

















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58702377
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -------o0o------- KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CÔNG VÀ ĐẦU
TƯ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM Nhóm 7: 1. Nguyễn Phước Duy 2. Nguyễn Khánh Huyền 3. Trần Nhật Linh 4. Lò Thị Mai Phương 5. Phạm Cẩm Vân LHP: KTĐT _(123)_01_C_K31KT1
Giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thương
Hà Nội - Tháng 03/2023 1 lOMoAR cPSD| 58702377
LỜI MỞ ĐẦU
“Đầu tư công đóng vai trò quan trọng với tăng trưởng và phát triển kinh
tế bền vững ở các quốc gia. Đầu tư công được đầu tư tập trung vào xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội giúp cải thiện kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư tư
nhân trong nước và nước ngoài, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tăng phúc lợi xã hội.” Bài viết này phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và
đầu tư tư nhân tại Việt Nam để có những nhìn nhận, đánh giá đầu tư công có tác
động thúc đẩy đầu tư tư nhân như thế nào và ngược lại. Từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao những tác động tích cực để đầu tư công và đầu tư tư nhân
phát huy hiệu quả đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay. lOMoAR cPSD| 58702377 Phần I: Khái niệm
1. Đầu tư công1.1 Khái niệm
“Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình,
dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật đầu tư công".
Với khái niệm đầu tư công đưa ra ở Luật Đầu tư Công gồm 2 phần: thứ
nhất, khẳng định là đầu tư của Nhà nước và thứ hai là đầu tư vào các chương
trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự
án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Phần thứ hai gồm cả chương trình, dự án
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội coi như bao hàm hết mọi dự án mà Nhà nước
đầu tư vì các dự án đều không trực tiếp cũng gián tiếp phục vụ phát triển kinh
tế xã hội. Vậy, thuật ngữ Đầu tư công theo điều 4 Luật Đầu tư có thể hiểu là đầu tư của Nhà nước.
Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu
tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định,
phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch, dự án đầu tư công; quản lý, sử
dụng vốn đầu tư công; nghiệm thu, bàn giao chương trình, quyết toán dự án đầu
tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công”. 1.2 Vai trò
Từ lâu, người ta đã mặc định rằng thúc đẩy đầu tư công chính là động lực
vô cùng to lớn để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội tại Việt Nam, giúp cho nền
kinh tế có được sự tăng trưởng tốt bảo đảm cuộc sống của người dân và cộng
đồng sinh sống tại Việt Nam. Qua các khảo sát cũng như nghiên cứu qua lý
thuyết và thực tế từ năm 1995 cho đến nay đã khẳng định rằng đầu tư công có
vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển của Việt Nam.
Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang
tính lý thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu
tư tư nhân và đầu tư công, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho
kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ
tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp.
Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động
kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy,
nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ
tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết
cấu hạ tầng đó phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ
tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng đó.
2. Đầu tư tư nhân
2.1 Khái niệm
Trước hết, doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do một các nhân
làm chủ. Và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Với sự gia tăng dân số đáng kể trong những năm gần đây, tầng lớp trung
lưu tăng lên và thu nhập khả dụng ngày càng cải thiện, những ngành nghề dẫn
dắt bởi tiêu dùng sẽ tiếp tục thu hút đầu tư trong năm gần đây, bao gồm Thực
phẩm và đồ uống, Chăm sóc sửa khỏe và dược phẩm, Bán lẻ. Đồng thời, chúng lOMoAR cPSD| 58702377
ta cũng ghi nhận nành Giáo dục và Năng lượng tái tạo cũng là những lĩnh vực
nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư tư nhân trong những năm tới.
Như vậy, đầu tư tư nhân là những khoản giao dịch từ doanh nghiệp tư nhân
hoặc gia đình vào những lĩnh vực cụ thể mà họ cho là có lợi nhuận trong tương lai đối với họ.
Vì doanh nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng gần như toàn bộ trong số vốn
cũng như các dự án đầu tư (xét trong khu vực đầu tư tư nhân) vì vậy khi nhắc
đến đầu tư tư nhân là đang nhắc đến đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân (kể
các doanh nghiệp nước ngoài có chủ sở hữu là tư nhân) 2.2 Vai trò
Từ chỗ bị kìm hãm, không cho phát triển, đến nay, kinh tế tư nhân đã được
thừa nhận vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và được xác định là một
động lực quan trọng của nền kinh tế.
Một là, vai trò của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế ngày càng quan
trọng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh
tế tư nhân là nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng
GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn tham gia vào giải quyết
hàng loạt những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát
triển nguồn nhân lực,… Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá,
chiếm tỉ trọng 40 - 43% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp
phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân
sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đóng góp vào nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh
tế tư nhân cao, nhiều sáng kiến, đổi mới và sự đột phá được xuất phát từ những
doanh nghiệp tư nhân. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân
cao hơn 1,2 lần so với mức bình quân của nền kinh tế và hơn 1,9 lần so với khu
vực nhà nước. Vai trò của kinh tế tư nhân càng trở nên quan trọng hơn khi mà
khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ba là, chiến lược kinh tế của Đảng và Nhà nước đang hướng tới việc tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn. Chính phủ cam kết
sẽ cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch, an toàn
và thân thiện, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển thuận
lợi. Bên cạnh đó, khu vực tư nhân cũng luôn đổi mới, nâng cao năng lực cạnh
tranh để đứng vững trên thị trường và hoạt động theo cơ chế thị trường.
Phần II: Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Việt Nam hiện nay
1. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân 1.1
Đầu tư công thúc đẩy bổ sung cho đầu tư tư nhân a.
Đầu tư công vào quốc phòng an ninh, cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội, tạo môi trường vĩ mô an toàn cũng như giảm được chi phí sản xuất
cho khu vực tư nhân để tăng cường đầu tư.
Mục đích của đầu tư công bao gồm những loại hoạt động của Nhà nước
về: quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho
cộng đồng (cầu đường, sân bay, cảng, cơ sở y tế, giáo dục,…). Nhà nước sử lOMoAR cPSD| 58702377
dụng lực lượng doanh nghiệp nhà nước để duy trì đầu tư ở một số họat động có
tính chất công ích, đầu tư vào những lĩnh vực, dự án mà các nguồn lực kinh tế
khác chưa đáp ứng được nhằm bổ sung những khiếm khuyết của thị trường, ví
dụ như phát triển năng lượng sạch, công nghệ cao, cơ sở hạ tầng quan trọng, cơ
sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo, bệnh viện chất lượng cao,… Từ đó, tạo
ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất
cho khu vực tư nhân để tăng cường đầu tư.
Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho các
hoạt động đầu tư, nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển. Vì
vậy cần chú ý đến công tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút
các nhà đầu tư, tạo cho họ sự tin cậy để bỏ vốn đầu tư. Một môi trường đầu tư
ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để
đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm tăng lòng tin cho
các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm. Chính sách và hành vi của chính
phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các rào cản cạnh tranh. b.
Nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến cầu về sản phẩm
củakhu vực tư nhân gia tăng, khuyến khích khu vực này đầu tư nhiều hơn do
kỳ vọng về doanh thu và lợi nhuận tốt hơn. c.
Đầu tư công có thể kêu gọi đầu tư tư nhân cùng hợp tác đầu tư trong
một số dự án, tạo ra sự ổn định và nhiều lợi ích cho khu vực tư nhân.
Với sự tham gia vào cơ chế PPP doanh nghiệp tư nhân có nhiều cơ hội đầu
tư mang tính dài hạn hơn, ít rủi ro hơn do có sự đảm bảo của Nhà nước, từ đó
tạo sự ổn định cho khu vực tư nhân, phát triển công nghiệp địa phương, từ đó
tạo nhiều việc làm cho người dân. d.
Đầu tư công giúp định hướng phát triển ngành, tạo hướng đi cho đầu tư tư nhân
Kinh tế nhà nước luôn tạo động lực cho các doanh nghiệp của các thành
phần kinh tế khác phát triển. Không chỉ như vậy, kinh tế nhà nước còn luôn tạo
điều kiện hợp tác giúp đỡ cho các thành phần kinh tế khác mà chủ yếu dựa vào
sự phát triển nhạy bén của các doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước
trực tiếp làm kinh tế, trực tiếp kinh doanh. Chính thông qua những hoạt động lOMoAR cPSD| 58702377
như vậy doanh nghiệp nhà nước mới thúc đẩy được những quan hệ hợp tác và
phát triển của những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
1.2 Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân
a.Nhu cầu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia
tăng, nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân.
Xét mô hình IS – LM, với đường IS là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa
sản lượng và lãi suất mà tại đó hàng hóa và dịch vụ cân bằng, còn đường LM
là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa sản lượng và lãi suất mà tại đó thị trường tiền tệ cân bằng.
Khi chính sách tiền tệ không đổi, nhà nước tiến hành tăng chi tiêu cho hoạt
động đầu tư công sẽ khiến cho đường IS dịch song song qua phải gây nên tăng
lãi suất trong ngắn hạn. Trong dài hạn, lãi suất sẽ quay trở về mức ban đầu do
sự điều tiết của chính sách tiền tệ.
Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là
chi phí sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ
tiêu tài chính của dự án. Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất
phản ánh giá của khoản tiền vay mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao
hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại. b.
Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà
nước,thường được thực hiện bởi tăng thuế, đã cạnh tranh một cách trực tiếp
với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái
phân phối của cải xã hội, vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các nganhg,
vùng miền. Thuế ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các
chính sách về thuế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư, đặc biệt với
những vùng kinh tế còn kém phát triển.
Thuế làm giảm hành vi sản xuất vì thuế đánh vào thu nhập từ lao động,
tiết kiệm, đầu tư hay những hình thức khác. Thuế thu nhập cá nhân làm giảm
thu nhập khả dụng của người lao động, không khuyến khích họ làm việc nhiều
và thậm chí còn làm nản chí trong việc tìm kiếm việc làm. Lao động giảm dẫn
đến giảm tổng cung trong khi thu nhập giảm dẫn đến giảm tổng cầu. Thuế thu
nhập doanh nghiệp làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp dẫn đến tổng cung giảm. Thuế đánh vào tiết kiệm làm giảm động cơ tiết lOMoAR cPSD| 58702377
kiệm và do đó, tạo được ít nguồn vốn hơn cho đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất. c.
Đầu tư công dẫn đến tăng nợ công, giảm nguồn vốn của đầu tư tư nhân.
Nợ chính phủ, là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá
trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi
vay. Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói
cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào
đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản
nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Vay nợ trong nước sẽ dẫn đến tình trạng chi tiêu chính phủ chèn lấn đầu
tư tư nhân do chính phủ vay sẽ làm giảm nguồn vốn mà đáng lẽ sẽ được sử dụng
cho đầu tư tư nhân. Vay nợ nước ngoài sẽ làm tăng nợ nước ngoài dẫn đến tăng
rủi ro mức độ phụ thuộc vào nước ngoài. d.
Đầu tư công kém hiệu quả và dàn trải có thể lấn át vào cả
nhữngngành mà tư nhân có nhu cầu và có khả năng đầu tư, từ đó đều có ảnh
hưởng lớn tới sự phát triển của đầu tư tư nhân.
2. Tác động của đầu tư tư nhân đến đầu tư công
a. Đầu tư tư nhân là yếu tố đóng góp không nhỏ cho ngân sách nhà nước
phục vụ cho đầu tư công, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Việc ngày càng có nhiều doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước
tham gia đầu tư đã đem lại nguồn thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước thông
qua các loại thuế - nguồn thu cơ bản và lâu dài của ngân sách nhà nước. Trong
đó, ngân sách nhà nước lại đóng góp một phần vốn không nhỏ vào vốn đầu tư
công. Như vậy, có thể nói, việc tăng cường sự phát triển đầu tư tư nhân là yếu
tố quan trọng trong đầu tư công.
b. Đầu tư tư nhân chia sẻ công việc xây dựng cơ sở hạ tầng với đầu tư công
Do nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một nước thường là
rất lớn, trong khi nguồn vốn ngân sách nhà nước lại có hạn, vốn của các nhà tài
trợ ngày càng thu hẹp. Đồng thời việc chia sẻ công việc xây dựng cơ sở hạ tầng
hay còn gọi là việc cùng hợp tác dưới hình thức PPP đối với các công trình hạ
tầng kinh tế xã hội là cần thiết cho cả khu vực công và khu vực tư nhân.
Có thể hiểu đối tác công tư hay PPP là các mối quan hệ hợp tác giữa
một hay nhiều tổ chức Nhà nước (tổ chức công) với một hay nhiều tổ chức tư
nhân cùng thực hiện mục tiêu cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng. Với mô
hình này cả đầu tư tư nhân và đầu tư công đều có lợi. Nhà nước có thể đóng vai
trò như “bên cấp vốn” (cung cấp về vốn, tài sản…) cho khu vực tư nhân trong
việc cung cấp dịch vụ công trên cơ sở kí hoặc không kí kết hợp đồng giữa hai
bên. Nhà nước cũng có thể đóng vai trò là bên mua dịch vụ do tư nhân cung cấp
một cách lâu dài, hoặc nhà điều phối thu hút sự tham gia của tư nhân.
3. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
3.1 Thực trạng đầu tư công tại Việt Nam
Nguồn vốn đầu tư công hiện nay ở Việt Nam chủ yếu vẫn từ NSNN, huy
động nguồn vốn từ khu vực tư nhân cho đầu tư công qua các hình thức hợp tác
công tư còn khá khiêm tốn.
Bảng 1. Cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2005-2019 lOMoAR cPSD| 58702377
NNguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Theo số liệu thống kê, chi đầu tư phát triển hay chi đầu tư công có tỷ
trọng theo xu hướng giảm trong các năm gần đây, từ 38,44% tổng chi NSNN
năm 2010 đã giảm xuống còn 25,08% năm 2019. Theo Ngân hàng Thế giới
(2017) chi đầu tư ở Việt Nam, mặc dù giảm tỷ trọng trong tổng chi tiêu NSNN,
nhưng vẫn được duy trì ở mức cao so với khu vực và thế giới, cho thấy đầu tư
của Nhà nước vào hạ tầng công cộng vẫn tiếp tục được duy trì trong thời gian
qua, chủ yếu do cơ sở hạ tầng của Việt Nam hiện đang còn ở mức thấp, chưa
phát triển. Cơ cấu chi cho đầu tư phát triển giảm mạnh là dấu hiệu không tốt để
cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội là yếu tố để thúc đẩy thu hút
đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Vì đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam, thực hiện công nghiệp hoá thì đầu tư công thường
đóng vai trò rất quan trọng, là động lực phát triển, tỷ trọng đầu tư công thường
rất cao trong tổng đầu tư toàn xã hội bởi nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng luôn
cao trong tổng đầu tư xã hội. Sử dụng đầu tư công như là một công cụ, “đầu
kéo” tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và là
công cụ chính yếu điều hành kinh tế vĩ mô. Nguyên nhân giảm tỷ trọng chi đầu
tư phát triển một mặt do tăng chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, mặt khác
do khoản chi trả vốn nợ và lãi vay tăng cao. Cơ cấu chi phát triển sự nghiệp
kinh tế - xã hội (chi thường xuyên) tăng từ 50,37% tổng chi NSNN năm 2005
lên 65,07% năm 2017, sau đó giảm còn 59,95% năm 2019, tuy nhiên năm 2020
tăng lên 63,05% (Bảng 2). Chi thường xuyên tăng lên và cao hơn mức tăng thu
chủ yếu là do tăng chi để thực hiện các chính sách mới về an sinh xã hội, chi
lương và phụ cấp và chi trả lãi các khoản vay. Quỹ lương tăng nhanh, chiếm
khoảng 20% tổng chi ngân sách, chủ yếu do tăng lương cơ sở và tăng số lượng
công chức, viên chức, đặc biệt ở địa phương, với tốc độ cao hơn tốc độ tăng dân
số. Xu hướng trên phần nào phản ánh mục tiêu từng bước chuyển đổi cơ cấu
chi NSNN từ phát triển hạ tầng sang phát triển nguồn nhân lực, với kỳ vọng của
Chính phủ cho rằng lộ trình xã hội hóa (huy động đầu tư tư nhân) cho các lĩnh
vực hạ tầng sẽ tiến triển nhanh hơn so với các lĩnh vực xã hội.
3.2. Thực trạng đầu tư tư nhân tại Việt Nam
Báo cáo Nghiên cứu đánh giá khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam (CPSD),
do IFC và Ngân hàng Thế giới thực hiện. Nghiên cứu cho thấy, thời gian qua
khu vực kinh tế tư nhân đã đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển vượt bậc
của kinh tế Việt Nam nói chung. Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng lOMoAR cPSD| 58702377
trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 - 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao
động của nền kinh tế, tỷ lệ đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm
khoảng 34,1% cao hơn mức đóng góp 27,7% của 17 doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo
đảm an sinh xã hội. Khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua đã tạo ra khoảng
40% GDP, 30% ngân sách nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước.
Hiện nay, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 98% trong tổng số hơn
800.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã đạt
tầm cỡ quốc tế như Vingroup, T&T Group, Thaco, Vietjet, Vinamilk,… và có
ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 29
doanh nghiệp tư nhân có giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán vượt con
số 1 tỷ USD, có 6 tỷ phú tham gia vào câu lạc bộ tỷ phú thế giới năm 2021.
Nhiều doanh nghiệp tư nhân đạt kim ngạch xuất khẩu cao, đóng góp quan trọng
vào tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh
xã hội. Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân còn cùng với Nhà nước góp sức phòng,
chống dịch bệnh, thiên tai, cứu trợ nhân dân bị nạn, tài trợ cho các giải thể thao,
câu lạc bộ bóng đá, những sự kiện kinh tế - xã hội lớn của đất nước. Các doanh
nghiệp tư nhân đã có thể làm được những việc mà trước đây chỉ Nhà nước mới
được làm như: xây dựng sân bay, cảng biển quốc tế trị giá hàng nghìn tỷ đồng;
sản xuất ô tô, tham gia vào lĩnh vực hàng không... Đặc biệt, phải nói đến lĩnh
vực sản xuất ô tô, suốt mấy chục năm qua, lực lượng kinh tế nhà nước đã không
thể thực hiện được khát vọng ô tô “made in Vietnam” thì đến nay, các tập đoàn
kinh tế tư nhân là Thaco, VinFast đang biến khát vọng đó thành hiện thực.
Doanh nghiệp Việt đã có thể tự sản xuất ô tô, thậm chí, ô tô Vinfast còn xác lập
3 kỷ lục thế giới, gồm: chỉ cần 21 tháng để hoàn tất việc xây dựng nhà xưởng,
lắp đặt dây chuyền sản xuất để đi vào sản xuất hàng loạt; cho ra xe mẫu chỉ sau
11 tháng từ khi khởi công nhà máy; cho ra xe thương mại sau chưa đầy 2 năm.
Các công trình quan trọng trong vận tải như Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn,
Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, Cao tốc Hạ Long - Vân Đồn và đang đầu tư
cao tốc Vân Đồn - Móng Cái của Tập đoàn Sun Group. Trong đó, sân bay Vân
Đồn được xây dựng chưa tới 2 năm, là công trình có thời gian xây dựng nhanh
nhất Việt Nam, góp phần đưa cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được vinh
danh là “Sân bay mới hàng đầu châu Á 2019”.
Kinh tế tư nhân đã và đang lớn mạnh từng ngày và có những đóng góp
lớn nền kinh tế. Cùng với đó là sự phấn đấu, sáng tạo không ngừng trong những
lĩnh vực tưởng chừng Việt Nam không thể làm được. Điều này góp phần đưa
tên tuổi của Việt Nam vươn ra trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đạt được, chất lượng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn hạn
chế ở nhiều mặt, chưa thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
3.3. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
3.3.1. Đầu tư công tác động thúc đẩy đầu tư tư nhân phát triển -
Đầu tư công ngày càng tạo được môi trường vĩ mô thuận lợi cho đầutư tư nhân.
Đầu tư công đóng vai trò nền tảng cho tăng trưởng, phát triển kinh tế ở
Việt Nam, không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP mà còn thúc đẩy đầu tư tư lOMoAR cPSD| 58702377
nhân phát triển thông qua các hệ thống cơ sở hạ tầng, xã hội, phát triển nguồn
nhân lực, bảo vệ môi trường,…
Đây là những chương trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn hoặc
thu hồi vốn chậm. Vốn đầu tư công phần lớn được dành cho lĩnh vực phát triển
kết cấu hạ tầng, gồm cả hạ tầng cứng (đường giao thông, sân bay, bến cảng, cấp
thoát nước, điện, viễn thông…), và hạ tầng mềm (y tế, giáo dục…). Tổng cộng
các lĩnh vực này năm 2016 chiếm khoảng 53,6% tổng đầu tư công; trong đó,
lĩnh vực vận tải, kho bãi lớn nhất (21,3%) và lĩnh vực điện, nước xếp thứ hai
(14,4%) (Bùi Tất Thắng, 2018). Nhờ đó, nhiều công trình, dự án đầu tư kết cấu
hạ tầng (nhất là trong giao thông, cấp điện…) đã được triển khai thực hiện và
năng lực hệ thống kết cấu hạ tầng của quốc gia được cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh đó, đầu tư công cũng chú trọng vào việc nâng cao năng lực hoạt
động của cơ quan nhà nước, cải thiện quản trị quốc gia, tạo nên môi trường hành
chính thông thoáng, thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời
sống người dân. Bên cạnh thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đầu tư công
còn là công cụ của Nhà nước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các vùng chậm
phát triển, vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền.
Đầu tư công còn có vai trò là “vốn mồi”, dẫn dắt đầu tư tư nhân, góp phần khơi
dậy tiềm năng to lớn trong nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội. -
Chú trọng phát triển một số ngành trọng điểm định hướng phát
triểnngành cho tư nhân.
Nhà nước có những chính sách khuyến khích định hướng đầu tư tư nhân:
Chính sách đầu tư là khuyến khích đầu tư hợp lý, tạo môi trường đầu tư thuận
lợi và hỗ trợ đầu tư tư nhân thực hiện các dự án đầu tư hiệu quả, cụ thể:
+ Xây dựng các danh mục, các bản dự án chi tiết để khuyến khích đầu tư
vào các ngành trọng điểm
+ Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, càng đặc biệt
khuyến khích cá nhân doanh nghiệp tham gia đầu tư, quản lý các ngành trọng
điểm, tạo kênh huy động vốn
+ Các dự án đầu tư của doanh nghiệp đủ chỉ tiêu có thể vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA …
+ Các ngành công nghiệp ưu tiên được áp dụng một số chính sách khuyến
khích phát triển về đất đai, xúc tiến thương mại, nghiên cứu-triển khai. Cụ thể,
về đất đai, ưu tiên bố trí đủ nhu cầu về đất trong các khu, cụm, điểm công nghiệp
khi có dự án sản xuất được đầu tư mới, đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu (kể cả
dự án kết hợp với di chuyển địa điểm sản xuất) đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt. Về xúc tiến thương mại, các ngành công nghiệp ưu tiên được ưu tiên đưa
vào chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu hàng năm, hỗ trợ kinh phí
cho các doanh nghiệp để xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế
(thông qua các hiệp hội ngành hàng), giới thiệu sản phẩm miễn phí trên website
của Bộ Công nghiệp và các Sở Công nghiệp, trưng bày, giới thiệu sản phẩm
miễn phí tại các hội chợ, triển lãm của quốc gia và của các địa phương
+ Đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn, áp dụng chính sách của các
ngành công nghiệp ưu tiên và được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí (không
quá 50% vốn đầu tư) đối với các dự án bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất
- Đầu tư công kêu gọi tư nhân vào các dự án hợp tác công tư PPP giúp
tạo thêm lợi ích cho đầu tư tư nhân lOMoAR cPSD| 58702377
Khi một doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào một dự án, tiềm ẩn trong đó là
rất nhiều rủi ro, nhưng với cơ chế PPP người đứng ra bảo lãnh là Nhà nước nên
mức độ rủi ro giảm xuống. Bên cạnh đó, trong quá trình vay vốn để tiến hành
dự án, doanh nghiệp tư nhân thực hiện dự án đầu tư PPP sẽ có nhiều cơ hội tiếp
cận nguồn vốn hơn là những doanh nghiệp tư nhân đơn thuần. Chính vì thế ở
Việt Nam hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều dự án PPP bởi tư nhân nhận thức
được những lợi ích mình sẽ có được.
Qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi để từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế,
quy định về PPP của Việt Nam đã tương đối hoàn thiện với sự ra đời của Luật
Đầu tư theo phương thức đối tác công – tư số 64/2020/QH14. Mặc dù đã có
khung pháp lý cho các dự án PPP, tuy nhiên chính sách PPP chưa thật sự hấp
dẫn đối với nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu thống
kê của Chính phủ tổng hợp tính đến tháng 7 năm 2020, Việt Nam có 336 dự án
PPP đã ký kết hợp đồng, trong đó có khoảng 140 dự án áp dụng loại hợp tác
BOT, 188 dự án áp dụng loại dự án BT và 8 dự án áp dụng các loại hợp đồng
khác. Thông qua mô hình PPP, nguồn vốn đầu tư tư nhân đã được huy động để
giải quyết nhu cầu cấp bách về đầu tư hạ tầng. Những dự án PPP trong thời gian
đầu triển khai còn có các hạn chế, tồn tại nhưng các công trình, dịch vụ có được
từ các dự án PPP đã góp phần tích cực hoàn thiện chất lượng hệ thống cơ sở hạ
tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị, xử lý nước thải, rác thải…, kịp thời
giải quyết các nhu cầu bức xúc về dịch vụ công của người dân và nhu cầu cấp
bách về cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội.
3.3.2. Đầu tư tư nhân đóng góp một phần không thể thiếu cho Ngân
sách Nhà nước, tạo nguồn vốn cho đầu tư công
Đối với mỗi nền kinh tế vai trò của đầu tư tư nhân là không thể phủ nhận.
Đầu tư tư nhân không những có vai trò góp phần tích cực trong việc phát triển
bền vững quốc gia nói chung mà bên cạnh đó nó còn góp phần không nhỏ vào
sự phát triển của đầu tư công.
Vốn đầu tư công cùng với vốn đầu tư tư nhân là hai nguồn vốn quan trọng
bổ sung cho nhau đảm bảo vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2020 đặt ra trong
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn này là 7 - 8%. Để đạt được mục
tiêu tăng trưởng, quy mô vốn đầu tư là 32 - 35% GDP (theo giá hiện hành),
trong đó giai đoạn 2011 - 2015 là 33 - 35% và giai đoạn 2016 2020 là 32 - 34%.
Bảng 2. Tình hình đảm bảo vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 – 2020
Đơn vị: % so với GDP Kế hoạch Thực hiện So với mục tiêu 2011 40 33,3 Không đạt 2012 33,5 30,5 Không đạt 2013 30 29,1 Không đạt 2014 29,4 32 Không đạt 2015 30 - 32 32,6 Đạt lOMoAR cPSD| 58702377 2016 31,6 - 31,8 33 Vượt 2017 31,8 - 33,8 33,3 Đạt 2018 31,8 - 34,2 34 Đạt 2019 31,8 - 34,4 33,4 Vượt 2020 31,8 - 34,6 33,5* Vượt 2011 - 2015 33 - 35 31,7 Không đạt 2016 - 2020 32 - 34 34,0* Vượt 2011 - 2020 32 - 35 32,8 Đạt
Nguồn: Tổng hợp từ Kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015, 2016 - 2020 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư; niên giám thống kê các năm của Tổng cục Thống kê.
Nếu chia thời kỳ chiến lược thành hai giai đoạn thì giai đoạn 2011 - 2015
có tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP là 31,7%, thấp hơn so với mục tiêu đặt ra (33
35%) và điều đó đã ảnh hưởng đến thành quả tăng trưởng kinh tế giai đoạn này,
tốc độ tăng trưởng chỉ đạt bình quân năm là 5,9%, thấp hơn so với kế hoạch đặt
ra là 6,5 - 7%. Giai đoạn 2016 - 2020, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng
34 - 35%, vượt mục tiêu đặt ra của giai đoạn này (32 - 34%), cao hơn so với
giai đoạn trước khoảng 2 điểm phần trăm so với GDP. Kết quả này đã góp phần
cải thiện tăng trưởng GDP của giai đoạn 2016 - 2020 (ước đạt 6,82%).
3.3.2 Quy mô đầu tư công giảm dần, tăng dư địa cho đầu tư tư nhân
- Cơ cấu lại vốn đầu tư công và đầu tư tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Trong giai đoạn trước ở Việt Nam theo đuổi mô hình tăng trưởng chủ yếu
dựa vào vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Tổng đầu tư toàn xã hội liên tục
tăng và duy trì ở mức cao. Tỷ lệ vốn/GDP đã tăng từ 35,4% năm 2001 lên 41,9%
năm 2010, bình quân cho cả giai đoạn 2001-2010 là xấp xỉ 41%, so với 30,7%
trong giai đoạn 1991-2000, thuộc loại cao nhất khu vực Đông và Đông Nam Á.
Giai đoạn 2010-2015, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ
trọng từ 31.7-36.1% trong khi vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ
trọng từ 44.6-50.2%. Với chủ trương tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công,
Luật đầu công hiệu lực từ năm 2015 là một bước tiến quan trọng trong việc
hoàn thiện thể chế và quản lý đầu tư công, đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ và
xuyên suốt rong toàn bộ quá trình quản lý chương trình, dự án đầu tư công. Giai
đoạn 2016-2020, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng từ
24.1-30.5% và vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng từ 51.3- 58.3%.
Bảng 3. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân theo thành
phần kinh tế chia theo Cách tính, Năm và Thành phần kinh tế Tổng số
Kinh tế Nhà Kinh tế Khu vực nước ngoài nhà có vốn đầu Cơ cấu thành nước tư nước phần kinh tế ngoài (%) lOMoAR cPSD| 58702377 2010 100,0 34,9 44,6 20,5 2011 100,0 33,4 47,0 19,6 2012 100,0 36,1 46,8 17,2 2013 100,0 35,5 47,2 17,3 2014 100,0 33,9 49,1 17,0 2015 100,0 31,7 50,2 18,1 2016 100,0 30,5 51,3 18,2 2017 100,0 28,2 53,7 18,1 2018 100,0 26,0 56,1 17,9 2019 100,0 24,1 58,3 17,6 2020 100,0 26,2 57,3 16,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Đầu tư công kém hiệu quả so với đầu tư tư nhân
Bảng 4. Hệ số ICOR tính theo thành phần kinh tế theo giai đoạn
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Tính toán hiệu quả đầu tư thông qua hệ số ICOR cho ba khu vực kinh tế
nhà nước, ngoài nhà nước và FDI cho hai giai đoạn 2010-2015 và 2016-2021
cho thấy: giai đoạn 2016-2021 hiệu quả đầu tư kém hơn giai đoạn 2010-2015,
hệ số ICOR giai đoạn 2010-2015 là 7 thì giai đoạn 2016-2021 là 9,1. Đáng chú
ý là khu vực kinh tế nhà nước hệ số ICOR tăng từ 13,03 giai đoạn 20102015
lên 17,8 trong giai đoạn 2016-2021.
Hiệu quả đầu tư khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng giảm sút với hệ số
ICOR của khu vực này là 6,2 giai đoạn 2010-2015 lên 9,4 trong giai đoạn 2016-
2021. Chỉ có khu vực FDI có hiệu quả đầu tư giảm nhẹ, hệ số ICOR của khu
vực này tăng nhẹ từ 6 trong giai đoạn 2010-2015 lên 6,5 trong giai đoạn 2016- 2021. lOMoAR cPSD| 58702377
Như vậy có thể thấy đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước tạo ra rất ít tăng
trưởng. Một điều đáng chú ý là hệ số ICOR khu vực ngoài nhà nước giai đoạn
2010-2015 tương đương với của khu vực FDI, nhưng đến giai đoạn 2016-2021
hệ số này tăng lên 9,4. Chỉ hiệu quả đầu tư của khu vực FDI là ổn định và tốt
nhất trong ba thành phần kinh tế. Khu vực này càng ổn định thì luồng tiền chi
trả sở hữu càng nhiều và tiết kiệm của nền kinh tế ngày càng nhỏ đi.
3.3.3 Đầu tư công thiếu hiệu quả làm hạn chế nguồn lực của đầu tư tư nhân
Hiện nay, đầu tư công vẫn chủ yếu tập trung vào một số ngành mà khu vực
tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư, trong khi đầu tư vào phát triển nguồn
lực con người còn chưa được chú trọng và chưa tương xứng. Điều này dường
như đang đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản cho đầu tư công. Theo đó, chức
năng chính của nhà nước phải là xây dựng các nền tảng phát triển và tăng
trưởng, đồng thời tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể hoạt
động hoặc hoạt động không hiệu quả. Ngoài ra, cho dù đầu tư công đã tăng
trưởng rất nhanh, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư vào cả những
ngành mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm nhưng lại lơi là nhiệm vụ xây
dựng các nền tảng phát triển và tăng trưởng…
* Nguyên nhân gây ra thực trạng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân
- Đầu tư công làm ảnh hưởng đến biến đổi lãi suất, từ đó ảnh hưởng
đếnviệc đầu tư của khu vực tư nhân. Để tăng đầu tư công, phải tăng tổng chi
ngân sách nhà nước, đòi hỏi phải huy động một nguồn vốn nhiều hơn từ thị
trường vốn, dẫn đến làm khan hiếm nguồn vốn trên thị trường. Việc huy động
vốn có thể qua các kênh như phát hành cổ phiếu, tín phiều, qua các tổ chức tài
chính, tín dụng, qua thuế…..Và khi khu vực tư nhân có nhu cầu về vốn, họ sẽ
phải chịu một mức lãi suất cao hơn, hay chi phí của vốn là lớn hơn.
- Đầu tư công làm gia tăng nợ công, nợ công của Việt Nam đang có
xuhướng giảm song vẫn gây sức ép lớn cho đầu tư tư nhân
Mức nợ công năm 2017 tương đương 61,4% GDP, năm 2018 là 58,3%
GDP, năm 2019 còn 55%, năm 2020 là 55,9% và đến năm 2021 tương đương 43,1% GDP.
Trong những năm gần đây, cơ cấu nợ của Việt Nam có chiều hướng thay
đổi chuyển từ vay nợ nước ngoài sang vay nợ trong nước. Nợ nước ngoài tính
đến cuối năm 2011 chiếm khoảng 56,3% và đang có xu hướng giảm, còn nợ
trong nước là 43,7% và đang có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, đây chưa hẳn là
một xu hướng tốt phản ánh sự giảm lệ thuộc vào nước ngoài. Điều này thực
chất phản ánh các khoản vay ưu đãi của nước ngoài đối với Việt Nam đang ngày
càng giảm. Lãi suất thương mại của nợ nước ngoài cao cộng với rủi ro tỉ giá
buộc chúng ta phải chuyển dần sang vay nợ trong nước. Tuy nhiên, việc vay nợ
lớn trong nước lại chèn ép mạnh đầu tư của khu vực tư nhân và làm giảm tăng
trưởng kinh tế một khi đồng vốn vay không được khu vực công sử dụng hiệu quả.
Về mặt lý thuyết, vay nợ nội địa sẽ không có gì đáng lo ngại khi Chính
phủ có khả năng thanh toán các khoản nợ này. Tuy nhiên, thực tế rủi ro hiện tại
chủ yếu đến từ vay nợ trong nước do kỳ hạn vay ngắn và lãi suất trả nợ cao.
Hơn 88,7% nợ trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn
chỉ từ 2 - 5 năm cho thấy sức ép trả nợ trong thời gian tới khá lớn. Nếu tình
trạng này kéo dài gánh nặng nợ công chắc chắn sẽ tăng lên, gây áp lực trả nợ
trong ngắn hạn mà còn chứa đựng nguy cơ kìm hãm hoạt động sản xuất, kinh lOMoAR cPSD| 58702377
doanh, suy giảm khả năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế nói chung và
đầu tư tư nhân nói riêng.
- Có sự chênh lệch trong các ưu đãi giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
Các doanh nghiệp nhà nước hầu như được ưu đãi nhiều hơn thông qua các
khoản vay, tiếp cận đất đai, chỉ tiêu lợi nhuận thấp… Điều này đang kìm hãm
sự tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời dẫn đến việc giảm đầu tư của khu vực tư nhân.
Các DNNN hiện được hưởng 5 đặc quyền, đặc lợi, hay lợi thế tuyệt đối:
Không sợ phá sản cho dù thua lỗ kéo dài, hay khi “khó có người giúp”; biến
độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp; tận dụng cơ chế xin cho;
ưu đãi tiếp cận vốn, vay không lo trả và đặc biệt ít bị kiểm tra giám sát cũng
như “hư không sợ bị đòn”. Hiện các DNNN hoạt động trong quá nhiều ngành
nghề. Nhiều ngành nghề không cần sự tham gia của nhà nước. Đa số tập đoàn,
tổng công ty nhà nước chưa hoàn thành nhiệm vụ chức năng chủ yếu được giao,
tình trạng thiếu hiệu quả, thậm chí thua lỗ phổ biến. Hiện, mỗi khi các tập đoàn,
tổng công ty khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm thì bộ trưởng có liên quan thường
trực tiếp chỉ đạo, yêu cầu các doanh nghiệp khác phải mua sản phẩm (liên quan)
đang khó tiêu thụ. Hoặc khi tập đoàn, tổng công ty không còn cách nào khác để
tìm vốn kinh doanh vẫn được nhà nước chỉ định cho vay với lãi suất rất thấp,
thậm chí bằng 0%. Điều này là không công bằng với khu vực tư nhân, nó sẽ
ngăn cản sự phát triển mở rộng của khu vực tư nhân. Khi doanh nghiệp nhà
nước được độc quyền hoạt động trong những ngành như dầu khí, điện,… gây
sức ép rất lớn đối với doanh nghiệp tư nhân.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đặc quyền đặc lợi của DNNN xuất phát từ
tư duy đến chủ trương của những người lập chính sách. Trong đó cốt lõi là, chưa
làm rõ được vai trò chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường; chưa
tách bạch rõ nội hàm của thể chế quản trị quốc gia; lẫn lộn quản lý nhà nước
với quản trị doanh nghiệp và quản lý kinh doanh gắn với thiếu công khai minh bạch.
3.3.4. Đầu tư tư nhân giúp cho đầu tư công hiệu quả hơn trong các dự
án hợp tác đầu tư công - tư PPP
Theo Báo cáo số 25/BC-CP ngày 30/01/2019 của Chính phủ về tổng kết
tình hình thực hiện dự án theo hình thức hợp tác công tư (PPP), đến nay cả nước
đã có 336 dự án PPP. Trong đó, 140 dự án theo hợp đồng BOT, 188 dự án theo
hợp đồng BT và 08 dự án được áp dụng các loại hợp đồng khác; huy động được
khoảng 1.609.295 tỷ đồng vào đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia.
Theo quy hoạch, đến năm 2050 Việt Nam phải có 9.000km đường cao tốc
và gần 30.000km đường quốc lộ. Như vậy, để đáp ứng mục tiêu này, chúng ta
cần nguồn vốn rất lớn, dự kiến từ 2021-2025 cần tới 78.000 tỷ đồng/năm; giai
đoạn 2026-2030, đầu tư khoảng 102.000 tỷ đồng/năm. Ngân sách dự kiến đáp
ứng 2/3, còn lại huy động vốn tư nhân. Song trong 20212022 vốn tư nhân vào
hạ tầng gần như không có. Đây là thách thức rất lớn trong việc thu hút 300.000
tỷ đồng vốn tư nhân trong 10 năm để đầu tư các dự án này.
- PPP góp phần tích cực hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng
Lĩnh vực giao thông có 220 dự án bao gồm 118 dự án BOT với tổng vốn
đầu tư khoảng 279.367 tỷ đồng, 99 dự án BT với tổng vốn đầu tư khoảng
117.421 tỷ đồng, 03 dự án theo hình thức khác; Lĩnh vực năng lượng (xây dựng
nhà máy điện) có 18 dự án BOT với tổng vốn đầu tư khoảng 857.209 tỷ đồng; lOMoAR cPSD| 58702377
Lĩnh vực phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu kinh tế có 03 dự án BT với
tổng vốn đầu tư 162,645 tỷ đồng, 02 dự án BOT với tổng vốn đầu tư 27.860,6 tỷ đồng;
Lĩnh vực giáo dục có 06 dự án BT với tổng vốn đầu tư là 1.284,68 tỷ đồng;
Lĩnh vực văn hóa, thể thao có 10 dự án BT và 01 dự án BOT với tổng vốn đầu
tư là 4.632,148 tỷ đồng; Lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật (xây dựng nhà ở tái định cư,
hạ tầng ký túc xá…) có 32 dự án; lĩnh vực xây dựng trụ sở làm việc có 20 dự
án và các lĩnh vực khác. Các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, y tế, du lịch chưa
có dự án PPP nào đi vào vận hành, khai thác.
Những dự án PPP trong thời qua đã góp phần tích cực hoàn thiện hệ thống
cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị, xử lý nước thải, rác thải…,
kịp thời giải quyết các nhu cầu bức xúc về dịch vụ công của người dân và nhu
cầu cấp bách về cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế – xã hội đất nước, góp phần
ổn định kinh tế vĩ mô, kích cầu đối với sản xuất trong nước, thúc đẩy phát triển
kinh tế – xã hội, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân.
- Những hạn chế của dự án hợp tác đầu tư công - tư PPP
Bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy việc triển khai còn một
số tồn tại, bất cập, nổi bật là: Công tác lựa chọn, lập, thẩm định dự án PPP chưa
được thực hiện chặt chẽ. Công tác công bố dự án, danh mục dự án chưa được
thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch.
Phần III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quan hệ giữa
đầu tư công và đầu tư tư nhân
1. Thúc đẩy hợp tác giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân
1.1. Sử dụng công cụ thuế -
Điều chỉnh mức thuế suất thích hợp, đặc biệt là áp dụng với thuế
thunhập doanh nghiệp, cần có mức thuế ưu tiên với các doanh nghiệp về sản
xuất thực phẩm và tăng mức thuế suất với các mặt hàng tiêu thụ đặc biệt. -
Tăng cường tập huấn, tuyên truyền về thuế và pháp luật thuế đến
cộngđồng các doanh nghiệp, tập trung cải cách hành chính, tháo gỡ những khó
khăn, vướng mắc, giúp các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. -
Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt các thủ tục kê khai
và nộp thuế rườm ra, giảm bớt thời gian nộp thuế -
Tăng cường kiểm tra, xử lý các trường hợp trốn thuế, gian lận
thuế,giả mạo hồ sơ giấy tờ để chiếm đoạt thuế; rà soát tình hình, quản lý, giám
sát các hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ theo đúng pháp luật; quản lý chi
ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, cần hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán.
1.2. Áp dụng mô hình hợp tác công tư PPP
Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 71/QĐ-TTg thực hiện
thí điểm đối tác công – tư PPP. Triển khai chương trình này, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sẽ lập danh mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hằng năm và tiến hành
đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước đủ năng
lực, kinh nghiệm để tham gia dự án. Điều này cho thấy có một sự quan tâm nhất
định đối với hình thức này.
Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, khu vực tư nhân vẫn còn một số quan
ngại nhất định trong việc tham gia vào hình thức đối tác này. Từ những quan
ngại đó, chúng ta có thể nhận định một số quan điểm cơ bản để có thể tăng lOMoAR cPSD| 58702377
cường hơn nữa Quan hệ đối tác công – tư trong việc xác định mục tiêu chiến
lược, ra quyết định lựa chọn đối tác, dự án và triển khai xây dựng thể chế cũng
như tạo môi trường thu hút các thành phần tư nhân tham gia có trách nhiệm
nhằm hợp tác và phát triển bền vững cụ thể:
- Có khuôn khổ tổ chức pháp lý thuận lợi và sự ủng hộ chính sách mạnh
mẽ: Tạo lập khuôn khổ pháp lý và chính sách thực thi hợp đồng và giải quyết
tranh chấp, luật BOT/PPP, khung quy định về các khu vực rõ ràng. Một quan
hệ PPP được điều chỉnh bởi một hợp đồng nêu một cách chi tiết những quan hệ
mà hai đối tác mong muốn thực hiện. Hợp đồng cũng ấn định toàn bộ những
điều kiện của quan hệ đối tác, quyền và nghĩa vụ mỗi bên. Cần hội đủ hai yếu
tố cơ bản sau: "hợp đồng hiệu quả" để tăng giá trị vốn đầu tư và "môi trường
thuận lợi" để quản lý PPP. Điều này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng
tính minh bạch cho các mô hình PPP và khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cực hơn.
- Xác định cụ thể mục tiêu chiến lược của dự án và năng lực quản lý ở tất
cả các cấp: việc thương lượng giữa hai đối tác phải được thực hiện một cách
nghiêm túc và có đủ thời gian cần thiết để tìm được sự cân bằng đảm bảo cho
quan hệ đối tác và xác định được những điều khoản của hợp đồng. Mọi việc
không được giải quyết ở giai đoạn này có thể sẽ dẫn đến những tình huống xấu
do sự vận hành không tốt của quan hệ đối tác
- Lựa chọn Quan hệ đối tác công – tư PPP phù hợp với đặc điểm của từng
dự án: Việc lựa chọn một mô hình cụ thể và phân bổ rủi ro đi kèm được cần
được xác định dựa trên sự đánh giá, phân tích về lợi ích công cộng và lợi nhuận
tài chính. Nguyên tắc minh bạch tài chính phải được bảo đảm. Trong đó, ảnh
hưởng của tài chính công có thể phát sinh về việc chia sẻ trách nhiệm với khu
vực tư nhân đối với kết cấu hạ tầng phải được dự báo. Trong hoàn cảnh Việt
Nam đang thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như hiện nay,
nhà đầu tư tư nhân nên tập trung hơn vào mô hình hợp tác công tư trong đó nhà
đầu tư tư nhân có tham gia tài trợ dự án như BOT, BOO hơn các mô hình chỉ
đóng góp kinh nghiệm, khả năng điều hành quản lý như thiết kế xây dựng hay
vận hành - bảo dưỡng. - Kết hợp nhiều công ty theo hình thức cổ phần: Các
nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực mạnh về nguồn vốn có thể làm một mình
hay kết hợp hai, ba nhà đầu tư tư nhân tham gia hợp tác công tư. Riêng đối với
nhà đầu tư tư nhân trong nước nên kết hợp theo mô hình kết hợp nhiều công ty
theo hình thức cổ phần để khắc phục các hạn chế về quy mô, năng lực tài chính
và giảm thiểu rủi ro đầu tư
- Tạo ra các cơ chế linh hoạt phù hợp hoàn cảnh từng thời kỳ: Do các dự
án hạ tầng chịu nhiều tác động của chính sách cũng như hoàn cảnh xã hội nên
các điều khoản trong hợp đồng cần linh hoạt, có biên độ điều chỉnh để tránh
thiệt hại cho nhà đầu tư cũng như chính quyền.
- Tạo ra các cơ chế thúc đẩy hoạt động kinh doanh có trách nhiệm: Có sự
hỗ trợ chính trị từ tầm cao và quản trị tốt, đảm bảo rằng chính phủ sẽ thực hiện
các cam kết của mình dưới hình thức PPP. Hợp đồng ký kết giữa chính quyền
và nhà đầu tư cần rõ ràng, minh bạch để chính quyền đảm bảo quyền lợi của
nhà đầu tư và là cơ sở cho chính quyền tận dụng hiệu quả nhất tính năng động
và cạnh tranh của khu vực tư nhân, góp phần tiết kiệm các chi phí về cơ sở hạ tầng của toàn xã hội.
2. Hạn chế sự lấn át của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân lOMoAR cPSD| 58702377
2.1. Chính sách sử dụng nguồn vốn -
Nhà nước, các cơ quan ban ngành, cơ quan quản lý nhà nước cần
công khai minh bạch, rà soát các khoản chi, các khoản đầu tư công, để điều
chỉnh sao cho hiệu quả sử dụng vốn là hợp lý nhất, hiệu quả nhất, tránh lãng phí, thất thoát. -
Phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính đưa ra mức
lãisuất phù hợp phân loại theo từng ngành, ưu đãi theo mức độ cấp thiết của
những nhóm ngành trọng yếu, hạn chế việc tăng lãi suất không phù hợp gây
ảnh hưởng lan tỏa trên thị trường vốn. Đánh giá chặt chẽ về tính hiệu quả, khả
năng thu hồi vốn để thiết kế phương án vay vốn tăng thêm nguồn vốn cho đầu
tư công trong việc phát hành trái phiếu, nhu cầu vay vốn,... -
Đưa ra các biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức
liênkết, đầu tư vào khu vực công, để giảm phần nào gánh nặng về vốn cho ngân
sách nhà nước, từ đó, giảm áp lực làm tăng lãi suất trên thị trường vốn. -
Cần xác định việc sử dụng nguồn vốn gắn với hướng phát triển
bềnvững. Trong đó tập trung phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Tăng
tỷ trọng đầu tư cho lĩnh vực xã hội nhiều hơn trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư
Nhà nước. Cụ thể, tập trung nâng cao chất lượng trong dịch vụ công: Y tế, giáo
dục và văn hóa, tăng đầu tư phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản. Chú ý đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt
nhằm hỗ trợ cho việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn sang dựa
vào tăng năng suất lao động.
2.2. Chính sách áp dụng nợ công -
Kiểm soát, xử lý các dự án đầu tư công kém hiệu quả. Phân cấp
đầutư, tránh việc đầu tư dàn trải bằng vốn ngân sách trên tất cả các lĩnh vực,
các ngành nghề như hiện nay, đặc biệt là các dự án có tính chất thương mại.
Tập trung xây dựng dứt điểm và đồng bộ một số công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm. -
Cần có sự giám sát chặt chẽ các khoản chi từ Trung ương cho địa
phương, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả ngay từ khâu kiểm
tra, đánh giá dự án, cắt giảm chi thường xuyên trong đó cần tinh gọn bộ máy
hành chính trên cơ sở có lộ trình từ các biện pháp tiết kiệm đến tinh giản biên chế. -
Đưa ra những chính sách phù hợp với hệ thống thuế, giảm thuế
thunhập DN nhằm nuôi dưỡng nguồn thu trong tương lai. Tăng cường hiệu quả
thu ngân sách, tránh thất thoát, thất thu thuế. -
Duy trì khả năng xuất khẩu, coi xuất khẩu là yếu tố then chốt để
trảnợ; Cần có giải pháp tránh tình trạng lên giá của tiền đồng làm tổn hại đến
năng lực xuất khẩu, khuyến khích vay nước ngoài dẫn đến xói mòn khả năng trả nợ.