. Phân tích vai trò của các quan điểm này trong sự nghiệp đổi mới ở VN ........ 15
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VỚI VIỆC CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA
CỦA ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY ...................................................................................... 21
2.1. Thực trạng hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá của Đảng viên ................. 21
2.2. Tác hại của hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá của Đảng viên ................ 24
2.3. Nguyên nhân của hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá của Đảng viên ...... 26
2.3.1. Nguyên nhân khách quan: ............................................................................. 26
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan .................................................................................. 29
2. 4. Thành tựu của việc chống hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá ................ 31
2.4.1. Thi hành pháp luật với những đối tượng có hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển
hoá ............................................................................................................................... 31
2.4.2. Tuyên truyền để chống hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá ................... 32
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN .................................................................. 33
3.1. Giải pháp ................................................................................................................ 33
3.2. Kết luận .................................................................................................................. 34 5 MỞ ĐẦU
Tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chuẩn mực là nền tảng và động lực tinh thần
để phát triển Đảng nói riêng và xã hội nói chung. Trong đó, những chuẩn mực, nguyên tắc
và đạo đức chính là gốc rễ của mỗi con người. Và ngay từ những ngày đầu tiên, chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về vai trò đặc biệt quan trọng của những
chuẩn mực, nguyên tắc và đạo đức trong cách mạng của Đảng viên cũng như của toàn xã
hội đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
chỉ ra những căn bệnh, thói hư, tật xấu mà mỗi cán bộ, Đảng viên cần phải phòng chống,
nhất là từ khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền.
Trong những năm gần đây, nhận rõ tính chất nguy hiểm của hiện tượng tự diễn biến
và tự chuyển hóa trong nội bộ, Đảng ta đã cảnh báo về tình trạng này. Ví như, trong hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá XI) đã thẳng thắn chỉ ra những
biểu hiện cụ thể về “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay là: “Một
bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, trong đó có những Đảng viên giữ vị trí lãnh đạo,
quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...
phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi,
kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc”.
Nhiều cán bộ, Đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng bị xử lý, nhưng ít khi do tổ chức
Đảng nơi đó phát hiện, mà hầu hết thông qua các cuộc kiểm tra hoặc quần chúng phản ánh.
Ðiều đó chứng tỏ: Nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức, lối sống của tổ chức Đảng có
mặt chưa phù hợp, mới chú trọng việc truyền đạt một chiều, chưa hình thành được ý thức
tự giác trong việc thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, Đảng viên. Việc
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tuy đã đạt một số kết quả nhất định;
nhưng ở một số nơi, vẫn có cán bộ, Đảng viên, quần chúng không tự giác rèn luyện, bồi
dưỡng đạo đức, lối sống.
Dựa theo những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên
tắc đạo đức Cách Mạng, cũng như liên hệ với tình hình hiện nay, nhóm chúng em lựa chọn
đề tài “ Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức
cách mạng. Liên hệ với việc chống hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá của Đảng viên
hiện nay”. Với mục đích, hiểu rõ quan điểm của Hồ Chí Minh, liên hệ với tình hình thực
tiễn tại Việt Nam và đưa ra những giải pháp thiết thực. 6
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ CHUẨN MỰC,
NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng trên thế giới bàn
nhiều về vấn đề đạo đức và giáo dục, thực hành đạo đức. Người là một tấm gương trong
sáng, mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, được hình
thành theo lịch sử, đồng thời kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt là của
Mác, Ăngghen và Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định đạo đức là gốc,
là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của người cách mạng. Người quan niệm
đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người, như gốc của cây, như ngọn
nguồn của sông, suối. Người từng viết trong tác phẩm Sửa đổi đường lối làm việc (1947)
rằng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Đạo đức chính là nhân tố quyết định của sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất
mỗi con người. Trong tác phẩm Người cán bộ cách mạng (1955), Hồ Chí Minh đã yêu cầu
người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Mọi sự thành bại đều là do cán bộ có
thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không bởi vì chỉ những người có đạo đức mới làm
được những việc cao cả và vẻ vang. Người quan điểm: “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt
cán. Việc Đoàn thể lấy cán bộ làm cốt cán. Cán bộ lấy đạo đức làm cốt cán”. Theo Hồ Chí
Minh, đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vững vàng trong mọi thử thách. “Có
đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi
bước…, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, việc làm, lấy hiệu quả
thực tế để làm thước đo. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng,
lời nói đi đôi với hành động thực tế. Người từng nói: “Hãy kiên quyết chống bệnh nói
suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm nâng cao sản xuất”. Đức và tài
là hai phẩm chất tiêu biểu của con người ưu tú. Con người cần có cả đức và tài bởi nếu
thiếu tài thì làm gì cũng khó, thiếu đạo đức thì vô dụng, thậm chí còn có hại cho cộng đồng.
Người có đức sẽ luôn cố gắng học tập, làm việc, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành 7
nhiệm vụ được giao. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài - phẩm chất và năng
lực phải song hành. Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Hồ Chí Minh thường
khuyên: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng.
Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”.
Đạo đức còn là thước đo lòng cao thượng của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh
từng đánh giá rằng tuy công việc và năng lực của mỗi người là khác nhau, nhưng ai giữ
được đạo đức thì đều là người cao thượng. Rèn luyện đạo đức tốt không chỉ nâng cao giá
trị bản thân mà còn giúp ta tạo ra sức mạnh để vượt qua khó khăn và thử thách. Những vấn
đề tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bao quát trên mọi đối tượng (từ tri thức đến nông dân,
từ già đến trẻ,...), mọi lĩnh vực trong cuộc sống (sinh hoạt, học tập, quản lý,...) và trong
mọi mối quan hệ giữa người với người. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng phát
triển “Đức, Trí, Thể, Mỹ” cho học sinh, sinh viên - những chủ nhân tương lai của đất nước.
Trên hết thảy, đạo đức là gốc, sau đó là trí, là tài để xây dựng và phát triển đất nước.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
1.2.1. Trung với nước, hiếu với dân
Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân
dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất.
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt
Nam và phương Đông, xong có nội dung hạn hẹp. Trung với vua, hiếu với cha mẹ, phản
ánh bổn phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ. Hồ Chí Minh đã vận dụng và đưa
vào nội dung, mới đạo đức cách mạng: Trung với nước hiếu với dân, đồng thời người đã
loại bỏ đi những yếu tố hạn chế của đạo đức cũ.
Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của
dân, còn nhân dân là chủ của đất nước. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi
ích đều vì dân. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì
chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào
cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị đạo đức cho mỗi người Việt Nam.
Đối với cán bộ Đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là
điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với dân, phải 8
tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của
dân; dân là đối tượng để phục vụ hết lòng. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải
thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước.
Nội dung chủ yếu của trung với nước là:
• Đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết.
• Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng.
• Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Nội dung của hiếu với dân là:
• Khẳng định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân.
• Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động nhân dân cùng thực hiện tốt
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
• Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
• Mọi đường lối, chính sách đều phục vụ lợi ích của nhân dân
1.2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Khổng Tử đã từng nêu lên những khái niệm về cần, kiệm, liêm, chính tuy nhiên ông
cho rằng cần, kiệm, liêm, chính là những đức tính do “thiên phú”. Tuy nhiên, khi vận dụng
những khái niệm này của đạo đức cũ Người lại cho rằng cần, kiệm, liêm, chính không phải
do thiên phú mà do sự rèn luyện bền bỉ mà nên, cho nên Người đã khẳng định: đạo đức
cách mạng không phải từ trên trời sa xuống mà do sự rèn luyện bền bỉ mà nên.
Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính là tứ đức không thể thiếu được đối với mỗi con
người giống như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Khổng Tử đã từng nêu lên những
khái niệm về cần, kiệm, liêm, chính tuy nhiên ông cho rằng cần, kiệm, liêm, chính là những
đức tính do “thiên phú”. Tuy nhiên, khi vận dụng những khái niệm này của đạo đức cũ
Người lại cho rằng cần, kiệm, liêm, chính không phải do thiên phú mà do sự rèn luyện bền
bỉ mà nên, cho nên Người đã khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải tự trên trời sa
xuống mà do sự rèn luyện bền bỉ mà nên”.
• Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suất cao; lao
động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao
động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người. 9
• Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của
đất nước, của bản thân mình. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; Không xa xỉ, không hoang
phí, không bừa bãi, theo Hồ Chí Minh Cần phải đi liền với Kiệm, cần mà không kiệm cũng
giống như gió vào nhà trống, thùng không đáy, và một dân tộc biết cần, biết kiệm là một
dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, một dân tộc văn minh tiến bộ.
• Liêm là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không xâm phạm một đồng
xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân. Phải trong sạch, không tham lam địa vị, tiền của,
danh tiếng, sung sướng, không tâng bốc mình, chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm,
ham tiến bộ. Hành vi trái với chữ liêm là: “… cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân,
hoặc trộm của công làm của riêng. Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là
trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham uý lạo”. Cụ
Khổng nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”.
• Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình, với người, với việc. Đối với
mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát
huy điều hay, sửa đổi điều dở. Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người
dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc,
để việc công lên trên việc tư, làm việc gì cho đến nơi, đến chốn, không ngại khó, nguy
hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người.”
Cần, kiệm, liêm, chính rất cần thiết đối với người cán bộ, Đảng viên. Nếu Đảng viên mắc
sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng. Cần, kiệm, liêm,
chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh của dân
tộc. “Nó” là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự
giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”. 10
Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì
Đảng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích của cách mạng. Thực hành chí công vô tư là quét
sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên
hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc)”. Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết
đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc
ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “ Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua
là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca
ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Hồ Chí Minh cũng
phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Chí công vô tư là tính tốt có thể gồm 5 điều:
nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách : Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể
chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục.
1.2.3. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với
chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ,
qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất
đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp
bức, bóc lột. Hồ Chí Minh chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được
tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương
con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những
ai có sai lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con
người. Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự
phê bình và phê bình chân thành. Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng
chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo.
1.2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng
sản chủ nghĩa. Điều này được bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân, nhằm vào mối
quan hệ rộng lớn vượt ra khỏi giới hạn quốc gia dân tộc. 11
Hồ Chí Minh là tượng trưng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp
nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ
Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với
giai cấp vô sản toàn thế giới, với các dân tộc bị áp bức, với tất cả các dân tộc và nhân dân
các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình
đẳng và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập và chủ
nghĩa bành trướng bá quyền. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường, nhưng luôn luôn kêu gọi phải tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế, đồng thời
phải ra sức ủng hộ và giúp đỡ đối với các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh theo
tinh thần quốc tế trong sáng:
“Quan sơn muôn dặm một nhà,
Bốn phương vô sản đều là anh em!”
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp tinh thần
đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra một kiểu quan
hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền văn hóa hòa bình cho
nhân loại; đó là di sản thời đại vô giá của Người về hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển giữa các dân tộc.
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc đạo đức cách mạng
1.3.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
Nói đi đôi với làm là nét đẹp trong đạo đức truyền thống của dân tộc được Hồ Chí
Minh nâng lên một tầm cao mới. Người coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong
xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên tắc cơ bản này là sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, đã trở thành phương pháp luận trong cuộc sống và là nền tảng triết lý sống hết sức
bình dị mà vô cùng sâu sắc của Người. Đối với mỗi người, để thực hiện được việc thống
nhất giữa lời nói với việc làm phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình.
Để nói đi đôi với làm, còn cần có sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc
nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra
sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Nói đi đôi với làm thể hiện bằng kết quả
công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. 12
Theo Người, về bản chất, “Nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ
sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu
sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư
tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người. Nguyên tắc “Nói đi đôi với làm” được thể hiện qua:
Một là, nói phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Cán bộ, Đảng viên phải nắm vững đường lối
cách mạng của Đảng trong toàn bộ tiến trình cách mạng và được cụ thể hóa trong từng giai
đoạn. Phải rèn luyện bản lĩnh vững vàng để có niềm tin vào mục tiêu lý tưởng cách mạng
của Đảng, dù trải qua những tình huống phức tạp, những bước ngoặt hiểm nghèo, trung
thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng xã hội
tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Để làm được điều đó, mỗi cán bộ, Đảng viên phải
nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Đồng
thời, khi đã nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
thì phải truyền đạt lại cho nhân dân đúng nội dung, đúng tinh thần, không nói sai, không xuyên tạc.
Hai là, nói đi đôi với làm, không được “nói một đàng làm một nẻo”. Khi đề ra công
việc, phải tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu. Khi nói cần phải cụ thể, thiết
thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Cán bộ phải nói đi đôi với làm, nói
trước làm trước. Không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm. Nếu chính mình
tham ô mà bảo người khác liêm khiết, mình không làm việc nhưng hô hào người khác làm
việc thì không được. Để chống việc nói một đàng làm một nẻo, mỗi cán bộ, Đảng viên, tổ
chức Đảng cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng tập thể và cá nhân. Khi giao nhiệm vụ cần thật cụ thể, chi tiết, không chung chung,
đại khái, ai hiểu thế nào cũng được, như vậy rất khó thực hiện. Mỗi công việc đều phải xác
định rõ mục đích, yêu cầu, lộ trình, tiến độ, khối lượng và chất lượng.
Ba là, không được hứa mà không làm. Lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm
cụ thể. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện; đưa
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, từ
việc nhỏ đến việc lớn mang ý nghĩa thiết thực. Cán bộ, Đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt
trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết
mệnh lệnh... phải thật thà nhúng tay vào việc”. Cán bộ lãnh đạo làm gương cho nhân viên;
cấp trên làm gương cho cấp dưới; cán bộ, Đảng viên làm gương cho nhân dân. Nói đi đôi 13
với làm còn là biểu hiện của sự gương mẫu, trung thực, trong sáng của cán bộ, Đảng viên,
công chức, viên chức nêu gương trước nhân dân. Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của
truyền thống văn hóa phương Đông. Người nhận thức rằng: Đối với các dân tộc phương
Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Do
vậy, khi địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Hồ Chí Minh càng ra sức tự hoàn thiện để trở
thành tấm gương đạo đức trọn vẹn. Sự gương mẫu của cán bộ, Đảng viên trong lời nói và
việc làm không chỉ là cách thức để giáo dục đạo đức cho quần chúng, mà còn là một phương
pháp để tự giáo dục bản thân mình. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã đào tạo các thế hệ cán
bộ cách mạng Việt Nam không chỉ bằng lý luận cách mạng tiền phong mà còn bằng chính
tấm gương đạo đức cao cả của mình. Theo Hồ Chí Minh, hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác,
trong việc xây dựng một nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải đặc biệt chú trọng “đạo
làm gương”. Như vậy, một nền đạo đức mới chỉ được xây dựng trên một cái nền rộng lớn,
vững chắc, khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức hangwng ngày của
mỗi người và của toàn xã hội.
1.3.2. Xây đi đôi với chống
Hồ Chí Minh cho rằng, nguyên tắc xây đi đôi với chống là đòi hỏi của nền đạo đức
mới, thể hiện tính nhân đạo chiến đấu vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng; xây tức là xây
dựng các giá trị, các chuẩn mực đạo đức mới; chống là chống các biểu hiện, các hành vi
vô đạo đức, suy thoái đạo đức. Để xây dựng một nền đạo đức mới, cần phải kết hợp chặt
chẽ giữa xây và chống. Chính vì vậy, việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức rõ ràng
không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây, lấy xây làm chính.
Vấn đề quan trọng trong việc giáo dục đạo đức là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành
mạnh ở mỗi người, để mọi người tự giác nhận thức được trách nhiệm đạo đức của mình,
như Hồ Chí Minh đã nói, cảm nhận thấy sâu sắc sự trau dồi đạo đức cách mạng là việc làm
“sung sướng và vẻ vang nhất trên đời”. Tiếp nhận sự giáo dục đạo đức là vấn đề nhất thiết
không thể thiếu được, nhưng sự tự giáo dục, tự trau dồi đạo đức ở mỗi người còn quan trọng hơn.
Xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải được tiến hành bằng việc giáo dục
những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới. Việc giáo dục đạo đức mới phải được
tiến hành phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, phù hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề,
giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau; phải khơi dậy được ý thức đạo đức 14
lành mạnh ở mỗi người. Bản thân sự tự giác cũng là một phẩm chất đạo đức cao quý đối
với mỗi người và mỗi tổ chức, trước hết là đối với Đảng viên, cán bộ.
Hồ Chí Minh cho rằng, trên con đường đi tới tiến bộ và cách mạng, đạo đức mới chỉ
có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên trì mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc,
chống những thói quen và tập tục lạc hậu, phải loại trừ chủ nghĩa cá nhân. Đây thực sự là
một cuộc cách mạng khó khăn, lâu dài, gian khổ, sâu sắc giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cách
mạng và phản cách mạng.
1.3.3. Tu dưỡng đạo đức suốt đời
Theo Hồ Chí Minh, tu dưỡng đạo đức như một cuộc cách mạng trường kỳ, gian khổ.
Một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của
mỗi người. Người đã nhiều lần chỉ rõ: “Mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng
đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đấy cũng là công việc phải làm kiên trì bền bỉ suốt
đời, không người nào có thể chủ quan tự mãn”.
Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa
xuống, đó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như
ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong". Do không chú ý điều này nên có
những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ
cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng, song đến khi có ít quyền
hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự
giác mà biến thành người có tội với cách mạng.
Từ rất sớm, Người đã lưu ý : “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi
người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
1.4. Phân tích vai trò của các quan điểm này trong sự nghiệp đổi mới ở VN
Nói về tầm quan trọng của chuẩn mực, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có
đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện
nay, kinh tế thị trường đã từng bước hình thành và phát triển, nó tác động mạnh mẽ đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là đến đạo đức trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. 15
Việc xuất hiện ngày càng nhiều những hiện tượng tiêu cực trong đời sống đạo đức xã hội:
tội phạm ngày càng gia tăng; lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền đang trở thành “mốt
thời đại”; nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn, sự mất phương hướng, tệ sùng ngoại... đang là
những vấn đề đáng lo ngại của xã hội. Đặc biệt là sự thoái hoá, biến chất của một bộ phận
cán bộ và Đảng viên, sự quan liêu của bộ máy nhà nước đang trở thành những nguy cơ lớn
ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không ngừng tìm
mọi cách phá hoại với những thủ đoạn thâm độc, thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình
nhằm lật đổ chế độ ta. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cho cán bộ,
Đảng viên và nhân dân càng có vai trò vô cùng quan trọng:
Thứ nhất, những chuẩn mực, đạo đức góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành
mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tư cách một hình thái ý thức xã hội, đạo đức
chịu sự tác động và ảnh hưởng quyết định của kinh tế; đồng thời, đến lượt nó, đạo đức cũng
tác động mạnh mẽ đến kinh tế như một sức mạnh được vật chất hoá. Tuỳ thuộc vào trạng
thái của đạo đức trong kinh tế như thế nào mà sự tác động của nó có thể làm cho kinh tế
suy thoái hay tăng trưởng; sự phát triển của kinh tế có thể đem lại ấm no, hạnh phúc, công
bằng cho con người hay làm trầm trọng thêm tình trạng áp bức, bóc lột, bất công, bất bình
đẳng; thu hẹp hay khoét sâu thêm khoảng cách giàu nghèo...Cơ chế thị trường với tác động
của những quy luật kinh tế khách quan, đặc biệt là quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị đã
tạo ra những hiệu ứng nhất định về xã hội - đạo đức. Ở đây, hiệu quả và lợi nhuận là mối
quan tâm đầu tiên của mọi chủ thể kinh tế; do đó, người ta coi “thương trường như chiến
trường”, ngày đêm lao tâm khổ tứ, tìm mọi cách để sản xuất, kinh doanh sao cho có lãi, thu
về nhiều tiền của. Trong “cuộc chiến” ấy, rất có thể người ta gạt bỏ mọi quy phạm đạo đức,
chỉ tôn thờ duy nhất một thứ - đồng tiền, gắn hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống với nó. Sự
sùng bái đồng tiền có thể trở thành một nguyên tắc xử thế và chuẩn mực hành vi của không
ít người, là nguyên nhân của không ít hành vi trái đạo đức, thậm chí vi phạm luật pháp. Do
tính chất khốc liệt của nó, kinh tế thị trường vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện dẫn đến
sự phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội một cách nhanh chóng. Đồng thời, những bất
công, bất bình đẳng trong xã hội, vì thế, có cơ hội và điều kiện sinh sôi, nảy nở. Thực tế đó
có thể dẫn đến kết cục ngoài mong muốn của chúng ta: sự suy thoái về mọi mặt của đời
sống xã hội, không chỉ về đạo đức, lối sống mà cả về kinh tế. Chuẩn mực đạo đức với bản
chất khoa học và cách mạng thực sự là liều thuốc vô cùng quan trọng có thể ngăn chặn
những căn bệnh “nan y” của kinh tế thị trường. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế thị trường,
xây dựng những chuẩn mực đạo đức trở thành một giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo cho sự 16
phát triển bền vững, lành mạnh của nền kinh tế, là sự khắc phục tình trạng phát triển thuần
kinh tế nhưng lệch chuẩn về đạo đức, sự tăng trưởng về kinh tế nhưng sa sút về đạo đức xã
hội như đã nói ở trên. Một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường được xây dựng và
phát triển với những chuẩn mực đạo đức sẽ là sự thống nhất cao giữa tăng trưởng kinh tế
với công bằng và tiến bộ xã hội, từng bước khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế
thị trường đối với đời sống đạo đức xã hội. Thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước trong điều kiện như vậy sẽ thực sự là yếu tố thuận lợi cho tiến bộ xã hội đích thực,
cho xã hội tương lai mà chúng ta đang hướng tới – xã hội xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, chuẩn mực đạo đức vừa góp phần hiện thực hoá mục tiêu chính trị của
Đảng ta, vừa góp phần củng cố, giữ gìn sự ổn định của chế độ chính trị. Trong mối quan
hệ giữa chính trị và đạo đức trong xã hội xã hội chủ nghĩa, có thể thấy rõ, hầu như giữa
đường lối chính trị và quan niệm đạo đức cách mạng không có sự khác biệt. Mục đích
chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam và đạo đức cách mạng là một, đó là xây dựng
một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đem lại cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, ở mỗi con người cộng sản đều là sự thống nhất cao độ
giữa con người chính trị và con người đạo đức, phẩm chất chính trị chân chính cũng là
phẩm chất đạo đức cách mạng; ngược lại, phẩm chất đạo đức cách mạng cũng bao hàm
phẩm chất chính trị của họ. Trong đó, đạo đức cách mạng là gốc để đề ra đường lối chính
trị đúng đắn, còn chính trị là đường lối, là biện pháp để thực hiện những nội dung, nguyên
tắc của đạo đức cách mạng. Cùng với việc nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, việc
giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng ở người cán bộ, Đảng viên là yêu cầu
cấp bách. Phải chăng sự khủng hoảng, sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và
Đông u trước đây có nguyên nhân từ việc không thường xuyên giữ vững sự thống nhất
giữa lập trường chính trị cộng sản với đạo đức cách mạng? Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa – cơ sở của một xã hội công bằng, bình đẳng, dân chủ, văn minh vì sự
phát triển toàn diện của cá nhân, vì tự do, ấm no, hạnh phúc của con người có phát triển
vững mạnh và bền chắc hay không phụ thuộc đáng kể vào việc chúng ta có xây dựng được
những con người mới với tư tưởng, đạo đức, tác phong xã hội chủ nghĩa hay không. Điều
đó cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của chuẩn mực đạo đức trong việc củng cố, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ ba, chuẩn mực đạo đức giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy
giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc. Ngày nay, khi xã hội hiện đại đang hàm chứa
nguy cơ xa rời hoặc đứt đoạn với các giá trị truyền thống – cái làm nên bản sắc dân tộc thì 17
vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống được đặt ra như một nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, làm thế nào để bảo tồn và phát huy được các
giá trị truyền thống trong điều kiện kinh tế thị trường đầy biến động với sự tác động mạnh
mẽ của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay? Không chỉ riêng Việt
Nam, các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt các nước phát triển ở châu Á cũng đã và
đang phải đối mặt với thách thức này, đồng thời đang phải “gồng mình” lên để tìm cách
giải quyết. Trong đó, có thể thấy Singapo là một trong những ví dụ điển hình. Các học giả
Singapo cho rằng, do nhu cầu phát triển kinh tế và du nhập kỹ thuật phương Tây, Singapo
đã phải đối mặt với những tác động tiêu cực của lối sống phương Tây và các tệ nạn xã hội
ngày một gia tăng. Trong khi đó, truyền thống đạo đức phương Đông, đặc biệt là đạo đức
Nho giáo ngày càng bị mai một đi. Người dân Singapo đang cảm thấy họ bị mất gốc; gia
đình truyền thống của họ vốn là cơ sở của xã hội, nay đã bị xáo trộn khiến cho xã hội mất
ổn định về nhiều mặt. Trước thực trạng đó, các nhà lãnh đạo Singapore đã tiến hành những
chiến dịch tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng và khởi xướng
nhiều phong trào “tái sinh về văn hóa” nhằm thúc đẩy việc khôi phục những giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, nhất là của Nho giáo. Khác với các quốc gia tư bản, Việt Nam
đang thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải có những
con người xã hội chủ nghĩa với phẩm chất chuẩn mực đạo đức cách mạng. Những chuẩn
mực, đạo đức cách mạng, một mặt, là sự phản ánh cuộc sống, đấu tranh xây dựng xã hội
mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; mặt khác, nó là sự kế thừa có chọn lọc
và phê phán những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của quá khứ. Như vậy, xây dựng
những chuẩn mực đạo đức ở nước ta hiện nay cũng chính là một trong những biện pháp
thích hợp để bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc, nhất là các giá trị đạo đức truyền thống.
Thứ tư, chuẩn mực đạo đức góp phần quan trọng cho thắng lợi của cuộc đấu tranh
chống tham nhũng hiện nay. Tham nhũng là tệ nạn vô cùng nguy hiểm cho xã hội trên tất
cả các phương diện. Về mặt kinh tế, tham nhũng làm rối loạn chính sách phân phối, gây
thất thoát tài sản nhà nước, làm cho nền kinh tế mọt ruỗng, suy yếu, dẫn tới không đủ sức
thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra. Về mặt xã hội, tham nhũng làm gia tăng tình trạng
bất công, nghèo đói, thất nghiệp cùng nhiều tệ nạn xã hội khác. Về mặt chính trị, tham
nhũng làm suy giảm niềm tin của nhân dân, gây bất ổn về chính trị – xã hội, đến một mức
độ nào đó sẽ dẫn tới sự sụp đổ chính quyền…Ở nước ta hiện nay, bên cạnh những mặt tích 18
cực và phù hợp với thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, cơ chế thị trường cũng bộc lộ khá gay gắt những mặt trái, tiêu cực của nó. Đây chính
là một trong những nhân tố cơ bản làm nảy sinh và tạo môi trường thuận lợi cho tham
nhũng hoành hành. Lợi dụng chức quyền được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho, một
bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên thoái hoá, biến chất đã vơ vét của công, tham ô, sách
nhiễu, tiêu xài công quĩ vô tội vạ, xa dân, không sâu sát với công việc... Có thể nói, tham
nhũng đã và đang trở thành “quốc nạn”, gây bất bình lớn trong dư luận và làm suy giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nước, trở thành thứ giặc “nội xâm” vô cùng
nguy hiểm cho sự bình yên của đất nước và sự vững vàng của chế độ. Trước thực trạng
này, Đảng ta chỉ rõ tham nhũng là một trong bốn “nguy cơ” và “nạn tham nhũng kéo dài
trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một trong những nguy
cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham
nhũng nghiêm trọng ở nước ta hiện nay, mà một trong những nguyên nhân cơ bản và quan
trọng là do sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng
viên. Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, thực dụng, tham lam, lối sống xa hoa, hưởng lạc, phai nhạt
lý tưởng đang là “bộ mặt thật” của không ít người có vị trí, có quyền lực trong các cơ quan
công quyền. Với sự thoái hoá, biến chất như vậy, cộng thêm những sơ hở của luật pháp,
chính sách, sự thiếu đồng bộ, bất cập của cơ chế, họ không tham nhũng mới là lạ. Muốn
giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, cùng với việc kiên quyết thực hiện
hàng loạt các biện pháp mang tính đồng bộ và toàn diện khác, chúng ta phải đặc biệt coi
trọng việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân. Về vấn
đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trong phong trào đấu tranh chống tham ô,
lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ… Chúng ta phải cứu vãn họ, giúp
họ khôi phục đạo đức cách mạng”. Điều đó càng khẳng định vai trò to lớn của chuẩn mực
đạo đức trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.
Thứ năm, chuẩn mực đạo đức góp phần quan trọng tạo ra cơ chế “phòng ngừa”,
“miễn dịch” cho xã hội, đặc biệt là cho thế hệ trẻ trước những tác động tiêu cực của cơ chế
thị trường cũng như những “âm mưu diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Sự tác
động của mặt trái của cơ chế thị trường tới đạo đức xã hội là tương đối rõ và có thể dễ dàng
nhận diện; tuy nhiên, để có thể “miễn dịch” trước nó lại là vấn đề không đơn giản. Hành vi
của con người vốn chịu sự chi phối của cơ chế lợi ích. Bản năng sống cùng thói quen tư
hữu do điều kiện sinh hoạt vật chất hiện tại đem lại khiến con người luôn có xu hướng
muốn thu vén vì lợi ích riêng của bản thân mình. Song, trong rất nhiều trường hợp, lợi ích 19
của cá nhân lại mâu thuẫn với lợi ích của người khác, lợi ích của cộng đồng, của xã hội.
Đạo đức với những chuẩn mực của nó, một mặt, không hề phủ định lợi ích cá nhân, luôn
thừa nhận và khuyến khích cá nhân phấn đấu vì lợi ích chính đáng của mình; mặt khác,
chuẩn mực đạo đức cũng hướng hành vi con người đến việc giải quyết hài hoà mối quan
hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của người khác, lợi ích của cộng đồng và xã hội. Khi
xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, đạo đức mới lại hướng
người ta đặt lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Như vậy, chuẩn mực
đạo đức đòi hỏi con người có một trình độ nhận thức và tính tự giác cao độ trong việc thực
hiện các hành vi đạo đức, vượt lên trên những toan tính cá nhân, những hành vi bản năng,
tầm thường. Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
của chúng ta hiện nay đang là “cái gai” trong mắt các thế lực thù địch, khiến chúng không
ngừng tìm cách chống phá. Không thắng nổi chúng ta bằng vũ lực, chúng chuyển sang thực
hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, hòng lật đổ chế độ của chúng ta mà không cần tốn
một viên đạn. Thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch chủ trương tiến hành chống phá
chủ yếu trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, tìm cách “nhuộm đen” chúng ta, đặc biệt là thế hệ
trẻ. Chúng muốn biến thế hệ trẻ thành những kẻ ích kỷ, thực dụng, chạy theo những lợi ích
vật chất tầm thường, phai nhạt dần lý tưởng cách mạng, quay lưng với các giá trị truyền
thống, mất gốc, lai căng… Để chống lại âm mưu thâm độc này, cách hiệu quả nhất chính
là “tương kế tựu kế”: bên cạnh việc phát triển kinh tế, phải quan tâm đến công tác tư tưởng,
văn hoá, tạo môi trường xã hội lành mạnh, xây dựng lối sống mới, con người mới mà nhân
tố cơ bản là xây dựng đạo đức chuẩn mực - đạo đức của những con người xã hội chủ nghĩa.
Có như vậy mới giúp cho chúng ta, nhất là thế hệ trẻ có được niềm tin vào thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tránh được những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường cũng như chống lại “âm mưu diễn biến hoà bình” của kẻ thù. Chúng ta đang ở trong
một giai đoạn cách mạng đầy khó khăn và thử thách, hơn lúc nào hết, những chuẩn mực
đạo đức càng tỏ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của nó đối với sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan
trọng của chúng ta hiện nay là phải tạo điều kiện cho chuẩn mực đạo đức khẳng định địa
vị thống trị của mình trong đời sống đạo đức xã hội, trở thành vũ khí tinh thần của nhân
dân lao động trong quá trình xây dựng và đấu tranh bảo vệ xã hội mới. 20