Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÀI THẢO LUẬN
Chủ đề: Phân tích quan điểm “Đảng là đạo đức, là văn
minh” của Hồ Chí Minh
Tên học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lớp học phần: 241_HCMI0111_26. Nhóm: 6
Giáo viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thúy. Hà Nội – 2024 DANH SÁCH NHÓM 6 STT MSV Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá 86 22D210218 Vũ Anh Thư Chương III: Mục 4: Nhiệm vụ Chương III: Mục 87 22D210223 Nguyễn Thị Tình 1: Một số kết quả đạt được Chương II: Mục 2: Ý nghĩa đối với đất nước 88 22D210228 Ngô Minh Trang đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH Chương II: Mục 89 22D210229 Nguyễn Minh Trang 1: Ý nghĩa đối (Nhóm trưởng) với nhân dân Việt Nam Chương III: Mục 2: Những vấn đề 90 22D210230 Nguyễn Thu Trang đặt ra hiện nay trong công tác xây dựng Đảng 91 22D210231 Phạm Thu Trang Hoàn thiện bản word Chương I: Mục 4: Xây dựng Đảng 92 22D210233 Ngô Thị Thanh Trà để "Đảng là đạo đức, là văn minh" Chương I: Mục 3: Biểu hiện của 93 22D210234 Nguyễn Thị Trà "Đảng là đạo đức, là văn minh" 94 22D210237 Trịnh Bảo Trân Không tham gia thảo luận 95 22D210238 Lê Thị Kiều Trinh Chương I: Mục 1 và mục 2 2 Chương III: Mục 3: Mục tiêu tổng 96 22D210240 Nguyễn Thành Trung quát của công tác xây dựng Đảng 97 22D210243 Hà Anh Tú Chương I: Mục 1 và mục 2 98 22D210247 Bùi Thị Vân Hoàn thiện powerpoint 99 22D210251 Hà Thị Hải Yến Thuyết Trình 100 22D210252 Nguyễn Thị Hải Yến Thuyết Trình 39 22D210101 Cao Phương Huyền Hoàn thiện powerpoint 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian, địa điểm
- Thời gian: 22h00, thứ tư ngày 25 tháng 09 năm 2024.
- Cuộc họp của nhóm 6 diễn ra trực tuyến trên ứng dụng Google Meet.
2. Thành phần tham dự
-Số lượng thành viên của nhóm 6 là 15/16 (Thiếu Trịnh Bảo Trân).
3. Nội dung cuộc họp
- Triển khai đề tài thảo luận của nhóm, nhóm trưởng đề xuất đề cương bài thảo luận của nhóm.
- Các thành viên trong nhóm đưa ra ý kiến, góp ý về đề cương.
- Thống nhất đề cương hoàn chỉnh, nhóm trưởng phân công công việc và thời gian hoàn
thành công việc cho các thành viên trong nhóm. Thư ký Nhóm trưởng
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, ghi rõ họ tên) Trang Trang Phạm Thu Trang Nguyễn Minh Trang 4 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ NỘI DUNG LUẬN ĐIỂM.................................................................7
1. Cơ sở thực tiễn và lý luận..................................................................................................7 1.1.
Cơ sở thực tiễn.............................................................................................................7 1.2.
Cơ sở lý luận................................................................................................................8
2. Khái quát về nội dung luận điểm......................................................................................9
3. Biểu hiện của "Đảng là đạo đức, là văn minh"..............................................................10
4. Xây dựng Đảng để "Đảng là đạo đức, là văn minh".....................................................13
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LUẬN ĐIỂM.....................................................................................18
1. Ý nghĩa đối với người dân Việt Nam..................................................................................18
2. Ý nghĩa đối với đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội....................18
CHƯƠNG III: LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY......20
1. Một số kết quả đạt được......................................................................................................20
2. Những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác xây dựng Đảng........................................23
3. Mục tiêu tổng quát của công tác xây dựng Đảng..............................................................25
4. Nhiệm vụ...............................................................................................................................27
KẾT LUẬN..................................................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................31 5 MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ khi có Đảng là những trang sử sôi động nhất, hào
hùng nhất, oanh liệt nhất. Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta tiếp tục giành được những thắng
lợi mang ý nghĩa lịch sử dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong
tiến trình lịch sử của dân tộc. Nhân dân Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ đã và đang được
trực tiếp hưởng thụ những thành quả của cách mạng, từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của
Đảng, nên việc giáo dục cho các thế hệ thấy được vai trò và sự cống hiến của Đảng và
đặc biệt là thấy được ý nghĩa to lớn từ sự xuất hiện, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam là vô cùng quan trọng. Đã hơn 90 năm hình thành và phát triển, Đảng cộng sản Việt
Nam luôn đóng một vai trò to lớn đối với Tổ quốc, và dân tộc. Sứ mệnh lịch sử vẻ vang
đó đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn và đẩy mạnh cuộc vận động học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bảo đảm cho Đảng ta thực sự vững mạnh
cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một cách toàn diện những vấn đề về Đảng. Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho mọi hoạt động của Đảng ta: “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Mỗi Đảng viên và cán
bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xây dựng Đảng ta xứng đáng là một người
lãnh đạo, là một người đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, phân tích quan điểm "Đảng là đạo đức, là văn
minh" không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn mang đến
những bài học sâu sắc về trách nhiệm và vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới và
phát triển đất nước. Bài tiểu luận này sẽ tập trung vào việc phân tích sâu sắc quan điểm
của Hồ Chí Minh, nhằm làm sáng tỏ giá trị tư tưởng, đồng thời rút ra những bài học thực
tiễn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ NỘI DUNG LUẬN ĐIỂM
1. Cơ sở thực tiễn và lý luận
1.1. Cơ sở thực tiễn
Bối cảnh trong nước
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu
xâm lược Việt Nam, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Hàng trăm cuộc
khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như
phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du... đều bị thực dân Pháp đàn áp và thất
bại. Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại là do những người đứng đầu các cuộc khởi
nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu
phát triển của xã hội Việt Nam.
Đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, việc tìm một con
đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời
đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ. Giữa lúc cách mạng Việt Nam
đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 05/06/1911, người
thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường
cứu nước. Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên
cứu lý luận. Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong
Quốc tế Cộng sản, tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc)
trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tổ chức cộng
sản lần lượt được thành lập:
Ngày 17/06/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.
Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.
Ngày 01/01/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.
Chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản tuyên bố
thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt
Nam. Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn
nhau, không có lợi cho cách mạng. Điều này thể hiện sự cấp thiết của cách mạng Việt
Nam là lúc này phải thành lập ngay một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam để tiếp
tục đưa cách mạng tiến lên.
Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp
tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) hội nghị nhất trí thành lập một
đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập. Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng 7
Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà
nước và xã hội Việt Nam.
Bối cảnh quốc tế
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga thực sự đã sáng tạo ra một kỷ nguyên
mới của nước Nga, đồng thời đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Sau
Cách mạng Tháng 10 Nga và việc thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô
viết (Liên Xô) đã chỉ hướng cho nhân dân các quốc gia bị áp bức và các nước thuộc
địa về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Quốc tế Cộng sản được thành lập với
nhiệm vụ giải phóng dân tộc các quốc gia bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới với giai
cấp vô sản là nòng cốt.
Ngày 27 tháng 10 năm 1929, Quốc tế Cộng sản gửi cho người Cộng sản tại
Đông Dương về việc thành lập một Đảng Cộng sản tại Đông Dương, nhấn mạnh:
“Nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả những người Cộng sản Đông Dương là thành
lập một Đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng
Cộng sản có tính chất quần chúng Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ
chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương” .
1.2. Cơ sở lý luận
Truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Tư tưởng về “Đảng là đạo đức, là văn minh” của Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ
truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc, trong các cuộc đấu tranh gian khổ đó, nhân dân ta đã sớm có ý thức đoàn kết
cộng đồng, tương thân tương ái, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau... Những đức tính tốt đẹp
về đạo đức đó được các thế hệ người Việt Nam kế thừa và bồi đắp từ đời này qua đời
khác, trở thành những giá trị đạo đức cao đẹp, bền vững của dân tộc ta.
Tinh hoa văn hóa nhân loại
Trước khi đến với chủ nghĩa nhân đạo cao cả của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí
Minh đã tìm thấy và nhận thức được những giá trị nhân bản, hạt nhân hợp lý trong đạo
đức phương Đông, phương Tây. Song sự tiếp thu, kế thừa của Hồ Chí Minh bao giờ cũng
trên cơ sở có chọn lọc và phê phán.
Đối với phương Đông, Hồ Chí Minh coi trọng và đánh giá cao những giá trị tích
cực, tiến bộ trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo. Đặc biệt trong học thuyết của Khổng
Tử, Người cho rằng, “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng
Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”.
Đối với phương Tây, người đánh giá cao tinh thần nhân đạo, dân chủ và nhân quyền
được thể hiện trong các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, nổi bật là tư tưởng “tự do,
bình đẳng, bác ái”. Người cho rằng, đó là một tư tưởng tiến bộ có sức hấp dẫn đối với 8
quần chúng nhân dân lao động, nhưng đã bị giai cấp tư sản lợi dụng để mị dân, xúi dục
quần chúng đánh đổ giai cấp phong kiến để đoạt lấy quyền cai trị vào tay mình, rồi quay
trở lại đàn áp nhân dân.
Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu được những giá trị đạo đức tốt đẹp của cả phương
Đông và phương Tây để mở rộng sự hiểu biết, làm phong phú, làm giàu thêm trí tuệ của mình.
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin
Theo quan điểm của Mác - Lênin, “trong xã hội xây dựng trên cơ sở phân chia giai
cấp, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp thù địch, đến một chừng mực nào đó, sẽ trở thành
đấu tranh chính trị. Đấu tranh của Đảng là phản ánh đấu tranh chính trị của giai cấp có
giá trị đầy đủ và có thể thức dứt khoát nhất”. Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh
của mình là giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bóc lột và lật đổ sự thống trị
của giai cấp tư sản thì cần phải có sự thống nhất về mục đích và tổ chức. Và chỉ có đảng
chính trị mới có thể đem lại sự thống nhất ấy.
Theo V. Lênin với Tuyên ngôn của đảng cộng sản, chủ nghĩa Mác đã trở thành thế
giới quan hoàn chỉnh của giai cấp công nhân. V.Lênin cũng đã nhấn mạnh: Nhiệm vụ
quan trọng của đảng cộng sản là “phải tích cực giáo dục chính trị cho giai cấp công nhân,
là phải tăng cường giác ngộ chính trị cho giai cấp công nhân” và từ đó “chỉ có đảng được
vũ trang bằng lý luận tiên phong mới đóng được vai trò là người chiến sĩ tiên phong”.
Từ rất sớm, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ điều đó. Trong
toàn bộ hoạt động của Đảng, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của lý luận, lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng. Trước hết, phải vì lợi ích của giai cấp, của toàn thể nhân dân và dân tộc Việt Nam;
phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, dẫn đường chỉ lối cho nhân dân hành
động phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và thời đại.
Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là người có tư duy độc lập, tủ chủ, sáng tạo, có tầm nhìn chiến lược,
phê phán, đổi mới đã vận dụng đúng quy luật chung của cách mạng thế giới vào hoàn
cảnh riêng trong xã hội Việt Nam
Hồ Chí Minh thấm nhuần, vô cùng thấu hiểu về phong trào giải phóng dân tộc, về
xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đảng cộng sản… không chỉ qua nghiên cứu mà còn
qua việc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, qua hoạt động trong Đảng Cộng sản
Trung Quốc, tham gia phong trào cộng sản quốc tế ở nhiều nước.
Trong bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (năm 1960), Hồ Chí
Minh đã cho rằng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
2. Khái quát về nội dung luận điểm 9
Đạo đức và văn minh là sự thống nhất, hòa quyện, phản ánh trình độ phát triển cao,
bản chất tốt đẹp của một đảng chân chính cách mạng, để thực hiện sứ mệnh cao cả là
“ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ
đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc; đồng thời, đặt ra trách nhiệm lớn lao cho công
cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức.
Bắt nguồn từ học thuyết của Mác về Đảng cộng sản và trực tiếp từ học thuyết về
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân đã được Lênin đưa ra từ những năm đầu của thế
kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu có chọn lọc và phát triển lý luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin về Đảng cộng sản, đồng thời chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho
sự ra đời của Đảng cách mạng - Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điểm của Người
về Đảng cộng sản và xây dựng Đảng, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền là một
phần rất quan trọng, vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố
quyết định hàng đầu, để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
3. Biểu hiện của "Đảng là đạo đức, là văn minh"
Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930 - 03/02/1960), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và “Đảng ta thật là
vĩ đại”. Khẳng định Đảng ta là đạo đức, là văn minh bởi Đảng là một tổ chức chính trị
chân chính, trung thực, trung thành, quang minh, chính đại, chung thủy, tôn trọng công lý
và chính nghĩa, phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân
dân. Đảng bao gồm những người ưu tú của xã hội kết thành một tổ chức có năng lực, trí
tuệ cao, có trình độ văn hóa , lí luận đủ sức tiên phong dẫn đường cho nhân dân trong các
giai đoạn phát triển của lịch sử.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”
Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trước hết thể hiện ở bản chất và mục đích của
Đảng, “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của dân tộc”. Một đảng đạo đức, văn minh không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài, mà phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ
quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích của
người cách mạng là để làm đầy tớ cho nhân dân, một người đầy tớ xứng đáng, trong sạch,
trung thành chứ không phải là mục đích thăng quan phát tài”. Nói cách khác, đạo đức
cách mạng cao nhất của Đảng và mỗi đảng viên là chí công vô tư. Đảng viên phải thật
thà, trung thành, hăng hái; trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình; phải hy 10
sinh lợi ích của mình cho Đảng, cho Tổ quốc và dân tộc. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ việc gì,
người cán bộ, đảng viên đều phải tính đến lợi ích chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của
dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.
Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” thể hiện ở bản lĩnh, dũng khí, sự trung thực,
thẳng thắn, “không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải
nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng
viên”. Đảng phải giữ chủ nghĩa cho vững, thành thực trong chính trị với nội dung căn cốt
là “đoàn kết và thanh khiết từ to đến nhỏ”.
Bản lĩnh, dũng khí của Đảng không chỉ là gan dạ trước kẻ thù, trong xà lim, án
chém, mà còn là dám tự phê bình và phê bình, cả trong nội bộ Đảng và trước nhân dân.
Đảng phải biết tự chỉ trích, thành thực trong nhận khuyết điểm, sai lầm để sửa đổi, tự tiến
bộ. Đảng không tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tiến bộ được. Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ, uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê
bình, biết học hỏi quần chúng nhân dân, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày
càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng nhân dân
phê bình. Người nhấn mạnh, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng
hỏng; một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà
có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để
sửa chữa khuyết điểm đó, là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.
Cùng với thái độ chân thành, không che giấu khuyết điểm và thừa nhận khuyết
điểm, Đảng còn phải luôn luôn xem xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình
đã được thi hành như thế nào, đi vào cuộc sống đến đâu. Đây là một khía cạnh quan trọng
thuộc về tư cách của đảng chân chính cách mạng. Đảng là đạo đức, văn minh chỉ khi các
nghị quyết, chỉ thị của Đảng đi vào cuộc sống, được tổ chức triển khai hiệu quả trong
thực tiễn. Không che giấu khuyết điểm, dám tự chỉ trích và luôn luôn xem xét lại công tác
của Đảng là một cách tự hoàn thiện mình. Đó là một khía cạnh thể hiện văn hóa của
Đảng, giá trị của Đảng.
Đảng là đạo đức, là văn minh, tức là phải hiểu dân, học dân, hỏi dân, thuận lòng
dân, “theo đúng đường lối nhân dân”; “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”;
“phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đảng văn minh
là khi lời nói và việc làm của đảng phải làm cho nhân dân tin, nhân dân phục, nhân dân
yêu; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả, bởi “Ý dân là ý trời”. Làm đúng ý
nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”. Người nhấn mạnh,
việc gì đúng với nguyện vọng của nhân dân thì đều được quần chúng nhân dân ủng hộ và
hăng hái đấu tranh; và như vậy, mới thật sự là một phong trào quần chúng. Đảng phải
nhận thức sâu sắc được rằng, tư tưởng và hành động của Đảng là vì nhân dân và Đảng
mạnh là do sự ủng hộ của nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng không phải là một đặc quyền
theo kiểu “đảng trị”, mà là thực hiện sứ mệnh phục vụ nhân dân. Đảng “không sợ kẻ địch 11
nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến
mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.
Một trong những biểu hiện có giá trị nhất của một đảng đạo đức, văn minh là thực
hành dân chủ theo đúng nghĩa “chế độ ta là chế độ dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ”.
Dân chủ là làm cho người dân có năng lực làm chủ, biết thụ hưởng và dùng quyền làm
chủ, dám nói, dám làm, dám phê bình Đảng. Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng giúp
Đảng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chế độ
ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả
các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và
ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Thuận lòng dân là không làm việc theo lối quan liêu, “quan” chủ; đồng thời, tuyệt
đối không “theo đuôi quần chúng”, mà phải “làm theo cách quần chúng”. Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, “việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân
chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải
quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết
gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân
chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”. Tuyệt đối không làm việc theo cách đóng
cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng
theo. Bởi vì, “làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút
thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đầy tớ cho quần chúng và
phải làm cho ra trò, nếu không quần chúng sẽ đá đít. Muốn như thế phải gần quần chúng,
học quần chúng, lãnh đạo quần chúng, cái gì lợi cho quần chúng thì làm, hại cho quần
chúng thì tránh. Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”.
Đạo đức và văn minh của Đảng thể hiện ở tư duy khoa học, cách mạng, đổi mới,
sáng tạo, tầm nhìn về tương lai, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển
của thế giới. Theo V.I. Lê-nin, người cộng sản phải có dũng khí nhìn vào sự thật, phải có
gan vứt bỏ những nhận thức của ngày hôm qua không phù hợp với tình hình diễn biến
của ngày hôm nay, phải biết “thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích
của chúng ta, nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không
thích hợp nữa, không đi theo được nữa”. Đó chính là phương châm hành động “dĩ bất
biến ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong suốt sự nghiệp cách
mạng của mình. Về nguyên tắc, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là
bất di bất dịch, nhưng sách lược phải được thực hiện một cách mềm dẻo. “Ta không thể
giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... Ta có thể
đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân
ngày càng tiến bộ; vì vậy, Đảng phải có đủ gan góc, đủ tinh thần phụ trách để quyết định 12
phương hướng chính trị mới, thay đổi cách thức công tác và đấu tranh, dám bỏ những
khẩu hiệu và những nghị quyết đã cũ, không hợp thời, đưa những nghị quyết và khẩu
hiệu mới thay vào. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tình hình khách quan thay đổi hàng giờ
hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta
không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai
hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh
nhẹn hơn vượt đi trước”.
Kết hợp “đức trị” với “pháp trị” là một nét đẹp tiêu biểu về đạo đức, văn minh của
một đảng chân chính cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “sửa chữa sai lầm, cố
nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt
nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì
sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng
xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”. Người chỉ
rõ, pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, dù cho có đang nắm giữ cương vị
nào. Tính nghiêm minh của pháp luật kết hợp với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của Đảng
từ trên xuống dưới để nhất trí về tư tưởng và hành động là một biểu hiện và phương thức
hành động của một đảng đạo đức, văn minh.
4. Xây dựng Đảng để "Đảng là đạo đức, là văn minh"
Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (03/02/1930 - 03/02/1960), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và “Đảng ta thật là
vĩ đại”. Người đã đặt vấn đề đạo đức lên hàng đầu trong công tác xây dựng đảng. Bởi,
theo Người: Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức
hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca
ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy, tự đổi
mới, tự chỉnh đốn Đảng là một yêu cầu khách quan trong các thời kỳ cách mạng. Tất
nhiên, một đảng tiên phong cách mạng nếu chỉ “là đạo đức” thì chưa đủ mà còn phải “là
văn minh”, phải tiêu biểu cho cả trí tuệ của dân tộc, có năng lực nhận thức quy luật và
hành động cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng tiến lên.
Trung thành và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và coi trọng công tác xây
dựng, chỉnh đốn để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh. Bởi đạo đức là biểu hiện
trực tiếp của tư tưởng, chỉ đạo tư duy và hành động của con người. Giáo dục chính trị, tư
tưởng, bồi dưỡng tình cảm, xây dựng nhân cách người đảng viên, cũng như chăm lo củng
cố xây dựng tổ chức đảng phải đặt trên nền tảng đạo đức cách mạng, bảo đảm hiệu quả vững chắc và lâu bền.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người đã giành trang đầu tiên để viết về tư
cách đạo đức của người cách mạng. Đặc biệt, trong Di chúc, Người nhấn mạnh: Đảng ta
là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách 13
mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ một trong những tư cách của người cách mạng là
“ít lòng ham muốn về vật chất”, cái hữu hạn của giá trị vật chất so với cái vô hạn của giá
trị tinh thần: Ai chẳng muốn no cơm, áo ấm. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người ta
hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt vẫn lan truyền đến ngàn đời về sau. Vì vậy, người cách
mạng chớ để cho ham muốn vật chất tầm thường làm cho mình sa ngã.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, gần 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng
thành, Đảng ta luôn đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo và đưa
cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, thường xuyên quan
tâm chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn để Đảng luôn vững mạnh về mọi mặt, để mỗi
cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, phát huy vai trò tiền phong,
gương mẫu, trở thành “người đầy tớ” thật trung thành của nhân dân. Sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì
vậy, phải chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây
dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm đáp ứng những vấn đề bức thiết thực tiễn đặt ra.
Công tác xây dựng Đảng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng không chỉ là tổ chức lãnh đạo chính trị mà
còn là nơi tập hợp, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, những người trực
tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ
rằng sự tồn tại và phát triển của Đảng gắn liền với lòng tin của nhân dân. Chính vì vậy,
việc nâng cao chất lượng tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở là một yêu cầu cấp thiết.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về xây dựng
Đảng, nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết từ thực tiễn. Một trong những nghị quyết
nổi bật là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) được thông qua vào năm 2012, trong đó đề
ra nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng Đảng, củng cố niềm tin của nhân
dân đối với Đảng. Nghị quyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khắc phục những
khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng và chỉ rõ rằng: “Một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.”
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) được thông qua năm 2016 nêu rõ: Đất nước ta
chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu
không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và
đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, cũng nêu rõ những hạn
chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng và khẳng định quyết tâm của Đảng trong
việc tự chỉnh đốn, tự phê bình để nâng cao uy tín. Nội dung nghị quyết đề cập đến tình
trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đồng thời nhấn 14
mạnh sự cần thiết phải giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhằm nâng cao
phẩm chất và trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ về chính trị,
tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Cương lĩnh, đường lối đổi mới của Đảng không ngừng
được bổ sung, phát triển và hiện thực hóa. Trình độ lý luận của Đảng và cán bộ, đảng
viên được nâng cao, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Hệ thống tổ chức
đảng được xây dựng, củng cố vững mạnh từ Trung ương tới cơ sở, chú trọng nâng cao
chất lượng đảng viên, đổi mới công tác cán bộ. Đại đa số cán bộ, đảng viên có ý thức tự
rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, nêu cao trách nhiệm phục vụ
nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới bắt nguồn từ
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tuy nhiên, công tác xây dựng đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên
Một số nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên chủ yếu đến từ bản thân họ, khi họ thiếu tu dưỡng và rèn luyện. Nhiều cán bộ không
vững vàng trong lập trường tư tưởng, dễ bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài như sự
cám dỗ của lợi ích vật chất. Chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ và lòng tham cũng là những yếu tố
làm suy yếu vai trò của Đảng. Bên cạnh đó, một số cán bộ và đảng viên đã bị tha hóa bởi
quyền lực, dẫn đến sự sa sút về đạo đức và phẩm chất chính trị. Những sai lầm trong lãnh
đạo, như giáo điều và chủ quan duy ý chí, đã dẫn đến những khuyết điểm nghiêm trọng
trong công tác xây dựng Đảng. Theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), tình trạng này
không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng mà còn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Biện pháp
Trước yêu cầu nâng cao uy tín, vị thế của Đảng ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình
mới, để xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng
viên về hiệu quả của công tác xây dựng đảng.
Đây là biện pháp cơ bản, xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: Tư tưởng đúng thì hành động mới không sai lạc và mới làm
tròn nhiệm vụ cách mạng được. 15
Cấp ủy, tổ chức đảng, cần làm tốt việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiê … m
của cán bộ, đảng viên về xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh. Kết hợp chặt
chẽ giữa giáo dục của tổ chức với tự giáo dục của từng cán bộ, đảng viên. Phải thường
xuyên học tập, nghiên cứu để nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của các cấp ủy
đảng. Thực hiện có nền nếp, chế đô … sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình. Thực
hiện đúng các chế độ và cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cần thiết cho cán bộ, đảng
viên, nhất là về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. Chủ động phát hiện và đấu tranh
với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; ngăn ngừa và khắc phục kịp thời những
biểu hiện thiếu trách nhiệm trong thực hiê … n nhiê …
m vụ. Đồng thời, phát huy trách nhiê … m tự
bồi dưỡng, tự rèn luyê …
n nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ, đảng viên bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và hiệu quả công tác cán
bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp thực hiện nghị quyết của Đảng. Cấp
uỷ, tổ chức đảng các cấp cần phải thường xuyên coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, đảng viên, gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Tập trung lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết
về công tác cán bộ và chính sách cán bộ; thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ theo đúng quy định; tăng cường
giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên toàn diện, nhất là bồi dưỡng trình độ lý luận chính
trị và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Quản lý chặt chẽ
cán bộ, đảng viên trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, năng lực, ý
thức tổ chức kỷ luật và các mối quan hệ xã hội. Chú trọng rèn luyện cán bộ, đảng viên
thông qua hoạt động thực tiễn. Kết hợp đánh giá, phân loại chất lượng, khen thưởng, bố
trí, sử dụng và thực hiện đúng chính sách cán bộ.
Ba là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đẩy
mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII).
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là nội dung cơ
bản trong công tác xây dựng đảng, nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, là cơ sở để xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh.
Các tổ chức đảng cần tiếp tục nâng cao năng lực cụ thể hóa, thực hiện nghị quyết.
Thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ. Coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn xây dựng đội
ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thực hiện tốt công tác 16
kiểm tra, giám sát. Đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, suốt đời cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân. Đưa việc
học tập và làm theo Bác Hồ trở thành công việc thường xuyên, hàng ngày của mỗi tổ
chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách,
nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đổi mới phong cách làm việc, nói đi đôi với làm,
thực hiện nghiêm túc quy định về những điều đảng viên không được làm. Động viên,
khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
và hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của các tổ chức đảng.
Bốn là, thực hiện tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; nâng cao hiệu
lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng.
Chi bộ, đảng bộ cơ sở chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ quy định về quản lý
đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng với tự quản lý của đảng viên,
giữa quản lý đảng viên với quản lý cán bộ, giữa quản lý nội bộ đảng với tổ chức quần
chúng tham gia quản lý. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng nơi đảng viên
công tác với quản lý của tổ chức đảng nơi cư trú để nắm chắc về lý lịch chính trị, quan hệ
gia đình, nhất là những đảng viên có hoàn cảnh cá biệt để tổ chức đảng có cơ sở đánh giá, nhận xét chính xác.
Kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các biện pháp của công tác tư tưởng, tổ
chức để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Tổ chức tốt việc học tập nâng cao trình độ lý luận
chính trị, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên về lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo
đức, lối sống, năng lực công tác…
Cấp uỷ, ủy ban kiểm tra các cấp cần nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác
kiểm tra, giám sát, xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra, giám sát tổ chức
đảng, đảng viên thuộc quyền. Tập trung kiểm tra, giám sát việc thi hành Điều lệ Đảng,
nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Thực hiê …
n chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ
gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật của cán bộ, đảng viên. Kết hợp kiểm
tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra, giám sát định kỳ. Chủ đô … ng phát hiện kiểm tra
đảng viên, tổ chức đảng. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng. Xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời những cán
bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật. 17
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LUẬN ĐIỂM
1. Ý nghĩa đối với người dân Việt Nam
Xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng:
Thực hiện tốt công tác Đảng là đạo đức là văn minh, Đảng đã khẳng định Đảng là tổ
chức trong sạch, vững mạnh, xứng đáng vừa là nhà lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung
thành của nhân dân. Ngày mà Đảng không còn là đạo đức là văn minh, ngày đó Đảng
không còn được người dân quý mến, ủng hộ, tin tưởng, đúng như Bác đã nói: “Một dân
tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất
định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không
trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Xưa nay, niềm tin của người dân Việt Nam luôn gắn liền với niềm tin vào tấm
gương đạo đức của người cầm quyền. Đối với các dân tộc phương Đông thì “Một tấm
gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Quần chúng chỉ quý
mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực
thước cho người ta bắt chước.
Nhìn lại chặng đường vẻ vang mà Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam và nhớ lại
câu nói sinh thời của Bác Hồ kính yêu: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, mỗi người
Việt Nam càng tự hào về Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại, chính Bác Hồ là đỉnh cao
của đạo đức và văn minh! Là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa
lãnh tụ với nhân dân và Đảng với nhân dân. Điều này chứng tỏ, chưa ở đâu mà Đảng và
lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như ở dân tộc Việt Nam.
Xây dựng xã hội Việt Nam đạo đức, văn minh
Đối với Đảng, khi nói “xây dựng Đảng về đạo đức” thì đạo đức ở đây chính là đạo
đức cách mạng, bao gồm các nguyên tắc, chuẩn mực phản ánh bản chất của Đảng. Do đó,
việc xây dựng Đảng về đạo đức có tính lan tỏa, định hướng đạo đức xã hội nhằm thực
hiện có hiệu quả các mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đã đề ra. Đạo đức cách mạng cũng chính
là cốt lõi của văn hóa chính trị, văn hóa cầm quyền.
Xây dựng Đảng văn minh cũng chính là xây dựng, nâng cao trình độ lãnh đạo, quản
lý của Đảng, của nhà nước, hoặc rộng hơn là các cán bộ, những người đại diện cho ý chí
quốc gia, với thước đo được đánh giá ở tính ưu việt, tiến bộ, vượt qua cái thoái bộ, lạc
hậu. Khi nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là bao hàm cả đạo đức, văn minh của toàn
Đảng và đạo đức, văn minh của mỗi đảng viên; thể hiện ở bản chất, mục tiêu, sứ mệnh, tổ
chức và hoạt động, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tư cách, nghĩa vụ và
hành động của người Đảng viên. 18
Xây dựng Đảng đạo đức, văn minh cũng chính là xây dựng cốt cách người Đảng
viên đạo đức, văn minh, xứng đáng trở thành tấm gương sáng lan tỏa những giá trị tốt
đẹp, tiến bộ; góp phần xây dựng, củng cố một xã hội chuẩn mực, đạo đức, văn minh, phát
triển toàn diện, đặc biệt trước bối cảnh Việt Nam tiến vào thời kỳ hội nhập thế giới với
nhiều thách thức mới trong mặt trận chính trị - văn hóa.
2. Ý nghĩa đối với đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đạo đức và văn minh là những yếu tố quan trọng
trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Người không chỉ coi đạo đức là nền
tảng của con người mà còn là linh hồn của cả dân tộc. Trong bối cảnh đất nước đang
trong quá trình chuyển mình từ một nền kinh tế phong kiến, thuộc địa sang một xã hội
công bằng, văn minh, những giá trị đạo đức được người đề cập đến trở nên hết sức cần
thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc hình thành một thế hệ con người mới,
mang trong mình tinh thần yêu nước, trách nhiệm với cộng đồng và lòng tự trọng sẽ tạo
ra động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập là sự kết hợp giữa lý tưởng
cách mạng và các giá trị nhân văn. Người cho rằng, để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội
chủ nghĩa, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải giữ gìn và phát huy đạo đức cách mạng. Điều
này không chỉ là yêu cầu đối với những người lãnh đạo mà còn đối với toàn thể nhân dân.
Lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước phụ thuộc rất lớn vào sự gương mẫu và
phẩm chất đạo đức của các nhà lãnh đạo. Qua đó, đạo đức cách mạng trở thành một động
lực thúc đẩy sự đoàn kết, thống nhất trong xã hội, tạo ra một khí thế mạnh mẽ trong cuộc
đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước.
Bên cạnh đó, Người cũng khẳng định rằng văn minh không chỉ đơn thuần là những
thành tựu vật chất mà còn bao gồm cả đời sống tinh thần của con người. Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi việc nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa. Khi con người được giáo dục tốt, hiểu biết và
có nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống, họ sẽ có khả năng đóng góp tích cực cho sự
phát triển của xã hội. Văn minh, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là sự hòa quyện giữa
phát triển kinh tế và đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Người cũng nhấn mạnh đến việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc tiên tiến, đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc. Người cho rằng, trong quá trình phát triển, cần phải giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc
những tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này không chỉ giúp nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân mà còn tạo ra sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, hướng tới mục tiêu
chung là xây dựng một đất nước giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.
Cuối cùng, việc thực hiện các giá trị đạo đức xã hội chủ nghĩa, như yêu thương,
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, sẽ tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh. Điều này không 19
chỉ giúp giải quyết các vấn đề xã hội mà còn góp phần giảm thiểu bất bình đẳng, cải thiện
đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, một xã
hội công bằng, văn minh chỉ có thể được xây dựng khi mọi người đều có cơ hội tham gia
và được đối xử bình đẳng.
Tóm lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và văn minh không chỉ là
những tư tưởng lý thuyết mà còn là kim chỉ nam cho hành động. Những giá trị này góp
phần xây dựng một xã hội phát triển, hạnh phúc và bền vững trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, tạo ra nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 20