Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC ------------------------------ BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG
CHUẨN MỰC, NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG. LIÊN
HỆ TỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
Lớp học phần: 232_HCMI0111_21
Giảng viên hướng dẫn: Vũ Thị Thu Hà Hà Nội, 03/2024 MỤC LỤC
A. ĐỀ TÀI CHÍNH...................................................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................4
Chương 1: Khái niệm và cơ sở hình thành............................................................4
1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng........................................4
1.1.1 Khái niệm (giải thích những khái niệm công cụ của đề tài)......................4
1.1.2. Tầm quan trọng của đạo đức cách mạng..................................................4
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng....................6
1.2.1. Cơ sở lý luận..............................................................................................6
1.2.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................11
Chương 2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên tắc đạo
đức cách mạng........................................................................................................14
2.1.Quan điểm của HCM về những chuẩn mực đạo đức cách mạng...................14
2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân..................................................................14
2.1.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư....................................................15
2.1.3. Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa........................................16
2.1.4. Tinh thần quốc tế trong sáng...................................................................17
2.2. Quan điểm của HCM về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng...19
2.2.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức..............................................19
2.2.2. Xây đi đôi với chống................................................................................22
2.2.3.Tu dưỡng đạo đức suốt đời.......................................................................25
Chương 3: Liên hệ quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên
tắc đạo đức cách mạng tới sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam.................27 1
3.1. Thực trạng việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực,
nguyên tắc đạo đức cách mạng tới sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam.......27
3.1.1. Nhận thức của thế hệ sinh viên Việt Nam về việc vận dụng quan điểm
của Hồ Chí Minh vào quá trình rèn luyện đạo đức hiện nay............................27
3.1.2. Đánh giá quá trình rèn luyện đạo đức của thế hệ sinh viên Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay....................................................................................30
3.2. Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong quá trình rèn luyện đạo đức cho
sinh viên Việt Nam hiện........................................................................................32
3.3. Giải pháp.......................................................................................................35
PHẦN KẾT LUẬN.................................................................................................37
B. ĐỀ TÀI PHỤ......................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................48 2 A. ĐỀ TÀI CHÍNH PHẦN MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng vĩ đại của
dân tộc cũng như của thế giới. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đạo đức l
à một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh. Tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh rất sâu sắc, phong phú, cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một bộ
phận vô giá của văn hóa dân tộc và nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắ
ng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là di sản tinh thần,
giá trị nhân văn to lớn của Đảng và dân tộc ta. Đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, đ
ảng viên, lớp người sẽ kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của ông cha ta trong thờ i kỳ mới.
Sinh thời Người nói: ‘Làm cách mạng trước hết phải cách mạng tấm lòng. C
ải tạo xã hội, trước hết phải cải tạo bản thân mình. Kiểm tra đầy đủ lòng mình, bản
thân mình.Tự phê bình cho thành nề nếp. Trước hết sức mình tu dưỡng bản thân. Sa
u mới có thể khuyên bảo cấp dưới. Sau mới có thể làm cho quần chúng noi theo’.
Chính vì vậy, việc bổ sung và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức, nguyên
tắc cách mạng theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay mà Đảng chỉ đạo tổ chức thực hiện có ý nghĩa quan t
rọng nhằm đem lại lợi ích hiệu quả trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam. 3 NỘI DUNG
Chương 1: Khái niệm và cơ sở hình thành
1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng
1.1.1 Khái niệm (giải thích những khái niệm công cụ của đề tài)
Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng.
Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại mọi công việc, phẩm chất của mỗi con người.
Đạo đức luôn được đặt bên cạnh tài năng, gắn đức với tài...
Đạo đức là thước đo lòng cao thượng của mỗi con người.
1.1.2. Tầm quan trọng của đạo đức cách mạng
Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã
nêu rõ đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người. Hồ Chí Minh nhiều lầ
n khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của n
gười cách mạng.Người coi đạo đức rất quan trọng như gốc của cây, như ngọn nguồ
n của sông, suối. Trong tác phẩm Sửa đối lối làm việc (1947), Người viết: “Cũng n
hư sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân t
ộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức,
không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Trong tác p
hẩm Đạo đức cách mạng (1958), Hồ Chí Minh viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã
hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm
vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mớ
i gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm
nền tảng, mới hoànthành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang ” Người chỉ rõ, cán bộ, 4
đảng viên muốn cho dân tin, dân phục, thì cần nhớ rằng: “Trước mặt quần chúng, k
hông phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng c
hỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”.
Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại mọi công việc, phẩm chất
của mỗi con người. Trong bài Người cán bộ cách mạng (1955), Hồ Chí Minh yêu c
ầu “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng... Mọi việc thành hay là b
ại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”. Bởi vì,
có đạo đức cách mạng trong sáng mới làm được những việc cao cả, vẻ vang. Người
quan niệm, “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt cán. Việc Đoàn thể lấy cán bộ làm cốt
cán. Cán bộ lấy đạo đức làm cốt cán. Theo Hồ Chí Minh, “Đại đa số chiến sĩ cách
mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngà
y thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công... Đạo đức ấ
y có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ t ục thuần phong”
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạnglà chỗ dựa giúp cho con người vững
vàng trong mọi thử thách. “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, t
hất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước..., khi gặp thuận lợi và thành công vẫn gi
ữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”
Trong Di chúc, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên
và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh
đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đoàn viên và thanh niên ta nói
chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến t
hủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niê
n, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừ 5
a “chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và r ất cần thiết”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thự
c tế làm thước đo. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng,
gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế. Người nói: “P
hải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất m
à đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trư
ơng hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chấ
t và năng lực phải thống nhất làm một. Trong đó, đạo đức là gốc, là nền tảng của ng
ười cách mạng. Người đòi hỏi tài năng phải gắn chặt và đặt vững trên nền tảng đạo
đức. Hồ Chí Minh thường khuyên: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn
đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đ
ức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”.
Đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người. Trong bài Đạo đức các
h mạng (1955), Hồ Chí Minh viết: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác
nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là ngư ời cao thượng”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thự
c tế làm thước đo. Do vậy, đạo đức luôn được đặt bên cạnh tài năng, gắn đức với tài.
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Cơ sở lý luận
a. Truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. 6
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một hệ thuyết vừa đầy đủ, trọn vẹn nhấ
t, vừa gần gũi, sâu sắc nhất trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người. Nó đầy đủ
với mọi đối tượng, trọn vẹn ở mọi lĩnh vực phạm vi, gần gũi ở phong cách, phương
thức thể hiện, sâu sắc ở triết lý, ý nghĩa. Chính vì thế, đạo đức của Hồ Chí Minh đồ
ng thời cũng là tư tưởng, nhân cách, triết lý sống, hành động cách mạng của Người.
Bởi lẽ, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đã hoàn toàn thâm nhập, chứa đựng trong
mọi lĩnh vực quan điểm của Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh như một cây xan
h lớn từ đất mẹ Việt Nam, vươn cành hấp thụ tinh hoa Đông - Tây để tỏa rợp bóng mát mãi về sau.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam. Truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, yêu thương con ng
ười, quý trọng hiền tài ngấm sâu vào trái tim, tâm hồn Hồ Chí Minh, soi rạng trí tuệ
người từ thuở Hồ Chí Minh còn là cậu bé đầu để chỏm. Lịch sử đấu tranh dựng nướ
c, giữ nước, chống thiên tai, chống loạn giặc ngoài của dân tộc giúp Hồ Chí Minh h
iểu được giá trị của cuộc sống, giá trị thiêng liêng của tự do, hòa bình. Chính vì thế,
Hồ Chí Minh trân trọng tự do dân tộc, hòa bình, hạnh phúc của nhân dân. Hơn nữa,
cũng chính truyền thống yêu nước mà truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con ng
ười, quý trọng hiền tài của dân tộc Việt Nam được nảy sinh, nuôi dưỡng. Nhìn lại lị
ch sử dân tộc, cả những lúc hưng thịnh lẫn khi suy yếu mới thấy được giá trị và sức
mạnh của truyền thống nhân nghĩa, chủ nghĩa nhân dân. Đây chính là yếu tố củng c
ố sức mạnh dân tộc, khơi dậy chủ nghĩa yêu nước, ý thức chủ quyền khi đất nước c
ó ngoại xâm và huy động trí lực muôn dân khi hòa bình. “Nam Quốc Sơn Hà”, “Bì
nh Ngô Đại Cáo” không chỉ là những bản tuyên ngôn độc lập của lịch sử dân tộc, m
à còn là một triết lý nhân sinh của dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, coi trọng
con người, tôn quý sinh mạng, dù là sinh mạng của người Việt hay người Minh, dù
là người Nam hay người Hán. Như vậy, truyền thống nhân nghĩa, yêu thương con n 7
gười, quý trọng hiền tài vừa được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước vừa bồi đắ
p, truyền thống yêu nước thêm vững bền rắn chắc.
Thêm vào đó, Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo truyền
thống Nho giáo của người ông, người cha dốc lòng vì dân, vì nước, có người mẹ, n
gười chị hết lòng vì chồng vì con trước cuộc sống nơi làng quê yên bình mộc mạc v
ới những người nông dân hiền lành, chân chất, chăm lo lao động và một môi trường
của những người thầy tận tụy, mẫu mực như thầy Vương, Hồ Chí Minh đã được hấ
p thụ trọn vẹn những phẩm chất, những truyền thống cao quý của người Việt Nam.
Người còn được trực tiếp nhìn thấy những cảnh đau lòng, bất công, bạo ngược của
bọn thực dân, phong kiến đối với nhân dân lao động. Lòng yêu nước, thương dân đ
ã tiếp thêm nghị lực, sức mạnh cho Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh nhằm thực h
iện một mục đích cao cả, “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn t
ự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Những giá tr
ị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê hương, gia đình đã được Hồ Chí Mi
nh kế thừa, phát huy, phát triển lên một tầm cao mới, của thời đại mới và được thể
hiện một cách sâu sắc trong tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng.
b. Tinh hoa đạo đức phương Đông, phương Tây
Trước khi đến với chủ nghĩa nhân đạo cao cả của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ
Chí Minh đã tìm thấy và nhận thức được những giá trị nhân bản, hạt nhân hợp lý tr
ong đạo đức phương Đông, phương Tây. Song sự tiếp thu, kế thừa của Hồ Chí Min
h bao giờ cũng trên cơ sở có chọn lọc và phê phán.
Đối với đạo đức phương Đông, Hồ Chí Minh coi trọng và đánh giá cao nhữn
g giá trị tích cực, tiến bộ trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo. Đặc biệt trong học
thuyết của Khổng Tử, Người cho rằng, “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong
học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó t
hì chúng ta nên học”. Đó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, nghiêm khắc với bản thâ 8 n.
Người cũng tìm thấy những điểm hợp lý trong tư tưởng của Phật giáo, coi trọ
ng và đề cao “cái thiện”, khuyên con người sống hiền từ, không tham lam, có lòng
vị tha, cảm thông sâu sắc với người nghèo khổ, biết lo cho người hơn lo cho mình.
Đối với đạo đức phương Tây, Hồ Chí Minh rất coi trọng những “ưu điểm” tr
ong tư tưởng của Thiên chúa giáo, đó là lòng nhân ái cao cả của Chúa Giêsu, khuyê
n con người sống trong sạch, thuỷ chung, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, biết hoà đồ
ng và làm bạn với mọi người, kể cả làm bạn với bạn của kẻ hại mình. Mặt khác, Ng
ười cũng chỉ ra những hạn chế lớn của Thiên chúa giáo. Nghiên cứu về nền văn hoá
phương Tây, Người đánh giá cao tinh thần nhân đạo, dân chủ và nhân quyền được t
hể hiện trong các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, nổi bật là tư tưởng “tự do, b
ình đẳng, bác ái”. Người cho rằng, đó là một tư tưởng tiến bộ có sức hấp dẫn đối vớ
i quần chúng nhân dân lao động, nhưng đã bị giai cấp tư sản lợi dụng để mị dân, xú
i giục quần chúng đánh đổ giai cấp phong kiến để đoạt lấy quyền cai trị vào tay mìn
h, rồi quay trở lại đàn áp nhân dân.
Như vậy, truyền thống dân tộc, nền tảng văn hóa đạo đức Đông phương để th
êm chí khí, tiếp thu tư tưởng tiến bộ Tây phương để thêm tuệ khí. Hồ Chí Minh vẫn
băn khoăn vì chưa tìm ra cách thức để cho những giá trị đạo đức Đông - Tây có điề
u kiện trở thành những giá trị đích thực và thiết thực, mang lại hạnh phúc cho nhân
dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung chỉ khi được tiếp cận với luận cương v
ề vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tham gia rèn luyện hoạt động cách mạng trong quốc
tế III, học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin lĩnh hội những tư tưởng về đạo đức
cách mạng của người cộng sản, về tinh thần đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh c
ủa giai cấp vô sản do Lênin lãnh đạo Hồ Chí Minh mới thực sự yên tâm, tin tưởng
vào giá trị của chuẩn mực đạo đức cao đẹp tây phương. Và Người càng thêm quyết
tâm theo đuổi để sự hiện hữu của nó chắc chắn sẽ mang lại hạnh phúc cho cuộc sốn
g của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh chuyển hóa thành hành 9
động cách mạng Hồ Chí Minh thông qua “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đế
n hội nghị Véc - xây ngày 18 tháng 6 năm 1919, “Bản án chế độ thực dân Pháp” N
gười viết năm 1925, “Đường Kách Mệnh” năm 1927, ... cùng hàng loạt các hành độ
ng trong các tổ chức cách mạng, Người đã tham gia và không ngừng gây dựng cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
c. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức cách mạng.
Từ rất sớm, trong đời sống xã hội loài người đã xuất hiện và tồn tại các quan
niệm khác nhau về đạo đức, nhưng đó là những quan niệm đạo đức cũ. Chủ nghĩa
Mác ra đời đã đánh dấu bước ngoặt về một nền đạo đức mới, đạo đức cộng sản, gạt
bỏ tất cả những quan niệm duy tâm, phi lịch sử về đạo đức. Mác cho rằng, “Xét cho
đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tì
nh hình kinh tế, của xã hội lúc bấy giờ”. Đồng thời, Mác còn chỉ rõ, trong xã hội có
sự đối lập về giai cấp, thì “đạo đức cũng là đạo đức của giai cấp, hoặc là nó biện hộ
cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là khi giai cấp bị trị đã trở nê
n khá mạnh, thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu bi
ểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”. Đạo đức tiêu biểu cho lợi ích t
ương lai của những người bị áp bức chính là đạo đức mới, đạo đức cách mạng man
g bản chất giai cấp công nhân, nó khác hẳn với bản chất đạo đức cũ của giai cấp thố
ng trị bóc lột. Bàn về vai trò to lớn của đạo đức mới, Lênin đã khẳng định: “Đạo đứ
c đó là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết t
ất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra một xã h
ội mới của những người cộng sản”
Chủ nghĩa Mác - Lênin rất quan tâm đến vấn đề đạo đức và xây dựng đạo đứ
c cách mạng cho giai cấp vô sản. Hơn nữa, sức thuyết phục của tư tưởng đạo đức tr
ong học thuyết đó, không chỉ ở tính cách mạng và khoa học của nó, mà còn ở tấm g
ương đạo đức mẫu mực, trong sáng, cao cả của các nhà kinh điển. Chính vì vậy, tư 10
tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tác động ảnh hưởng một cách sâu sắc
đến cả nhận thức, tư duy, tình cảm và hành động của Hồ Chí Minh. Đặc biệt khi nó
i về tấm gương đạo đức của Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Không phải chỉ thiên tài của
Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sá
ng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hư
ởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người,
không gì ngăn cản nổi”.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
a. Thực tiễn Việt Nam.
Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, do chính sách cai trị độc ác của chủ n
ghĩa thực dân, đã để lại hậu quả hết sức nặng nề. Quần chúng nhân dân lao động họ
không những bị áp bức, bóc lột nặng nề về thể xác, mà còn bị nô dịch về tinh thần.
Đặc biệt, trên lĩnh vực văn hoá, đạo đức, sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong k
iến và sự áp đặt “lối sống tư sản”, cơ hội, thực dụng chạy theo đồng tiền, đề cao ch
ủ nghĩa cá nhân của chủ nghĩa thực dân là nguy cơ đe dọa đến những giá trị đạo đứ
c truyền thống tốt đẹp của dân tộc và là một trở ngại to lớn đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta Nhận thức rõ được điều đó, Hồ Chí Minh cho rằng, đối với c .
ách mạng nước ta, muốn giải phóng triệt để cho người lao động phải đồng thời giải
phóng cho họ cả về tư tưởng, văn hoá, đạo đức lối sống, thói quen lạc hậu có gốc rễ từ hàng ngàn năm nay.
Mặt khác, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền đã thuộ
c về nhân dân, Hồ Chí Minh sớm phát hiện ra những hiện tượng sai lệch của một b
ộ phận cán bộ, đảng viên như quan liêu, hách dịch, cậy chức, cậy quyền tham ô, hủ
hoá... Những tệ nạn đó, nếu không sớm được phát hiện, ngăn chặn dễ trở thành ngu
y cơ làm tổn hại đến thanh danh của Đảng và toàn bộ sự nghiệp cách mạng, nhất là
trong điều kiện Đảng cầm quyền. 11
Đòi hỏi khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong quá trìn
h tổ chức, xây dựng chế độ xã hội mới, nhằm biến nước ta từ một nước nghèo nàn,
lạc hậu trở thành một nước giàu mạnh, văn minh, vì vậy việc xây dựng nền đạo đức
mới, đạo đức cách mạng cho nhân dân ta nói chung và cán bộ, đảng viên nói riêng
càng trở nên cấp thiết. Thực tế đó đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và trở th
ành cơ sở quan trọng, hình thành nên tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng.
b. Thực tiễn tình hình thế giới.
Hồ Chí Minh đã đi đến nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới, Người đã nhận th
ấy chủ nghĩa đế quốc một mặt thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân l
ao động, mặt khác chúng thực hiện chính sách đầu độc về văn hoá, tuyên truyền ch
o lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa cá nhân, áp đặt các giá trị đạo đức, luân lý t
ư sản vào các nước thuộc địa. Do đó, cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa khôn
g chỉ nhằm mục tiêu độc lập dân tộc, mà còn để bảo vệ những giá trị văn hoá, đạo đ
ức truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình.
Đặc biệt, từ khi Chủ nghĩa Mác - Lênin được xâm nhập vào các nước thuộc đ
ịa đã làm cho cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc càng gắn bó mật thiết với n
hau hơn, quyền tự quyết của các dân tộc được coi trọng và đề cao. Đó là những điề
u kiện thuận lợi lớn cho việc xây dựng tình đoàn kết quốc tế trong sáng trên lập trư
ờng “hữu ái vô sản” giữa giai cấp vô sản, nhân dân lao động ở các nước chính quốc
với các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thự
c dân đế quốc. Trong cuộc đấu tranh đó, các quan điểm về cái gọi “khai hoá văn mi
nh” của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa lần lượt bị vạch mặt, lên án. Mục t
iêu, lý tưởng cách mạng, niềm tin vào đạo đức cộng sản không ngừng được củng cố,
mở rộng trên phạm vi thế giới. Mặt khác, sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng
Mười Nga (1917) và cùng với những thành tựu to lớn trong công cuộc cải tạo, xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên quê hương đất nước của Lênin, nhất là trên lĩnh vực phá 12
t triển kinh tế, văn hoá, xây dựng đạo đức, lối sống mới đã tác động mạnh mẽ và ch
iếm được cảm tình của đông đảo quần chúng nhân dân lao động trên thế giới. Thực
tế đó đã được Hồ Chí Minh nhận thức, tiếp thu một cách đúng đắn và trở thành một
động lực quan trọng để hình thành nên tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng.
Tuy nhiên, sự hình thành tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng bên cạn
h những điều kiện khách quan cần thiết, còn do những phẩm chất thuộc nhân cách c
ủa Hồ Chí Minh. Với tư chất thông minh, tư duy độc lập sáng tạo và luôn gần gũi g
ắn bó sâu sắc với con người, trước hết là người lao động, Hồ Chí Minh đã tiếp thu,
kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa đạo đức của
nhân loại, kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại, là những nhân tố có ý ng
hĩa quan trọng trực tiếp tác động đến việc hình thành nên tư tưởng của Người về đạ
o đức cách mạng. Chính vì vậy mà tư tưởng đạo đức của Người không chỉ có sức h
ấp dẫn, thuyết phục to lớn đối với các thế hệ người Việt Nam, mà còn cả đối với nh
ân dân lao động, yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới.
Kinh nghiệm cuộc sống: Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều khó khăn và gian kh
ổ trong cuộc đời, từ những năm tháng trẻ tuổi đi làm công nhân ở nước ngoài
đến sự sống trong các cộng đồng nghèo khó ở Việt Nam. Những trải nghiệm
này đã giúp Bác nhận thức sâu sắc về tình cảm nhân bản và lòng yêu nước.
Học hỏi từ các triết lý và tư tưởng cách mạng: Hồ Chí Minh đã nghiên cứu v
à hấp thụ nhiều triết lý và tư tưởng cách mạng từ các trường phái và nhà triết
học khác nhau trên thế giới, bao gồm chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng dân t
ộc tự do, và các nguyên tắc nhân bản.
Lịch sử và văn hóa dân tộc: Bác đã nghiên cứu và hiểu biết sâu rộng về lịch s
ử, văn hóa, và truyền thống dân tộc Việt Nam, từ đó rút ra những bài học và
nguyên tắc quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. 13
Lãnh đạo và tham gia vào các phong trào cách mạng: Tham gia vào các hoạt
động cách mạng, Hồ Chí Minh đã tích lũy được kinh nghiệm lãnh đạo và thấ
u hiểu sâu sắc về tình hình xã hội và những yêu cầu của cuộc đấu tranh giải p hóng.
Từ những cơ sở này, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng đã đư
ợc hình thành và phát triển, gắn liền với mục tiêu của Bác là giải phóng dân tộc và
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ.
Chương 2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức cách mạng
2.1.Quan điểm của HCM về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân
Đây là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất bao trùm và chi phối các phẩm ch
ất khác. Xưa kia “trung với vua, hiếu với cha mẹ”, là bậc trung quân, trung thành v
ới vua; Trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với nước, vì vua và nước
là một, vua là nước, nước là nước của vua. Và “hiếu” chỉ giới hạn trong phạm vi gi
a đình, làm con phải hiếu thảo với cha mẹ.
Tư tưởng “Trung với nước, hiếu với dân” của Hồ Chí Minh không chỉ kế thừ
a những giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc, mà còn khắc phục những hạn ch
ế của truyền thống đó. Trung thành với Tổ quốc là trung thành với sự nghiệp xây d
ựng và bảo vệ Tổ quốc. Nước ở đây là nước của dân, dân làm chủ đất nước.
Trung thành với Tổ quốc nghĩa là yêu nước, gắn bó với chủ nghĩa xã hội, tuy
ệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, với con đường đi lên của đất nước, suố
t đời phấn đấu theo Đảng và cách mạng. 14
Hiếu với dân là phải yêu dân, tin dân, gần dân, học hỏi dân, lấy cái khôn của
dân, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, “Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải
yêu thương nhân dân. Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
2.1.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức cách
mạng, là phẩm chất đạo đức gắn liền với hàng ngày của mỗi người, các hoạt động,
Đề cương đạo đức Hồ Chí Minh.
“Cần có nghĩa là cần cù, chịu khó, kiên cường”; lao động có kế hoạch, sáng t
ạo, năng suất cao; làm việc với tinh thần tự lực, tự cường, không lười biếng.
“Kiệm” là tiết kiệm, không sang trọng, không hoang phí, không bừa bãi". Tiế
t kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của m
ình ..." Cần Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người".
“Liêm" là trong sáng, không tham lam”; là liêm khiết, “luôn tôn trọng và giữ
gìn tài sản của công, của dân”, “Liêm chính là không tham lam chức vụ. Không tha
m lam tiền bạc. Không tham lam hạnh phúc. Đừng tự tâng bốc mình ham người.
“Chính” nghĩa là không tà, nghĩa là ngay thẳng, chính trực. Chính được thể h
iện rõ nét ở 3 mối quan hệ: Đối với mình: chớ tự kiêu, tự đại, luôn chịu khó học tập
cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân.
Đối với người: không xu nịnh người trên, chớ coi thường người dưới, luôn giữ thái
độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để
công việc lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
Theo Hồ Chí Minh, đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ mật thiết với
nhau mà cán bộ, đảng viên trước hết phải rèn luyện để làm gương cho nhân dân. Nế
u không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở thành hủ bại, trở thành con sâu c ủa dân. 15
Chí công, vô tư, hoàn toàn vì lợi ích chung, không vụ lợi; hết sức công bằng,
không thiên vị, chính nghĩa, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lê
n trên hết. Chí công vô tư là đề cao chủ nghĩa tập thể và chống chủ nghĩa cá nhân.
Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”. "Khi làm bất cứ
việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau."
Đối lập với “chí công vô tư” là “dĩ công vi tư”, tức là ở một vị trí, dù lớn hay
nhỏ, có quyền lực nhưng thiếu lương tâm, có cơ hội đục khoét, có khi ăn hối lộ. Đó
là điều mà đạo đức mới đòi hỏi phải chống lại. Theo Hồ Chí Minh, đối với một đất
nước, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo sự giàu có của cải vật chất, vững mạnh về
tinh thần; thể hiện sự văn minh và tiến bộ. Để trở thành người có tư cách đạo đức tố
t, người ta phải hội tụ đủ các yếu tố cần, kiệm, liêm, chính. Người ta coi cần, kiệm,
liêm, chính là bốn đức tính cơ bản của con người, giống như bốn mùa của trời, bốn phương của đất.
2.1.3. Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân ngh
ĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua n
hiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con
người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Theo
Hồ Chí Minh, người cách mạng là
người giàu tình cảm, có tình cảm cách mạng mới đi làm cách mạng. Vì yêu thương
nhân dân, yêu thương con người mà Hồ Chí Minh sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ,
hy sinh để đem lại độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho con người. Tình yêu t
hương con người là tình cảm nhân ái sâu sắc, rộng lớn, trước hết dành cho những n
gười nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột khôn
g phân biệt màu da, dân tộc. Người cho rằng, nếu không có tình yêu thương như vậ
y thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. 16
Tình thương người, yêu đồng loại, yêu đồng bào, yêu đất nước mình là tư tư
ởng lớn, là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh, đã được thể hiện ở sự ham muốn t
ột bậc của Người là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn
toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đây là yế
u tố cốt lõi đầu tiên tạo nên nền tảng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Đó cũng là lý
tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức và là lý tưởng nhân văn của Người.
Tình thương yêu con người theo Hồ Chí Minh phải được xây dựng trên lập tr
ường của giai cấp công nhân, thể hiện trong các mối quan hệ hằng ngày với bạn bè,
đồng chí, anh em, phải được thể hiện ở hành động cụ thể thiết thực. Nó đòi hỏi mỗi
người phải chặt chẽ và nghiêm khắc với mình; rộng rãi, độ lượng và giàu lòng vị th
a đối với người khác; phải có thái độ tôn trọng những quyền của con người, tạo điề
u kiện cho con người phát huy tài năng; nâng con người lên, kể cả những người nhấ
t thời lầm lạc, chứ không phải là thái độ “dĩ hòa vi quý”, không phải hạ thấp, càng
không phải vùi dập con người. Bằng hành động và ứng xử của mình, Hồ Chí Minh
truyền lại cho chúng ta một đạo lý làm người là phải biết yêu thương và sống với n
hau có tình có nghĩa. Theo Hồ Chí Minh, “hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống
với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩ
a thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”. Trong Di chúc, Người viết: “Đầ
u tiên là công việc đối với con người… Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
2.1.4. Tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất đạo đức quan trọng nhất củ
a đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Điều này bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nh
ân, nhằm vào mối quan hệ rộng lớn vượt ra khỏi hạn quốc gia - dân tộc
Quan niệm đạo đức về tinh đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện t rong các điểm sau: 17
Đoàn kết với nhân dân lao động các nước. Đó chính là tinh thần đoàn kết với
các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải ph
óng con người khỏi ách áp bức, bóc lột mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng
hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng củ a cả dân tộc.
Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chu
ng, “bốn phương vô sản đều là anh em". Ngay từ năm 1921, Người khẳng định thự
c dân đế quốc là kẻ thủ của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thủ của nhân dân lao đ
ộng chính quốc. Bởi vậy, để chống lại kẻ thù chung, đạt tới mục tiêu giải phóng thâ
n phận nô lệ và bị bóc lột, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh chặt chẽ nhân dân lao động
ở thuộc địa và chính quốc. Điểm mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Ng
ười đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước t
huộc địa, mà còn thống trị nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc. Người
đã ví chủ nghĩa đế quốc giống như "con đỉa hai vòi". Một vòi bám vào giai cấp vô s
ản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Muốn giết con vật ấy,
phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu và
vòi bị cắt tiếp tục mọc ra. Vì thế, nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản, đánh đổ chúng
là nhiệm vụ của cả nhân dân lao động chính quốc và thuộc địa. Nhiệm vụ đó đòi hỏ
i phải đoàn kết cả hai lực lượng nổi trên.
Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhở nhân dân Việt Nam về những nhiệm vụ đối với cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc của nhân dân các nước khác. Hồ Chí Minh tha thiết với độc l
ập tự do của dân tộc mình, cho nên cũng rất trân trọng độc lập tự do của các dân tộc
khác. Bởi thế, Người hết sức căm giận trước bất cứ một hành động xâm lược nào v
à cho rằng: giúp đỡ một dân tộc khác bảo vệ độc lập tự do của họ cũng chính là bảo
vệ lợi ích của đất nước mình, "giúp bạn là tự giúp mình". Đây chính là một bước ph 18
át triển mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế. Vì lẽ đó, Người luôn
động viên nhân dân Việt Nam vừa tiến hành sự nghiệp bảo vệ độc lập tự do của dân
tộc mình, vừa thực hiện sự giúp đỡ vô tư chí tình, chỉ nghĩa đối với các dân tộc anh em.
Sự đoàn kết ấy là nhằm những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các dân t
ộc. Sự đoàn kết ấy dựa trên cơ sở bình đẳng và kết hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế.
Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân
chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ ngh
ĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc... Có thể nói tinh thần quốc tế trong sáng tr
ong đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tình thương yêu đối với con người, vì mục t
iêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, ma
ng lại tự do và bình đẳng thực sự cho con người.
2.2. Quan điểm của HCM về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũn
g không lãnh đạo được nhân dân. Người khẳng định: Có tài mà không có đức là ng
ười vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó. Xuất phát từ thực tiễn c
ách mạng Việt nam với tư duy độc lập sáng tạo, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọ
c tư tưởng đạo đức truyền thống và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhân văn của Chủ n
ghĩa Mác – Lê nin. Người đề xuất tư tưởng đạo đức mới, tư tưởng đạo đức cách mạ
ng. Để xây dựng một nền đạo đức mới, Hồ Chí minh đã nêu ra những nguyên tắc c
ơ bản để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng, cũng như việc rèn luyện của mỗi n gười
2.2.1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức 19