Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ ----------*---------- BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận
dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
Nhóm thực hiện: Nhóm 2
Lớp học phần: 2292HCMI0111
Giáo viên hướng dẫn: ThS Ngô Thị Minh Nguyệt
Hà Nội, tháng 10 năm 2022 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2 STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá 12 Phạm Phan Anh Lời mở đầu, Phần I
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 13 Trần Minh Anh Thuyết trình
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 14 Trần
Nguyễn Phần II, Tài liệu tham Thái độ làm việc nghiêm túc, Phương Anh khảo, kết luận
hoàn thành đúng thời hạn 15 Trần Thị Kiều Anh Phần IV
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 16
Trần Thị Quỳnh Anh Word, nội
dung ppt,đề Thái độ làm việc nghiêm túc, (nhóm trưởng) cương sơ lược
hoàn thành đúng thời hạn 17 Chu Hiểu Ánh Powerpoint
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 18 Đào Thị Ngọc Ánh Thuyết trình
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 19 Đỗ Thị Ngọc Bích Phần III
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 20 Nguyễn Ngọc Bích Powerpoint
Thái độ làm việc nghiêm túc,
hoàn thành đúng thời hạn 2 MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................4
B. NỘI DUNG CƠ BẢN...................................................................................................5
I. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người.............................................................5 II.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người.........................................7
1. Con người là mục tiêu của cách mạng:....................................................................8
2. Con người là động lực của cách mạng:..................................................................10
III. Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người.............................................12
1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người..................................................................12
2. Nội dung xây dựng con người..............................................................................14
3. Phương pháp xây dựng con người.......................................................................17
IV.Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay..................................................19
1. Sự cần thiết trong vận dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh về con người trong sự nghiệp
đổi mới......................................................................................................................19
2. Thực trạng của việc vận dụng của Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng con người..........................................................................................................20
3. Giải pháp...............................................................................................................26
C. KẾT LUẬN.................................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................29 3 A. LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đi tìm đường, mở đường, dẫn đường cho sự phát
triển của dân tộc Việt Nam theo mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là
mục tiêu và con đường duy nhất đúng ở Việt Nam sau khi các phong trào yêu nước theo
tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản bị thất bại. Nâng cao bản lĩnh chính trị, tầm trí
tuệ, luôn luôn đổi mới sáng tạo, không bao giờ từ bỏ mục tiêu, con đường mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn phải luôn luôn là quan điểm nhất quán của Đảng, trở thành
hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta trong công cuộc đổi mới. Tư tưởng, đạo
đức, phong cách là tổ hợp các thành tố nói lên toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, là những giá trị văn hóa trường tồn, dẫn đường cho dân tộc ta đi lên.
Toàn Đảng, toàn dân ta tìm thấy trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh những giá trị của
sự phát triển, của khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ.
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là những yếu tố truyền cảm hứng
cho nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân trong công cuộc đổi mới, vượt qua
muôn vàn khó khăn, thử thách, tiến hành nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở để Đảng và nhân dân ta
xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Trong tất cả các nguồn lực để phát triển thì nguồn lực con người Việt Nam là quan
trọng nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao giá trị, suy nghĩ, các vấn đề về con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh cho rằng con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội – lịch
sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất về tinh thần và xã hội. Hồ chủ
tịch xác định con người là trung tâm của vũ trụ, là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của cách mạng và tiến bộ xã hội. Từ đó tư tưởng Hồ Chí Minh về con người được
biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, đa dạng và vô cùng phong phú về nội dung, nó
được thể hiện trong từng việc làm, cử chỉ và mối quan tâm của mỗi con người. Bài học số
một của Đảng ta được người dạy lại cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất người tin tưởng
giao phó lại cho Đảng trước khi rời đi là: “Ngay khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước thắng lợi thì “đầu tiên là công việc đối với con người”, tức phải có các chính sách 4
xã hội, giúp đỡ đối với con người, người dân. Điều này đã làm cho vấn đề con người
trong tư tưởng của Hồ Chí Minh có giá trị trường tồn, bất hủ với xây dựng và phát huy
nhân tố con người Việt Nam hiện nay. Cách mạng và quá trình đấu tranh giành độc lập,
giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc đã và đang phát huy yếu tố con người, khẳng định
bản lĩnh trí tuệ của nhân dân ta, đó là những việc mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang thực
hiện trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Vậy nên để làm rõ vấn đề nhóm chúng em đã phân tích và lựa chọn đề tài “Phân
tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn
hiện nay” để làm sáng tỏ vấn đề này. B. NỘI DUNG CƠ BẢN
I. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
Con người là một dạng chỉnh thể, thống nhất về trí lực, tâm lực, thể lực, đa dạng bởi
mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cũng như các mối quan hệ xã hội. Con người luôn có
xu hướng vươn lên cái Chân - Thiện - Mỹ, mặc dù “có thế này, thế khác”. Hồ Chí Minh
đề cập đến con người trong tính đa dạng: đa dạng trong quan hệ xã hội (quan hệ dân tộc,
giai cấp, tầng lớp, đồng chí, đồng bảo...); đa dạng trong tính cách, khát vọng, phẩm chất,
khả năng, cũng như năm ngón tay dài ngắn khác nhau nhưng đều hợp lại nơi bàn tay;
mấy mươi triệu người Việt Nam, có người thế này, thế khác, nhưng đều cùng là nòi giống
Lạc Hồng; đa dạng trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc…Hồ Chí Minh
xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập: thiện và ác, hay và dở, tốt và
xấu, hiền và dữ... Bao gồm tính người - mặt xã hội và tính bản năng - mặt sinh học của
con người. Theo Hồ Chí Minh con người có tốt, có xấu, nhưng “dù là xấu, tốt, văn minh
hay dã man đều có tình".Đối với Hồ Chí Minh, con người tồn tại vừa là tư cách cá nhân,
vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá
nhân hải hoa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa
hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bão cả nước. Rộng nữa là
cả loài người". Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người
một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi,
mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người 5
với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô
cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân
không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được.
Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhẫn không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi người đều có
tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình".
Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một
nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể
phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật.
Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan
hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.
Hồ Chí Minh chỉ ra yếu tố sinh vật của con người, con người muốn tồn tại thì phải
có ăn, mặc, ở, đi lại... Nhưng đời sống con người không chỉ dừng lại ở vật chất, mà còn
những nhu cầu tinh thần, văn hóa là những đặc trưng của con người. Tất cả nhu cầu về
vật chất và tinh thần đó được đáp ứng hay không, lại hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ xã
hội, vào hình thái kinh tế - xã hội mà con người đang sống. Người nói: “Người ta ai cũng
cần có ăn, có mặc...” vì đây là những điều thiết yếu để tồn tại. Người vẫn nhớ và thường
nhắc lại “Dân vi thực vi thiên” (dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời).
Lại có câu “có thực mới vực được đạo” (không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả). Từ
đó ta thấy việc quan tâm đến cái ăn, cái mặc, cái ở của nhân dân luôn luôn đặt lên hàng
đầu trong quan tâm của Hồ Chí Minh. Trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách,
nhiệm vụ phải thực hiện ngay làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành.
Hồ Chí Minh nhìn nhận con người lịch sử- cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp… Con người nhìn nhận qua bản chất con người xã
hội.Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối
quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới. Khẳng
định sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người là sự
nghiệp của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, với tinh thần “phải
đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Hồ Chí Minh nhìn thấy sức mạnh của giai cấp vô sản,
của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam không chỉ những gì đã được bộc lộ, mà còn ở 6
những gì tiềm ẩn bên trong những lực lượng to lớn ấy. Người tin tưởng sâu sắc rằng khi
giai cấp vô sản, nhân dân lao động các dân tộc thuộc địa trên thế giới thức tỉnh, tổ chức
và đấu tranh theo đường lối đúng đắn thì sức mạnh sẽ trở thành vô địch và nhất định sẽ
giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng độc lập dân tộc và xây dựng CNXH. Hồ Chí
Minh đã đi đến tổng kết, một dân tộc dù nhỏ bé sẽ không bị một dân tộc lớn gấp hàng
chục lần thôn tính và đồng hóa nếu dân tộc ấy phát huy được sức mạnh con người những
phẩm chất tinh thần, tư tưởng và văn hóa. Đối với dân tộc Việt Nam, con người làm ra
lịch sử, nhân dân là chủ thể của lịch sử, là chân lý cụ thể, sinh động đã được Hồ Chí
Minh củng cố và nâng cao thành triết lý nhân sinh. Triết lý nhân sinh này đã được phát
huy và đã được chứng minh hùng hồn trong lịch sử hiện đại của dân tộc. Phải đương đầu
với hai đế quốc to, trong khi lực lượng ta yếu về nhiều mặt, nhưng Hồ Chí Minh vững tin
ở nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ biến ít thành nhiều, nhỏ thành lớn, yếu thành
mạnh, tạo được cả thế và lực để giành thắng lợi. Trên cơ sở nhận thức văn hóa, trí tuệ là
một động lực vô cùng to lớn đối với một con người cũng như đối với mọi dân tộc. Nếu
không có văn hóa, trí tuệ thì con người không thể phát huy được những phẩm chất, năng
lực của mình một cách có hiệu quả, dựa trên việc nhận thức và hành động theo quy luật
khách quan. Chính vì thế, trong suốt cuộc đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh luôn coi giáo dục và đào tạo là một chiến lược cơ bản.
Nét đặc sắc trong tiếp cận con người của Hồ Chí MInh là luôn gắn con người với
giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, dân tộc.. trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa
dân tộc là động lực của sự phát triển đất nước, giải phóng con người. Người đã đưa ra
một luận điểm quan trọng và khẳng định: ”Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội, trước hết
cần có những con người Xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được
khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là
động lực của chính sự nghiệp đó. Con người là mục tiêu đồng thời là động lực của giải
phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.
II. Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
1. Con người là mục tiêu của cách mạng:
Con người là chiến lược đầu tiên trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh.
Mục tiêu này được cụ thể hóa trong ba giai đoạn cách mạng (giải phóng dân tộc - xây 7
dựng chế độ dân chủ nhân dân – tiến dần lên xã hội chủ nghĩa) nhằm giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Giải phóng dân tộc là cách thống trị của chủ nghĩa đế quốc giành lại độc lập cho
dân tộc con người trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc Việt Nam phạm vi
thế giới và giải phóng các dân tộc thuộc địa.Giai đoạn trước khi giành được chính quyền
thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc
giải phóng cao hơn hết thảy". Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều
sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ
bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" lại ở bậc
cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ
họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu
nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời
điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa
III Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: "Chúng ta phải hết sức
chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình
thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều... những gia
đình thu nhập thấp, đông con"
Giải phóng xã hội là đưa xã hội phát triển thành một xã hội không có chế độ người
bóc lột người, một xã hội có nền sản xuất phát triển cao và bền vững văn hóa tiên tiến
mọi người là chủ và làm chủ xã hội, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, một xã hội
văn minh tiến bộ, xã hội đó phát triển cao nhất là xã hội cộng sản giai đoạn đầu là xã hội
xã hội chủ nghĩa. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại
được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến
quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: "Làm cho dân có ăn. Làm cho
dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành".Sau năm 1954, miền Bắc
đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai,
từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc
phải "nâng cao dần mức sống của nhân dân... đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông
dân". Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã
hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu 8
cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho
phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn
luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí
Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để
giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời
sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có
thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả
là do con người... Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.
Giải phóng giai cấp là xóa bỏ sự áp bức bóc lột của giai cấp này với giai cấp khác,
xóa bỏ sự bất công bất bình đẳng xã hội, xóa bỏ nền tảng kinh tế xã hội sinh ra sự bóc lột
giai cấp, dần dần thủ tiêu sự khác biệt giai cấp, các điều kiện dẫn đến sự phân chia xã hội
thành giai cấp và xác lập một xã hội không có giai cấp. Con người trong giải phóng xã
hội là các giai cấp cần lal, trước hết là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Phạm vi
thế giới là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước.
Giải phóng con người là xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con người; xóa
bỏ các điều kiện xã hội làm tha hóa con ngưng, làm cho mọi người được hưởng tự do
hạnh phúc có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo làm chủ xã hxã, làm chủ tự nhiên và
làm chủ bản thân phát triển toàn diện theo đúng bản chất tốt đẹp của con người. Con
người trong giải phóng con người là cá nhân mỗi con người. Phạm vi thế giới là giải
phóng loài người Nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người
thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người.
Điều đó cho thấy cái "bất biến" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng
với cái "vạn biến" của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: "Tất cả những người lao động
trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung
sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước
phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần".
Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ
trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: lợi ích, quyền hạn, công
việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều
nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: dân 9
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc
làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của
cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước
nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người,
từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy
nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay
bại của sự nghiệp cách mạng.
2. Con người là động lực của cách mạng:
Hồ Chí Minh đề cập đến con người theo phạm vi và nhiều nghĩa rộng, hẹp khác
nhau. Nghĩa hẹp, con người chỉ phạm vi gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè. Nghĩa rộng,
trong phạm vi quốc gia là đồng bào cả nước. Nghĩa rộng hơn, trong phạm vi quốc tế là
nhân loại. Hồ Chí Minh đặt con người trong quan hệ gắn bó với khối thống nhất của cộng
đồng dân tộc, nhưng không phải là một khối đồng nhất mà bao gồm nhiều dân tộc, nhiều
giai cấp, nhiều tầng lớp, có lợi ích riêng và chung, có thái độ và vai trò khác nhau đối với
sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh bàn đến “con người” theo nghĩa chung
là “phẩm giá con người”, “giải phóng con người”. Nói đến con người, Hồ Chí Minh xem
xét trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp; theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp;
trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc và quan hệ quốc tế, quan điểm của Người
thống nhất lập trường giai cấp, lập trường dân tộc. Hồ Chí Minh đề cập đến con người
trước hết là nói đến dân, tuyệt đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức,
vừa là lực lượng đông đảo trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là lực lượng có tinh
thần, tiềm lực cách mạng to lớn nhất.
Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập
ở ba cấp độ là: nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi
một con người cụ thể - tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí
Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán
bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc
kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn
quý nhất của xã hội”... 10
Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi
quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu
nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý”
đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh
là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác
phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể
từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Hồ Chí Minh yêu dân còn thể hiện ở niềm tin vào dân “đằng sau sự phục tùng tiêu
cực, người Đông dương giấu cái gì đang sục sôi, đang gào thét và sẽ bùng nổ khi thời cơ
đến”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, phải tin dân, dựa vào dân. Hồ
Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và tính sáng tạo của quần chúng nhân dân.
Đã là người cộng sản thì phải tin dân và niềm tin sẽ tạo nên sức mạnh cho người cộng
sản. Tình yêu thương vĩ đại của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ suốt đời đấu tranh cho
tự do và hạnh phúc cho mọi người. Lo cho thiên hạ trước, lo cho mình sau. Theo Hồ Chí
Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng
lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Vì vậy, “việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu,
việc khó mấy có dân liệu cũng xong”. Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất
và tinh thần. Người phân tích phẩm chất tốt đẹp của nhân dân từ lòng trung thành và tin
tưởng vào cách mạng, vào Đảng, không sợ gian khổ, hy sinh đến việc dân nhường cơm sẻ
áo, đùm bọc, nuôi nấng bộ đội và cán bộ cách mạng.
Tin dân còn được nhận thức từ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ. Nếu
không có dân thì Chính phủ không đủ lực lượng; nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường. 11
Tin dân ở Hồ Chí Minh còn xuất phát từ niềm tin vào tình người. Con người phải
vươn tới chân – thiện – mỹ, con người có tốt, có xấu nhưng dù tốt, xấu đều có tình. Giữ
vững niềm tin vào dân thì phải chống các bệnh “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân
dân; không tin cậy nhân dân; không hiểu biết nhân dân; không yêu thương nhân dân”.
Bệnh này sẽ dẫn đến “hỏng việc”.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn,
quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý
nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là
nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa
từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm
chân lý “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”
III. Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người
1. Ý nghĩa của việc xây dựng con người
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp bách
vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Hồ Chí Minh khẳng định, con người là vốn quý nhất,
nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Xuất phát từ quan điểm “cách
mạng là sự nghiệp quần chúng”, trong toàn bộ hoạt động của mình, Người luôn coi sức
mạnh của nhân tố con người, coi chiến lược con người là chiến lược quyết định thành bại
của cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh “trồng người” là để đào tạo, giáo dục con
người phục vụ sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Trồng người” là
nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa chuẩn bị cho
tương lai. Đó là một sự nghiệp to lớn đòi hỏi vừa phải có chiến lược cơ bản, lâu dài, vừa
phải có chính sách và kế hoạch toàn diện, cụ thể, khoa học, gắn với chiến lược và chính
sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.
Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất
nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Xây dựng, phát triển con người có vai trò vô cùng quan trọng đối với mục tiêu phát triển
và tiến bộ xã hội vì nó góp phần kiến tạo nền tảng tinh thần cho đất nước; tạo động lực,
nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững đất nước và khẳng định tính ưu việt của chế 12
độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế, Đảng ta luôn chú trọng công tác xây dựng, phát triển
con người Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay.
Xây dựng, phát triển con người là quá trình tác động có chủ đích của các chủ thể để tạo
điều kiện và cơ hội cho con người phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức, thể lực và
năng lực thẩm mỹ. Vì vậy, xây dựng, phát triển con người là vấn đề trung tâm của xây
dựng, phát triển văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội.
Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi bật làm sáng tỏ sự cần thiết xây dựng con người.
“Vì lợi ích trăm năm thì phải “trồng người”. “Trồng người” là công việc lâu dài, gian
khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo dục.
“Trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ nghĩa xã
hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Nhiệm vụ
“trồng người” phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. “Trồng người” phải được tiến hành bền bỉ, thường
xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của
cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng người” là trách nhiệm
của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị-xã hội kết hợp với tính tích cực, chủ động
của từng người. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con
người xã hội chủ nghĩa”. Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa,
con người xã hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải chờ cho
kinh tế, văn hóa phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không
phải xây dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu và phải được
quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Trước hết cần phải có những
con người xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu trước hết cần có những con người với những
nét tiêu biểu của xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã
hội chủ nghĩa. Đó là những con người đi trước, làm gương lôi cuốn người khác theo con
đường xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bất cứ phong trào cách mạng nào,
tiên tiến là số ít và số đông là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải
nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”. 13
2. Nội dung xây dựng con người
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội chủ
nghĩa và năng lực làm chủ. Theo Người, "hồng thắm", "chuyên sâu"; "có đức", "có tài"
phải được kết hợp chặt chẽ với nhau. Có đức mà không có tài, hồng thắm mà không
chuyên sâu chỉ như ông bụt ngồi ở chùa, chả làm lợi gì cho ai và chẳng hại đến ai thì xã
hội ta không cần đến họ. Ngược lại, có tài mà chẳng có đức, có chuyên sâu mà không
hồng thắm thì như anh làm kinh tế giỏi, nhưng lại hay tham ô, thụt két, chỉ có lợi riêng
cho anh ta, chẳng những không có ích gì cho xã hội mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống xã hội. Xây dựng con người toàn diện với những khía cạnh chủ yếu sau:
- Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọi
người, mọi người vì mình”. Xây dựng những con người biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích
cá nhân và lợi ích cộng đồng. Bác Hồ là người đứng đầu một nước nhưng Người luôn đặt
mình bình đẳng như bao người xung quanh. Cả cuộc đời vì dân, vì nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã gần như quên đi những gì thuộc về bản thân mình. Bác không đặt ra một quyền
lợi đặc biệt nào cho bản thân mà luôn ân cần quan tâm đến những điều nhỏ nhoi, bình dị
nhất của mọi người. Bác đã nêu một tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ cán bộ hôm
nay, mai sau và mãi mãi. Đó là mình vì mọi người, mọi người vì mình.
- Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ Tổ quốc. Cần là lao động cần cù,
siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực
cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại. Cần là chuẩn mực đạo đức của dân tộc Việt
Nam. Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống của dân tộc, Người đã đưa thêm vào trong đó
một nội dung mới. Cần không chỉ là yêu lao động mà lao động phải có kỷ luật, có kỹ
thuật, có chất lượng, có năng suất. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết
kiệm tiền của của nhân dân của đất nước, của bản thân. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to;
“Không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Dựng nước và giữ nước cũng như xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn đi đôi với nhau đã trở thành quy luật tồn tại và phát triển
của dân tộc Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ khi chiến tranh xảy ra mà cần phải
chuẩn bị nghiêm túc trong thời bình, sẵn sàng giành thế chủ động. Sự nghiệp xây dựng 14
đất nước, tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải
được kết hợp chặt chẽ với nhau, và là yêu cầu tất yếu.
- Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng. Lòng yêu nước là một
trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước được hiểu là
tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng và tinh thần, trách nhiệm bảo vệ, dựng xây đất
nước của con người.Tinh thần quốc tế trong sáng: Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương
yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản trên toàn thế giới, với các dân tộc và nhân dân trên
thế giới. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết với những chính sách đúng đắn, kịp thời,
linh động, với lòng yêu nước và sức đoàn kết hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt
trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi. Bài học quý giá đó đang được
phát huy cao độ trong tình hình hiện nay, nhất là phòng, chống dịch COVID-19.
- Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương.
Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện bằng phong cách sâu sát
quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến
của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Hồ Chí Minh yêu cầu cán
bộ, đảng viên gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bản thân Người
luôn là tấm gương sáng về phong cách gần dân. Sự gần gũi đó được thể hiện ngay từ phút
đầu tiên Người ra mắt quốc dân. Khi vừa đọc một đoạn Tuyên ngôn Độc lập, Người đã
dừng lại hỏi: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?". Chỉ là một câu hỏi thôi, một câu hỏi
bình dị, tự nhiên mà thực sự đã làm xúc động trái tim hàng chục triệu đồng bào toàn
quốc! "Cả muôn triệu một lời đáp: Có! Như Trường Sơn say gió Biển Đông". Đó là một
điển hình mẫu mực về mối quan hệ gần gũi, thân thiết hiếm có giữa lãnh tụ với quần
chúng, ngay ở những giây phút lịch sử trang trọng nhất. Phong cách dân chủ được thể
hiện qua việc Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể,
lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và
hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung
dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, mọi cán bộ, đảng viên
phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập
thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Hồ Chí 15
Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức,
mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và
Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt - một hình thức Diên Hồng
của thời đại mới - để xin ý kiến các đại biểu quốc dân. Người yêu cầu lắng nghe ý kiến
của đảng viên, của nhân dân, của những người "không quan trọng". Muốn thế, người lãnh
đạo phải đề cao, mở rộng dân chủ, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong các cơ quan
đại biểu của dân. Người năng đi xuống cơ sở, để lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của
quần chúng, chứ không phải để huấn thị. Theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết
phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt,
phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Trước hết cần nêu
gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc. Đối với mình phải
không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để
phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt
hằng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà,
không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải
giữ nguyên tắc "dĩ công vi thượng" (để việc công lên trên, lên trước việc tư). Muốn nêu
gương được thì nói phải đi đôi với làm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy
gian khổ, hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho
mọi người học tập và noi theo. Để giáo dục bằng nêu gương đạt kết quả cao, Người chủ
trương: "Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong
những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con
người mới, cuộc sống mới". Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh
chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy giáo, cô giáo là tấm gương cho
học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này
có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hằng ngày, người cán bộ, đảng viên
chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong
sáng, mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều
thiện, chống lại thói hư, tật xấu.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch
chủ nghĩa cá nhân; bồi dưỡng về năng lực trí tuệ, trình độ lý luận chính trị, văn hóa, khoa
học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, sức khỏe. 16
3. Phương pháp xây dựng con người.
Mỗi người tự rèn luyện, tu dưỡng ý thức, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ chế, tính
khoa học của bộ máy và tạo dựng nền dân chủ. Việc nêu gương, nhất là người đứng đầu,
có ý nghĩa rất quan trọng. Hồ Chí Minh thường nói đến “tu thân, chính tâm” thì mới có
thể “trị quốc, bình thiên hạ” (làm những việc có lợi cho nước, cho dân). Văn hóa phương
Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”
và “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Hồ Chí Minh thường nhắc lại những điều ấy trong khi
bàn biện pháp xây dựng con người. Người nói rằng “lấy gương người tốt, việc tốt hằng
ngày để giáo dục lẫn nhau” là rất cần thiết và bổ ích. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan
tâm, chú ý tới phương pháp nêu gương, thống nhất giữa lời nói với việc làm, giữa lý luận
với thực tiễn. Gương mẫu trong việc làm, trong cuộc sống, mỗi cán bộ, đảng viên phải
gương mẫu trước quần chúng, nêu gương tốt để quần chúng noi theo. Người chủ trương
viết sách về người tốt, việc tốt nhằm nêu gương những chiến công nổi bật, vang dội,
những công việc ích nước lợi dân, từ đó lôi cuốn đông đảo nhân dân kể cả các cụ già,
cháu nhỏ thi đua làm việc tốt. Đó cũng là cách khơi dậy các tiềm năng tốt đẹp như tinh
thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục sẵn có ở người Việt Nam. Đây là
những chất liệu để xây dựng con người mới phát triển toàn diện.
Biện pháp giáo dục có một vị trí quan trọng. Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng “hiền, giữ
của con người không phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Theo Người, các
cháu mẫu giáo, tiểu học như tờ giấy trắng. Chúng ta vẽ xanh thì xanh, vẽ đỏ thì đỏ. Nói
như vậy để thấy giáo dục rất quan trọng trong việc xây dựng con người. Để thực hiện
chiến lược “trồng người”, cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là biện pháp
quan trọng bậc nhất. Bởi vì, giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng
cho thanh niên. Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên. Nội dung và
phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ; phải đặt đạo đức, lý tưởng và
tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. “Trồng người” là công việc
“trăm năm”, không thể nóng vội “một sớm một chiều”, “việc học không bao giờ cùng,
còn sống còn phải học”. Giáo dục phải coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc, là nền
tảng cho tài năng phát triển. Người đã từng căn dặn: “Trong giáo dục không phải chỉ có
tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Mục đích của giáo dục bây giờ là phục
vụ nhân dân, phục vụ Tổ Quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới”. 17
Chú trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Thông qua
các phong trào cách mạng như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt”. Thấm nhuần
sâu sắc rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thi đua yêu nước chính là phát huy
sức mạnh nội lực của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Người nhấn
mạnh “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua
giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết, chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự
phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua”. Thi đua yêu nước là
hoạt động sáng tạo, tích cực trong lao động, trong công việc hàng ngày của mỗi người, do
đó đã trở thành hoạt động tư tưởng và tinh thần, là biểu hiện của lòng yêu nước, tinh thần
đấu tranh cách mạng, sự hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của
nhân dân. Thi đua yêu nước cũng gắn liền với tự phê bình và phê bình, vì tự phê bình và
phê bình sẽ giúp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế trong quá trình tổ chức và thực
hiện các phong trào thi đua yêu nước. Qua đó, không chỉ góp phần động viên mọi người,
mọi nhà, mọi ngành, mọi địa phương tập trung tinh thần và lực lượng thi đua, đoàn kết
nội bộ, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, mà còn cổ vũ mọi người nỗ lực tu
dưỡng đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đặc biệt phải dựa vào
quần chúng theo quan điểm “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ
chức của ta”. Khi xây dựng tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần
chúng, Bác đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Sức mạnh chiến đấu của tổ
chức dựa trên sức mạnh và hiệu quả của tập trung dân chủ, của việc thực hành dân chủ và
tập trung một cách tự giác và nhất quán trong các tổ chức và của mỗi thành viên.
Có dân chủ mới thúc đẩy và phát huy tính chủ động, sáng tạo, mới nuôi dưỡng và phát
triển được tài năng. Có tập trung sức mạnh mới được nhân lên, mới thống nhất được ý chí
và hành động vì mục tiêu chung của cách mạng. Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định
sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở tôn trọng và phát huy dân chủ. Người diễn đạt điều này
một cách cô đọng: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung”. 18
IV.Sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
1. Sự cần thiết trong vận dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh về con người trong sự nghiệp đổi mới
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên
cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa
nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trước hết, bối cảnh thế giới đã và đang có những thay đổi vô cùng to lớn dưới tác
động của những biến động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong khi hòa bình, hợp
tác phát triển vẫn đang là xu thế chung, cần thiết cho cuộc sống của mọi quốc gia, dân
tộc, thì xung đột cục bộ, cạnh tranh chiến lược, nhất là cạnh tranh giữa các cường quốc
đang diễn ra ngày càng phức tạp và gay gắt hơn. Tranh chấp không gian sống, nhất là
tranh chấp biển đảo trên Biển Đông do chính sách cường quyền nước lớn vẫn còn phức
tạp, có nguy cơ nổ ra xung đột bất cứ lúc nào. Các nước lớn vừa cạnh tranh, vừa thỏa
hiệp, hợp tác với nhau vì mục đích lợi ích của mình. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ
nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cường quyền trong quan hệ quốc tế có
chiều hướng gia tăng. Các thể chế toàn cầu cũ hầu hết không còn giữ được vai trò, vị thế
ban đầu trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chung của nhân loại. Các thể chế đa
phương khu vực, toàn cầu mới đã và đang hình thành cũng chứ đủ sức thuyết phục, chưa
đủ khả năng thay thế các thể chế cũ. Các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách
thức không dễ giải quyết.
Cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư, một mặt mang lại nhiều điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, nhất là các quốc gia giàu có, có tiềm
lực kinh tế, khoa học - công nghệ mạnh. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra thách thức không nhỏ
đặt ra đối với nhiều nước, nhất là các nước nhỏ, hạn chế về tiềm lực kinh tế, khoa học -
công nghệ chưa phát triển. Nếu không tranh thủ các điều kiện thuận lợi, tận dụng các
nguồn lực, các khả năng để phát triển theo kịp những tiến bộ do cách mạng công nghiệp
lần thứ tư mang lại, một số quốc gia có thể bị tụt hậu nhanh chóng.
Trong nước, sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực Cương lĩnh 1991 và nhất là 10 năm
thực hiện cương lĩnh 2011, đất nước ta đã thu được những thành tựu phát triển to lớn, có 19
ý nghĩa lịch sử. Tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước đã được nâng lên, đời
sống nhân dân đã được cải thiện căn bản, rõ rệt. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đứng
trước nhiều khó khăn, thách thức. Nền kinh tế của đất nước phát triển chưa bền vững,
trong khi sự hội nhập quốc tế đã rất sâu và phải thực hiện một loạt cam kết quốc tế ở trình
độ cao của những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Những nguy cơ về tụt hậu,
chệch hướng, tham nhũng lãng phí, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, diễn
biến hòa bình… chưa ngăn chặn, đẩy lùi một cách cơ bản, có mặt, có nơi, có lúc còn biểu
hiện gay gắt, phực tạp. Vấn đề bảo vệ hòa bình, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, ứng phó kịp thời với biến đổi khí hậu, giữ
vững ổn định chính - trị xã hội, là những thách thức trực tiếp đối với công cuộc xây dựng,
phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trước những khó khăn, thách thức đó, cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh về phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực, mọi tiềm
năng sáng tạo của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giữ vững và phát huy giá trị
độc lập, tự do của dân tộc.
2. Thực trạng của việc vận dụng của Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người
a, Thành tựu của Đảng về vai trò của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
- Từ đại hội VI đến đại hội XII
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của dân tộc ta, có ý nghĩa chiến
lược quan trọng, định hướng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển con người Việt Nam
hôm nay và mai sau. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng của Người, trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến việc xây dựng, phát triển con người Việt Nam về mọi mặt.
Từ Đại hội VI, cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã từng bước
nhận thức đúng đắn về vai trò của nhân tố con người, coi con người là trung tâm trong
quá trình phát triển xã hội. Đường lối, chính sách của Đảng đã khẳng định nguồn lực con 20