Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI THẢO LUẬN
MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài chính: Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới
quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay?
Đề tài phụ: Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Giáo viên hướng dẫn: Ngô Thị Huyền Trang
Lớphọc phần : 2356HCMI0111 Nhóm thực hiện : 10 Hà Nội, tháng 3 năm 2023 Mục lục
Danh sách thành viên nhóm...............................................................................................1
Bảng phân công công việc.................................................................................................2
Đề tài 1 (đề tài chính): Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới quá
trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay?....................3
A. Lời mở đầu....................................................................................................................3
B. Nội dung........................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận..........................................................................................3
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức............................................3
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.......................................................11
CHƯƠNG 2: Liên hệ thực tiễn quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại
học Thương Mại........................................................................................................19
2.1. Thực tiễn quá trình tu dưỡng đạo của đức sinh viên Đại học Thương Mại
hiện nay...............................................................................................................19
2.1.1. Những đạo đức tốt đẹp của sinh viên ........................................................19
2.1.2. Tồn tại những lối sống, đạo đức chưa tốt...................................................20
2.2. Giải pháp nâng cao đạo đức cho sinh viên Đại học Thương Mại theo tư
tưởng Hồ Chí Minh..............................................................................................21
C. Kết luận.......................................................................................................................22
Đề tài 2 (đề tài phụ): Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh................24
A. Lời mở đầu..................................................................................................................24
B. Nội dung......................................................................................................................24
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận: Các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.............24
1. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm
đường cứu nước mới............................................................................................24
2. Thời kỳ 1911 - 1920: hình thành tư tưởng cứu nước, Giải phóng dân tộc Việt
Nam theo con đường cách mạng vô sản..............................................................24
3. Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách
mạng Việt Nam....................................................................................................24
4. Thời kỳ 1930 - 1941: vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp
cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo.............................................................25
5. Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho
sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta..................................................26
CHƯƠNG 2: Liên hệ thực tiễn sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng
sản giai đoạn hiện nay................................................................................................27
1. Thực trạng vận dụng........................................................................................27
2. Ý nghĩa vận dụng.............................................................................................27
C. Kết luận.......................................................................................................................27 Danh sách thành viên nhóm STT Họ và tên Điểm Ghi chú 91 Đỗ Phương Thảo 92 Nguyễn Thị Thu Thảo 93 Trần Thanh Thảo 94 Dương Quỳnh Thu 95 Mai Thị Thúy 96 Đỗ Thanh Thư 97 Nguyễn Mạnh Toàn 98 Bùi Thị Xuân Trang 99 Đỗ Thị Trang 100 Hoàng Thu Trang
Bảng phân công công việc 1 Đề tài 1 (đề tài NHIỆM VỤ TÊN chính): Phân tích Tư 1.1 Trần Thanh Thảo tưởng của Hồ 1.2.1 Đỗ Thanh Thư Chí Minh về 1.2.2 Bùi Thị Xuân Trang đạo đức? Liên hệ tới 1.2.3 Đỗ Thị Trang quá trình tu 2.1 Nguyễn Thị Thu Thảo dưỡng đạo 2.2 Nguyễn Mạnh Toàn đức của sinh Tổng hợp word+mở+kết Hoàng Thu Trang viên trường Đại Thuyết trình (2) học
Mai Thị Thuý, Đỗ Phương Thảo Thương mại Powerpoint (1) Dương Quỳnh Thu hiện nay? A. Lời mở đầu
Đạo đức luôn là một chủ đề quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh. Người
luôn coi đạo đức là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội công bằng, giàu mạnh và
văn minh. Đạo đức không chỉ là một tập hợp các giá trị và quy tắc đạo đức, mà còn là
một phương tiện để giúp con người hoàn thiện bản thân và thể hiện tinh thần đoàn kết,
yêu nước và tình người. Trong bài thảo luận này, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về quan
điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức, những giá trị đạo đức mà ông khuyến khích, và cách
mà chúng ta có thể áp dụng những giá trị đạo đức này vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức luôn là vấn đề quan trọng và cần thiết để tìm
hiểu và học tập. Thông qua đề tài “ Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức?
Liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện
nay?” chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những giá trị của tư tưởng này đối với công cuộc
đấu tranh bảo vệ đất nước cũng như đối với xã hội hiện tại. B. Nội dung 2
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của đạo đức
a) Khái niệm đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (đạo đức của HCM có gì
khác so với đạo đức của chế độ trước-chế độ phong kiến): Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong
quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng,
coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: “Người cán bộ cách mạng phải có
đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang
vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Người viết: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định
sự thắng lợi của mọi công việc: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm
nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh
không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không
có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.Cho nên,
đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
Từ Hồ Chí Minh, nền đạo đức Việt Nam đã mang bản chất mới và đã được Người
gọi là đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Đạo đức mới đã lật ngược lại các kiểu đạo đức
cũ của các giai cấp thống trị, áp bức bóc lột nhân dân lao động. Đạo đức mới xóa bỏ
những chuẩn mực đạo đức phong kiến vẫn luôn luôn trói buộc nhân dân lao động vào
những lễ giáo hủ bại, phục vụ cho chế độ đẳng cấp tôn ti trật tự hết sức hà khắc của giai
cấp phong kiến. Đạo đức mới hoàn toàn trái ngược với đạo đức cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ
cực đoan của giai cấp tư sản. Nó cũng xa lạ với đạo đức của giai cấp tiểu tư sản, kìm hãm
con người trong những lợi ích riêng tủn mủn, cục bộ, hẹp hòi, cũng như trong vòng gia 3
trưởng nhỏ bé. Nó càng xa lạ với đạo đức tôn giáo luôn khuyên con người khắc kỷ, cam
chịu, chấp nhận số phận trong chốn trần tục, để hướng về một cuộc sống tốt đẹp hơn sau
khi chết ở nơi thiên đàng hay chốn niết bàn.
Quan niệm của chế độ phong kiến về đạo đức
Tư tưởng về đạo đức cũ ở Việt Nam theo lời chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cũ
như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời” (Bài nói chuyện tại trường Chính trị
trung cấp quân đội).Đạo đức cũ mà Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là đạo đức thực dân,
phong kiến là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người, tàn phá con người.
Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn. Khác với nô lệ, người
nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và
đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết. Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông
dân ra khỏi lãnh địa của mình, nhưng không có quyền giết họ.
=> Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị người nông dân cũng chẳng hơn
bao nhiêu so với nô lệ. Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải
cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến.
Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến
lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động.
Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết và đạo đức học của giai cấp
phong kiến. Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức học ở phương Tây thường xuất phát từ những tín điều của tôn giáo.
Ở phương Đông đạo đức học không hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo mà thường
xuất phát từ quan hệ giữa người và người được nhìn qua lăng kính của học thuyết nho
giáo. Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải
trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ.
Phong kiến ngày xưa nêu cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại
bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. =>> Đây là minh chứng rõ
ràng cho thấy đạo đức cũng như hệ thống quản trị thối nát của xã hội này và nó gây ra
hậu quả nghiêm trọng. Tạo nên sự phẫn nộ của nhiều tầng lớp và điển hình là công nhân và nông dân.
=> Qua đây, chúng ta hoàn toàn có thể kết luận rằng đạo đức cũ là thứ đạo đức cần bác
bỏ và đổi mới ngay lập tức vì nó quá tàn nhẫn, quá ích kỉ tạo nên những hình ảnh xót xa 4
trong quá khứ. Đúng vậy, đạo đức cũ cũng như người đầu ngược xuống đất còn chân
chổng lên trời, người như vậy là trái với lẽ thường, là không thể tồn tại cũng như đạo đức
cũ trái với đạo lý, trái với lẽ trời và không thể tồn tại lâu dài. Tóm lại, cần bác bỏ và đổi
mới đạo đức cũ để xã hội có nhận thức cũng như lối đi đúng đắn, phát triển như Hồ Chí
Minh mong muốn và thực hiện ở đạo đức mới.
Quan điểm của Khổng Tử về đạo đức:
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử là tổng hợp các nội dung: tư tưởng về vai trò của
đạo đức; tư tưởng về các quan hệ đạo đức và các chuẩn mực đạo đức cơ bản. Khổng
Tử cho rằng, trong xã hội có năm mối quan hệ đạo đức cơ bản gọi là “ngũ luân”, gồm
quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè. Mỗi quan hệ có những tiêu
chuẩn riêng cho từng đối tượng, như cha hiền, con thảo; anh tốt, em ngoan; chồng
biết tình, vợ nghe lẽ phải; bề trên từ hiếu, bề dưới kính thuận; vua nhân từ, tôi trung
thành. Vào thời mình, Khổng Tử đã đề cập đến những mối quan hệ và các tiêu chuẩn
này, song ông nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ vua tôi và cha con. Khổng Tử cũng
cho rằng để thực hiện tốt các mối quan hệ đạo đức trên, con người cần phải lấy các
chuẩn mực đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu, kính để để điều chỉnh
hành vi của mình. Các chuẩn mực đạo đức này tồn tại trong mối tương quan sâu sắc
lẫn nhau, trong đó, nhân được xem là trung tâm.
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam cương là ba mối
quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (chồng vợ). Trong xã hội
phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc “chết người”
1. Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới
chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp
dưới không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công
minh, tôi trung thành một dạ.
2. Phụ tử: ("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con
không chết thì con không có hiếu)").
3. Phu thê: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói, vợ phải nghe theo).
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có
trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1. Nhân: (tính người) Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật. 5
2. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
3. Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
4. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
5. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo.
Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử".
1. Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
2. Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng.
3. Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con.
Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có,
là: công - dung - ngôn - hạnh.
1. Công: làm giỏi, khéo léo trong việc làm.
2. Dung: (phải trau chuốt sắc đẹp) hòa nhã trong sắc diện.
3. Ngôn: dịu dàng, mềm mại trong lời nói.
4. Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ
đức thì xã hội được an bình. Như vậy, tam cương là: quân thần cương, phụ tử cương,
phu thê cương; nói gọn là quân – thần, phụ – tử , phu – thê (hoặc phu - phụ). Theo
Tam tự kinh thì mối quan hệ vua tôi cốt ở cái nghĩa; mối quan hệ cha con cốt ở cái
tình thuận. Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua
chúa lập ra trên những nguyên tắc “chết người”: quân xử thần tử, thần bất tử bất
trung (vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung); phụ sử tử vong, tử bất vong
bất hiếu (cha khiến con chết, con không chết không hiếu). Còn mối quan hệ vợ chồng
thì phu xướng phụ tùy (chồng nói ra, vợ phải theo), con gái phải học tam tòng (tại gia
tòng phụ ở nhà theo cha, xuất giá tòng phu lấy chồng theo chồng, phu tử tòng tử
chồng chết theo con (trai), và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh)...
b) Tầm quan trọng của đạo đức
Bởi lẽ, sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp rất to lớn, khó
khăn và nặng nề; con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường dài,
không phải là một đại lộ thẳng tắp. Nó đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người,
mỗi thế hệ, hơn nữa còn của nhiều thế hệ nối tiếp nhau.Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái 6
nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và
mỗi người trong xã hội ta. Sự nghiệp cách mạng của chúng ta là giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người, làm cho người Việt Nam từ nghèo đói trở nên đủ
ăn, từ đủ ăn trở nên khá, từ khá trở nên giàu và giàu thì lại càng giàu thêm. Sự nghiệp đó
rất cao cả và nhân văn, đòi hỏi phải có những phẩm chất tương ứng.
Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, con người.
Người có đạo đức là người cao thượng; một dân tộc, mặc dầu kinh tế còn lạc hậu, nhưng
có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh.
Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong
mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần, biến thiên của thời cuộc:
Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải "là đạo đức là văn minh", thì mới
hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Người cũng thường nhắc lại ý của
Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và
của thời đại. Nếu xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết
đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt
Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để
đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Còn đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi
con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, để cống hiến được nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó. Đạo đức là gốc, là nguồn, là
nền tảng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng,
cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình. Cái
tâm, cái đức ấy lại phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày với dân, với
nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người chung quanh mình. Phải có tâm, có đức
mới giữ được chủ nghĩa Mác - Lênin và đưa được chủ nghĩa Mác - Lênin vào cuộc sống.
Con đường Hồ Chí Minh đi đến chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác - Lênin là một minh chứng rất rõ về điều đó.
Những vấn đề đạo đức đã được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện:
Đối với mọi đối tượng - từ công nhân, nông dân đến trí thức, văn nghệ sĩ; từ các cụ
phụ lão đến phụ nữ, thanh thiếu niên nhi đồng; từ đồng bào các dân tộc đến đồng bào 7
các tôn giáo, các nhà tu hành... Cùng với việc đề cập đạo đức công dân, Ngườđặc biệt
quan tâm đến đạo đức của cán bộ, đảng viên. Có thể nói đây là nội dung chiếm phần
chủ yếu nhất trong tư tưởng đạo đức của Người.
Trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người - từ đời tư đến đời công, như sinh hoạt,
học tập, lao động, chiến đấu lãnh đạo, quản lý…
Trên mọi phạm vi từ hẹp đến rộng - từ gia đình đến xã hội (làng xóm, phố phường,
một tập thể, một đơn vị, một tổ chức...), từ giai cấp đến dân tộc, từ các vùng - miền,
địa phương đến cả nước, từ quốc gia đến quốc tế.
Trong cả ba mối quan hệ chủ yếu của mỗi người – đối với mình, đối với người, đối
với việc. Đối với người thì có quan hệ giữa cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước
với dân, quan hệ giữa cấp trên - cấp dưới, v.v…
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của
cán bộ, đảng viên, khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Hai mươi bốn năm trên
cương vị Chủ tịch nước, Người đã kiên trì giáo dục cán bộ, đảng viên về đạo đức
mới, đạo đức cách mạng. Nếu quyền lực là sức mạnh để giữ vững những thành quả
cách mạng, để tổ chức và xây dựng chế độ xã hội mới, để phát triển kinh tế và văn
hóa, để biến đất nước từ nghèo nàn, lạc hậu trở thành giàu mạnh, văn minh, thì quyền
lực lại có mặt trái của nó là có thể làm tha hóa con người nắm quyền lực, có thể đưa
đến những tổn thất lớn cho cách mạng. Người đã nhìn thấy điều này từ rất sớm,
không phải chỉ ở trong nước, mà còn ở nhiều nước, kể cả những nước xã hội chủ
nghĩa khác. Những vấn đề về đạo đức mà Người đặt ra với cán bộ, đảng viên chính là
nhằm ngăn chặn, khắc phục những hiện tượng tha hóa có thể hoặc đã xảy ra, nhất là
để chống lại những khuynh hướng sai lệch về quyền lực như quan liêu, cậy thế cậy
quyền, lợi dụng quyền lực, lạm dụng quyền lực, say mê quyền lực, tham quyền cố vị,
v.v. , những tệ nạn có thể trở thành nguy cơ làm sụp đổ sự nghiệp của một người,
thậm chí của cả một Đảng Cộng sản.
1.1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức a) Cơ sở lý luận:
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:
Chính chủ nghĩa yêu nước là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát và động lực thúc
đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, và tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lênin. 8
Hồ Chí Minh hết sức chú trọng kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là yêu nước gắn liền với yêu dân, tinh thần đoàn kết, nhân
ái, khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu với các dân tộc lân bang; tinh thần cần cù,
dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống dân tộc Việt Nam thường trực một niềm tự hào về lịch sử, trân trọng
nền văn hóa , ngôn ngữ phong tục, tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc.
Tinh hoa văn hóa nhân loại:
Tinh hoa văn hóa phương Đông:
+ Về Nho giáo, Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển về việc xây dựng một xã hội lý
tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có
thể đi đến một thế giới đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan
hệ hữu nghị và hợp tác.
+ Về Phật giáo, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu
thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình
đẳng của con người và chân lý, khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước.
+ Về Lão giáo (Đạo giáo), Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển tư tưởng của Lão
Tử, khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, hơn
nữa phải biết bảo vệ môi trường sống.
+ Hồ Chí minh còn kế thừa và phát triển nhiều ý tưởng của các trường phái khác
nhau trong các nhà nhà tư tưởng phương Đông cổ đại như Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Quản
Tử, v…v… và những trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ, Trung Quốc
như chủ nghĩa Găngđi, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.
Tinh hoa văn hóa phương Tây
+ Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển những quan điểm nhân quyền, dân quyền trong
“Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Mỹ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” năm 1791 của Pháp.
+ Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Pháp, Người đã quan tâm tìm hiểu những
khẩu hiệu nổi tiếng: Tự do - Bình đẳng - Bác ái trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ. 9 Chủ nghĩa Mác - Lênin
+ Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.
+ Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp
luận trong nhận thức và hoạt động cách mạng.
+ Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã trở thành người cộng sản với
tầm vóc trí tuệ lớn như V.I.Lênin
-> Người nhận định: Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi
cho xã hội”. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng
họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố
gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy. b) Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nói trên đều thất bại.
Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn yếu. Nguyên nhân trực tiếp
là các tổ chức và người lãnh đạo của các phong trào chưa có đường lối và
phương pháp cách mạng đúng đắn.
“Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc
đương đầu với bọn đế quốc thực dân”. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ
nghĩa Mác - Lênin xâm nhập, truyền bá vào đất nước ta.
Hồ Chí Minh là người đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách mạng Việt Nam, đánh dấu
bước hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX:
Chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa và
giai cấp công nhân thế giới. Tình hình đó làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có
trong lòng chủ nghĩa tư bản, giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc.
Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người, mở
ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ngày 2/3/1919, 10
Quốc tế Cộng sản ra đời ở Matxcova trở thành Bộ tham mưu, lãnh đạo phong
trào cách mạng thế giới.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.2.1. Đạo đức là gốc, Là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng thế
giới, là một tấm gương mẫu mực về đạo đức, giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng
để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, lãnh tụ
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác
phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan trọng
của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người.
Người khẳng định đạo đức là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của người
cách mạng; nó cũng giống như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Việc chăm lo cho cái gốc, cái
nguồn ấy là trách nhiệm, là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia
đình, mỗi một cá nhân trong xã hội. Đặc biệt, người làm cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã
hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một
cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi
được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành
được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.”
Người quan niệm đạo đức trở thành nhân tố quyết định của sự thành bại của mọi
công việc, phẩm chất mỗi con người. Trong Người cán bộ cách mạng (1955), Hồ Chí
Minh yêu cầu “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng… Mọi việc thành
hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không”. Theo
Người, chiến sĩ cách mạng là những người “cả đời hết lòng phục vụ nhân dân, sinh hoạt
ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công…” Và cán bộ, 11
đảng viên muốn dân tin, dân phục thì cần phải nhớ “Quần chúng chỉ quý mến những
người có tư cách, đạo đức”. Vậy nên không phải chỉ cần viết hai chữ “cộng sản” lên trán
thì dân sẽ tôn trọng, quý mến mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải trở thành một người làm
cách mạng chân chính, một lòng vì Đảng, vì dân, vì Tổ quốc thân yêu, luôn hướng đến
chí công vô tư, những tính tốt đẹp: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
+ Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào, kiên quyết
chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, sẵn lòng chịu cực
khổ, không ham giàu sang, không sợ oai quyền.
+ Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì
phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Làm cần
thận, chu toàn với việc được giao, không sợ bị phê bình.
+ Trí là không để việc tư làm mù quáng, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng.
Biết xem người, biết xét việc, biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì
Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.
+ Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan
sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú
quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hi sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc,
không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
+ Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng mà
luôn quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Đây chính là đạo đức cách mạng, là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì
danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.
Đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vững vàng trong mọi thử thách.
Bởi theo Hồ Chí Minh “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại
cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước.” Đạo đức cách mạng giúp mỗi người khi gặp thuận
lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước
thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không
quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa… Đạo đức không chỉ là chỗ dựa mà còn là
thước đo lòng cao thượng của con người. Thực hành tốt đạo đức cá nhân không chỉ có tác
dụng nâng cao giá trị bản thân mà còn tạo ra sức mạnh nội sinh giúp con người vượt qua mọi thử thách. 12
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống, xa
rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng
phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại tinh thần của V.I.Lênin: Đảng
Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Trong Di
chúc Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch,
phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Hơn
hết, Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên vì đây là
thế hệ không ngại khó khăn, luôn hăng hái, có chí tiến thủ, là những người thừa kế tương
lai của đất nước, là những mảnh ghép để hợp thành một chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế
làm thước đo. Chính vì vậy Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đức với
tài, lời nói đi đôi với hành động và hiểu quả trên thực tế. Nếu đạo đức là tiêu chuẩn cho
mục đích hành động thì tài là phương tiện thực hiện mục đích đó. Người cho rằng có tài
mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng
khó. Cho nên, đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực
phải thống nhất làm một. Trong đó: đức là gốc của tài, hồng là gốc của chuyên; phẩm
chất là gốc của năng lực. Tài là thể hiện cụ thể của đức trong hiệu quả hành động.
Chính vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết, chuyên môn,
nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên
quan tâm giáo dục đạo đức cho mọi người, đặc biệt chú trọng trong việc giáo dục toàn
diện về đức - trí - thể - mỹ của học sinh, sinh viên. Tùy theo từng thời kỳ, Người đề ra
những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm
vụ ngày càng nặng nề, khó khăn phức tạp hơn, từ đó, giành thắng lợi ngày càng to lớn
cho sự nghiệp cách mạng.
1.2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
a) Trung với nước, hiếu với dân
Đây là phẩm chất bao trùm quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác. Trung
và hiếu là những khái niệm đạo đức cũ đã có từ lâu trong tư tưởng đạo đức truyền thống 13
Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất và cũng là bao trùm nhất: “
Trung với vua, hiếu với cha mẹ”. Phẩm chất này được Hồ Chí Minh sử dụng với những
nội dung mới, rộng lớn: “Trung với nước, hiếu với dân” đã tạo nên một cuộc cách mạng
sâu sắc trong lĩnh vực đạo đức.
Tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân” của Hồ Chí Minh không những kế thừa
giá trị yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền
thống đó. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Khi Hồ
Chí Minh đặt vấn đề “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…
Nói tóm lại , quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Hồ Chí Minh cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân. Trung với nước,
là phải yêu nước, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho
cách mạng, phải làm cho “dân giàu, nước mạnh”. Hiếu với dân là phải thương dân, tin
dân, thân dân, học hỏi dân, lấy trí tuệ ở dân, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, “ hết lòng
hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ
của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai”
b) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng gắn với hoạt động thực tiễn, được thể
hiện cụ thể, hàng ngày của mỗi con người, là cái nhìn thấy được của đạo đức, không thể
che giấu, gắn chặt giữa nói và làm, suy nghĩ và hành động.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính,
nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho
chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho
nhân dân theo để lợi cho nước cho dân. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”
“Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai… Muốn cho chữ Cần có nhiều
kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc”. Cần tức là lao động cần cù, siêng
năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng
“Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với Kiệm
phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người”. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động,
tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, không phô trương hình thức. “ Tiết kiệm không
phải bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng 14
làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng.
Liêm là “Luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, liêm khiết trong mọi hoàn cảnh
“không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người
tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ
là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
“Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình đối với người và
đối với việc. Chính được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: Đối với mình - Chớ tự kiêu,
tự đại… Đối với người - Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới… Đối với
việc - Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.
Về chí công vô tư, theo Hồ Chí Minh là “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ
đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên
hạ”. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Đem lòng chí công vô tư
mà đối với người, đối với việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình
trước… khi hưởng thụ thì mình nên đi sau
c) Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh
đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp
nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao
động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành "Yêu thương con người trong tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ
nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Yêu thương con người thể
hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.
Liên hệ câu chuyện: “Chú sang xông nhà cho Bác”
“Vào các dịp lễ tết, vẫn có một số anh chị em “ăn cơm tập thể, nằm giường cá
nhân” ở lại trực cơ quan.
Mồng một tết âm lịch (năm 1956), nhường anh em khác về quê, tôi ở lại bảo vệ cơ quan.
Khoảng 9 giờ sáng, khi mọi người đã rộn ràng đi chúc tết, thì Bác tới. 15
Thấy nhà vắng lặng, chỉ có mỗi mình tôi ngồi ở bàn, Bác mừng tuổi tôi một chiếc
bánh chưng, một gói kẹo, chúc tôi nhân dịp năm mới, rồi Bác hỏi:
- Mồng một tết chú khai bút cái gì đó?
- Thưa Bác, cháu đang viết báo cáo tổng kết công tác năm 1955 của đội ạ. Bác khen:
- Các chú thật cần cù, chịu khó, quanh năm vất vả. Những ngày mưa dầm gió bấc, Bác
ngủ trên nhà, còn các chú phải thức suốt đêm ở dưới vườn. Tết còn phải làm việc. Bác nói tiếp:
- Chú viết báo cáo ngắn thôi. Kết luận là: toàn đội hết lòng bảo vệ Trung ương Đảng và
Chính phủ được an toàn. Không nên nói: bảo vệ Hồ Chủ tịch, vì trong Trung ương Đảng
và Chính phủ là có đủ mọi người rồi. Bác nắm tay tôi:
- Chú sang xông nhà cho Bác đi.
Bác phân công tôi rửa ấm chén, còn Bác thì lau bàn ghế và cắm hoa để đón các
đồng chí trong Bộ Chính trị sang chúc tết.
Tết năm ấy, tôi lại là người vui nhất.”
Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm
khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những
người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm. Yêu thương con người là giúp cho
mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình,
chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ.
Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người
d) Tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức
cộng sản chủ nghĩa. Điều này được bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân, nhằm
vào mối quan hệ rộng lớn vượt ra khỏi giới hạn quốc gia - dân tộc
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan
niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là
“người Việt Nam nhất”, đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam mang tầm vóc nhân
loại, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. 16
Liên hệ: Khi bàn về mối quan hệ Việt – Trung, Bác nói: “Mối tình hữu nghị Việt –
Trung/ Vừa là đồng chí vừa là anh em”, nói về mối quan hệ Việt – Lào Bác đã khẳng
định: “Việt, Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, nói về tình
anh em vô sản thế giới Người từng nhắc nhở “Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương
vô sản đều là anh em”.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện
trong các điểm sau: Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu
tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Đoàn kết quốc tế giữa những người
vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”. Đoàn
kết với nhân loại tiến bộ vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Đoàn kết quốc tế gắn liền
với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế
trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc.
1.2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng
a) Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
Nói đi đôi với làm được Hồ Chí Minh coi là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong
xây dựng nền đạo đức mới. Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo đức giả, nói
một đằng làm một nẻo, nói nhiều làm ít, thậm chí nói không làm. Người từng nhiều lần
bàn đến việc quét sạch căn bệnh quan liêu, coi thường quần chúng của một số cán bộ,
đảng viên, miệng nói “ phụng sự quần chúng” nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của
quần chúng, trái ngược với chính sách của Đảng và Chính phủ.
Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương Đông. Để
đạo đức cách mạng thấm sâu, bám chắc vào đời sống xã hội, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán
bộ, đảng viên “ Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, khi đi
công tác, gắng làm gương cho dân.” Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn
hóa. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong lời nói và việc làm không chỉ là cách
thức để giáo dục đạo đức quần chúng, mà còn là phương pháp để tự giáo dục bản thân
mình. Lời nói đi đôi với việc làm phải gắn liền với nêu gương đạo đức “ Một tấm gương
sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
b) Xây đi đôi với chống 17