lOMoARcPSD| 58707906
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MÔN HỌC: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề bài: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA. LIÊN HỆ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2016- 2020 VÀ 2021- 2024
LỚP HỌC PHẦN: KINH TẾ ĐẦU TƯ 11
THÀNH VIÊN NHÓM
HỌ VÀ TÊN
MSV
NHIỆM VỤ
Trần Đức Hòa
11241036
Thực trạng 2020-2024, hoàn thiện bài
Đặng Lê Nhật Hưng
11241040
Mục 4,5 cơ sở lý luận
Vương Văn Khải
11241047
Hạn chế, thách thức, khuyến nghị, kết luận
Phạm Quang Triệu
11247360
Thực trạng 2016-2020
Lương Cẩm
11241148
So sánh với các nước
Đỗ Triều Tiên
11241140
Lời mở đầu, mục 1,2,3 cơ sở lý luận
Hà Nội 2025
BÀI TẬP LỚN
lOMoARcPSD| 58707906
LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư phát triển là một lĩnh vực chiếm vị trí thiết yếu trong việc nghiên cứu đến
sự phát triển mở rộng quy nền kinh tế của các quốc gia. Đây vẫn một vấn đề
nan giải trong trên toàn cầu ng như ở Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới và mở
cửa như bây giờ thì vấn đề ngày càng trở nên gay gắt hơn bởi đầu tư có tác động không
nhỏ tới tăng trưởng kinh tế. giai đoạn này, việc vốn đầu từ các nước đổ vào Việt
Nam hay nguồn vốn đầu tư trong nước cũng là một vấn đề “nóng hổi” đáng quan tâm vì
đây chính là động cơ để thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với tiến bxã hội tốt hơn khi
biết tận dụng nguồn vốn này.
Tăng trưởng kinh tế luôn được xem nền tảng trung tâm trong luận về phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đây được coi là một chỉ tiêu để đánh giá về mức độ tiến
bộ và hiệu quả của hoạt động kinh tế qua các thời kỳ lịch sử. Trong quá trình đó, đầu tư
phát triển đóng vai trò không kém phần quan trọng, vừa động lực để thúc đẩy mức
tăng trưởng, vừa công cụ để định hướng chuyển dịch cấu kinh tế theo xu hướng
hiện đại hóa phát triển bền vững. Nhưng bên cạnh đó, vấn đề này cũng sẽ mang lại
những rủi ro tiềm ẩn nhất định và đó cũng do chúng ta hiểu rõ bản chất và tầm quan
trọng của đầu phát triển cũng như đánh giá toàn diện về tác động thực chất đem
lại cho nền kinh tế. Từ đó giảm thiểu tối đa nhất những tác động tiêu cực nhằm phát huy
hiệu quả đầu tư, xây dựng những chính sách hợp cuối cùng tạo nền tảng vững
chắc cho nền kinh tế nước nhà trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Hoạt động đầu phát triển một quá trình mang tính dài hạn đòi hỏi sự phối
hợp chặt chẽ giữa các ban lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, giữa các thành phần kinh
tế khác nhau trong hội. Tăng trưởng kinh tế với cách then chốt của mọi hoạt
động kinh tế hội mọi quốc gia luôn hướng tới thì việc định hướng khai hoạt
động đầu phát triển cần được tiến hành bài bản, ràng cũng như xây dựng các
chiến lược đầu tư phát triển phù hợp với nguồn lực hiện tại đang có.
Đối với Việt Nam - một ớc đang phát triển đang dần tiến tới nhóm có thu nhập
trung bình cao, trong giai đoạn 2016-2024, nước ta cũng cho thấy nhiều sự chuyển biến
tích cực về tăng trưởng thông qua các chính sách như khuyến khích đầu tư, thu hút các
nguồn vốn trong và ngoài nước góp phần thúc đẩy kinh tế thị trường, nâng cấp cơ sở hạ
tầng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực. Nhưng bên cạnh đó cũng
những hạn chế như hiệu quả đầu tư chưa cao, phân bổ nguồn lực chưa đều hay vấn
đề về môi trường. Vậy nên, Nhóm 1 chọn chủ đề “Phân tích tác động của đầu phát
triển đến tăng trưởng kinh tế c quốc gia và liên hệ với Việt Nam trong giai đoạn 2016-
2020 và 2021-2024” cùng với sự hướng dẫn của GV.
lOMoARcPSD| 58707906
Hoàng Thị Thu để làm hơn các khía cạnh của vấn đề trên. Mặc những thông
tin và số liệu chúng em đều lấy từ những trang thông tin chính thống và đáng tin cậy tuy
nhiên cũng không tránh khỏi những sai sót vậy nên rất mong nhận được những nhận xét
từ cô để bài làm được hoàn thiện hơn.
lOMoARcPSD| 58707906
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 2
I. Cơ sở lý luận ....................................................................................................................................... 5
1. Khái niệm về đầu ....................................................................................................................... 5
2. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển ............................................................................. 5
3. Phân biệt các loại đầu tư phát triển ............................................................................................. 6
3.1. Theo cơ cấu tái sản xuất ......................................................................................................... 6
3.2. Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư .................................................................. 6
3.3. Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư ................................................................ 7
3.4. Theo tính chất và quy mô đầu tư ........................................................................................... 7
3.5. Theo nguồn vốn ....................................................................................................................... 7
3.6. Theo chủ thể ............................................................................................................................ 8
4. Các loại nguồn vốn đầu tư phát triển ........................................................................................... 8
4.1. Vốn đầu tư trong nước ........................................................................................................... 8
4.2. Vốn đầu tư nước ngoài ......................................................................................................... 11
5. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế ........................................................................................ 11
II. THỰC TRẠNG ............................................................................................................................... 16
1. Thực trạng của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 ......................................................................... 16
1.1. Thực trạng đầu tư phát triển ............................................................................................... 16
1.2. Phân tích tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế .................................. 22
2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM Giai đoạn 2020-2024 ......................................................... 26
2.1. Bối cảnh chung ...................................................................................................................... 26
2.2. Phân tích Dòng Vốn Đầu Toàn Xã Hội ......................................................................... 27
2.3. Quy Mô và Tốc Độ Tăng Trưởng GDP ............................................................................... 29
3. SO SÁNH VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC .............................................. 31
3.1. So sánh với 1 số quốc gia trong khu vực( ấn độ , sing, nhật, hàn, trung quốc, lào ) 2016-
2020 ............................................................................................................................................... 31
3.2. So sánh với 1 số quốc gia trong khu vực( ấn độ , sing, nhật, hàn, trung quốc, lào ) 2020-
2024 ............................................................................................................................................... 33
III. Những Hạn Chế và Thách Thức Đối Với Hiệu Quả Đầu Tư và Tăng Trưởng Kinh Tế Tại
Việt Nam ............................................................................................................................................... 37
1. HẠN CHẾ ..................................................................................................................................... 37
2. Thách Thức ................................................................................................................................... 38
VI. Giải Pháp Cho Đầu Tư Phát Triển Tại Việt Nam ....................................................................... 39
Kết luận ................................................................................................................................................. 40
Tài liệu tham khảo ............................................................................................................................... 42
lOMoARcPSD| 58707906
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm về đầu
Để làm rõ hơn khái niệm về đầu phát triển thì không thể không kể đến các khái
niệm về đầu đầu được chia làm 3 thành phần chính đầu tư tài chính, đầu
thương mại và đầu tư phát triển. Dưới nhiều góc độ cách tiếp cận khác nhau thì phát
biểu về khái niệm này cũng sẽ những điểm khác biệt nhất định sau đây là một số
khái niệm cơ bản về đầu tư. Chia thành 5 khái niệm cơ bản:
Khái niệm thường dùng: Đầu tư là quá trình sử dụng vốn hay các nguồn lực khác
nhau nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định mà nhà đầu hướng tới hay chính quá
trình “tiền đẻ ra tiền”.
Khái niệm thiên về tài sản: Đầu chính quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực
sản xuất đầu tư dưới hình thức các tài sản đầu tư và cũng là quá tình quản trị danh mục
tài sản để sinh lời.
Khái niệm thiên về khía cạnh tài chính: Đầu chính quá trình hoàn lưu giữa
dòng vốn và lợi nhuận. Trong đó, chủ đầu tư bỏ vốn ra để đầu tư và thu về lợi nhuận và
dòng vốn sau đó tiếp tục chuỗi đầu tư của mình nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả
sử dụng vốn.
Khái niệm thiên về tiến bộ khoa học kỹ thuật: Đầu trong khái niệm này được
hiểu việc đầu tư vào máy móc, công nghệ kĩ thuật trong sản xuất để hiện đại hơn
giảm dần lao động thủ công.
Khái niệm thiên về khía cạnh xây dựng: Đầu này được hiểu việc sử dụng
vốn để hình thành các tài sản vật chất như công trình, cơ sở hạ tầng.
Nhìn chung, dưới các góc độ khác nhau dù dưới cách hiểu rộng hoặc hẹp hơn thì
đầu tư có thể hiểu là việc phối hợp các nguồn lực ( tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao
động và trí tuệ ) nhằm đạt được mục tiêu xác định cả trực tiếp hay gián tiếp cho nhà đầu
tư và các hoạt động kinh tế-xã hội.
2. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển
Khái niệm
Đầu phát triển là một bộ phận bản của đầu tư, một phương thức đầu tư
trực tiếp, trong đó quá trình đầu làm gia tăng giá trị của tài sản. Sự gia tăng đó gắn
với việc gia tăng năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của đơn vị đầu tư.
Hoạt động này cũng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc tăng năng
suất lao động nhờ nâng cao trang thiết bị sản xuất và trình độ lao động đồng thời duy trì
và cải thiện những tài sản hiện có.
lOMoARcPSD| 58707906
Đặc điểm chính của đầu tư phát triển
Quy lớn: Hoạt động này thường yêu cầu có số lượng vốn, lao động trang
thiết bị lớn đặc biệt các dự án trọng điểm quốc gia.
Vốn đổ vào các dự án này thường bị “khóa” trong khoảng thời gian từ lúc tiến
hành tới lúc đi vào hoạt động.
Thời gian dễ bị kéo dài bởi các yếu tố nng vốn chảy vào dự án không đều
và thường xuyên và các thủ tục phát sinh.
Thời gian vận hành kéo dài: Kết quả đầu tư (như công trình xây dựng) được vận
hành trong suốt thời gian sử dụng, cho đến khi hết vòng đời và bị loại bỏ.
Ảnh hưởng nhiều yếu tố: Trong quá trình vận hành, các kết quả đầu chịu tác
động cả tích cực tiêu cực từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội, đặc biệt
là những yếu tố vùng nơi công trình được xây dựng.
Rủi ro cao: Do quy vốn lớn, thời gian đầu dài thời gian vận hành kéo
dài, mức độ rủi ro của đầu tư phát triển thường cao, đòi hỏi quản lý chặt chẽdự báo
kỹ lưỡng.
3. Phân biệt các loại đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư được phân chia theo các tiêu thức khác nhau nhằm đáp ứng các
nhu cầu và nghiên cứu khác nhau của đối tượng sử dụng.
3.1. Theo cơ cấu tái sản xuất
Đầu theo chiều rộng: hình thức mở rộng quy sản xuất như máy móc,
nhà xưởng,... trình độ công nghệ kỹ thuật không thay đổi. dụ: Mở thêm nhà xưởng
mà công nghệ và nhân công vẫn vậy.
Đầu theo chiều sâu: hình thức mở rộng đầu về công nghệ, cải tiến kỹ
thuật, nâng cao trình độ lao động,...giúp tăng năng suất hiệu quả kinh doanh. Ví dụ:
Nâng cấp máy móc hiện đại và tiết kiệm điện năng hơn.
Hai hình thức đầu theo chiều rộng chiều sâu mối quan hệ bổ sung cho
nhau : xây dựng và mở rộng vững chắc cơ sở hạ tầng sau đó nâng cấp máy móc thiết bị
để nâng cao năng suất lao động. thể căn cứ vào tốc độ tăng trưởng của vốn lao
động để phân định hai hình thức này.
3.2. Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư
Đầu phát triển sản xuất kinh doanh: nh thức nâng cao các thiết bị sản
xuất mở rộng quy kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả tối đa. Đối
tượng tác động hình thức này chủ yếu là tư nhân.
lOMoARcPSD| 58707906
Đầu phát triển khoa học kỹ thuật: hình thức đầu để nâng cao, nghiên cứu
phát triển cho tiến bộ khoa học-công nghệ. Đối tượng tác động hình thức này kết hợp
cả tư nhân và Nhà nước.
Đầu tư phát triển sở hạ tầng: hình thức đầu giúp nâng cao hệ thống hạ
tầng kinh tế-xã hội như đường, điện, cầu,... Đối tượng tác động hình thức này chủ yếu
là Nhà nước.
Các hoạt động đầu này mối quan hệ ơng hỗ nhau như đầu vào khoa
học kỹ thuật cơ sở hạ tầng sẽ giúp thúc đẩy sản xuất kinh doanh ngược lại, sản
xuất kinh doanh tạo động lực cho 2 hình thức còn lại cũng như các hình thức đầu
khác.
3.3. Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư
Đầu tư cơ bản: Là hình thức đầu tư nhằm tái sản xuất các tài sản cố định như sửa
chữa máy móc thiết bị ,.... tạo ra tài sản dài hạn phục vụ cho sản xuất lâu dài.
Đầu vận hành: hình thức đầu nhằm tạo ra hoặc tăng thêm tài sản u
động như tiền, nguyên vật liệu,... không tạo ra tài sản cố định mới mà giúp doanh nghiệp
vận hành hiệu quả hơn.
3.4. Theo tính chất và quy mô đầu tư
Đầu theo các dự án quan trọng quốc gia: Các dự án quy từ 10.000 tỷ
đồng trở lên và do Quốc hội quyết định.
Đầu tư các dự án nhóm A: Do Thủ tướng Chính Phủ quyết định
Đầu tư các dự án nhóm B và C: Do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ
quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Việc phân chia các dự án theo nhóm theo từng quy mô, nguồn vốn tầm ảnh
hưởng đến môi trường hay tác động tới kinh tế-xã hội ý nghĩa trong việc phân cấp
quản lý hoạt động đầu tư. Từ đó sẽ giúp các ban quản hoàn thành hiệu quả nghĩa vụ
và nhiệm vụ.
3.5. Theo nguồn vn
Đầu phát triển từ nguồn vốn trong nước: hình thức quan trọng nhất
nội lực của đầu tư phát triển
Đầu phát triển từ nguồn vốn nước ngoài: hình thức đóng vai trò bổ sung
quan trọng, giúp tiếp cận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản mở rộng thị trường
Giá trị cốt lõi của khung phân loại này nằm việc cung cấp một sở phương
pháp luận vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách. Nó cho phép phân tíchđiều
hòa một cách hệ thống các mục tiêu mang tính đối trọng, điển hình giữa tốc độ
lOMoARcPSD| 58707906
tăng trưởng tính bền vững, cũng như giữa mức độ hội nhập quốc tế khả năng tự
chủ chiến lược.
3.6. Theo chủ thể
Đầu tư phát triển của Nhà nước: là hoạt động đầu tư từ ngân sách Nhà nước, quỹ
đầu tư công hay doanh nghiệp Nhà nước, chủ yếu nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, phục
vụ lợi ích công cộng, ổn định và định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Đầu tư phát triển của tư nhân: hoạt động đầu do các cá nhân, doanh nghiệp
nhân trong nước thực hiện bằng nguồn vốn của họ thành phần quan trọng nhất
trong 3 hình thức.
Đầu tư nước ngoài: hoạt động đầu do nhà đầu nước ngoài thực hiện tại
Việt Nam, thông qua nh thức đầu trực tiếp (FDI) hoặc gián tiếp (qua cổ phiếu, trái
phiếu).
Phân bổ đầu tư theo chủ thể giúp xác định mục tiêu, vai trò và vị trí của từng khu
vực trong nền kinh tế để bổ trợ cho nhau, xây dựng nền kinh tế bền vững và phát triển.
4. Các loại nguồn vốn đầu tư phát triển
Để thúc đẩy kinh tế quốc gia, việc huy động vốn đầu tư phát triển dựa trên sự kết
hợp của hai nguồn lực: vốn trong nước vốn nước ngoài. Mỗi nguồn vốn chế
vận động đặc trưng riêng, nhưng chúng btrợ cho nhau cùng đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng.
4.1. Vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn Nhà nước
Tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước được cấu thành từ ba bộ phận chính:
vốn do ngân sách nhà ớc cấp, vốn từ các kênh tín dụng đầu phát triển của Nhà
nước, và vốn tự tích lũy để tái đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
Vốn ngân sách nhà nước
Vốn ngân sách Nhà nước được định nghĩa là toàn bộ nguồn tài chính hình thành
từ các khoản thu chi của chính phủ, áp dụng cho cả cấp trung ương địa phương.
Nguồn vốn này được thiết lập vận hành trong khuôn khổ một m tài chính, do
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Mục tiêu cốt lõi của nó là đảm bảo Nhà nước
có đủ nguồn lực để thực hiện các chức năng quản lý hoàn thành các nhiệm vụ đã đề
ra., cũng như quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Sự hình thành của vốn ngân sách đến từ nhiều kênh huy động đa dạng. Nguồn
thu chính và ổn định nhất các khoản thuế, phí và lệ phí từ hoạt động kinh tế. Bên cạnh
lOMoARcPSD| 58707906
đó, ngân sách n được bổ sung từ việc bán hoặc cho thuê tài sản công, phát hành tiền
tệ hoặc công cụ tài chính như trái phiếu, tiếp nhận các khoản viện trợ từ ớc ngoài,
cũng như huy động các khoản đóng góp tự nguyện từ cộng đồng, doanh nghiệp và các
tổ chức xã hội.
Về phía chi, vốn ngân sách được phân bổ đến nhiều đối tượng nhằm phục vụ các
mục tiêu phát triển chung. Nguồn lực này được ưu tiên đầu tư cho các dự án kết cấu hạ
tầng kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, và hỗ trợ những doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước. Đồng thời, vốn cũng được dành cho
công tác hoạch định chính sách, lập và triển khai các quy hoạch phát triển tổng thể. Các
đối tượng thụ hưởng bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, và các đơn vị,
nhân khác được Nhà nước giao nhiệm vụ.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Vốn tín dụng đầu phát triển của Nhà nước hình thức tín dụng do Nhà nước
thực hiện nhằm hỗ trợ các dự án đầu tư thuộc những ngành, lĩnh vực, chương trình kinh
tế trọng điểm hoặc các vùng điều kiện kinh tế - hội khó khăn cần được khuyến
khích đầu . Đây công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước điều tiết, định ớng
và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo chiến lược đã đề ra.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển là một kênh vốn trọng yếu của khu vực Nhà
nước, bổ sung cho các kênh khác như vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ
hoặc các quỹ tài chính ngoài ngân sách, qua đó góp phần mrộng khả năng huy động
vốn cho đầu phát triển. Nguồn vốn cho n dụng đầu phát triển Nhà nước chủ yếu
được hình thành từ ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu chính phủ, vốn ODA
các nguồn huy động hợp pháp khác, thay vì từ tiền gửi của dân cư như tín dụng thương
mại.
Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước
Vốn đầu tư từ khối doanh nghiệp nhà ớc (DNNN) là một trụ cột tài chính quan
trọng, đóng vai trò định hướng và ổn định cho nền kinh tế quốc dân. Dù còn đối mặt với
những thách thức về chế quản trị hiệu quả, khu vực này vẫn là công cụ then chốt
của Nhà nước để dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, điều tiết phân bổ các
nguồn lực xã hội một cách có định hướng.
Trong những năm qua, chủ trương tái cơ cấu nâng cao hiệu quả hoạt động đã
giúp khu vực DNNN có những bước tiến đáng kể về quy mô vốn năng lực sản xuất.
Đặc biệt, các DNNN hoạt động trong những lĩnh vực chiến lược như năng lượng, viễn
thông, tài chính, hạ tầng đã trở thành động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Họ
không chỉ thúc đẩy sản xuất n đóng vai trò cốt lõi trong việc đảm bảo an ninh kinh
tế, an ninh năng lượng và sự ổn định chung của xã hội.
lOMoARcPSD| 58707906
Một trong những vai trò nổi bật nhất của vốn DNNN khả năng tạo hiệu ứng
lan tỏa dẫn dắt đầu tư. Nguồn vốn này thường tiên phong đầu vào các vùng kinh
tế còn khó khăn hoặc thực hiện các dự án công ích khu vực nhân chưa mặn mà.
Thông qua các hoạt động liên kết sản xuất và đầu này, DNNN đã kích thích các khu
vực kinh tế khác cùng phát triển, qua đó góp phần mở rộng quy đầu tư toàn hội,
cải thiện năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế Việt
Nam.
Nguồn vốn tư nhân
Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, với sự năng động và linh hoạt vốn có, đang ngày
càng khẳng định vai trò một động lực tăng trưởng cốt lõi của nền kinh tế thị trường
tại Việt Nam. Nguồn vốn này phản ánh trực tiếp sức mạnh nội tại của nền kinh tế, thể
hiện qua khả năng tích lũy của người dân tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn này được hình thành từ hai kênh chính: vốn tích lũy trong dân cư và vốn tự
có của các doanh nghiệp tư nhân (như công ty cổ phần, TNHH, hợp tác xã...). Được đưa
vào quá trình tái sản xuất xã hội, đây là nguồn vốn có khả năng thích ứng nhanh với tín
hiệu thị trường, là chỉ báo quan trọng về mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Nhờ các chính sách cải thiện môi trường kinh doanh, nguồn vốn tư nhân đã có sự
tăng trưởng vượt bậc về quy mô và hiệu quả. Vai trò của nó được thể hiện rõ nét qua các
khía cạnh sau:
Đa dạng hóa nền kinh tế: Doanh nghiệp nhân đã mạnh dạn đầu vào nhiều
lĩnh vực trọng yếu như sản xuất công nghiệp, chế biến, dịch vụ, công nghệ cao, du lịch
và bất động sản, góp phần làm phong phú cơ cấu kinh tế quốc gia.
Tạo việc làm: khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho hội, góp phần quan
trọng vào việc giải quyết vấn đề lao động và nâng cao thu nhập cho người dân.
Thúc đẩy cạnh tranh đổi mới: Đầu tư tư nhân là nhân tố chính tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, ứng dụng
công nghệ và cải tiến quản trị để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, qua đó
nâng cao năng suất chung của toàn xã hội.
Mặc dù có vai trò quan trọng, khu vực tư nhân vẫn phải đối mặt với không ít rào
cản trong quá trình phát triển. Các thách thức chính bao gồm quy vốn còn nhỏ lẻ,
năng lực tài chính chưa thực sự vững chắc, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tín
dụng chính thức, sự thiếu vắng các liên kết chặt chẽ, hiệu quả với khu vực kinh tế
nhà nước.
lOMoARcPSD| 58707906
4.2. Vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu ớc ngoài nguồn tài chính dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản
do các nhà đầu tư nước ngoài từ một quốc gia đưa sang đầu tại quốc gia khác nhằm
thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc dự án đầu tư cụ thể trong một thời gian
nhất định, theo quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. Hiểu đơn giản, đây dòng
vốn được chuyển dịch xuyên biên giới, do các tổ chức hoặc nhân nước ngoài đầu
vào các doanh nghiệp hoặc dự án trong nước với mục tiêu sinh lợi.
Do đó, đầu tư nước ngoài là quá trình chuyển động của dòng vốn từ quốc gia này
sang quốc gia khác. Vốn đầu nước ngoài bao gồm các dòng tài chính từ nước ngoài
được đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong nước, cho phép các nhà đầu tư ớc
ngoài sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhất định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp
trong nước sẽ tiếp nhận các khoản đầu tư từ nước ngoài, và nếu phần vốn đầu tư đủ lớn,
nhà đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Dựa trên đặc điểm của lưu chuyển vốn, các nguồn vốn đầu từ nước ngoài
thể được phân loại như sau:
Tài trợ phát triển chính thức (ODF): Bao gồm viện trợ phát triển chính thức
(ODA) và các hình thức viện trợ ưu đãi khác, trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tín dụng thương mại quốc tế: Là nguồn vốn vay từ các ngân hàng và tổ chức tài
chính nước ngoài theo điều kiện thương mại, thường áp dụng đối với các doanh nghiệp
hoặc dự án có khả năng sinh lời.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Là hình thức đầu tư nhà đầu nước ngoài
góp vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp hoặc dự
án tại nước tiếp nhận đầu tư.
Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn quốc tế: Bao gồm phát hành trái phiếu
quốc tế, cổ phiếu, chứng khoán các công cụ tài chính khác trên thị trường toàn cầu
nhằm thu hút nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế.
Viện trợ phát triển chính thức (ODA): nguồn vốn ưu đãi từ các chính phủ, tổ
chức quốc tế hoặc các định chế tài chính đa phương, thường dành cho các chương trình,
dự án mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo nâng cao năng lực quốc
gia.
5. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
Từ lâu, vai trò của vốn đầu tư đã được xem là nền tảng cho sự thịnh vượng kinh
tế. Các học thuyết kinh tế qua nhiều thời kỳ, dù khác biệt về phương pháp tiếp cận, đều
chung một nhận định về tầm quan trọng của việc tích lũy sử dụng vốn hiệu quả.
Ngay từ thế kỷ 18, trong tác phẩm kinh điển "Của cải của các Dân tộc", Adam Smith đã
lOMoARcPSD| 58707906
chỉ ra rằng vốn đầu tư yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng của một quốc gia.
Theo ông, việc gia tăng vốn cho phép mở rộng quy mô sản xuất, thu hút thêm lao động,
và quan trọng hơn là thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động. Chính
quá trình này đã tạo ra sự gia tăng vượt bậc về năng suất, từ đó làm tăng trưởng của cải
cho toàn hội. Luận điểm của Adam Smith đã đặt nền ng cho việc coi đầu
khởi nguồn của tăng trưởng kinh tế.
Bước sang thế kỷ 20, các nhà kinh tế học phát triển đã làm rõ hơn chế tác động
của đầu tư, đặc biệt ở các nước đang phát triển, thông qua lý thuyết "vòng luẩn quẩn
của nghèo đói". Lý thuyết này chỉ ra rằng các quốc gia có thu nhập thấp thường bị mắc
kẹt trong một vòng xoáy tiêu cực: thu nhập thấp dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm tích lũy vốn
thấp; thiếu vốn lại dẫn đến đầu tư hạn chế, khiến năng lực sản xuất không thể cải thiện,
và kết quả là thu nhập tiếp tụcmức thấp. Vòng luẩn quẩn này giải thích tại sao nhiều
nền kinh tế gặp khó khăn trong việc thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn và tạo ra một "cú hích" cho tăng trưởng, các nhà kinh
tế học nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường đầu phát triển một cách đột phá, huy
động từ cả nguồn lực nội tại và vốn bên ngoài.
Về phía cung: Các quốc gia cần tăng cường tích lũy trong nước, đồng thời nâng
cao hiệu quả trong việc huy động phân bổ vốn để xây dựng nền tảng vật chất kỹ
thuật và mở rộng năng lực sản xuất.
Về phía cầu: Việc tăng ờng đầu tư sẽ trực tiếp kích thích tổng cầu của nền kinh
tế, tạo ra thị trường cho hàng hóa và dịch vụ, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng
nhu- cầu nội địa và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế.
Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển tăng trưởng kinh tế được phản ánh tập trung
qua hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio). Về bản chất, chỉ số này cho biết
cần bao nhiêu đồng vốn đầu tăng thêm để tạo ra một đồng sản lượng (GDP) tăng
thêm. Do đó, ICOR chính là suất đầu tư cần thiết để có được một đơn vị tăng trưởng.
s
g =
ICOR
Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP). s: Tỷ lệ tiết kiệm (và đầu tư) trong
nền kinh tế.
Như vậy, để tăng trưởng, một quốc gia cần tăng tỷ lệ đầu (tăng s) hoặc tăng
hiệu quả sử dụng vốn (giảm ICOR). Hệ số ICOR có sự khác biệt đáng kể giữa c quốc
gia các ngành kinh tế. cấp độ quốc gia, sự khác biệt này chủ yếu bắt nguồn từ chênh
lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và định hướng chính sách của chính phủ.
lOMoARcPSD| 58707906
Vai trò của đầu tư đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn đầu tư có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành.
Do đó, cấu vốn đầu trở thành động lực chính thúc đẩy hoặc m hãm quá trình
chuyển dịch cấu kinh tế theo ngành. Việc phân bổ nguồn vốn đầu theo lãnh thổ
đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự mất cân đối về trình độ phát triển, khai
thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng, nhân tố then chốt tác động đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng. Định hướng và cơ chế đầu tư hợp lý có tác động
sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của các thành phần kinh tế, qua đó đóng vai trò
mang tính quyết định trong việc tái cấu trúc thành phần kinh tế của quốc gia.
Thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ
Khoa học - công nghệ được xem là nền tảng và động lực cốt lõi cho sự phát triển
kinh tế - hội của mỗi quốc gia. Mối quan hệ giữa đầu tiến bộ khoa học công
nghệ thể hiện rõ nét qua sự khác biệt giữa các nhóm nước:
Tại các quốc gia phát triển: Họ duy trì vị thế dẫn đầu và lợi thế cạnh tranh toàn
cầu thông qua các khoản đầu tư chiến lược, dài hạn vào hoạt động nghiên cứu và phát
triển (R&D). Những thành tựu KHCN nhanh chóng được thương mại hóa và ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất, tạo ra chu trình liên tục: Đầu tư Sáng tạo công nghệ Tăng
trưởng kinh tế Tái đầu tư.
Tại các quốc gia đang phát triển: Các nước này thường rơi vào vòng xoáy luẩn
quẩn: trình độ KHCN thấp dẫn đến năng suất lao động hiệu quả kinh tế kém, từ đó
thiếu hụt nguồn lực để tái đầu cho R&D. Tình trạng này dẫn đến sự phụ thuộc về
công nghvào các nước công nghiệp, gây khó khăn trong việc tự chphát triển đột
phá.
Để phá vtình trạng này, đầu giải pháp mang tính then chốt. Điều này
thể thực hiện thông qua hai con đường chính:
Tăng ờng đầu trong ớc: Thúc đẩy đầu từ cả khu vực công nhân
vào lĩnh vực R&D, các viện nghiên cứu, và các trường đại học.
Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI): Đây không chỉ là kênh bổ sung vốn quan trọng
còn phương thức hiệu quả để tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, học
hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ thế giới.
Vai trò của đầu tư đối với sự tiến bộ và công bằng xã hội
Tiến bộ xã hội là sự phát triển của xã hội từ trình độ thấp lên cao, từ lạc hậu đến
văn minh, hiện đại. Đầu tư chính là phương tiện để thực hiện sự tiến bộ này.
lOMoARcPSD| 58707906
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đầu hợp giúp kinh tế tăng trưởng nhanh
bền vững.
Nâng cao đời sống vật chất: Tăng trưởng kinh tế trực tiếp làm tăng thu nhập cho
người dân, cải thiện mức sống vật chất.
Cải thiện phúc lợi hội: Đầu cho phép người dân tiếp cận tốt hơn các dịch
vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế.
Tạo việc làm: Hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó tạo ra việc
làm cho người lao động và góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Công bằng xã hội là việc thỏa mãn hợp lý nhu cầu của các tầng lớp xã hội và tạo
điều kiện để mỗi nhân phát huy năng lực của mình. Đầu một nhân tố gián tiếp
quan trọng để xây dựng một xã hội công bằng.
Tạo bình đẳng về cơ hội: Đầu giúp mọi người có cơ hội tiếp cận các nguồn lực
để tham gia vào hoạt động kinh tế, như vốn, lao động, đất đai, tri thức. Đây là nền tảng
quan trọng nhất của công bằng.
Phân phối thành quả hợp lý: Mặc dù vai trò chính của đầu tư là tạo ra cơ hội ban
đầu, nhưng sự tăng trưởng do nó mang lại cũng tạo điều kiện để phân phối lại các thành
quả (như tiền lương, lợi ích từ dịch vụ công) một cách công bằng hơn.
Sự phát triển của doanh nghiệp
Đầu tư được xem là hoạt động huyết mạch, giữ vai trò nền tảng và có tính quyết
định đối với sự tồn tại, tăng trưởng phát triển bền vững của một doanh nghiệp. Vai
trò này được thể hiện qua các khía cạnh cốt lõi sau:
Kiến tạo và nâng cao năng lực sản xuất : Hoạt động đầu tư là tiền đề vật chất để
hình thành và phát triển năng lực của doanh nghiệp. Thông qua đầu tư, vốn được
chuyển hóa thành các tài sản cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và công nghệ.
Quá trình này không chỉ tạo ra năng lực sản xuất mới mà còn giúp cải thiện, hiện đại
hóa và tối ưu hóa năng lực hiện có, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm,
dịch vụ.
Công cụ hiện thực hóa chiến lược kinh doanh : Mọi chiến lược kinh doanh, từ
thâm nhập thị trường, phát triển sản phẩm mới đến đa dạng hóa hoạt động, đều phải
được thực thi thông qua các quyết định đầu cụ thể. Do đó, đầu tư chính cầu nối
giữa tầm nhìn chiến lược và hoạt động thực tiễn. Hiệu quả của công tác đầu tư sẽ quyết
định trực tiếp đến mức độ thành công trong việc đạt được các mục tiêu dài hạn của doanh
nghiệp.
Yếu tố then chốt để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp : Mục tiêu i chính trọng
tâm của quản trị doanh nghiệp hiện đại tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu. Trong bối
lOMoARcPSD| 58707906
cảnh đó, hoạt động đầu tư đóng vai trò trung tâm. Doanh nghiệp phải liên tục phân tích,
thẩm định lựa chọn các dự án đầu tỷ suất sinh lợi cao mức độ rủi ro chấp
nhận được. Một danh mục đầu hiệu quả sẽ gia tăng lợi nhuận, nâng cao vị thế cạnh
tranh và trực tiếp làm tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường.
Tóm lại, hoạt động đầu tư không chỉ là một nghiệp vụ tài chính đơn thuần mà
còn là một chức năng quản trị mang tính sống còn. Các quyết định đầu tư sai lầm có thể
dẫn đến lãng phí nguồn lực, suy giảm năng lực cạnh tranh, thậm chí đẩy doanh nghiệp
đến bờ vực phá sản.
Vai trò của đầu tư đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế
Tăng cường sự tiến bộ và công bằng xã hội
Tiến bộ xã hội được hiểu là quá trình vận động đi lên của xã hội, thể hiện qua sự
chuyển đổi từ trạng thái lạc hậu sang văn minh. Để hiện thực hóa quá trình này, đầu
chính là công cụ vật chất không thể thiếu, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đầu hợp giúp kinh tế tăng trưởng nhanh
bền vững.
Nâng cao đời sống vật chất: Tăng trưởng kinh tế trực tiếp làm tăng thu nhập cho
người dân, cải thiện mức sống vật chất.
Cải thiện phúc lợi hội: Đầu cho phép người dân tiếp cận tốt hơn các dịch
vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế.
Tạo việc làm: Hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó tạo ra việc
làm cho người lao động và góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Công bằng xã hội là việc thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của các thành phần
trong hội kiến tạo môi trường cho từng nhân phát triển tiềm năng. Đầu
một nhân tố gián tiếp quan trọng để kiến tạo một xã hội văn minh, công bằng.
Tạo bình đẳng về hội: Đầu giúp mọi người hội tiếp cận những phương
tiện cần thiết để tham gia vào đời sống kinh tế, như vốn, lao động, đất đai, tri thức. Đây
là nền tảng quan trọng nhất của công bằng.
Phân chia thành tựu một cách công bằng: Mặc dù vai trò chính của đầu tư là tạo
ra hội ban đầu, nhưng sự tăng trưởng do mang lại cũng tạo điều kiện để chia sẻ
các kết quả đạt được (như tiền lương, lợi ích từ dịch vụ công) một cách công bằng hơn.
Chất lượng vốn con người
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một chiến lược đầu dài hạn, tập
trung vào hai lĩnh vực then chốt sau:
Đầu vào vốn trí tuệ năng lực thực hành: Chú trọng kiến tạo một nền giáo
dục và đào tạo hiện đại, có khả năng hình thành nên một lực lượng lao động tinh nhuệ.
lOMoARcPSD| 58707906
Lực lượng này không chỉ vững vàng về chuyên môn còn phải linh hoạt, nhạy bén
trước các xu hướng công nghệ, từ đó tạo ra giá trị và năng suất vượt trội, đặt nền móng
vững chắc cho nền kinh tế tri thức.
Chăm lo cho sự phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần: Đảm bảo sức khỏe
cho người lao động thông qua một hệ thống y tế chất lượng yếu tố tiên quyết để duy
trì và nâng cao năng suất.
II. THỰC TRẠNG
1. Thực trạng của Việt Nam giai đoạn 2016-2020
1.1. Thực trạng đầu tư phát triển
1.1.1. Quy mô vốn
Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc huy động
vốn đầu phát triển toàn hội, hoàn thành vượt mục tiêu do Quốc hội đề ra. Theo
Nghị quyết 142/2016/QH13, mục tiêu đặt ra ttrọng vốn đầu chiếm khoảng 3234%
GDP. Thực tế, tổng vốn đầu trong 5 năm này đã đạt 9,2 triệu tỷ đồng, tương đương
33,7% GDP, hoàn thành mục tiêu đề ra
Một điểm sáng của giai đoạn này sự cải thiện vượt bậc về tốc độ tăng trưởng
vốn. Tính chung cả giai đoạn, vốn đầu tư tăng bình quân 8,2%/năm, cao gần gấp đôi
so với mức tăng chỉ 4,7% của giai đoạn 2011-2015.
Động lực tăng trưởng này đặc biệt mạnh mẽ trong thời kỳ tiền đại dịch
(20162019), khi tốc độ tăng vốn hàng năm liên tục duy trì trên mức 8%. Xu hướng tích
cực này được thể hiện nét vào năm 2019, khi tổng vốn đầu đạt 2.048,5 nghìn tỷ
đồng, đẩy tỷ lệ đầu trên GDP lên mức 33,9%, cao hơn đáng kể so với con số 32,6%
của năm 2015. Mặc dù năm 2020, sốc từ đại dịch Covid-19 đã m gián đoạn chuỗi
sản xuất ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động đầu tư, nhưng nền tảng vững chắc của
những năm trước đó đã giúp tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn vẫn giữ mức
cao.
lOMoARcPSD| 58707906
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng vốn hàng năm theo giá so sánh 2010 ( 2016
2020 ) -
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
1.1.2. Cơ cấu nguồn vốn
1.1.2.1. Theo thành phần kinh tế
cấu đầu trong giai đoạn này đã sự chuyển dịch tích cực, phợp với
định hướng tái cơ cấu nền kinh tế. Xu hướng rõ nét nhất là tỷ trọng vốn từ khu vực nhà
nước giảm dần, trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư phát triển ngày
càng hạn hẹp. Song song đó, quá trình tái cấu doanh nghiệp nhà ớc được đẩy mạnh
thực chất hơn, với số lượng doanh nghiệp được thu gọn, tập trung vào các ngành, lĩnh
vực then chốt. Cơ cấu lại đầu tư công cũng được đặc biệt chú trọng; hệ thống pháp luật
quy định về đầu công từng bước được hoàn thiện, góp phần ng cao kỷ luật, kỷ
cương trong quản và thực thi, qua đó dần khắc phục tình trạng đầu dàn trải, phê
duyệt dự án khi chưa đảm bảo nguồn vốn.
Sự sụt giảm tỷ trọng đầu của khu vực nhà nước đã được đắp một cách mạnh
mẽ bởi sự gia tăng đầu từ khu vực tư nhân. Nhờ các chính sách ưu đãi hỗ trợ, tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp nhân đã điều kiện mở rộng sản
xuất. Khu vực y luôn duy trì tốc độ tăng trưởng vốn ở mức cao, thường xuyên đạt hai
con số, vượt xa tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế của khu vực nhà
nước.
Minh chứng là tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực tư nhân đã
tăng lên ấn tượng, lần lượt đạt 17,3% và 46% vào năm 2019 (so với mức 13% và 38,7%
của năm 2015). Khu vực nhân đã thực sự trở thành một trụ cột của nền kinh tế, không
lOMoARcPSD| 58707906
chỉ về mặt đóng góp vào GDP tạo việc làm, còn thể hiện vai trò dẫn dắt sự đổi
mới sáng tạo và tham gia vào các ngành công nghiệp mũi nhọn.
Đầu tư từ khu vực FDI vẫn duy trì mức tăng trưởng khá trong thời gian này. Năm
2019, tổng vốn FDI đạt mức kỷ lục 38,9 tỷ USD (cao nhất giai đoạn), tăng 7,2% so với
cùng kỳ. Tỷ trọng vốn FDI trong tổng đầu toàn hội cũng được duy trì ổn định
mức 22,9% 23,4% trong giai đoạn 2016 2019. Khu vực này ngày càng khẳng định
vai trò quan trọng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - hội, với sự hiện diện của
hàng loạt thương hiệu lớn như Samsung, Intel, Microsoft, Toyota..., mang lại nguồn thu
không nhỏ cho ngân sách nhà nước.
Quan trọng hơn, khu vực FDI không chỉ bổ sung vốn còn góp phần tạo ra hiệu
ứng lan tỏa tích cực. Điều này thể hiện qua việc chuyển giao kỹ năng quản lý, thúc đẩy
đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời giúp phổ biến các chuẩn
mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của lực lượng lao động
tạo ra nhiều việc làm.
Bảng 2. Quy mô vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành (tỷ đồng)
Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoài
nhà nước
Tổng
2016
148763
8
557633
351103
2017
167019
6
596096
396200
2018
185706
1
618661
435102
2019
204852
5
636535
469440
Ước tính
năm 2020
216445
7
728947
463280
Bảng 3: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội
Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoài
nhà nước
Khu vực vốn đầu
tư nước ngoài
Tổng
lOMoARcPSD| 58707906
2016
100
37.5
38.9
23.6
2017
100
35.7
40.6
23.7
2018
100
33.3
43.3
23.4
2019
100
31.1
46
22.9
Ước
tính năm 2020
100
33.7
44.9
21.4
1.1.2.2. Theo lĩnh vực kinh tế
Xét về cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực kinh tế, giai đoạn 2016-2020 tiếp tục ghi nhận
sự tập trung vốn chủ yếu vào khu vực phi nông nghiệp. Cụ thể, trong tổng vốn đầu tư 5
năm, khu vực Dịch vụ mũi nhọn thu hút vốn mạnh nhất, đạt 4.558,4 nghìn tỷ đồng,
chiếm ttrọng 49,4%. Theo sát phía sau khu vực Công nghiệp Xây dựng với
4.117,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 44,6%. Khu vực Nông, lâm nghiệp thủy sản (NLTS),
vai trò quan trọng, chỉ nhận được 552,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 6,0% tổng
vốn.
Khi so sánh với giai đoạn 2011-2015 (khi các ttrọng tương ứng 49,1%, 45,4%
và 5,5%), có thể thấy xu hướng chuyển dịch cấu đầu theo hướng tích cực, nhưng
tốc độ n tương đối chậm chưa tạo ra sự đột phá mạnh mẽ. Tỷ trọng của khu vực
dịch vụ chỉ tăng nhẹ 0,3 điểm phần trăm.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nhất chính là sự gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư cho khu
vực nông lâm thủy sản, từ 5,5% lên 6,0%. Sự điều chỉnh này, thoạt nhìn có vẻ đi ngược
lại xu hướng ng nghiệp hóa, nhưng thực tế lại là một tín hiệu tích cực, phản ánh đúng
nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch 5 năm 2016-2020 là đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông
nghiệp. Nguồn vốn tăng thêm này không nhằm mục đích mở rộng sản xuất thô, mà tập
trung vào việc "nâng chất" ngành, ưu tiên cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao,
công nghiệp chế biến sâu và cải thiện hạ tầng logistics, qua đó nâng cao hiệu quả và giá
trị gia tăng cho nông sản.
1.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn
lOMoARcPSD| 58707906
Hiệu quả đầu tư thông qua chỉ số ICOR (2011 - 2020)
Trong những giai đoạn trước, nền kinh tế ớc ta vận hành theo hình tăng
trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn. Giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ vốn đầu thực hiện
toàn xã hội so với GDP bằng 41,6%, đến giai đoạn 2011-2020 tỷ lệ này giảm xuống còn
32,9%
Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2016-2019 hệ số ICOR
của Việt Nam mức khoảng 6,13 - giảm so với mức khoảng 6,25 của giai đoạn 2011-
2015, cho thấy hiệu qusử dụng vốn đầu đã cải thiện nhẹ. Tuy nhiên, năm 2020
hệ số này bật lên mức rất cao khoảng 14,28 sau khi xuất hiện sốc COVID-19 khiến
GDP chỉ tăng chậm trong khi vốn đầu vẫn được thực hiện hoặc hoàn thành dự án
nhưng chưa vận hành đầy công suất.
Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam “tốn hơn 6 đồng đầu tư để tạo ra 1 đồng sản
lượng” - mức thấp hơn hiệu suất nhiều quốc gia cùng mức thu nhập. Việc này phản
ánh rõ: mặc quy mô đầu lớn (tỉ lệ đầu toàn hội của Việt Nam từ ~3234%
GDP trong giai đoạn) nhưng năng suất vốn chưa đạt hiệu quả tối ưu, thể hiện qua mức
ICOR vẫn ở mức tương đối cao.
Nguyên nhân chính của việc ICOR giảm nhẹ trong 2016-2019 có thể kể tới:
tăng trưởng đóng góp của năng suất tổng thể (TFP) từ khoảng 33,6% giai đoạn 20112015
lên khoảng 44,5% giai đoạn 2016-2019 - cho thấy đầu được tận dụng tốt hơn trong
sản xuất kinh doanh. Đồng thời, sự cải cách quản đầu công, thu hút FDI lĩnh vực
chế tạo – xuất khẩu, và tăng năng lực lao động đã góp phần nâng cao hiệu quả vốn.”
Ngược lại, cú vọt ICOR năm 2020 phản ánh hai nhóm yếu tố: (I) tác động chu
kỳ, COVID-19 gây ra sụt giảm mạnh cầu, chuỗi cung ứng gián đoạn, kết quả là các dự
án mới hoặc hoàn thành không vận hành đầy công suất ngay; (II) nhân tố cấu trúc - bất
cập trong quản lý đầu tư công: nhiều dự án bị trì tiến độ, đội vốn, ngân sách giải ngân
chậm, tài sản hạ tầng chưa được quản lý hiệu quả. Theo phân tích của WB/IMF, nhiều

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58707906
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề bài: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA. LIÊN HỆ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2016- 2020 VÀ 2021- 2024
LỚP HỌC PHẦN: KINH TẾ ĐẦU TƯ 11 THÀNH VIÊN NHÓM HỌ VÀ TÊN MSV NHIỆM VỤ Trần Đức Hòa
11241036 Thực trạng 2020-2024, hoàn thiện bài
Đặng Lê Nhật Hưng
11241040 Mục 4,5 cơ sở lý luận Vương Văn Khải
11241047 Hạn chế, thách thức, khuyến nghị, kết luận Phạm Quang Triệu
11247360 Thực trạng 2016-2020 Lương Cẩm Tú
11241148 So sánh với các nước Đỗ Triều Tiên
11241140 Lời mở đầu, mục 1,2,3 cơ sở lý luận Hà Nội 2025 lOMoAR cPSD| 58707906 LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư phát triển là một lĩnh vực chiếm vị trí thiết yếu trong việc nghiên cứu đến
sự phát triển và mở rộng quy mô nền kinh tế của các quốc gia. Đây vẫn là một vấn đề
nan giải trong trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới và mở
cửa như bây giờ thì vấn đề ngày càng trở nên gay gắt hơn bởi đầu tư có tác động không
nhỏ tới tăng trưởng kinh tế. Ở giai đoạn này, việc vốn đầu tư từ các nước đổ vào Việt
Nam hay nguồn vốn đầu tư trong nước cũng là một vấn đề “nóng hổi” đáng quan tâm vì
đây chính là động cơ để thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội tốt hơn khi
biết tận dụng nguồn vốn này.
Tăng trưởng kinh tế luôn được xem là nền tảng trung tâm trong lý luận về phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đây được coi là một chỉ tiêu để đánh giá về mức độ tiến
bộ và hiệu quả của hoạt động kinh tế qua các thời kỳ lịch sử. Trong quá trình đó, đầu tư
phát triển đóng vai trò không kém phần quan trọng, vừa là động lực để thúc đẩy mức
tăng trưởng, vừa là công cụ để định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng
hiện đại hóa và phát triển bền vững. Nhưng bên cạnh đó, vấn đề này cũng sẽ mang lại
những rủi ro tiềm ẩn nhất định và đó cũng là lý do chúng ta hiểu rõ bản chất và tầm quan
trọng của đầu tư phát triển cũng như đánh giá toàn diện về tác động thực chất nó đem
lại cho nền kinh tế. Từ đó giảm thiểu tối đa nhất những tác động tiêu cực nhằm phát huy
hiệu quả đầu tư, xây dựng những chính sách hợp lý và cuối cùng là tạo nền tảng vững
chắc cho nền kinh tế nước nhà trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình mang tính dài hạn đòi hỏi sự phối
hợp chặt chẽ giữa các ban lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, giữa các thành phần kinh
tế khác nhau trong xã hội. Tăng trưởng kinh tế với tư cách là then chốt của mọi hoạt
động kinh tế xã hội mà mọi quốc gia luôn hướng tới thì việc định hướng và khai hoạt
động đầu tư phát triển cần được tiến hành có bài bản, rõ ràng cũng như xây dựng các
chiến lược đầu tư phát triển phù hợp với nguồn lực hiện tại đang có.
Đối với Việt Nam - một nước đang phát triển đang dần tiến tới nhóm có thu nhập
trung bình cao, trong giai đoạn 2016-2024, nước ta cũng cho thấy nhiều sự chuyển biến
tích cực về tăng trưởng thông qua các chính sách như khuyến khích đầu tư, thu hút các
nguồn vốn trong và ngoài nước góp phần thúc đẩy kinh tế thị trường, nâng cấp cơ sở hạ
tầng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực. Nhưng bên cạnh đó cũng
có những hạn chế như hiệu quả đầu tư chưa cao, phân bổ nguồn lực chưa đều hay vấn
đề về môi trường. Vậy nên, Nhóm 1 chọn chủ đề “Phân tích tác động của đầu tư phát
triển đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia và liên hệ với Việt Nam trong giai đoạn 2016-
2020 và 2021-2024” cùng với sự hướng dẫn của GV. lOMoAR cPSD| 58707906
Hoàng Thị Thu Hà để làm rõ hơn các khía cạnh của vấn đề trên. Mặc dù những thông
tin và số liệu chúng em đều lấy từ những trang thông tin chính thống và đáng tin cậy tuy
nhiên cũng không tránh khỏi những sai sót vậy nên rất mong nhận được những nhận xét
từ cô để bài làm được hoàn thiện hơn. lOMoAR cPSD| 58707906 Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................... 2
I. Cơ sở lý luận ....................................................................................................................................... 5
1. Khái niệm về đầu tư ....................................................................................................................... 5
2. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển ............................................................................. 5
3. Phân biệt các loại đầu tư phát triển ............................................................................................. 6
3.1. Theo cơ cấu tái sản xuất ......................................................................................................... 6
3.2. Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư .................................................................. 6
3.3. Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư ................................................................ 7
3.4. Theo tính chất và quy mô đầu tư ........................................................................................... 7
3.5. Theo nguồn vốn ....................................................................................................................... 7
3.6. Theo chủ thể ............................................................................................................................ 8
4. Các loại nguồn vốn đầu tư phát triển ........................................................................................... 8
4.1. Vốn đầu tư trong nước ........................................................................................................... 8
4.2. Vốn đầu tư nước ngoài ......................................................................................................... 11
5. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế ........................................................................................ 11
II. THỰC TRẠNG ............................................................................................................................... 16
1. Thực trạng của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 ......................................................................... 16
1.1. Thực trạng đầu tư phát triển ............................................................................................... 16
1.2. Phân tích tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế .................................. 22
2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆT NAM Giai đoạn 2020-2024 ......................................................... 26
2.1. Bối cảnh chung ...................................................................................................................... 26
2.2. Phân tích Dòng Vốn Đầu Tư Toàn Xã Hội ......................................................................... 27
2.3. Quy Mô và Tốc Độ Tăng Trưởng GDP ............................................................................... 29
3. SO SÁNH VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC .............................................. 31
3.1. So sánh với 1 số quốc gia trong khu vực( ấn độ , sing, nhật, hàn, trung quốc, lào ) 2016-
2020 ............................................................................................................................................... 31
3.2. So sánh với 1 số quốc gia trong khu vực( ấn độ , sing, nhật, hàn, trung quốc, lào ) 2020-
2024 ............................................................................................................................................... 33
III. Những Hạn Chế và Thách Thức Đối Với Hiệu Quả Đầu Tư và Tăng Trưởng Kinh Tế Tại
Việt Nam ............................................................................................................................................... 37
1. HẠN CHẾ ..................................................................................................................................... 37
2. Thách Thức ................................................................................................................................... 38
VI. Giải Pháp Cho Đầu Tư Phát Triển Tại Việt Nam ....................................................................... 39
Kết luận ................................................................................................................................................. 40
Tài liệu tham khảo ............................................................................................................................... 42 lOMoAR cPSD| 58707906 I. Cơ sở lý luận 1.
Khái niệm về đầu tư
Để làm rõ hơn khái niệm về đầu tư phát triển thì không thể không kể đến các khái
niệm về đầu tư vì đầu tư được chia làm 3 thành phần chính là đầu tư tài chính, đầu tư
thương mại và đầu tư phát triển. Dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau thì phát
biểu về khái niệm này cũng sẽ có những điểm khác biệt nhất định và sau đây là một số
khái niệm cơ bản về đầu tư. Chia thành 5 khái niệm cơ bản:
Khái niệm thường dùng: Đầu tư là quá trình sử dụng vốn hay các nguồn lực khác
nhau nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định mà nhà đầu tư hướng tới hay chính là quá
trình “tiền đẻ ra tiền”.
Khái niệm thiên về tài sản: Đầu tư chính là quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực
sản xuất đầu tư dưới hình thức các tài sản đầu tư và cũng là quá tình quản trị danh mục tài sản để sinh lời.
Khái niệm thiên về khía cạnh tài chính: Đầu tư chính là quá trình hoàn lưu giữa
dòng vốn và lợi nhuận. Trong đó, chủ đầu tư bỏ vốn ra để đầu tư và thu về lợi nhuận và
dòng vốn cũ sau đó tiếp tục chuỗi đầu tư của mình nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sử dụng vốn.
Khái niệm thiên về tiến bộ khoa học kỹ thuật: Đầu tư trong khái niệm này được
hiểu là việc đầu tư vào máy móc, công nghệ kĩ thuật trong sản xuất để hiện đại hơn và
giảm dần lao động thủ công.
Khái niệm thiên về khía cạnh xây dựng: Đầu tư này được hiểu là việc sử dụng
vốn để hình thành các tài sản vật chất như công trình, cơ sở hạ tầng.
Nhìn chung, dưới các góc độ khác nhau dù dưới cách hiểu rộng hoặc hẹp hơn thì
đầu tư có thể hiểu là việc phối hợp các nguồn lực ( tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao
động và trí tuệ ) nhằm đạt được mục tiêu xác định cả trực tiếp hay gián tiếp cho nhà đầu
tư và các hoạt động kinh tế-xã hội. 2.
Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển Khái niệm
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là một phương thức đầu tư
trực tiếp, trong đó quá trình đầu tư làm gia tăng giá trị của tài sản. Sự gia tăng đó gắn
với việc gia tăng năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của đơn vị đầu tư.
Hoạt động này cũng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc tăng năng
suất lao động nhờ nâng cao trang thiết bị sản xuất và trình độ lao động đồng thời duy trì
và cải thiện những tài sản hiện có. lOMoAR cPSD| 58707906
Đặc điểm chính của đầu tư phát triển
Quy mô lớn: Hoạt động này thường yêu cầu có số lượng vốn, lao động và trang
thiết bị lớn đặc biệt các dự án trọng điểm quốc gia.
Vốn đổ vào các dự án này thường bị “khóa” trong khoảng thời gian từ lúc tiến
hành tới lúc đi vào hoạt động.
Thời gian dễ bị kéo dài bởi các yếu tố như dòng vốn chảy vào dự án không đều
và thường xuyên và các thủ tục phát sinh.
Thời gian vận hành kéo dài: Kết quả đầu tư (như công trình xây dựng) được vận
hành trong suốt thời gian sử dụng, cho đến khi hết vòng đời và bị loại bỏ.
Ảnh hưởng nhiều yếu tố: Trong quá trình vận hành, các kết quả đầu tư chịu tác
động cả tích cực và tiêu cực từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị – xã hội, đặc biệt
là những yếu tố vùng nơi công trình được xây dựng.
Rủi ro cao: Do quy mô vốn lớn, thời gian đầu tư dài và thời gian vận hành kéo
dài, mức độ rủi ro của đầu tư phát triển thường cao, đòi hỏi quản lý chặt chẽ và dự báo kỹ lưỡng. 3.
Phân biệt các loại đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư được phân chia theo các tiêu thức khác nhau nhằm đáp ứng các
nhu cầu và nghiên cứu khác nhau của đối tượng sử dụng.
3.1. Theo cơ cấu tái sản xuất
Đầu tư theo chiều rộng: Là hình thức mở rộng quy mô sản xuất như máy móc,
nhà xưởng,... mà trình độ công nghệ kỹ thuật không thay đổi. Ví dụ: Mở thêm nhà xưởng
mà công nghệ và nhân công vẫn vậy.
Đầu tư theo chiều sâu: Là hình thức mở rộng đầu tư về công nghệ, cải tiến kỹ
thuật, nâng cao trình độ lao động,...giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh. Ví dụ:
Nâng cấp máy móc hiện đại và tiết kiệm điện năng hơn.
Hai hình thức đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu có mối quan hệ bổ sung cho
nhau : xây dựng và mở rộng vững chắc cơ sở hạ tầng sau đó nâng cấp máy móc thiết bị
để nâng cao năng suất lao động. Có thể căn cứ vào tốc độ tăng trưởng của vốn và lao
động để phân định hai hình thức này.
3.2. Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh: Là hình thức nâng cao các thiết bị sản
xuất và mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả tối đa. Đối
tượng tác động hình thức này chủ yếu là tư nhân. lOMoAR cPSD| 58707906
Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật: Là hình thức đầu tư để nâng cao, nghiên cứu
và phát triển cho tiến bộ khoa học-công nghệ. Đối tượng tác động hình thức này kết hợp
cả tư nhân và Nhà nước.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hình thức đầu tư giúp nâng cao hệ thống hạ
tầng kinh tế-xã hội như đường, điện, cầu,... Đối tượng tác động hình thức này chủ yếu là Nhà nước.
Các hoạt động đầu tư này có mối quan hệ tương hỗ nhau như đầu tư vào khoa
học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng sẽ giúp thúc đẩy sản xuất kinh doanh và ngược lại, sản
xuất kinh doanh tạo động lực cho 2 hình thức còn lại cũng như các hình thức đầu tư khác.
3.3. Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư
Đầu tư cơ bản: Là hình thức đầu tư nhằm tái sản xuất các tài sản cố định như sửa
chữa máy móc thiết bị ,.... tạo ra tài sản dài hạn phục vụ cho sản xuất lâu dài.
Đầu tư vận hành: Là hình thức đầu tư nhằm tạo ra hoặc tăng thêm tài sản lưu
động như tiền, nguyên vật liệu,... không tạo ra tài sản cố định mới mà giúp doanh nghiệp
vận hành hiệu quả hơn.
3.4. Theo tính chất và quy mô đầu tư
Đầu tư theo các dự án quan trọng quốc gia: Các dự án có quy mô từ 10.000 tỷ
đồng trở lên và do Quốc hội quyết định.
Đầu tư các dự án nhóm A: Do Thủ tướng Chính Phủ quyết định
Đầu tư các dự án nhóm B và C: Do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ
quan trực thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Việc phân chia các dự án theo nhóm theo từng quy mô, nguồn vốn và tầm ảnh
hưởng đến môi trường hay tác động tới kinh tế-xã hội có ý nghĩa trong việc phân cấp
quản lý hoạt động đầu tư. Từ đó sẽ giúp các ban quản lý hoàn thành hiệu quả nghĩa vụ và nhiệm vụ.
3.5. Theo nguồn vốn
Đầu tư phát triển từ nguồn vốn trong nước: Là hình thức quan trọng nhất và là
nội lực của đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển từ nguồn vốn nước ngoài: Là hình thức đóng vai trò bổ sung
quan trọng, giúp tiếp cận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và mở rộng thị trường
Giá trị cốt lõi của khung phân loại này nằm ở việc cung cấp một cơ sở phương
pháp luận vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách. Nó cho phép phân tích và điều
hòa một cách có hệ thống các mục tiêu mang tính đối trọng, điển hình là giữa tốc độ lOMoAR cPSD| 58707906
tăng trưởng và tính bền vững, cũng như giữa mức độ hội nhập quốc tế và khả năng tự chủ chiến lược. 3.6. Theo chủ thể
Đầu tư phát triển của Nhà nước: là hoạt động đầu tư từ ngân sách Nhà nước, quỹ
đầu tư công hay doanh nghiệp Nhà nước, chủ yếu nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, phục
vụ lợi ích công cộng, ổn định và định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Đầu tư phát triển của tư nhân: Là hoạt động đầu tư do các cá nhân, doanh nghiệp
tư nhân trong nước thực hiện bằng nguồn vốn của họ và là thành phần quan trọng nhất trong 3 hình thức.
Đầu tư nước ngoài: Là hoạt động đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện tại
Việt Nam, thông qua hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) hoặc gián tiếp (qua cổ phiếu, trái phiếu).
Phân bổ đầu tư theo chủ thể giúp xác định mục tiêu, vai trò và vị trí của từng khu
vực trong nền kinh tế để bổ trợ cho nhau, xây dựng nền kinh tế bền vững và phát triển. 4.
Các loại nguồn vốn đầu tư phát triển
Để thúc đẩy kinh tế quốc gia, việc huy động vốn đầu tư phát triển dựa trên sự kết
hợp của hai nguồn lực: vốn trong nước và vốn nước ngoài. Mỗi nguồn vốn có cơ chế
vận động và đặc trưng riêng, nhưng chúng bổ trợ cho nhau và cùng đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng.
4.1. Vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn Nhà nước
Tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước được cấu thành từ ba bộ phận chính:
vốn do ngân sách nhà nước cấp, vốn từ các kênh tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước, và vốn tự tích lũy để tái đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
Vốn ngân sách nhà nước
Vốn ngân sách Nhà nước được định nghĩa là toàn bộ nguồn tài chính hình thành
từ các khoản thu và chi của chính phủ, áp dụng cho cả cấp trung ương và địa phương.
Nguồn vốn này được thiết lập và vận hành trong khuôn khổ một năm tài chính, do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Mục tiêu cốt lõi của nó là đảm bảo Nhà nước
có đủ nguồn lực để thực hiện các chức năng quản lý và hoàn thành các nhiệm vụ đã đề
ra., cũng như quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Sự hình thành của vốn ngân sách đến từ nhiều kênh huy động đa dạng. Nguồn
thu chính và ổn định nhất là các khoản thuế, phí và lệ phí từ hoạt động kinh tế. Bên cạnh lOMoAR cPSD| 58707906
đó, ngân sách còn được bổ sung từ việc bán hoặc cho thuê tài sản công, phát hành tiền
tệ hoặc công cụ tài chính như trái phiếu, tiếp nhận các khoản viện trợ từ nước ngoài,
cũng như huy động các khoản đóng góp tự nguyện từ cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
Về phía chi, vốn ngân sách được phân bổ đến nhiều đối tượng nhằm phục vụ các
mục tiêu phát triển chung. Nguồn lực này được ưu tiên đầu tư cho các dự án kết cấu hạ
tầng kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, và hỗ trợ những doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước. Đồng thời, vốn cũng được dành cho
công tác hoạch định chính sách, lập và triển khai các quy hoạch phát triển tổng thể. Các
đối tượng thụ hưởng bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, và các đơn vị,
cá nhân khác được Nhà nước giao nhiệm vụ.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hình thức tín dụng do Nhà nước
thực hiện nhằm hỗ trợ các dự án đầu tư thuộc những ngành, lĩnh vực, chương trình kinh
tế trọng điểm hoặc các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn cần được khuyến
khích đầu tư. Đây là công cụ tài chính quan trọng giúp Nhà nước điều tiết, định hướng
và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo chiến lược đã đề ra.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển là một kênh vốn trọng yếu của khu vực Nhà
nước, bổ sung cho các kênh khác như vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ
hoặc các quỹ tài chính ngoài ngân sách, qua đó góp phần mở rộng khả năng huy động
vốn cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn cho tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước chủ yếu
được hình thành từ ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu chính phủ, vốn ODA và
các nguồn huy động hợp pháp khác, thay vì từ tiền gửi của dân cư như tín dụng thương mại.
Vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước
Vốn đầu tư từ khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trụ cột tài chính quan
trọng, đóng vai trò định hướng và ổn định cho nền kinh tế quốc dân. Dù còn đối mặt với
những thách thức về cơ chế quản trị và hiệu quả, khu vực này vẫn là công cụ then chốt
của Nhà nước để dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, điều tiết vĩ mô và phân bổ các
nguồn lực xã hội một cách có định hướng.
Trong những năm qua, chủ trương tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động đã
giúp khu vực DNNN có những bước tiến đáng kể về quy mô vốn và năng lực sản xuất.
Đặc biệt, các DNNN hoạt động trong những lĩnh vực chiến lược như năng lượng, viễn
thông, tài chính, và hạ tầng đã trở thành động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Họ
không chỉ thúc đẩy sản xuất mà còn đóng vai trò cốt lõi trong việc đảm bảo an ninh kinh
tế, an ninh năng lượng và sự ổn định chung của xã hội. lOMoAR cPSD| 58707906
Một trong những vai trò nổi bật nhất của vốn DNNN là khả năng tạo hiệu ứng
lan tỏa và dẫn dắt đầu tư. Nguồn vốn này thường tiên phong đầu tư vào các vùng kinh
tế còn khó khăn hoặc thực hiện các dự án công ích mà khu vực tư nhân chưa mặn mà.
Thông qua các hoạt động liên kết sản xuất và đầu tư này, DNNN đã kích thích các khu
vực kinh tế khác cùng phát triển, qua đó góp phần mở rộng quy mô đầu tư toàn xã hội,
cải thiện năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam.
Nguồn vốn tư nhân
Vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, với sự năng động và linh hoạt vốn có, đang ngày
càng khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng cốt lõi của nền kinh tế thị trường
tại Việt Nam. Nguồn vốn này phản ánh trực tiếp sức mạnh nội tại của nền kinh tế, thể
hiện qua khả năng tích lũy của người dân và tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn này được hình thành từ hai kênh chính: vốn tích lũy trong dân cư và vốn tự
có của các doanh nghiệp tư nhân (như công ty cổ phần, TNHH, hợp tác xã...). Được đưa
vào quá trình tái sản xuất xã hội, đây là nguồn vốn có khả năng thích ứng nhanh với tín
hiệu thị trường, là chỉ báo quan trọng về mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Nhờ các chính sách cải thiện môi trường kinh doanh, nguồn vốn tư nhân đã có sự
tăng trưởng vượt bậc về quy mô và hiệu quả. Vai trò của nó được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:
Đa dạng hóa nền kinh tế: Doanh nghiệp tư nhân đã mạnh dạn đầu tư vào nhiều
lĩnh vực trọng yếu như sản xuất công nghiệp, chế biến, dịch vụ, công nghệ cao, du lịch
và bất động sản, góp phần làm phong phú cơ cấu kinh tế quốc gia.
Tạo việc làm: Là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho xã hội, góp phần quan
trọng vào việc giải quyết vấn đề lao động và nâng cao thu nhập cho người dân.
Thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới: Đầu tư tư nhân là nhân tố chính tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, ứng dụng
công nghệ và cải tiến quản trị để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, qua đó
nâng cao năng suất chung của toàn xã hội.
Mặc dù có vai trò quan trọng, khu vực tư nhân vẫn phải đối mặt với không ít rào
cản trong quá trình phát triển. Các thách thức chính bao gồm quy mô vốn còn nhỏ lẻ,
năng lực tài chính chưa thực sự vững chắc, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tín
dụng chính thức, và sự thiếu vắng các liên kết chặt chẽ, hiệu quả với khu vực kinh tế nhà nước. lOMoAR cPSD| 58707906
4.2. Vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn tài chính dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản
do các nhà đầu tư nước ngoài từ một quốc gia đưa sang đầu tư tại quốc gia khác nhằm
thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc dự án đầu tư cụ thể trong một thời gian
nhất định, theo quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. Hiểu đơn giản, đây là dòng
vốn được chuyển dịch xuyên biên giới, do các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư
vào các doanh nghiệp hoặc dự án trong nước với mục tiêu sinh lợi.
Do đó, đầu tư nước ngoài là quá trình chuyển động của dòng vốn từ quốc gia này
sang quốc gia khác. Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các dòng tài chính từ nước ngoài
được đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong nước, cho phép các nhà đầu tư nước
ngoài sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhất định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp
trong nước sẽ tiếp nhận các khoản đầu tư từ nước ngoài, và nếu phần vốn đầu tư đủ lớn,
nhà đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Dựa trên đặc điểm của lưu chuyển vốn, các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài có
thể được phân loại như sau:
Tài trợ phát triển chính thức (ODF): Bao gồm viện trợ phát triển chính thức
(ODA) và các hình thức viện trợ ưu đãi khác, trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tín dụng thương mại quốc tế: Là nguồn vốn vay từ các ngân hàng và tổ chức tài
chính nước ngoài theo điều kiện thương mại, thường áp dụng đối với các doanh nghiệp
hoặc dự án có khả năng sinh lời.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài
góp vốn và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp hoặc dự
án tại nước tiếp nhận đầu tư.
Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn quốc tế: Bao gồm phát hành trái phiếu
quốc tế, cổ phiếu, chứng khoán và các công cụ tài chính khác trên thị trường toàn cầu
nhằm thu hút nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế.
Viện trợ phát triển chính thức (ODA): Là nguồn vốn ưu đãi từ các chính phủ, tổ
chức quốc tế hoặc các định chế tài chính đa phương, thường dành cho các chương trình,
dự án có mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo và nâng cao năng lực quốc gia. 5.
Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
Từ lâu, vai trò của vốn đầu tư đã được xem là nền tảng cho sự thịnh vượng kinh
tế. Các học thuyết kinh tế qua nhiều thời kỳ, dù khác biệt về phương pháp tiếp cận, đều
có chung một nhận định về tầm quan trọng của việc tích lũy và sử dụng vốn hiệu quả.
Ngay từ thế kỷ 18, trong tác phẩm kinh điển "Của cải của các Dân tộc", Adam Smith đã lOMoAR cPSD| 58707906
chỉ ra rằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng của một quốc gia.
Theo ông, việc gia tăng vốn cho phép mở rộng quy mô sản xuất, thu hút thêm lao động,
và quan trọng hơn là thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động. Chính
quá trình này đã tạo ra sự gia tăng vượt bậc về năng suất, từ đó làm tăng trưởng của cải
cho toàn xã hội. Luận điểm của Adam Smith đã đặt nền móng cho việc coi đầu tư là
khởi nguồn của tăng trưởng kinh tế.
Bước sang thế kỷ 20, các nhà kinh tế học phát triển đã làm rõ hơn cơ chế tác động
của đầu tư, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, thông qua lý thuyết "vòng luẩn quẩn
của nghèo đói". Lý thuyết này chỉ ra rằng các quốc gia có thu nhập thấp thường bị mắc
kẹt trong một vòng xoáy tiêu cực: thu nhập thấp dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm và tích lũy vốn
thấp; thiếu vốn lại dẫn đến đầu tư hạn chế, khiến năng lực sản xuất không thể cải thiện,
và kết quả là thu nhập tiếp tục ở mức thấp. Vòng luẩn quẩn này giải thích tại sao nhiều
nền kinh tế gặp khó khăn trong việc thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn và tạo ra một "cú hích" cho tăng trưởng, các nhà kinh
tế học nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển một cách đột phá, huy
động từ cả nguồn lực nội tại và vốn bên ngoài.
Về phía cung: Các quốc gia cần tăng cường tích lũy trong nước, đồng thời nâng
cao hiệu quả trong việc huy động và phân bổ vốn để xây dựng nền tảng vật chất – kỹ
thuật và mở rộng năng lực sản xuất.
Về phía cầu: Việc tăng cường đầu tư sẽ trực tiếp kích thích tổng cầu của nền kinh
tế, tạo ra thị trường cho hàng hóa và dịch vụ, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng
nhu- cầu nội địa và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế.
Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế được phản ánh tập trung
qua hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio). Về bản chất, chỉ số này cho biết
cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư tăng thêm để tạo ra một đồng sản lượng (GDP) tăng
thêm. Do đó, ICOR chính là suất đầu tư cần thiết để có được một đơn vị tăng trưởng. s g = ICOR
Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP). s: Tỷ lệ tiết kiệm (và đầu tư) trong nền kinh tế.
Như vậy, để tăng trưởng, một quốc gia cần tăng tỷ lệ đầu tư (tăng s) hoặc tăng
hiệu quả sử dụng vốn (giảm ICOR). Hệ số ICOR có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc
gia và các ngành kinh tế. Ở cấp độ quốc gia, sự khác biệt này chủ yếu bắt nguồn từ chênh
lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và định hướng chính sách của chính phủ. lOMoAR cPSD| 58707906
Vai trò của đầu tư đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn đầu tư có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành.
Do đó, cơ cấu vốn đầu tư trở thành động lực chính thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành. Việc phân bổ nguồn vốn đầu tư theo lãnh thổ
đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự mất cân đối về trình độ phát triển, khai
thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng, và là nhân tố then chốt tác động đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng. Định hướng và cơ chế đầu tư hợp lý có tác động
sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của các thành phần kinh tế, qua đó đóng vai trò
mang tính quyết định trong việc tái cấu trúc thành phần kinh tế của quốc gia.
Thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ
Khoa học - công nghệ được xem là nền tảng và động lực cốt lõi cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Mối quan hệ giữa đầu tư và tiến bộ khoa học công
nghệ thể hiện rõ nét qua sự khác biệt giữa các nhóm nước:
Tại các quốc gia phát triển: Họ duy trì vị thế dẫn đầu và lợi thế cạnh tranh toàn
cầu thông qua các khoản đầu tư chiến lược, dài hạn vào hoạt động nghiên cứu và phát
triển (R&D). Những thành tựu KHCN nhanh chóng được thương mại hóa và ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất, tạo ra chu trình liên tục: Đầu tư ➝ Sáng tạo công nghệ ➝ Tăng
trưởng kinh tế ➝ Tái đầu tư.
Tại các quốc gia đang phát triển: Các nước này thường rơi vào vòng xoáy luẩn
quẩn: trình độ KHCN thấp dẫn đến năng suất lao động và hiệu quả kinh tế kém, từ đó
thiếu hụt nguồn lực để tái đầu tư cho R&D. Tình trạng này dẫn đến sự phụ thuộc về
công nghệ vào các nước công nghiệp, gây khó khăn trong việc tự chủ và phát triển đột phá.
Để phá vỡ tình trạng này, đầu tư là giải pháp mang tính then chốt. Điều này có
thể thực hiện thông qua hai con đường chính:
Tăng cường đầu tư trong nước: Thúc đẩy đầu tư từ cả khu vực công và tư nhân
vào lĩnh vực R&D, các viện nghiên cứu, và các trường đại học.
Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI): Đây không chỉ là kênh bổ sung vốn quan trọng
mà còn là phương thức hiệu quả để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ hiện đại, học
hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ thế giới.
Vai trò của đầu tư đối với sự tiến bộ và công bằng xã hội
Tiến bộ xã hội là sự phát triển của xã hội từ trình độ thấp lên cao, từ lạc hậu đến
văn minh, hiện đại. Đầu tư chính là phương tiện để thực hiện sự tiến bộ này. lOMoAR cPSD| 58707906
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đầu tư hợp lý giúp kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nâng cao đời sống vật chất: Tăng trưởng kinh tế trực tiếp làm tăng thu nhập cho
người dân, cải thiện mức sống vật chất.
Cải thiện phúc lợi xã hội: Đầu tư cho phép người dân tiếp cận tốt hơn các dịch
vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế.
Tạo việc làm: Hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó tạo ra việc
làm cho người lao động và góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Công bằng xã hội là việc thỏa mãn hợp lý nhu cầu của các tầng lớp xã hội và tạo
điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực của mình. Đầu tư là một nhân tố gián tiếp
quan trọng để xây dựng một xã hội công bằng.
Tạo bình đẳng về cơ hội: Đầu tư giúp mọi người có cơ hội tiếp cận các nguồn lực
để tham gia vào hoạt động kinh tế, như vốn, lao động, đất đai, tri thức. Đây là nền tảng
quan trọng nhất của công bằng.
Phân phối thành quả hợp lý: Mặc dù vai trò chính của đầu tư là tạo ra cơ hội ban
đầu, nhưng sự tăng trưởng do nó mang lại cũng tạo điều kiện để phân phối lại các thành
quả (như tiền lương, lợi ích từ dịch vụ công) một cách công bằng hơn.
Sự phát triển của doanh nghiệp
Đầu tư được xem là hoạt động huyết mạch, giữ vai trò nền tảng và có tính quyết
định đối với sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững của một doanh nghiệp. Vai
trò này được thể hiện qua các khía cạnh cốt lõi sau:
Kiến tạo và nâng cao năng lực sản xuất : Hoạt động đầu tư là tiền đề vật chất để
hình thành và phát triển năng lực của doanh nghiệp. Thông qua đầu tư, vốn được
chuyển hóa thành các tài sản cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và công nghệ.
Quá trình này không chỉ tạo ra năng lực sản xuất mới mà còn giúp cải thiện, hiện đại
hóa và tối ưu hóa năng lực hiện có, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
Công cụ hiện thực hóa chiến lược kinh doanh : Mọi chiến lược kinh doanh, từ
thâm nhập thị trường, phát triển sản phẩm mới đến đa dạng hóa hoạt động, đều phải
được thực thi thông qua các quyết định đầu tư cụ thể. Do đó, đầu tư chính là cầu nối
giữa tầm nhìn chiến lược và hoạt động thực tiễn. Hiệu quả của công tác đầu tư sẽ quyết
định trực tiếp đến mức độ thành công trong việc đạt được các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.
Yếu tố then chốt để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp : Mục tiêu tài chính trọng
tâm của quản trị doanh nghiệp hiện đại là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu. Trong bối lOMoAR cPSD| 58707906
cảnh đó, hoạt động đầu tư đóng vai trò trung tâm. Doanh nghiệp phải liên tục phân tích,
thẩm định và lựa chọn các dự án đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao và mức độ rủi ro chấp
nhận được. Một danh mục đầu tư hiệu quả sẽ gia tăng lợi nhuận, nâng cao vị thế cạnh
tranh và trực tiếp làm tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường.
→ Tóm lại, hoạt động đầu tư không chỉ là một nghiệp vụ tài chính đơn thuần mà
còn là một chức năng quản trị mang tính sống còn. Các quyết định đầu tư sai lầm có thể
dẫn đến lãng phí nguồn lực, suy giảm năng lực cạnh tranh, thậm chí đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản.
Vai trò của đầu tư đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế
Tăng cường sự tiến bộ và công bằng xã hội
Tiến bộ xã hội được hiểu là quá trình vận động đi lên của xã hội, thể hiện qua sự
chuyển đổi từ trạng thái lạc hậu sang văn minh. Để hiện thực hóa quá trình này, đầu tư
chính là công cụ vật chất không thể thiếu, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đầu tư hợp lý giúp kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nâng cao đời sống vật chất: Tăng trưởng kinh tế trực tiếp làm tăng thu nhập cho
người dân, cải thiện mức sống vật chất.
Cải thiện phúc lợi xã hội: Đầu tư cho phép người dân tiếp cận tốt hơn các dịch
vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế.
Tạo việc làm: Hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó tạo ra việc
làm cho người lao động và góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Công bằng xã hội là việc thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của các thành phần
trong xã hội và kiến tạo môi trường cho từng cá nhân phát triển tiềm năng. Đầu tư là
một nhân tố gián tiếp quan trọng để kiến tạo một xã hội văn minh, công bằng.
Tạo bình đẳng về cơ hội: Đầu tư giúp mọi người có cơ hội tiếp cận những phương
tiện cần thiết để tham gia vào đời sống kinh tế, như vốn, lao động, đất đai, tri thức. Đây
là nền tảng quan trọng nhất của công bằng.
Phân chia thành tựu một cách công bằng: Mặc dù vai trò chính của đầu tư là tạo
ra cơ hội ban đầu, nhưng sự tăng trưởng do nó mang lại cũng tạo điều kiện để chia sẻ
các kết quả đạt được (như tiền lương, lợi ích từ dịch vụ công) một cách công bằng hơn.
Chất lượng vốn con người
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một chiến lược đầu tư dài hạn, tập
trung vào hai lĩnh vực then chốt sau:
Đầu tư vào vốn trí tuệ và năng lực thực hành: Chú trọng kiến tạo một nền giáo
dục và đào tạo hiện đại, có khả năng hình thành nên một lực lượng lao động tinh nhuệ. lOMoAR cPSD| 58707906
Lực lượng này không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn phải linh hoạt, nhạy bén
trước các xu hướng công nghệ, từ đó tạo ra giá trị và năng suất vượt trội, đặt nền móng
vững chắc cho nền kinh tế tri thức.
Chăm lo cho sự phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần: Đảm bảo sức khỏe
cho người lao động thông qua một hệ thống y tế chất lượng là yếu tố tiên quyết để duy
trì và nâng cao năng suất. II. THỰC TRẠNG 1.
Thực trạng của Việt Nam giai đoạn 2016-2020
1.1. Thực trạng đầu tư phát triển 1.1.1. Quy mô vốn
Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc huy động
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, hoàn thành vượt mục tiêu do Quốc hội đề ra. Theo
Nghị quyết 142/2016/QH13, mục tiêu đặt ra là tỷ trọng vốn đầu tư chiếm khoảng 3234%
GDP. Thực tế, tổng vốn đầu tư trong 5 năm này đã đạt 9,2 triệu tỷ đồng, tương đương
33,7% GDP, hoàn thành mục tiêu đề ra
Một điểm sáng của giai đoạn này là sự cải thiện vượt bậc về tốc độ tăng trưởng
vốn. Tính chung cả giai đoạn, vốn đầu tư tăng bình quân 8,2%/năm, cao gần gấp đôi
so với mức tăng chỉ 4,7% của giai đoạn 2011-2015.
Động lực tăng trưởng này đặc biệt mạnh mẽ trong thời kỳ tiền đại dịch
(20162019), khi tốc độ tăng vốn hàng năm liên tục duy trì trên mức 8%. Xu hướng tích
cực này được thể hiện rõ nét vào năm 2019, khi tổng vốn đầu tư đạt 2.048,5 nghìn tỷ
đồng, đẩy tỷ lệ đầu tư trên GDP lên mức 33,9%, cao hơn đáng kể so với con số 32,6%
của năm 2015. Mặc dù năm 2020, cú sốc từ đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn chuỗi
sản xuất và ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động đầu tư, nhưng nền tảng vững chắc của
những năm trước đó đã giúp tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn vẫn giữ ở mức cao. lOMoAR cPSD| 58707906
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng vốn hàng năm theo giá so sánh 2010 ( 2016 2020 ) -
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
1.1.2. Cơ cấu nguồn vốn
1.1.2.1. Theo thành phần kinh tế
Cơ cấu đầu tư trong giai đoạn này đã có sự chuyển dịch tích cực, phù hợp với
định hướng tái cơ cấu nền kinh tế. Xu hướng rõ nét nhất là tỷ trọng vốn từ khu vực nhà
nước giảm dần, trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư phát triển ngày
càng hạn hẹp. Song song đó, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh
thực chất hơn, với số lượng doanh nghiệp được thu gọn, tập trung vào các ngành, lĩnh
vực then chốt. Cơ cấu lại đầu tư công cũng được đặc biệt chú trọng; hệ thống pháp luật
và quy định về đầu tư công từng bước được hoàn thiện, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ
cương trong quản lý và thực thi, qua đó dần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phê
duyệt dự án khi chưa đảm bảo nguồn vốn.
Sự sụt giảm tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước đã được bù đắp một cách mạnh
mẽ bởi sự gia tăng đầu tư từ khu vực tư nhân. Nhờ các chính sách ưu đãi và hỗ trợ, tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp tư nhân đã có điều kiện mở rộng sản
xuất. Khu vực này luôn duy trì tốc độ tăng trưởng vốn ở mức cao, thường xuyên đạt hai
con số, vượt xa tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế và của khu vực nhà nước.
Minh chứng là tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực tư nhân đã
tăng lên ấn tượng, lần lượt đạt 17,3% và 46% vào năm 2019 (so với mức 13% và 38,7%
của năm 2015). Khu vực tư nhân đã thực sự trở thành một trụ cột của nền kinh tế, không lOMoAR cPSD| 58707906
chỉ về mặt đóng góp vào GDP và tạo việc làm, mà còn thể hiện vai trò dẫn dắt sự đổi
mới sáng tạo và tham gia vào các ngành công nghiệp mũi nhọn.
Đầu tư từ khu vực FDI vẫn duy trì mức tăng trưởng khá trong thời gian này. Năm
2019, tổng vốn FDI đạt mức kỷ lục 38,9 tỷ USD (cao nhất giai đoạn), tăng 7,2% so với
cùng kỳ. Tỷ trọng vốn FDI trong tổng đầu tư toàn xã hội cũng được duy trì ổn định ở
mức 22,9% – 23,4% trong giai đoạn 2016 – 2019. Khu vực này ngày càng khẳng định
vai trò quan trọng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, với sự hiện diện của
hàng loạt thương hiệu lớn như Samsung, Intel, Microsoft, Toyota..., mang lại nguồn thu
không nhỏ cho ngân sách nhà nước.
Quan trọng hơn, khu vực FDI không chỉ bổ sung vốn mà còn góp phần tạo ra hiệu
ứng lan tỏa tích cực. Điều này thể hiện qua việc chuyển giao kỹ năng quản lý, thúc đẩy
đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời giúp phổ biến các chuẩn
mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của lực lượng lao động và tạo ra nhiều việc làm.
Bảng 2. Quy mô vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành (tỷ đồng) Kinh tế nhà
Kinh tế ngoài Khu vực có vốn Tổng nước nhà nước đầu tư nước ngoài 148763 2016 8 557633 578902 351103 167019 2017 6 596096 677390 396200 185706 2018 1 618661 803298 435102 204852 2019 5 636535 942598 469440 Ước tính 216445 năm 2020 7 728947 972230 463280
Bảng 3: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội Kinh tế nhà
Kinh tế ngoài Khu vực có vốn đầu Tổng nước nhà nước tư nước ngoài lOMoAR cPSD| 58707906 2016 100 37.5 38.9 23.6 2017 100 35.7 40.6 23.7 2018 100 33.3 43.3 23.4 2019 100 31.1 46 22.9 Ước tính năm 2020 100 33.7 44.9 21.4
1.1.2.2. Theo lĩnh vực kinh tế
Xét về cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực kinh tế, giai đoạn 2016-2020 tiếp tục ghi nhận
sự tập trung vốn chủ yếu vào khu vực phi nông nghiệp. Cụ thể, trong tổng vốn đầu tư 5
năm, khu vực Dịch vụ là mũi nhọn thu hút vốn mạnh nhất, đạt 4.558,4 nghìn tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 49,4%. Theo sát phía sau là khu vực Công nghiệp và Xây dựng với
4.117,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 44,6%. Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản (NLTS),
dù có vai trò quan trọng, chỉ nhận được 552,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 6,0% tổng vốn.
Khi so sánh với giai đoạn 2011-2015 (khi các tỷ trọng tương ứng là 49,1%, 45,4%
và 5,5%), có thể thấy xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tích cực, nhưng
tốc độ còn tương đối chậm và chưa tạo ra sự đột phá mạnh mẽ. Tỷ trọng của khu vực
dịch vụ chỉ tăng nhẹ 0,3 điểm phần trăm.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nhất chính là sự gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư cho khu
vực nông lâm thủy sản, từ 5,5% lên 6,0%. Sự điều chỉnh này, thoạt nhìn có vẻ đi ngược
lại xu hướng công nghiệp hóa, nhưng thực tế lại là một tín hiệu tích cực, phản ánh đúng
nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch 5 năm 2016-2020 là đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông
nghiệp. Nguồn vốn tăng thêm này không nhằm mục đích mở rộng sản xuất thô, mà tập
trung vào việc "nâng chất" ngành, ưu tiên cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao,
công nghiệp chế biến sâu và cải thiện hạ tầng logistics, qua đó nâng cao hiệu quả và giá
trị gia tăng cho nông sản.
1.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn lOMoAR cPSD| 58707906
Hiệu quả đầu tư thông qua chỉ số ICOR (2011 - 2020)
Trong những giai đoạn trước, nền kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng
trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn. Giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện
toàn xã hội so với GDP bằng 41,6%, đến giai đoạn 2011-2020 tỷ lệ này giảm xuống còn 32,9%
Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2016-2019 hệ số ICOR
của Việt Nam ở mức khoảng 6,13 - giảm so với mức khoảng 6,25 của giai đoạn 2011-
2015, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đã có cải thiện nhẹ. Tuy nhiên, năm 2020
hệ số này bật lên mức rất cao khoảng 14,28 sau khi xuất hiện cú sốc COVID-19 khiến
GDP chỉ tăng chậm trong khi vốn đầu tư vẫn được thực hiện hoặc hoàn thành dự án
nhưng chưa vận hành đầy công suất.
Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam “tốn hơn 6 đồng đầu tư để tạo ra 1 đồng sản
lượng” - mức thấp hơn hiệu suất nhiều quốc gia ở cùng mức thu nhập. Việc này phản
ánh rõ: mặc dù quy mô đầu tư lớn (tỉ lệ đầu tư toàn xã hội của Việt Nam từ ~3234%
GDP trong giai đoạn) nhưng năng suất vốn chưa đạt hiệu quả tối ưu, thể hiện qua mức
ICOR vẫn ở mức tương đối cao.
Nguyên nhân chính của việc ICOR giảm nhẹ trong 2016-2019 có thể kể tới:
tăng trưởng đóng góp của năng suất tổng thể (TFP) từ khoảng 33,6% giai đoạn 20112015
lên khoảng 44,5% giai đoạn 2016-2019 - cho thấy đầu tư được tận dụng tốt hơn trong
sản xuất kinh doanh. Đồng thời, sự cải cách quản lý đầu tư công, thu hút FDI lĩnh vực
chế tạo – xuất khẩu, và tăng năng lực lao động đã góp phần nâng cao hiệu quả vốn.”
Ngược lại, cú vọt ICOR năm 2020 phản ánh hai nhóm yếu tố: (I) tác động chu
kỳ, COVID-19 gây ra sụt giảm mạnh cầu, chuỗi cung ứng gián đoạn, kết quả là các dự
án mới hoặc hoàn thành không vận hành đầy công suất ngay; (II) nhân tố cấu trúc - bất
cập trong quản lý đầu tư công: nhiều dự án bị trì tiến độ, đội vốn, ngân sách giải ngân
chậm, tài sản hạ tầng chưa được quản lý hiệu quả. Theo phân tích của WB/IMF, nhiều