Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN ----- ----- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề tài:
PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. LIÊN HỆ VỚI VIỆC
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY. Nhóm: 1
Lớp học phần: 232_HCMI0111_23
Người hướng dẫn: Vũ Thị Thu Hà Hà Nội, tháng 3 năm 2024 1 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………………..6
1.1 Những vấn đề cơ bản liên quan đến xây dựng Nhà nước Việt Nam....6
1.1.1 Lịch sử và bối cảnh lịch sử khi Hồ Chí Minh còn sống................6
1.1.2 Bản chất của nhà nước....................................................................6
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh
...................................................................................................................11
1.1.4 Tổ chức và hoạt động của nhà nước.............................................12
1.1.5 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa......................15
1.1.6 Phòng chống tham nhũng, lãng phí..............................................21
1.1.7 Những thách thức và cơ hội đặt ra cho xây dựng Nhà nước Việt
Nam..........................................................................................................25
1.2 Những điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà
nước Việt Nam.............................................................................................33
1.2.1 Nhà nước dân chủ..........................................................................33
1.2.2 Nhà nước pháp quyền....................................................................37
1.2.3 Nhà nước trong sạch, vững mạnh.................................................41
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở V IỆT N AM H IỆN N
AY……………………………………………….45
2.1 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay......................................45
2.1.1 Thành tựu.......................................................................................47
2.2.2 Hạn chế............................................................................................49
2.2 Nguyên nhân..........................................................................................51
2.3 Giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.........................................................53 2
PHẦN KẾT LUẬN............................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................57 3 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Vai trò và tầm quan trọng của Nhà nước trong đời sống xã hội
Nhà nước được coi là cơ quan chủ chốt trong việc bảo vệ an ninh và trật
tự xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của Nhà nước là đảm bảo an ninh cho cộng đồng, ngăn chặn các hoạt động gây
hỗn loạn và bảo vệ quyền lợi của người dân. Nhà nước có trách nhiệm tạo ra các
chính sách và phương pháp để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội. Hồ Chí
Minh tin rằng Nhà nước cần phải chủ động hướng dẫn và điều hành quá trình
sản xuất, phân phối, và tiêu thụ, nhằm mục tiêu tăng cường phát triển kinh tế và
cải thiện đời sống của người dân. Nhà nước phải đảm bảo rằng mọi người dân
đều được hưởng mọi quyền lợi và tự do cơ bản của mình. Hồ Chí Minh luôn
nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc tạo ra một xã hội công bằng và dân chủ,
trong đó mọi người đều có cơ hội phát triển và thể hiện bản thân. Hồ Chí Minh
khuyến khích việc tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của
Nhà nước. Ông cho rằng một chính phủ minh bạch và trách nhiệm sẽ được lòng
tin của nhân dân và có thể hoạt động hiệu quả hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.
2. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước Việt Nam.
Từ lâu nhiều nhà lãnh đạo của Đảng ta đã khẳng định chủ tịch Hồ Chí
Minh là " nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận kiệt xuất”. Tư tưởng và đạo đức cao
cả của người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn của chúng ta. Tư tưởng Hồ
Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh những vấn đề thuộc quy luật và có tính
quy luật của cách mạng nước ta, đã được thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt 4
Nam kiểm nghiệm và xác nhận. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị dân
tộc mà còn có ý nghĩa thời đại, góp phần vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra
cho thế kỷ hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng đối với quá
trình xây dựng Đảng và nhà nước đặc biêt là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền
tảng lý luận xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách
mạng. Ngày nay, tư tưởng đó vẫn tiếp tục rọi sáng con đường xây dựng hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 5 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Những vấn đề cơ bản liên quan đến xây dựng Nhà nước Việt Nam.
1.1.1 Lịch sử và bối cảnh lịch sử khi Hồ Chí Minh còn sống
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sau khi tạm thời
dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước
thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính
sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền
phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách
nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột
kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Về kinh tế, thực dân
Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, đầu tư khai thác tài nguyên,
xây dựng một số cơ sở công nghiệp, xây dựng hệ thống đường giao thông, bến
cảng phục vụ cho lợi ích của chúng. Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp đã
tạo sự chuyển biến đối với nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh
tế mới…) những cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế nước ta bị lệ thuộc vào tư
bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu. Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện
chính sách văn hóa giáo dục thực dân, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.
Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dương,
“chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành
hạ và đầu độc một cách thê thảm... bằng thuốc phiện, bằng rượu… chúng tôi
phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”.
Từ những bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên, Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước và từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi
bức thiết của dân tộc và thời đại. 6
1.1.2 Bản chất của nhà nước
* Nhà nước do nhân dân làm chủ
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất
quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Tất cả mọi người
dân Việt Nam, không phân biệt gái trai, giàu nghèo, nòi giống, dân tộc, tôn
giáo... đều là người chủ của Nhà nước, có trách nhiệm xây dựng Nhà nước.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Hồ Chí Minh khẳng định: Tất cả quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. “Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” .
Tính chất dân chủ nhân dân là đặc trưng nổi bật của chính quyền nhà
nước kiểu mới. Trong nước ta, nhân dân là người nắm giữ mọi quyền lực, còn
các cơ quan nhà nước do nhân dân tổ chức ra, nhân viên nhà nước là người được
ủy quyền, thực hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, trở thành công bộc của
nhân dân. Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân trực tiếp tổ chức, xây dựng
thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhân dân thực hiện quyền lực của
mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ
thể hiện ở việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, mà còn ở quyền
bãi miễn, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do nhân dân làm chủ
còn bao hàm một nội dung quan trọng khác đó là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do dân là Nhà nước dân
chủ, thể hiện quyền lực của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là bảo đảm thực
thi quyền lực của nhân dân lao động. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà
nước do nhân dân lao động làm chủ là một nội dung trọng yếu của việc kiện
toàn, đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta.
* Nhà nước phục vụ quyền lợi của nhân dân 7
Nhà nước ta là một nhà nước dân chủ trên thực tế và trong hành động.
Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã nêu bật sự
khác nhau căn bản về chất giữa Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với các
loại hình nhà nước trước đó: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ
từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác
việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền
thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.
Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ phải quan tâm đến những kiến nghị,
đề đạt của nhân dân: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc
lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện
cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu
đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý” .
Về quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, Hồ Chí Minh xác định: “Nếu
không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ
thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối”.
Nhận thức và cảnh báo của Hồ Chí Minh về các nguy cơ, căn bệnh phát
sinh trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước và cách phòng tránh, khắc
phục chúng ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và có tính thời sự, soi đường chỉ lối
cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt kết quả cao, đảm bảo cho Nhà nước ta
thật sự phục vụ quyền lợi của nhân dân, trở thành công bộc, đầy tớ của dân.
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Chức năng:
+ Chức năng lập hiến và lập pháp: Xây dựng Hiến pháp và pháp luật, bảo
đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của nhà nước và xã hội. 8
+ Chức năng hành chính: Quản lý nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Chức năng tư pháp: Xét xử, giải quyết các tranh chấp, vi phạm pháp luật. - Nhiệm vụ:
+ Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
+ Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
+ Bảo đảm quốc phòng, an ninh.
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
+ Phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ. + Bảo vệ môi trường.
+ Thực hiện đối ngoại, hội nhập quốc tế.
- Ngoài ra, nhà nước còn có một số nhiệm vụ cụ thể khác như: + Xóa đói giảm nghèo.
+ Phát triển giáo dục, đào tạo.
+ Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
+ Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm vụ của nhà nước:
+ Nhà nước phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách hiệu
quả, phục vụ lợi ích của nhân dân.
+ Nhà nước phải hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. 9
+ Cán bộ, công chức nhà nước phải gương mẫu, liêm chính, chí công vô tư.
+ Mọi người, mọi tổ chức đều phải bình đẳng trước pháp luật.
+ Nhà nước phải bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho nhân dân.
1.1.4 Tổ chức và hoạt động của nhà nước
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
Chủ thể của quyền lực nhà nước là nhân dân
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước bắt
nguồn từ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân
chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người
quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ thể thật sự, chủ thể đích
thực và chủ thể tối cao của Nhà nước, của quyền lực nhà nước là nhân dân. Điều
này có nghĩa là, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Quyền lực nhà
nước, dù do bất cứ cơ quan, cá nhân nào nắm giữ cũng có nguồn gốc từ sự ủy
quyền của nhân dân. Không có thứ quyền lực nhà nước nào có nguồn gốc tự
thân, nằm ngoài sự trao quyền, ủy quyền (trực tiếp hoặc gián tiếp) của nhân dân.
Vì vậy, nguyên tắc của tổ chức quyền lực nhà nước là xây dựng chế độ Cộng
hòa dân chủ nhân dân. Bản chất của chế độ dân chủ này là: Dân chủ với quảng
đại quần chúng nhân dân và trấn áp kẻ thù của cách mạng, bảo đảm sự phát triển
của xã hội Việt Nam theo khuynh hướng tối ưu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa
chọn - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thực
chất là lãnh đạo chính trị, thực hiện quyền lực chính trị của một Đảng cầm
quyền. Đảng lãnh đạo bằng chính sách, định hướng, bằng cương lĩnh với 10
phương pháp giáo dục, thuyết phục, dân chủ, bằng uy tín và trí tuệ chứ không sử
dụng phương pháp quyền lực, cưỡng chế. Đảng lãnh đạo Nhà nước trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều này bảo đảm pháp luật là tiêu chuẩn cao nhất
của xã hội và tránh được sự bao biện, làm thay của Đảng trong thực hiện các
chức năng của Nhà nước.
1.1.5 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay được thể hiện trên những nét cơ bản sau đây:
* Một là, bảo đảm tính hợp hiến và “thượng tôn pháp luật” của Nhà nước.
Từ năm 1919, trong bối cảnh đất nước còn chịu ách đô hộ của thực dân
xâm lược và trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc thực dân đang phát triển mạnh mẽ,
thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã gửi
tới Hội nghị Véc-xây bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, yêu cầu thực dân
Pháp phải bảo đảm những quyền tối thiểu cho người dân bản xứ, như: “Cải cách
nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền
hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn
các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực
nhất trong nhân dân An Nam”; “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các
đạo luật” và nhiều quyền khác.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, xuất phát từ yêu cầu phải bảo vệ chính quyền non trẻ
vừa được thiết lập và để sớm tổ chức xây dựng xã hội mới trong bối cảnh đất
nước “ngàn cân treo sợi tóc”, nhất là trước sự can thiệp của các thế lực bên
ngoài, đồng thời để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế và tạo sự đồng thuận
của nhân dân trong nước, ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 11
3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân
chủ” và “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với
chế độ phổ thông đầu phiếu” để lập nên Quốc hội, rồi từ đó lập ra Chính phủ và
các cơ quan, bộ máy nhà nước, thể hiện quyền lực tối cao của nhân dân, bảo
đảm tính hợp hiến, tính chính danh của Nhà nước, được tổ chức và vận hành
theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo đó, mọi hoạt
động trong xã hội, các chủ thể hoạt động trong khuôn khổ thể chế chính trị, phải
hợp hiến, hợp pháp, tinh thần “thượng tôn pháp luật” phải được thấm sâu vào
đời sống xã hội, có giá trị điều chỉnh mọi mối quan hệ, mọi hoạt động trong Nhà
nước và xã hội. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính hợp hiến,
hợp pháp và tinh thần “thượng tôn pháp luật” của Nhà nước Việt Nam cho đến
nay, đã trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và được thực thi trong đời sống xã
hội, phù hợp với bối cảnh mới của quốc tế và đất nước.
* Hai là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nhà nước
phục vụ, kiến tạo phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là đặc trưng
của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng. Do vậy, “Trong nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân
dân”; “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... quyền
hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Theo đó, các cơ quan nhà nước và đội ngũ
cán bộ nhà nước phải hết lòng phục vụ nhân dân, là công bộc của nhân dân,
“gánh việc chung cho dân”. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa phục vụ, kiến tạo phát triển, cần có một chính phủ hành động và đội ngũ
cán bộ, công chức là những người vừa có đức, vừa có tài, có bản lĩnh chính trị,
tâm huyết và sẵn sàng xả thân vì dân, vì nước.
Xây dựng nhà nước liêm chính, phục vụ, kiến tạo phát triển, nhạy bén
trong tư duy và hành động, chủ động trong điều hành đất nước trên mọi lĩnh vực 12
của đời sống xã hội là yêu cầu cấp bách và lâu dài trong xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong bối cảnh mới này, để thực hiện
thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta nhất thiết phải
xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, kiên định về lập trường tư
tưởng, sáng suốt trong đường lối lãnh đạo và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa phục vụ, kiến tạo phát triển đủ năng lực đưa ra các quyết định chính xác,
kịp thời trong mọi tình huống, giải quyết có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trên
mọi lĩnh vực vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì lợi ích của nhân dân trên cơ sở Hiến
pháp và pháp luật, cùng với đó là phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
* Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vừa có đức, vừa có tài, là
“công bộc” của nhân dân.
Bộ máy nhà nước có trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả hay
không, phụ thuộc trước hết vào những con người trong tổ chức bộ máy đó. Do
vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng nhà nước mới phải bắt đầu từ công
việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa
chuyên, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người khẳng định:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho
dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo
cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”, đáp ứng yêu cầu
và lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ là gốc của mọi công việc, “Có cán
bộ tốt, việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt
hoặc kém”. Vì vậy, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Từ đây,
Người đã nghiêm khắc phê bình một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến
chất, bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân nên “có thái độ xa quần chúng”, không
muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thày quần chúng, “quên rằng dân
bầu mình ra là để làm việc cho dân”, “quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan,
tham ô, lãng phí...”. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải không 13
ngừng học tập, tu dưỡng, tự sửa chữa để tiến bộ mãi. Công tác cán bộ phải dựa
vào dân, phát hiện, tuyển chọn cán bộ từ phong trào cách mạng của nhân dân;
đưa cán bộ thâm nhập vào hoạt động thực tiễn và thông qua sự giúp đỡ, kiểm
soát của nhân dân để đào tạo, rèn luyện cán bộ.
Để tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy nhà nước, chuyển đổi mạnh mẽ mô
hình và cơ chế quản lý theo hướng phục vụ, kiến tạo phát triển, phải xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức vừa có đức, vừa có tài, ngang tầm nhiệm vụ, đặc biệt
là chú trọng bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức, lý tưởng cách mạng, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, để họ trở thành
những nhà lãnh đạo tài giỏi, yêu nước, liêm, chính, chí công.
* Bốn là, chú trọng các biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng Nhà nước trong sạch, hoạt động
có hiệu quả, phục vụ nhân dân thì kiểm soát quyền lực nhà nước là công việc
quan trọng. Người nêu ra một số biện pháp căn bản để thực hiện kiểm soát
quyền lực nhà nước như sau:
Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm công cụ để kiểm soát quyền
lực nhà nước: Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một nhà nước vì dân, hoạt động
có hiệu quả, phải là một nhà nước có “hiến pháp ban hành” và “phải có thần linh
pháp quyền”. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với nhà nước pháp quyền. Trong Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, luật pháp là công cụ thực thi quyền lực của
nhân dân, cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện các chức năng của mình, đồng
thời để kiểm soát quyền lực nhà nước.
Huy động nhân dân tham gia quản lý và kiểm soát quyền lực nhà nước:
Kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề hệ trọng, bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn khuyến khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của Nhà nước,
của Chính phủ, “mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm
trọn nhiệm vụ của mình là: người đày tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”. 14
Theo đó, để kiểm soát tốt quyền lực nhà nước, cần thực hành dân chủ rộng rãi,
thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của
bộ máy nhà nước, của cán bộ nhà nước.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm
tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định
tiến bộ gấp mười gấp trăm”, và “muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ
có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra
hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”.
1.1.6 Phòng chống tham nhũng, lãng phí
Sinh thời Bác Hồ đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở
trong lòng” và biện pháp quan trọng hàng đầu để đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí chính là giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Người nói: “làm cho quần
chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con
mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp
mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.
Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên phải nâng
cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, là người lãnh đạo Nhà
nước Việt Nam dân chủ đầu tiên đề cập đến việc chống các bệnh quan liêu, tham
ô, tham nhũng, lãng phí…Những bệnh này cũng có thể được Hồ Chí Minh diễn
đạt trong một thuật ngữ cổ hơn đó là “bất liêm”, mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng.
Nghiên cứu các tác phẩm của Bác, chúng ta có thể thấy rằng Hồ Chí Minh
là người Việt Nam hiện đại đầu tiên đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất, các hình
thức biểu hiện, các phương pháp phòng, chống tham ô, tham nhũng và lãng phí
trong khu vực công và trong cả khu vực tư. 15
Thế nào là tham nhũng? Thông qua định nghĩa chữ “Liêm”, Hồ Chí Minh
đưa ra quan niệm về tham nhũng: “Liêm là trong sạch, không tham lam”, Người
chỉ ra 2 biểu hiện trong 10 hành vi bất liêm của cán bộ đó là: “Tham tiền của,
tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên; Người cán bộ, cậy quyền
thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”. Biểu hiện
của bệnh tham ô, theo Hồ Chí Minh, đó là “Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục
khoét của dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư” là bất liêm, tức
không trong sạch, tham lam mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng.
Về tác hại của tệ tham ô, tham nhũng. Ngay từ những ngày đầu thành lập
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã coi trọng lên án những
biểu hiện của sự tha hóa quyền lực Nhà nước trong không ít cán bộ, đảng viên
có chức, có quyền. Người luôn coi tham ô, lãng phí và quan liêu là ba kẻ thù hết
sức nguy hiểm. Theo Hồ Chí Minh, trong ba kẻ thù trên, tham ô là kẻ thù nguy
hiểm nhất, bởi đó là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Nó
nguy hiểm đến mức mà Người từng xếp căn bệnh này ngang hàng với tội phản quốc.
Theo Người, nguồn gốc của tham nhũng là do tha hóa quyền lực Nhà
nước, do thiếu dân chủ. Phòng, chống tham ô, tham nhũng và lãng phí như thế
nào? tham ô, tham nhũng là vướng vào chủ nghĩa cá nhân, là trục lợi: “Là người
có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ
công vi tư”. Vì thế, muốn chống tham nhũng, phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân
với tất cả các biện pháp, trong đó “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ
bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Quán triệt và vận dụng
thực hiện tư tưởng của Người, trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã xác
định quan điểm, chủ trương và đề ra những giải pháp cơ bản, có tính chiến lược
về phòng, chống tham nhũng phù hợp với thực tiễn. Muốn đấu tranh chống quan
liêu, tham nhũng có hiệu quả phải sử dụng những giải pháp đồng bộ cả về nhận
thức tư tưởng và tổ chức, luật pháp và chính sách; các giải pháp vừa có tính 16
chiến đấu cao, vừa khoa học, vừa kiên quyết và mạnh mẽ. Trong đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng, cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò và nhiệm vụ
rất quan trọng. Họ vừa là hạt nhân, vừa đi đầu trong cuộc đấu tranh này; tự mình
nêu gương sáng học tập và làm theo lời dạy của Bác Hồ: “Cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư…” ; đồng thời phải thực hiện nghiêm chỉnh mọi chủ
trương của Đảng và Nhà nước về chống quan liêu, tham nhũng.
1.1.7 Những thách thức và cơ hội đặt ra cho xây dựng Nhà nước Việt Nam
Thế giới đang trải qua một thời kỳ có nhiều biến động nhanh chóng, phức
tạp và khó lường. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp,
vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau quyết liệt, giành vị thế và lợi ích
gây ra tình hình phức tạp tại nhiều khu vực và nhiều nước. Xung đột dân tộc, tôn
giáo, khủng bố quốc tế, chiến tranh cục bộ, chiến tranh kinh tế, chiến tranh
mạng, các hoạt động can thiệp, lật đổ, bất tuân dân sự, tranh chấp chủ quyền,
lãnh thổ, tài nguyên… diễn ra dưới những hình thức mới, gay gắt hơn. Những
vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống như: an ninh lương thực, an ninh
năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính, an ninh mạng, biến đổi khí
hậu, thiên tai, dịch bệnh, v.v.. diễn biến nghiêm trọng. Chủ nghĩa dân tuý, chủ
nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng gia tăng mạnh mẽ trong quan
hệ quốc tế. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.
Kinh tế thế giới vừa được phục hồi một bước sau khủng hoảng tài chính
và suy thoái toàn cầu song tốc độ tăng trưởng đang chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ
khủng hoảng và suy thoái. Chiến tranh thương mại, tranh giành các nguồn tài
nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng
quyết liệt. Cách thức giải quyết, ứng phó các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh sau
khủng hoảng, nhất là về ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, cơ cấu 17
lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chú trọng đổi mới sáng tạo, là
những kinh nghiệm quý giúp các nước vượt qua được những thách thức đó để
phát triển nhanh và bền vững.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế đang là hai xu thế lớn, chi phối sâu sắc tiến trình phát triển
của nhân loại. Những đột phá công nghệ diễn ra nhanh chóng trong nhiều lĩnh
vực, như: trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn, Internet kết nối
vạn vật, robots, công nghệ in 3 chiều, công nghệ nano, công nghệ sinh học, lưu
trữ năng lượng, v.v.., đem đến sự thay đổi vượt bậc cho chất lượng cuộc sống,
việc làm và sản xuất, kinh doanh.
Xu thế đổi mới công nghệ diễn ra nhanh, đặt ra nguy cơ lớn về tụt hậu
song cũng là điều kiện cho các nước đi sau thực hiện các bước phát triển rút
ngắn qua việc tận dụng những thành quả phát triển của nhân loại. Tuy không có
ưu thế về công nghệ, vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh nghiệm quản lý
và điều hành nền kinh tế, v.v.. như các nước phát triển, nhưng nhờ hội nhập và
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các nước đang phát triển có thể huy
động và phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực, tiếp nhận kiến thức, công nghệ và
kinh nghiệm quốc tế, để thực hiện “đi tắt, đón đầu”.
ASEAN đã trở thành một lực lượng được các nước ngày càng coi trọng,
đóng vai trò trung tâm trong tăng trưởng kinh tế, bảo đảm môi trường hòa bình
và an ninh khu vực. Tuy nhiên, sự tranh thủ lôi kéo, gây sức ép và can thiệp của
các nước lớn, cùng với những tính toán lợi ích riêng của một số nước thành viên,
là yếu tố cản trở ASEAN có tiếng nói chung trong một số vấn đề khu vực, tác
động không nhỏ đến tính thống nhất của tổ chức này. Tiểu vùng Mêkông tiếp
tục là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế nhờ quá trình mở cửa, cải cách, chuyển
đổi sang cơ chế thị trường và tăng cường hợp tác xuyên biên giới; song các vấn
đề về ô nhiễm môi trường, khan hiếm nguồn nước ngọt và nước biển dâng đang 18
là thách thức không nhỏ đối với mục tiêu phát triển bền vững của các nước trong tiểu vùng.
Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền trên Biển Đông tiếp tục là thách thức lớn
đối với an ninh và phát triển của Việt Nam. Sự gia tăng chủ nghĩa đơn phương
và quan hệ “bất thường” của các nước lớn đặt Việt Nam trước những rủi ro về
đối ngoại. Đứng ở một vị trí địa chiến lược quan trọng, việc lựa chọn phương
cách ứng xử, tìm ra cách tiếp cận hợp lý, xác lập lòng tin, chia sẻ lợi ích và đảm
bảo chủ quyền luôn là thách thức đối với Việt Nam trong nỗ lực duy trì quan hệ
cân bằng và tốt đẹp với các nước lớn.
Các vấn đề toàn cầu và mất an ninh phi truyền thống sẽ tác động trực tiếp
đến Việt Nam ngày một sâu sắc hơn. Đặc biệt, Việt Nam là một trong những
nước bị tổn thương nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng.
Các áp lực về chuyển đổi phương thức phát triển trong bối cảnh thiếu hụt về tài
nguyên, năng lượng,… rất có thể sẽ đặt nền kinh tế Việt Nam trước nhiều khó
khăn. Trong dài hạn, nhìn chung các xu hướng phát triển có ảnh hưởng tích cực
cho sự cất cánh của Việt Nam. Các chương trình nghị sự về tăng trưởng bao
trùm, phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế nhân văn của thế giới gợi mở
cho Việt Nam tư duy và tầm nhìn mới để đảm bảo công bằng và hoà nhập trong
việc hưởng thụ các thành quả của tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam có cơ hội tốt để trở thành cửa ngõ quan trọng của một khu vực
kinh tế năng động, tiếp cận với các thị trường lớn của thế giới khi thiết lập được
một mạng lưới FTA rộng khắp và khai thác chiến lược Trung Quốc của các nhà đầu tư quốc tế.
Việc xác định trở thành một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa mở ra một giai đoạn mới, đồng thời thể hiện tính liên tục và hoàn
chỉnh trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. “Định hướng xã hội chủ nghĩa” chính là 19
nét đặc sắc nổi bật, thể hiện bản chất nhân văn, tiến bộ; sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam chính là đặc trưng quan trọng nhất trong việc thực hiện tầm
nhìn phát triển Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay được đánh giá có triển vọng tốt, là một
trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Để thực
hiện tầm nhìn đó, trước hết phải vững vàng trên nền tảng tư tưởng, lý luận của
Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định sự lãnh
đạo của Đảng; kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định nhất quán quan điểm: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây
dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo
đảm quốc phòng và an ninh là trọng yếu, thường xuyên.
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy, xây dựng thể chế phát triển đồng bộ cả
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Chú trọng hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực phát triển. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, đổi mới
mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên khoa học - công
nghệ, đổi mới sáng tạo; tạo nền tảng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tham
gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Thực hiện tăng
trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, không để người dân bị tụt lại phía sau
trong quá trình phát triển.
Thứ hai, tăng cường xây dựng con người và nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát huy nguồn lực văn hoá, con người Việt Nam
thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của đất nước. Tạo môi trường và điều kiện
xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm 20