








Preview text:
BÀI THI GIỮA KỲ MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Giảng viên: TS. Lê Thị Vân Mã lớp: 222_71CULT20222_15 Nhóm 7
Đề bài: Phân tích tính cộng đồng và tính tự trị của người Việt. Từ đó đề xuất giải pháp
truyền thông cho vấn đề này. DANH SÁCH NHÓM SINH VIÊN Thành viên MSSV
Đánh giá % đóng góp Nguyễn Ngọc Ngân Minh 2273201080881 100% Huỳnh Kim My 2273201080892 100% Nguyễn Hoàng Nam 2273201080925 100% Nguyễn Toàn Năng 2273201080929 100% Lê Nguyễn Phương Ngân 2273201080965 100% Phạm Bảo Ngân 2273201080987 100% Võ Trúc Nghi 2273201081021 100%
Từ thời xa xưa nông nghiệp và trồng trọt đã là nguồn gốc văn hóa, mang tính tập thể của
con người phương Đông. Trồng trọt và lúa nước là nghề mang tính thời vụ, lúc vào mùa
thì bận rộn nên mọi người phải liên kết, hỗ trợ lẫn nhau. Vì nghề trồng lúa nước phải phụ
thuộc vào thiên nhiên, thời tiết nên đi kèm với nhu cầu thủy lợi, tưới tiêu, nhiều người tập
trung lại hỗ trợ nhau xây dựng đê điều và từ đó ngay từ xưa truyền thống con người Việt
ta đã mang tính tập thể rất cao. Đồng thời để chống lại các nạn trộm cướp, những người
gần nhau phải chung tay, góp sức, hỗ trợ lẫn nhau. Những người sống gần nhau có xu
hướng liên kết chặt chẽ với nhau tạo ra mối liên kết gọi là LÀNG XÓM. Hai đặc trưng cơ
bản bao trùm xuyên suốt của văn hóa làng xã truyền thống Việt Nam chính là: tính cộng
đồng và tính tự trị. Chúng tồn tại song song như hai mặt của một vấn đề.
1. Phân tích tính cộng đồng của người Việt.
1.1. Khái niệm tính cộng đồng của người Việt.
Tính cộng đồng là sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa các gia đình, gia tộc, giữa
các thành viên trong làng với nhau, mỗi người đều hướng tới những người
khác- đây là đặc trưng dương tính, hướng ngoại . Do phương thức sản xuất
nông nghiệp lúa nước đòi hỏi phải định cư, quần tụ thành làng, từ đó hình
thành mối quan hệ láng giềng gắn bó. "Họ hàng xa không bằng láng giềng gần".
Làng Việt được hình thành trên cơ sở của sự quần tụ các gia đình có cùng huyết
thống, gắn bó, cưu mang, đùm bọc nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. "Chị ngã
em nâng", "Một người làm quan cả họ được nhờ".
1.2. Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng .
Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình, giếng nước, cây đa.
Làng nào cũng có một cái đình là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi
lĩnh vực. Đình là trung tâm hành chính, là nơi tổ chức hội họp, thu thuế, xử
tội. . Đình là trung tâm văn hóa, nơi tổ chức các lễ hội, ăn uống, biễu diễn các
hình thức nghệ thuật (tuồng, chèo. .). Đình còn là trung tâm về tôn giáo, là nơi
thờ Thành Hoàng làng. Thành Hoàng làng là người khai lập ra nơi đó, là người
bảo trợ của dân làng, và được dân làng suy tôn. Đình còn là vết tích còn lại từ
thời nhà dài, nhà làng, nhà rông.Làng thôn Việt Nam được tổ chức theo hang
Giáp, nên đình trở thành nơi lui tới của nam giới. Có thể nói Đình là biểu
tượng của tỉnh cộng đồng cao. Giếng nước là nơi giặt giũ, nói chuyện và giao
tiếp của phụ nữ. Cây đa theo quan niệm phương Đông là nơi hội tụ thần thánh,
hội tụ khi "thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo bồ đề". Gốc đa là nơi nghỉ chân,
tránh nóng của khác qua đường, là nơi giao tiếp của làng với bên ngoài.
1.3. Biểu hiện của tính cộng đồng:
- Về kinh tế: gắn kết với nhau về kinh tế giữa các thành viên trong làng xã, luôn
tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, chống thiên tai, hạn hán, lũ lụt,
khi đói rét, mất mùa…Ngày xưa khi lao động trồng trọt chưa có sự hỗ trợ từ
máy móc, con người Việt Nam liên kết giúp đỡ nhau vào những mùa vụ. Ngày
nay con người Việt Nam hỗ trợ nhau về kinh tế thông qua các hoạt động như
hỗ trợ vốn cho người nông dân mua máy móc, thiết bị, cây giống.
- Về tình cảm: luôn giúp đỡ nhau khi có khó khăn, hoạn nạn, khi vui, khi buồn.
Mỗi gia đình trong xóm khi có đám cưới, cả xóm sẽ đến tham dự, chúc phúc
ngược lại khi có đám tang sẽ đến để chia buồn và cầu nguyện cho người mất siêu thoát.
- Về phong tục, tín ngưỡng: có chung phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cùng
thờ chung một vị thần của làng (thành hoàng), cùng tham gia các hội hè, đình
đám… đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Mỗi làng đều sẽ có
một ngôi đình thờ thần của làng. Đó là trung tâm về tôn giáo, tâm linh đồng
thời cũng diễn ra các hoạt động như hội, họp, tổ chức trò chơi sinh hoạt của người dân trong làng.
- Về pháp luật: có quy ước, luật tục riêng của làng, mỗi thành viên trong cộng
đồng không được pháp luật công nhận với tư cách cá nhân, mà bị hòa tan trong
cái chung của cộng đồng, làng xã.
1.4. Hệ quả của tính cộng đồng. a/ Ưu điểm
- Tính cộng đồng của người Việt thể hiện tinh thần hòa đồng, tập
thể,đoàn kết tương trợ: Người Việt Nam luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ
nhau, coi nhau như anh chị em trong nhà: lá lành đùm lá rách, chị ngã
em nâng, bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn. Bất kỳ gia đình nào trong làng gặp khó khăn về kinh tế hay
bệnh tật, những người xung quanh đều sẽ quyên góp, ủng hộ dù ít dù
nhiều để chia sẻ khó khăn, vượt qua hoạn nạn.
- Tính cộng đồng là nguyên nhân khiến con người Việt đặc biệt coi trọng
giao tiếp. Đặc điểm này thể hiện trong thói quen thích thăm viếng và
hiếu khách. Người Việt thích đến thăm hỏi nhau để gia tăng tình cảm
đặc biệt là vào những ngày Tết họ thường đến nhà nhau để chúc sức
khỏe,thịnh vượng. Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người
Việt dù nghèo khó đến đâu, cũng cố gắng tiếp đón một cách chu đáo và
tiếp đãi một cách thịnh soạn, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, các
đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi.
- Chức năng liên kết các thành viên. Con người từ thời “ăn lông ở lỗ” đã
sống thành 1 cộng đồng, tập thể từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc
truyền đạt các kĩ năng sinh tồn, kích thích cho quá trình tiến hóa. Cũng
từ đó mà dần dần hình thành các mô hình xã hội từ dạng sơ khai cho đến
phức tạp và phát triển cao như ngày nay.
- Nếp sống dân chủ bình đẳng. Do đồng nhất (giống nhau) cho nên người
Việt Nam luôn có tính tập thể rất cao, gần bó với tập thể, hòa đồng vào
cuộc sống chung của tập thể. Sự đồng nhất (giống nhau) cũng chính là
ngọn nguồn của nếp sống dân chủ - bình đẳng bộc lộ trong nguyên tắc
tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo Giáp.
- Tính cần cù, chịu khó, chịu khổ: Cần cù trong lao động (lấy cần cù để
bù lại những khó khăn, cản trở của điều kiện tự nhiên, của phương thức
sản xuất nông nghiệp cổ truyền); giỏi chịu đựng gian khổ (vì điều kiện
tự nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi; hạn hán, lụt lội dễ xảy ra,
con người dễ gặp bất trắc, hiện nay ta tâm lý “sống chung với lũ"). .
- Hình thành đặc trưng tiêu biểu của mỗi nơi, mỗi địa phương, vùng miền.
Những người trong làng có cùng nếp sống, nếp văn hóa đặc trưng riêng cho mỗi làng. b/ Nhược điểm
- Nền nông nghiệp lúa nước là đặc trưng văn hóa của ta, nhưng cũng từ
đó hình thành tâm lý tiểu nông (sản xuất nhỏ, manh mún, ít có tầm nhìn
xa, bảo thủ): lối sống coi trọng tình nghĩa là mặt tốt, nhưng cũng từ đó
nảy sinh mặt trái là tính tùy tiện, ít trọng lý, ít trọng nguyên tắc, xuề xòa, hoà cả làng. . -
Sự thủ tiêu vai trò cá nhân: Người Việt rất ít xưng tôi, mà luôn hòa tan
vào các mối quan hệ xã hội: với người này xưng em, với người kia là
cháu, với người khác nữa là anh/chị,. . thậm chí thích dùng đại từ ngôi
thứ nhất số nhiều (ta với mình). Cách giải quyết xung đột theo lối hòa cả
làng là hết sức phổ biến. Điều này khác hẳn với truyền thống văn hóa
phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức về cá nhân từ khi còn
nhỏ, đến tuổi thành niên, con người đã hoàn toàn sống tách biệt khỏi gia
đình, chính vì vậy mà khi về già người phương Tây thường cô đơn, còn
cụ gia Việt Nam thì sum vầy trong tình cảm của đàn con cháu.
- Thói dựa dẫm, ỷ lại, tư tưởng cầu an, cả nể: Sự đồng nhất (giống nhau)
còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay có thời dựa dẫm,ỷ lại vào tập thể.
Nước trôi thì bèo trôi, nước nổi thì thuyền nổi. Tệ hại hơn nữa là tình
trạng Cha chung không ai khóc, Lắm sãi không ai đóng cửa chùa. .
Cùng với thói dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng Cầu an (an phận thủ thường) và
cả nể, làm gì cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chủ
trương đóng cửa bảo nhau. .
- Thói cào bằng, đố kị: Thói cào bằng, đồ kị, không muốn cho ai hơn
mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau ! ). Xấu đều hơn tốt lỏi,
Khôn độc không bằng ngọc đàn; Chết một đống còn hơn sống một
người. . Để cho tất cả đều như nhau, một thời, đã có không ít những cơ
quan, xí nghiệp điềm nhiên treo cao khẩu hiệu: Tất cả dàn hàng ngang cùng tiến!
2. Phân tích tính tự trị của người Việt.
2.1. Khái niệm tính tự trị.
Tính tự trị là một sản phẩm của tính cộng đồng. Mỗi làng là một “Vương
Quốc” riêng, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và cũng phần nào độc lập
với triều đình phong kiến. Thời đó, dân làng hình thành trong tâm tưởng sự tôn
kính đối với những giá trị thuộc về cộng đồng, sự tôn kính đó lớn hơn sự sợ hãi
đối với phép tắc, luật lệ. Vì vậy mà có câu “phép vua thua lệ làng”.
2.2. Biểu tượng của tính tự trị.
Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre. Rặng tre bao kín làng, trở
thành một thử thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốt ko cháy, trèo ko được,
đào đường hàm thì vướng rễ không qua ( chính vì vậy mà tiếng Việt mới gọi
rằng tre là lũy, thành lũy). Lũy tre là một đặc điểm quan trọng làm cho làng
xóm phương Nam khác hẳn áp lí Trung Hoa có thành quách đắp bằng đất.
2.3. Biểu hiện của tính tự trị.
- Các làng đều có cổng làng, có lũy tre bao quanh lãnh thổ, có điếm canh riêng.
- Đình làng thờ riêng một vị “Thành hoàng làng”. “Trống làng nào làng ấy
đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”
- Mỗi làng có luật lệ riêng (hương ước) gọi là “lệ làng”. “Phép vua thua lệ làng”
- Mỗi làng có 2 sự quản lý: Nhà nước (đứng đầu là hệ thống lý dịch) và Hội
đồng Kỳ mục (các quan lại đã về hưu, người cao tuổi trong làng)
2.4. Hệ quả của tính tự trị. a/ Ưu điểm:
- Tinh thần tự lập: Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt. Sự
khác biệt - cơ sở của tính tự trị - tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi
làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc.
- Nếp sống tự cấp, tự túc, tính cần cù: Vì phải tự lo liệu, nên người Việt
Nam có truyền thống cần cù, đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất, bán lưng
cho trời, nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng
mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi nhà có vườn rau,
chuồng gà, ao cá – tự đảm bảo nhu cầu về ăn; có bụi trẻ, rặng xoan, gốc
mít – tự đảm bảo nhu cầu về ở, tinh thần tự lực cánh sinh. b/ Nhược điểm.
- Óc tư hữu, ích kỉ: sinh ra từ tính tự trị và luôn bị người Việt phê phán.
Thể hiện qua việc Của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó
ăn; Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu; Ruộng ai người nấy đắp bờ;. .
- Óc bè phái, địa phương cục bộ, làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho
địa phương mình: "trống làng nào làng ấy đánh. Thánh làng nào làng ấy
thờ". Không chia sẻ mà chỉ giữ cho làng mình, hạn chế sự phát triển.
- Óc gia trưởng - tôn ti: Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tắc tổ chức
nông thôn theo huyết thống, tự thân nó không xấu, nhưng khi nó gắn
liền với óc gia trưởng tạo nên tâm lí "quyền huynh thế phụ", áp đặt ý
muốn của mình cho người khác, tạo nên tư tưởng thức bậc vô lí, thì nó
trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển xã hội. Óc gia trưởng-
tôn ti kìm hãm sự phát triển của con người, hạn chế mỗi người bày tỏ
quan điểm, áp đặt, kiềm chế mỗi cá nhân.
=> Tất cả những cái tốt và những cái xấu ấy cứ đi thành từng cặp và đều tồn tại
ở Việt Nam, bởi lẽ tất cả đều bắt nguồn từ hai đặc trưng gốc trái ngược nhau là
tính cộng đồng và tính tự trị. Cho nên tính chất nước đôi là một đặc điểm tính cách của người Việt.
3. Đề xuất giải pháp truyền thông.
- Thúc đẩy , lan tỏa truyền thông trên mạng xã hội cho những hình ảnh đẹp
về cộng đồng Việt Nam tương thân tương ái , những chương trình xã hội
giúp đỡ những người đang gặp khó khăn ở ngoài xã hội cần sự giúp đỡ của
nhiều người ( ví dụ: Cặp lá yêu thương , Việc tử tế, Như chưa hề có cuộc chia ly ,… )
- Tạo ra những sân chơi giúp đỡ , thể hiện lòng tương thân tương ái.
Ví dụ : Tạo ra một chương trình của xã hội giúp đỡ những người đang gặp
khó khăn với cái tên Gắn kết tương lai
- Chương trình nhằm tạo ra giúp đỡ cho những hoàn cảnh khó khăn muốn
đổi đời , xóa nghèo giúp đỡ cho những người khó khăn có cuộc sống tốt hơn
- Bằng cách có thể nhờ những thương hiệu tài trợ hoặc mạnh thường quân
giúp đỡ tài trợ cho họ ( bằng bò , lợn,…)
- Thúc đẩy tuyên truyền về sự xa cách trong xã hội ngày nay
Ví dụ : có thể đưa ra slogan tuyên truyền => tuyên truyền bằng cả 2 hình
thức trực tiếp và trên mạng xã hội
+ Trực tiếp : tuyên truyền bằng cách in những câu slogan dán lên bảng khu
phố hoặc làm dán decal lên những cột đèn điện. Tổ chức những sân chơi
gần gũi với người dân để thể hiện tính đoàn kết đồng thời giảm bớt tính tự
trị trong xã hội ngày nay.
+ Mạng xã hội : Thành lập fanpage hoặc trang về công tác tuyên truyền để
cùng nhau tuyên truyền những điều tiêu cực của quyền tự trị.
- Sử dụng mạng lưới xã hội tuyên truyền về tính cộng đồng, xây dựng khối
đoàn kết chung, người Việt thường có thói “Bè ai người nấy chống”, “Thân
trâu trâu lo, thân bò bò liệu” dẫn đến việc trở nên vô cảm cần khuyến khích
tương tác, thực hiện các hành động đẹp trên mạng xã hội cũng như không lợi
dụng mạng xa hội lợi dụng nhằm trục lợi cá nhân, tổ chức. Tổ chức quỹ
quyên góp online gửi tiền mua thức ăn, quần áo cho trẻ em, người già, lũ lụt,
thiên tai,…bài trừ tính ích kỷ do tính tự trị gây nên.
- Mở các hội nghị, tổ chức các sân chơi hội, hoạt động cộng đồng nhằm giúp
cho mọi người được giao lưu, gắn kết. Thực hiện các chiến dịch đi giúp đỡ,
hỗ trợ bằng công sức, của cải cho các mảnh đời khó khăn.
Document Outline
- 1.Phân tích tính cộng đồng của người Việt.
- 2.Phân tích tính tự trị của người Việt.
- 3.Đề xuất giải pháp truyền thông.