Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ THẢO LUẬN
HỌC PHẦN : TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài : Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới
quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay? Lớp HP : 2298HCMI0111 Nhóm : 5
GVHD : Ngô Thị Huyền Trang Hà Nội, 9/2022 DANH SCH NHM 5 STT H v tên Nhiê $m v& Đ(nh gi(
1Vũ Bảo Ngọc (nhóm trưởng) 2 Phạm Thu Ngân 3 Đặng Hoài Nam 4 Nguyễn Trà My 5 Hoàng Thúy Nga 6 Đặng Kiều Oanh 7 Phạm Quang Phúc 8 Lê Phương Nga 9 Hồ Mai Ngân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
ĐỘC LẬP-TỰ DO-HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHM
Hc phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên hc phần: Ngô Thị Huyền Trang
Buổi hp thứ nhất: Nhóm 5:
Thời gian làm việc: 21 giờ đến 22 giờ , ngày 20 tháng 9 năm 2022.
Địa điểm: Họp online qua ứng dụng Google Meet.
Thành viên có mặt (vắng 0):
Vũ Bảo Ngọc (nhóm trưởng) Phạm Thu Ngân Đặng Hoài Nam Nguyễn Trà My Hoàng Thúy Nga Đặng Kiều Oanh Phạm Quang Phúc Lê Phương Nga Hồ Mai Ngân Nội dung cuộc họp:
Cả nhóm thông qua hướng dẫn thảo luận của cô gửi, từ đó xây dựng các mục chính và chi tiết cho bài thảo luận.
Nhóm trưởng phân chia công việc và cả nhóm thống nhất công việc của 2 đề tài.
Buổi họp diễn ra sôi nổi và thống nhất công việc nhanh chóng. Thư kí Nhóm trưởng Thu Ngân Ngọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
ĐỘC LẬP-TỰ DO-HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHM
Hc phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên hc phần: Ngô Thị Huyền Trang Buổi hp thứ hai: Nhóm 5:
Thời gian làm việc: 21 giờ đến 22 giờ , ngày 20 tháng 9 năm 2022.
Địa điểm: Họp online qua ứng dụng Google Meet.
Thành viên có mặt (vắng 0):
Vũ Bảo Ngọc (nhóm trưởng) Phạm Thu Ngân Đặng Hoài Nam Nguyễn Trà My Hoàng Thúy Nga Đặng Kiều Oanh Phạm Quang Phúc Lê Phương Nga Hồ Mai Ngân Nội dung cuộc họp:
Cả nhóm thống nhất và chỉnh sửa bài thảo luận một cách hoàn chỉnh nhất.
Buổi họp diễn ra sôi nổi và thống nhất công việc nhanh chóng. Thư kí Nhóm trưởng Thu Ngân Ngọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
ĐỘC LẬP-TỰ DO-HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHM
Hc phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên hc phần: Ngô Thị Huyền Trang Buổi hp thứ ba: Nhóm 5:
Thời gian làm việc: 21 giờ đến 22 giờ , ngày 5 tháng 10 năm 2022.
Địa điểm: Họp online qua ứng dụng Google Meet.
Thành viên có mặt (vắng 0):
Vũ Bảo Ngọc (nhóm trưởng) Phạm Thu Ngân Đặng Hoài Nam Nguyễn Trà My Hoàng Thúy Nga Đặng Kiều Oanh Phạm Quang Phúc Lê Phương Nga Hồ Mai Ngân Nội dung cuộc họp:
Hoàn thành powerpoint và kiểm tra lại sản phpm của nhóm, nhóm trưởng thống nhất và
duyệt qua phần thuyết trình . Thư kí Nhóm trưởng Thu Ngân Ngọc
ĐỀ TÀI : TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM. VẬN DỤNG VÀO QU TRÌNH XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
CHƯƠNG I: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội 1. Kh(i niệm
Theo Hồ Chí Minh, người tiếp cận ở nhiều gốc độ khác nhau bằng chỉ ra đặc trưng ở
một lĩnh vực nào đó (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – kỹ thuật,…) của chủ nghĩa xã
hội. Theo Người” Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm
cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được
ấm no và sống một đời hạnh phúc”. 2. Đặc trưng
-Thứ nhất, về chính trị: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội do nhân dân làm chủ.
-Thứ hai, về kinh tế: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội có nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
-Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: Xã hội xã hội chủ nghĩa có
trình độ phát triển cao về văn hóa và đạo đức, bảo đảm sự công bằng, hợp lý trong các quan hệ xã hội.
-Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: Chủ nghĩa xã hội là công trình tập
thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1.M&c tiêu
- Về chính trị: Theo Người, cần phải xây dựng chế độ chính trị do nhân dân lao
đô •ng làm chủ. “Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng
liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Nghĩa là quyền lực nhà
nước là thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân. Trong nhà nước đó, mọi công dân
đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước, có quyền
kiểm soát đối với đại biểu của mình.
- Về kinh tế: Cần xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến, gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính
trị. Hồ Chí Minh xác định: Đây phải là nền kinh tế khoa học và kỹ thuật tiên tiến”,
là “một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”.
- Về văn hóa: Hồ Chí Minh cho rằng, mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị và
kinh tế là mối quan hệ biện chứng Phải xây dựng được nền văn hóa mang tính dân
tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời
phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái
mới của văn hóa tiến bộ thế giới.
- Về quan hệ xã hội: Phải bảo đảm dân chủ, công bằng, văn minh. Theo Hồ Chí
Minh, với tư cách làm chủ, là chủ của đất nước, nhân dân phải làm tròn nhiệm vụ
của người chủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước đảm bảo quyền tự do, dân
chủ, bình đẳng cho công dân, của nhân dân mà trong đó không còn bất công, phân
hóa giàu nghèo, sang hèn, mọi khoảng cách đều không còn. 2. Động lực
Trong tư tưởng của Người, hệ thống động lực thúc đpy tiến trình cách mạng xã hội
chủ nghĩa rất phong phú, bao hàm những động lực cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai;
cả về vật chất và tinh thần, nội lực và ngoại lực,… ở tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính
trị, văn hóa, khoa học, giáo dục,.. Tất cả các động lực đều rất quan trọng và có mối quan
hệ biện chứng với nhau nhưng giữ vai trò quyết định là nội lực dân tộc, là nhân dân nên
để thúc đpy tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm lợi ích của dân, dân chủ
của dân, sức mạnh đoàn kết toàn dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là những động
lực hàng đầu của chủ nghĩa xã hội.
III. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ qu( độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam 1. Tính chất
Theo HCM, đây là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mớ - một xã hội hoàn toàn
chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp
lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, vì vậy tiến lên chủ nghĩa xã hội không
thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần.
2. Một số nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ qu( độ.
-Thứ nhất, mọi tư tưởng, hành động phải được thực hiện trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin.
-Thứ hai, phải giữ vững lập trường dân tộc.
-Thứ ba, phải đoàn kết, học tập kinh nghiệm của các nước anh em.
-Thứ tư, xây phải đi đôi với chống.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG VÀO THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Thực trạng:
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã
hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan
hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới...
Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu
sắc và tích cực ở Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định
và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi
mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được
hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi
mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản
phpm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên
tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách
quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam”
Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch
Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè
quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết
điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.
Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu
hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh
nghiệp nhà nước còn hạn chế. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết
liệt trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến
phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo
đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực
xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa
bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 2. Giải ph(p:
- Một là: luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa
Mác Lê nin. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán
và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết
của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở
của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.
- Hai là: bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng
hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Đồng thời phải nghiên cứu, tham khảo kinh
nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại.
- Ba là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn
nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội.
- Bốn là: Về xã hội, tiếp tục đpy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất
lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá cho nhân dân.
- Năm là: chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế
trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
- Sáu là: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và đpy lùi tình trạng suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng
Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững
mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã
hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo
vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội.
ĐỀ TÀI : PHÂN TÍCH TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC? LIÊN
HỆ TỚI QU TRÌNH TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY?
CHƯƠNG I : PHÂN TÍCH TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
I. Đạo đức l gốc l nền tảng tinh thần của xã hội của người c(ch mạng
- Đạo đức, một trong những vấn để quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng:
- Hồ Chí Minh coi đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của
cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức
thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Người từng nói “Cũng như
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho
loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự
mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”.
=> Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, những lãnh tụ cách mạng đã bàn nhiều
nhất đến vấn đề đạo đức Người không để lại những tác phpm đạo đức lớn. nhưng những
tư tưởng lớn của Người về đạo đức đã nằm trong những bài viết, bài nói ngắn gọn, được
diễn đạt rất cô đọng, hàm súc theo phong cách phương Đông, rất quen thuộc với con
người Việt Nam. Bản thân Người lại thực hiện trước nhất những tư tưởng ấy, nhiều hơn
cả những điều Người đã nói, đã viết về đạo đức Người vừa là một nhà đạo đức học lớn,
lại vừa là tấm gương đạo đức trong sáng nhất, tiêu biểu nhất đã được thế giới thừa nhận.
- Với tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn việt Nam thực
hiện một công việc kế thừa có chọn lọc, thâu hóa những giá trị đạo đức của quá khứ, đề
xuất những tư tưởng, đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới:
+ Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc
Việt Nam, đã được hình thành trong trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa tư tưởng
đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loại; đặc biệt quan trọng
là những tư tưởng đạo đức của Mác, Ăngghen, Lênin, cũng như những tấm gương
đạo đức trong sáng mà các ông đã để lại.
+ Trong lĩnh vực đạo đức, Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của
các tư tưởng đạo đức đã có từ trước, nhất là đạo đức Nho giáo.
=> Hồ Chí Minh sử đụng những khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quen thuộc
với dân tộc Việt Nam từ lâu đời đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung
những khái niệm, những phạm. trù đạo đức của thời đại mới. Chính vì vậy mà những giá
trị đạo đức mới đã hòa nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho
mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gần gũi. Hơn nữa, những giá trị đạo đức truyền thống
lại được nâng lên tầm cao mới, làm cho Người thực hiện được việc kết hợp truyền thống
với hiện đại. Việc tiếp thu những tinh hoa đạo đức của nhân loại đã làm cho tư tưởng Hồ
Chí Minh trở nên phong phú, đã được đông đảo những người nước ngoài chấp nhận, tìm
thấy một Việt Nam trong nhân loại, cũng như nhân loại trong Việt Nam. Sự kết hợp giữa
truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại cũng là một đặc trưng nổi bật của tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
- Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của
cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Như Người vẫn thường nói, đối với con người, sức
có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa; người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Bởi lẽ, sự nghiệp độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp rất to lớn, khó khăn và nặng nề; con đường đi đến độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường dài, không phải là một đại lộ thẳng tắp. Nó đòi
hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ, hơn nữa còn của nhiều thế hệ
nối tiếp nhau. Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc thường
xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta.
- Quan điểm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức,
coi nhẹ mặt tài. Đức là gốc, nhưng đức và tài, hồng và chuyên phải kết hợp, phpm chất và
năng lực phải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia. Như Người đã phân tích, người
nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm
hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì. Ngược lại, nếu có tài mà không có đức, thì cũng
chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn
cắp của công, thì như vậy chỉ có hại cho dân cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì
sớm muộn cũng đổ vỡ. Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao
trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Khi đã thấy
sức không vươn lên được thì đối với ai có tài hơn mình, mình sẵn sàng học tập, ủng hộ và
nhường bước để họ vượt lên trước. Ý nghĩa "đức là gốc" chính là ở chỗ đó.
II. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức c(ch mạng:
2.1. Trung vvi Đảng, hixu vvi dân :
- Về quan hệ đạo đức thì mối quan hệ của mỗi người với đất nước mình, với nhân dân,
dân tộc mình là mối quan hệ lớn nhất.
- Về phpm chất đạo đức thì trung với nước, hiếu với dân là phpm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất.
- Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và
phương Đông đã được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào nội dung mới. Trước kia là
trung quân, là trung thành với vua; trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với
nước, vì vua với nước là một, vua là nước, nước là nước của vua. Còn hiếu thì chỉ thu
hẹp trong phạm vi gia đình là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ. Tư tưởng trung với
nước, hiếu với dân của Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước
truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Trung với
nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước ở đây là nước của dân,
còn dân lại là chủ nhân của đất nước. Khi Hồ Chí Minh đặt vấn đề "bao nhiêu quyền hạn
đều của dân", "bao nhiêu lợi ích đều vì dân", "bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở
nơi dân", Đảng và Chính phủ là "đày tớ nhân dân chứ không phải "quan nhân dân để đè
đầu cưỡi cổ nhân dân", thì quan niệm về nước và dân đã hoàn toàn đảo lộn so với trước.
Có thể nói rất ít lãnh tụ cách mạng đã nói về dân như vậy. Nhưng vấn đề không phải chỉ
là nói mà là làm như thế nào, có làm hay không, điều này càng làm cho tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh vượt xa lên phía trước.
- Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc,
vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù
nào cũng đánh thắng. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định
hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh
cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
- Đối với cán bộ, đảng viên, như Hồ Chí Minh đã nói, điều chủ chốt nhất của đạo đức
cách mạng là "quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng", là "tuyệt đối
trung thành với Đảng, với nhân dân", là "trung với nước, hiếu với dân", hơn nữa phải là
"tận trung, tận hiếu thì mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là đày tớ thật trung thành của nhân dân.
- Tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân với tính chất là đối tượng
cần phải dạy dỗ, ban ơn, mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Vì vậy phải gần dân, gắn
bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc. Theo Hồ Chí
Minh, lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, lại phải thường xuyên quan tâm
đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách
nhiệm của người chủ đất nước, quyền thì hưởng còn trách nhiệm thì phải làm tròn. Có
được cái đức ấy thì người cách mạng người lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý mến, kính
trọng, nhất định sẽ tạo ra được sức mạnh to lớn cho cách mạng.
- Nội dung chủ yếu của trung với nước bao gồm:
+ Đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết.
+ Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng.
+ Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Nội dung của hiếu với dân bao gồm:
+ Khẳng định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân.
+ Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động nhân dân cùng thực hiện tốt
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
+ Mọi đường lối, chính sách đều phục vụ lợi ích của nhân dân.
2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư:
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng, đó
là phpm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi con người. Vì vậy mà
phpm chất này đã được Hồ Chí Minh đề cập nhiều nhất, thường xuyết nhất, Người đã
phán ánh ngay từ cuốn sách: “Đường cách mệnh” cho đến bản “Di chúc”.
- Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng
không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng.
Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân
theo để lợi ích cho nước, cho dân”. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể của phpm chất “trung với nước, hiếu với dân”.
- “Cần, kiệm, liêm, chính”:
+ “Cần: tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai… Muốn cho chữ Cần
nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc”. Cần tức là lao động cần cù,
siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự
lực cánh sinh, không lười biếng.
+“Kiệm: là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN và
KIỆM phải đi đôi với nhau, như hai chân con người”. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết
kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; không phô trương
hình thức, không liên hoan chè chén lu bù. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không
nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích của
đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế
mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm. Tiết
kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Hồ Chí Minh yêu cầu phải: “Cần kiệm xây dựng nước nhà”.
+ Liêm: “là trong sạch, không tham lam…chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM.
Cũng như chữ KIỆM phải đi với chữ CẦN. Có KIỆM mới LIÊM được”. “Liêm là không
tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc
mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là
ham học, ham làm, ham tiến bộ”.
+Chính: nghĩa là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn,
đứng đắn, tức là tà”. Chính được thẻ hiện rõ qua ba mối quan hệ: “ĐỐI VỚI MÌNH – chớ
tự kiêu, tự đại… “ĐỐI VỚI NGƯỜI… chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người
dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn… Phải thực hành chữ Bác – Ái… ĐỐI VỚI
VIỆC. Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà… viện thiện thì dù nhỏ
mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.
Hồ Chí Minh cho rằng, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau,
ai cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là người thực hành trước để làm kiểu mẫu cho dân.
- “Chí công vô tư”:
+ Là hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi; là hết sức công bằng, không chút
thiên tư, thiên vị, công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lên trên
hết, trước hết, chỉ vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
+ Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Người nói: “Đem lòng chí công vô
tư mà đối với người, với việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước…
khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”.
+ Chí công vô tư thực chất là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích:
“Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền
nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đútm
có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”.
- Hồ Chí Minh quan niệm: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về
tinh thần, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến
bộ”. Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính cơ bản của con người, giống như
bốn mùa của trời, bốn phương của đất; “Thiếu một đức thì không thành người”.
2.3 Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
- Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản,
tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thập niên, cùng với việc thể nghiệm
chính bản thân mình qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương
con người là một trong những phpm chất đạo đức cao đẹp nhất.
- Tình yêu thương con người là tình cảm nhân ái sâu sắc, rộng lớn, trước hết dành cho
những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột
không phân biệt màu da, dân tộc. Người cho rằng nếu không có tình yêu thương như vậy
thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
- Tình thương người, yêu đồng loại, yêu đồng bào, yêu đất nước mình là tư tưởng lớn, là
mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh. Đây là yếu tố cốt lõi đầu tiên tạo nên nền tàng tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Đó cũng là lý tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức và là lý
tưởng nhân văn của Người.
- Tình yêu thương con người theo Hồ Chí Minh phải xây dựng trên lập trường giai cấp
công nhân, thể hiện trong các mối quan hệ hằng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em, phải
được thể hiện ở hành động cụ thể thiết thực. Bằng hành động và ứng xử của mình, Hồ
Chí Minh truyền lại cho chúng ta một đạo lý làm người là phải biết yêu thương và sống
với nhau có tình có nghĩa. Theo Hồ Chí Minh, “hiểu chủ nghĩa Mác- Leenin là phải sống
với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì
sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Leenin được”, Người viết: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
2.4 Tinh thần quốc tx trong s(ng
- Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phpm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng sản
chủ nghĩa. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu
sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế
giới, với các dân tộc bị áp bức, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những
người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và phân biệt
chủng tộc; chống lại sự hẹp hòi, biệt lập và chủ nghĩa bành chướng bá quyền. Đoàn kết
quốc tế của Hồ Chí Minh theo tinh thần quốc tế trong sáng:
“Quan sơn muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”
- Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp tinh thần
đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra một kiểu quan
hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền văn hóa hòa bình cho
nhân loại; đó là di sản thời đại vô giá của Người về hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển giữa các dân tộc.
III. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức c(ch mạng
3.1. Nói đi đôi vvi lm,nêu gương về đạo đức
- Đạo đức cách mạng là đạo đức luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của
giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của cách mạng. Đây là cơ sở để phân biệt một cách
rạch ròi với thói đạo đức giả, đạo đức của giai cấp bóc lột. với đặc trưng bản chất là nói
nhiều làm ít, nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo, đem lại lợi ích không phải
cho quần chúng nhân dân lao động mà cho thiểu số những kẻ bóc lột, không những thế
nói đi đôi với làm còn nhằm chống thói đạo đức giả.
- Lời nói phải đi đôi với việc làm và thực hành đạo làm gương là đạo đức của người cách
mạng nói chung, nằm trong vốn văn hóa phương Đông nói riêng. "Nói chung thì các dân
tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống có giá trị hơn
một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Do đó cần xây dựng những tấm gương người tốt
việc tốt . Đối với cán bộ, Đảng viên, Hồ Chí Minh nói: "Trước mặt quần chúng, không
phải ta cứ viết lên trán hai chữ "Cộng sản" mà ta lại được họ yêu mến. Quần chúng chỉ
quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải mực
thước cho người ta bắt chước... Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã".
3.2. Xây đi đôi vvi chống
- Để tạo nên những con người hoàn thiện về tài, đức, phục vụ sự nghiệp cách mạng, theo
Hồ Chí Minh cần phải quán triệt nguyên tắc xây phải đi đôi với chống.
- Hồ Chí Minh cho rằng cuộc cách mạng của nhân dân ta là cuộc đấu tranh lâu dài, khó
khăn, trong đó vừa chống lại nọc độc của xã hội cũ, những cái xấu vừa nảy sinh, vừa
chống lại bọn đế quốc thực dân, vừa chống nghèo nàn lạc hậu, thói hư tật xấu. Vì vậy,
thái độ của người cách mạng là phải kiên quyết đầu tranh chống lại cái xấu, cái ác, phải
bồi dưỡng và phát triển cái thiện, cái tốt đẹp cho xã hội. Vì vậy, xây và chống phải đi đôi với nhau.
- Trong Đảng và mỗi con người, vì những lý do khác nhau nên không phải "người người
đều tốt, việc việc đều hay". "Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác trong lòng. Ta phải
biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và cái xấu bị mất
dần đi, đó là thái độ của người cách mạng". Chống và xử lý nghiêm minh là nhằm xây, đi
liền với xây và muốn xây thì phải chống. Mục đích cuối cùng là xây dựng con người có
đạo đức và nền đạo đức mới Việt Nam.
- Xây là giáo dục những phpm chất đạo đức mới, giáo dục đạo đức phải phù hợp với lứa
tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau, đồng thời phải
chú ý đến từng giai đoạn cách mạng.
- Xây dựng đạo đức có nhiều cách làm, trước hết mỗi cá nhân và tổ chức phải có ý thức
tự giác trau dồi đạo đức cách mạng. Sự tự giác của bản thân là phpm chất đạo đức quý
đối với từng người và tổ chức.
- Xây đi đôi với chống trên cơ sở tự giáo dục, đồng thời phải tạo thành phong trào quần
chúng rộng rãi. Bới vì chủ nghĩa xã hội là công trình của quần chúng nhân dân tự xây
dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
3.3. Tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành.
Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn
luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong”[1]. Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người,
ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn
được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
- Trong rèn luyện đạo đức, Hồ Chí Minh coi tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người
khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cùng có thiện,
có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối,
huyễn hoặc, thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu. cái ác
để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn,
trong mọi mối quan hệ của mình, trong như trong sinh hoạt cộng đồng. Không thể là
chiến sĩ thi đua ở nơi công tác khi về nhà lại mắng vợ chửi đời, đánh con. Những người
như thế không phải là người có đạo đức cách mạng.
CHƯƠNG II: LIÊN HỆ QU TRÌNH TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HIỆN NAY I. Thực trạng
Hồ Chí Minh cho rằng việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi con người có vai trò
vô cùng quan trọng. Người thường xuyên chú trọng quan tâm giáo dục đạo đức, chăm lo
rèn luyện đạo đức sinh viên. Theo đó, sinh viên trường Đại học Thương mại đã, đang và
tiếp tục học tập theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cá
nhân; tuy nhiên việc này vẫn còn tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
1.1. Về mặt tích cực
1.1.1. Trong công t(c, sinh hoạt, cuộc sống đời thường:
- Trong việc rèn luyện đạo đức qua lối sống, sinh hoạt hằng ngày, sinh viên trường Đại
học Thương mại vẫn luôn tích cực dành thời gian tìm hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách
và tấm gương Hồ Chí Minh, đồng thời tự soi mình, sửa mình và rèn luyện, tạo được thói
quen tốt cho bản thân, học tập và làm theo lời Bác dạy.
- Các sinh viên có tinh thần trách nhiệm, nỗ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ,
không tránh né, đùn đpy nhiệm vụ qua cho hoàn cảnh hay người khác và sẵn sàng nhận
lỗi, gánh chịu hậu quả khi mình phạm lỗi, không hoàn thành nhiệm vụ được giao chứ
không đổ thừa cho hoàn cảnh hay cho người khác.
- Nhiều sinh viên luôn tham gia tích cực các phong trào của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh
viên của Đoàn trường, của thành phố; luôn phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, đạt danh hiệu
"Sinhviên 5 tốt" với các tiêu chí: Đạo đức tốt, Học tập tốt, Thể lực tốt, Tình nguyện tốt, Hội nhập tốt.
- Sinh viên trường luôn chủ động học tập kiến thức, tích cực tu dưỡng đạo đức, rèn luyện
sức khỏe, có lối sống lành mạnh, không vướng vào tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan không
lành mạnh, không nói dối thầy cô và cha mẹ.
- Sinh viên không phá hoại của công, biết giữ gìn và bảo vệ môi trường sống, cảnh quan trường lớp.
1.1.2. Trong hc tập, rèn luyện, thực hnh, tu dưỡng đạo đức
- Trong quá trình tu dưỡng đạo đức, đại đa số sinh viên Thương mại xác định được mục
tiểu học tập đúng đắn, đặt mục tiêu cho bản thân, xây dựng kế hoạch học tập phù hợp;
hăng hái, tích cực tham gia các cuộc thi được tổ chức bởi khoa, nhà trường và doanh
nghiệp, đạt được học bổng của của trường; tích cực tham gia sáng tạo, thiết kế, nghiên
cứu Khoa học của khoa, trường, thành phố, quốc gia.
- Sinh viên tự rèn luyện cho bản thân một lối sống ngay thẳng, thật thà, trong sáng, giản
dị, chân tình. Tự giác phấn đấu, rèn luyện đạo đức, tự phê bình, cầu thị, sửa chữa khuyết
điểm, khắc phục những mặt hạn chế, tiêu cực, phát huy ưu điểm và mặt tích cực.
- Nhiều sinh viên chủ động châm chỉ tìm tòi, học hỏi những kiến thức mới lạ có chọn lọc
từ sách báo, giáo trình, tài liệu tham khảo trên thư viện hay các thư viện trường đại học
đào tạo cùng khối ngành. Đồng thời còn vận dụng linh hoạt kiến thức học được từ nhà
trường, lớp, bạn bè, thầy cô để áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, vào công việc. Đồng
thời tích cực cải thiện những
kỹ bản thân cảm thấy chưa tốt như kỹ năng mềm:
Thuyếttrình trước đám đông, kỹ năng giao tiếp thông minh, kỹ năng tin học văn phòng,..
1.2. Về mặt tiêu cực
- Trong đời sống, sinh hoạt thường ngày vẫn còn tình trạng sinh viên đánh nhau, gây gổ,
có hành vi vi phạm luật giao thông. Một số sinh viên có tính ăn chơi, sa đà vào tệ nạn xã
hội. Trong quá trình rèn luyện, sinh viên bị ảnh hưởng quá nhiều từ phim ảnh, tranh ảnh
sách báo không có chọn lọc, cách sử dụng mạng xã hội không đúng cách nên cách ăn