MỤC LỤC
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA KẾT QUẢ THAM GIA LÀM
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN LUẬT CẠNH TRANH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................1
I. Giới thiệu về vụ việc tập trung kinh tế............................................................................1
1.1. Nội dung vụ việc tập trung kinh tế...........................................................................1
1.2.1. Về phía bên mua..................................................................................................2
1.2.2. Về phía bên bán....................................................................................................2
II. Những vấn đề cần làm trong vụ việc của Luật Cạnh tranh năm 2018..................3
2.1. Hình thức tập trung kinh tế, thị trường liên quan phân loại tập trung kinh tế
.............................................................................................................................................3
2.1.1. Hình thức tập trung kinh tế.................................................................................3
2.1.2. Thị trường liên quan............................................................................................3
2.1.3. Phân loại tập trung kinh tế..................................................................................3
2.2. Thông báo tập trung kinh tế.....................................................................................4
2.3. Hồ thông báo tập trung kinh tế............................................................................4
2.4. Thẩm định hồ tập trung kinh tế...........................................................................5
2.4.1. Thẩm định bộ việc tập trung kinh tế..............................................................5
2.4.2. Thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế.....................................................7
2.5. Kết quả trên thực tế về việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk GTNfoods.......7
III. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy định
tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004..........................................................7
3.1. Phân tích vụ việc tập trung kinh tế theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2004. .7
3.2. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004.............................................8
IV. Vướng mắc kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.............................................9
KẾT LUẬN................................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cfng như sự dịch chuyển mạnh mg của nền kinh tế toàn
cầu, xu hướng tập trung kinh tế là hình thức tất yếu trong hoạt đô
ing kinh doanh, đặc
biệt hình thức mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A). ràng, tập trung kinh tế
phương án tiết kiệm hiệu quả để liên kết tài chính thị trường giữa các doanh
nghiệp. Hoạt động tập trung kinh tế Việt Nam mới được khởi động từ năm 2000
nhưng đã chứng kiến những thương vụ lớn chưa từng thấy. Vào cuối năm 2019, thị
trường Việt Nam nói chung thị trường sữa nói riêng đã chứng kiến vụ mua bán
sáp nhập được xem kinh điển giữa công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)
công ty dẫn đầu về thị trường sữa nội địa công ty Cổ phần GTNfoodsFoods
(GTNfoods) công ty chủ quản của công ty Cổ phần Giống sữa Mộc Châu. Trong
thương vụ này, Vinamilk đã chi ra số tiền khủng để mua lại chi phối GTNfoods.
Nhận thấy đây vụ việc tập trung kinh tế nổi bật, nhóm đã chọn vụ việc này để phân
tích theo Luật Cạnh tranh năm 2018 sự đối chiếu với Luật Cạnh tranh năm 2004,
từ đó đưa ra những kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật hiện hành.
NỘI DUNG
I. Giới thiệu về vụ việc tập trung kinh tế
1.1. Nội dung vụ việc tập trung kinh tế
Vào 12/3/2019, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) thông báo Nghị quyết
Hội đồng quản trị về việc chào mua công khai Công ty Cổ phần GTNfoods
(GTNfoods). Thời gian chào mua dự kiến từ 22/4/2019 đến 22/5/2019 với tổng giá trị
chào mua 1.517 tỷ đồng. Trước khi chính thức chào mua công khai, Vinamilk đã sở
hữu 2.32% cổ phần phổ thông của GTNfoods. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến
tháng 11 cùng năm, Vinamilk đã nâng mức sở hữu tại GTNfoods lên 43.17% với giá
trị giao dịch 264.9 tỷ đồng.
Vào ngày 18/12 ngày 19/12 của năm 2019, Vinamilk hoàn tất việc mua vào gần
78.6 triệu cổ phiếu của GTNfoods, tăng tỷ lệ sở hữu từ 43% lên 75% chính thức trở
thành công ty mẹ của GTNfoods [1]. Tại thời điểm đó, công ty chứng khoán VCSC
ước tính Vinamilk đã chi ra tổng cộng 3.400 tỷ đồng để thâu tóm 75% cổ phần của
GTNfoods. thời điểm đó, GTNfoods đang nắm giữ 74,5% Tổng Công ty Cổ phần
1
Chăn nuôi Việt Nam qua đó gián tiếp sở hữu 38% tại Sữa Mộc Châu thương hiệu
lịch sử lâu đời quen thuộc tại thị trường miền Bắc, đặc biệt khu vực nông thôn
[2].
Trước khi tập trung kinh tế, Vinamilk đã nắm tới 58% thị phần sữa Việt Nam [3]
thị phần sữa của GTNfoods chỉ chiếm 2,7% thị phần.
1.2. Các bên tham gia tập trung kinh tế trong vụ việc
1.2.1. Về phía bên mua
Vinamilk tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy Products
Join Stock) được thành lập vào năm 1976, một công ty sản xuất, kinh doanh sữa
các sản phẩm từ sữa cfng như thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam. Đây doanh
nghiệp dẫn đầu về thị phần trong thị trường sữa Việt Nam, thuộc phạm vi 36 công ty
sữa lớn nhất thế giới về doanh thu. Tại Việt Nam, Vinamilk hiện 13 trang trại 13
nhà máy sữa trên cả nước, trong đó 2 siêu nhà máy Nhà máy sữa Việt Nam
Nhà máy sữa bột Việt. Không dừng lại đó, Vinamilk còn xuất khẩu sữa sang thị
trường quốc tế, trong đó một s nước nổi bật như Mỹ, Pháp, Đức...Trước khi mua
lại GTNfoods, vào năm 2013, Vinamilk đã chi 10 triệu đô mua lại nhà máy sữa tại Mỹ
Driftwood, thông qua đó gián tiếp sở hữu công ty TNHH đường Khánh Hòa
thành lập Công ty cổ phần Đường Việt Nam (Vietsugar). Nhờ đó doanh thu Vietsugar
tăng gấp 3 lần, từ đó giúp Vinamilk dần hoàn thiện chuỗi cung ứng chủ động
nguyên liệu. Nhờ những thương vụ M&A đầy khôn khéo, Vinamilk đưa mình vào top
30 công ty sữa lớn nhất về doanh thu [3]. Năm 2018, Vinamilk đã nhập hơn 400
sữa, tăng tổng số lượng hiện nay trong các trang trại Vinamilk hộ nông dân lên
tới hơn 120,000 con, với sản lượng khoảng 800 tấn sữa tươi nguyên liệu mỗi ngày.
1.2.2. Về phía bên bán
GTNfoods tên gọi tắt của Công ty Cổ phần GTNfoods (Gtnfoods joint stock
company). GTNfoods tiền thân Công ty Cổ phần Đầu Sản xuất Thổng Nhất
được thành lập từ năm 2011 thông qua việc tăng vốn điều lệ góp vốn tại các công ty
nhựa, khoáng sản, tre công nghiệp,…
Cuối 2017, GTNfoods năm 35% Công ty Thực phẩm Lâm Đồng (Ladofoods), 95%
Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) 73.72% Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam
(Vilico) qua đó nắm giữ gián tiếp 37.6% Công ty Cổ phần sữa Mộc Châu. Sau khi tái
2
cấu, hoạt động kinh doanh chính của GTNfoods gồm sản xuất và chế biến chè
thông qua Vinatea, sản xuất kinh doanh sữa thông qua sữa Mộc Châu; sản xuất
rượu, nước giải khát xuất khẩu thông qua Ladofoods. Trong đó, sữa mảng đóng
góp chính về doanh thu lợi nhuận của công ty [4].
II. Những vấn đề cần làm trong vụ việc của Luật Cạnh tranh năm 2018
2.1. Hình thức tập trung kinh tế, thị trường liên quan phân loại tập trung kinh
tế
2.1.1. Hình thức tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định bốn hình thức tập trung kinh tế gồm sáp nhập
doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp liên doanh doanh
nghiệp. Điều kiện để việc tập trung kinh tế được xem xét thuộc hình thức o được
quy định chi tiết tại Điều 29 của luật.
Theo đó, với 75% cổ phần Vinamilk nắm giữ của GTNfoods đã giúp cho
Vinamilk kiểm soát được doanh nghiệp này. Như vậy, hình thức tập trung kinh tế giữa
hai doanh nghiệp này mua lại doanh nghiệp với quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 29
của Luật Cạnh tranh hiện hành.
2.1.2. Thị trường liên quan
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2018 xác định thị trường liên quan gồm thị
trường sản phẩm liên quan thị trường của những hàng hóa, dịch vụ thể thay thế
cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng giá cả thị trường địa liên quan
khu vực địa cụ thể trong đó những hàng hóa, dịch vụ được cung cấp thể thay
thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự sự khác biệt đáng kể với các
khu vựa địa lân cận”.
Trong vụ việc tập trung kinh tế, cả Vinamilk GTNfoods đều sản xuất, kinh doanh
sữa. Cả hai công ty đều hoạt động tại thị trường Việt Nam. Như vậy, thị trường sản
phẩm liên quan trong thương vụ này sản phẩm sữa thị trường địa liên quan là
Việt Nam.
2.1.3. Phân loại tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định ba nhóm trong phân loại tập trung kinh tế gồm
phân loại theo chiều ngang, phân loại theo chiều dọc phân loại dạng hỗn hợp. Khi
3
tập trung kinh tế diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng năm một cấp độ trong chuỗi sản
xuất thì sg được xác định tập trung kinh tế theo chiều ngang. Tập trung kinh tế theo
chiều dọc được hiểu tập trung kinh tế diễn ra giữa những doanh nghiệp những cấp
độ khác nhau trong chuỗi sản xuất. Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp xảy ra khi các
doanh nghiệp không phải đối thủ cạnh tranh cfng không những mối quan hệ
mua bán thwujc thực sự tiềm năng trên thị trường liên quan.
Như vậy, tập trung kinh tế của Vinamilk và GTNfoods theo chiều ngang hai
doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh sản phẩm sữa trên thị trường
2.2. Thông báo tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định mỗi vụ việc tập trung kinh tế đều phải thông báo
cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nhưng chỉ những vụ việc tập trung kinh tế thuộc
ngưỡng thông báo tập trung kinh tế thì mới phải thông báo. Ngưỡng thông báo tập
trung kinh tế được quy định tại khoản 2 Điều 33 gồm tổng tài sản trên thị trường Việt
Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, tổng doanh thu trên thị trường Việt
Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, giá trị giao dịch của tập trung kinh
tế thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của giao dịch tập trung kinh tế. Nghị
định 35/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính Phủ Quy định chi tiết một
số điều của luật cạnh tranh đã hướng dẫn cụ thcác tiêu chí trên tại Khoản 1 Điều 13.
Trong thương vụ thâu tóm trên, để nắm được 75% cổ phần của GTNfoods, Vinamilk
đã phải chi 3.400 tỷ đồng. Như vậy, tiêu chí để xác định vụ việc tập trung kinh tế giữa
Vinamilk GTNfoods có thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế hay không tiêu
chí về giá trị giao dịch của tập trung kinh tế. Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 13 của
Nghị định quy định Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế từ 1.000 tỷ đồng trở lên
thì vụ việc Vinamilk mua GTNfoods thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế bắt
buộc phải thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi thực hiện tập trung
kinh tế.
2.3. Hồ thông báo tập trung kinh tế
Khi đã xác định được việc tập trung kinh tế thuộc ngưỡng thông báo thì Vinamilk
GTN phải nộp hồ thông báo tập trung kinh tế tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước
khi tiến hành tập trung kinh tế. Thành phần hồ thông báo tập trung kinh tế được quy
định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Cạnh tranh hiện hành. Bên cạnh đó, các bên phải chịu
4
trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ. Trường hợp tài liệu trong hồ bằng tiếng
nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt.
2.4. Thẩm định hồ tập trung kinh tế
Nhằm xác định xem một vụ việc tập trung kinh tế được phép tập trung kinh tế trên
thực tế hay không thì bước quan trọng nhất chính thẩm định hồ sơ. Luật Cạnh tranh
năm 2018 quy định về hai loại thẩm định gồm thầm định bộ được quy định tại Điều
36 thẩm định chính thức được quy định tại Điều 37. Nếu vụ việc tập trung kinh tế
đáp ứng được yêu cầu của thẩm định bộ thì không cần thẩm định chính thức.
2.4.1. Thẩm định bộ việc tập trung kinh tế
Sau khi đã nộp hồ thông báo tập trung kinh tế, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể
từ ngày tiếp nhận hồ thông báo tập trung kinh tế, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho bên nộp hồ về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ
sơ. Trường hợp hồ chưa đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trách
nhiệm thông báo bằng văn bản c nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung để các bên sửa
đổi, bổ sung hồ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra thông báo (Điều 35). Khi kết
thúc thời hạn bên được yêu cầu không sửa đổi, bổ sung hồ hoặc sửa đổi, bổ
sung không đầy đủ theo yêu cầu thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trả lại hồ thông
báo tập trung kinh tế
Nội dung thẩm định bộ việc tập trung kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 36
Luật Cạnh tranh năm 2018 được hướng dẫn chi tiết tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định
35/2020/NĐ-CP. Thời gian thẩm định bộ hồ tập trung kinh tế 30 ngày, trong
thời gian này, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra thông báo kết quả thẩm định bộ
về việc tập trung kinh tế sg được thực hiện hay không hay phải thẩm định chính thức.
Để thẩm định hồ tập trung kinh tế đòi hỏi quan Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải
tốn rất nhiều thời gian để nghiên cứu, đối chiếu với thị trường các bên tham gia tập
trung kinh tế, bên cạnh đó cfng sg phải hỏi ý kiến chuyên gia.
Tuy nhiên, nhằm áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh vào vụ việc Vinamilk
mua lại GTNfoods, nhóm sg dựa trên thị phần trước khi tập trung kinh tế của hai
doanh nghiệp để từ đó đưa ra những số liệu giả định sau khi tập trung kinh tế theo tiêu
chí được đưa ra.
5
Trước khi tập trung kinh tế, vào năm 2018, Vinamilk đã nắm tới 58% thị phần sữa
Việt Nam thị phần sữa của GTNfoods chỉ chiếm 2,7% thị phần. Sau khi tập trung
kinh tế, Vinamilk sg trở thành công ty chủ quản của GTNfoods, đồng nghĩa với việc
thị phần sữa sg được tính vào thị phần sữa của Vinamilk trên thị trường. Như vậy, dựa
vào thị phần sữa trước khi tập trung kinh tế của cả hai công ty, Vinamilk dự tính sg
chiếm khoảng 60.7%. Mặt khác, thương vụ mua lại GTNfoods của Vinamilk được xét
vào trường hợp tập trung kinh tế theo chiều ngang nên sg chỉ cần xem xét đến những
trường hợp tại điểm a, điểm b, điểm c tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
Điểm a quy định Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập
trung kinh tế ít hơn 20% trên thị trường liên quan”, với thị phần kết hợp dự định
60.7% sau khi tham gia tập trung kinh tế thì vụ việc tập trung kinh tế nhóm đưa ra
không thuộc trường hợp này.
Điểm b quy định Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập
trung kinh tế từ 20% trở lên trên thị trường liên quan tổng bình phương mức thị
phần của các doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan thấp hơn
1.800”. Thị phần kết hợp của Vinamilk GTNfoods nếu tham gia tập trung kinh tế sg
60.7% trên thị trường sữa. Tổng bình phương mức thị phần của Vinamilk
GTNfoods trên thị trường liên quan (hay còn được gọi chỉ số HHI) sau tập trung
kinh tế sg 3684.49. Mặc đáp ứng được tiêu chí về thị phần nhưng với chỉ số HHI
vượt quá 1.800 thì hồ thông báo tập trung kinh tế của Vinamilk GTNfoods sg
không đủ điều kiện để được thẩm định bộ theo trường hợp này.
Điểm c quy định Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
từ 20% trở lên trên thị trường liên quan, tổng bình phương mức thị phần của các
doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan trên 1.800 biên độ
tăng tổng bình phương mức thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan
trước và sau tập trung kinh tế thấp hơn 100”. Thị phần kết hợp của Vinamilk
GTNfoods sg 60.7% trên thị trường sữa đáp ứng được tiêu chí thị phần trong
trường hợp này. Chỉ số HHI của Vinamilk GTNfoods sau khi khi tập trung kinh tế
sg 3684.49, biên độ HHI được dự tính trong thương vụ này sg 17.69. Từ sự đối
chiếu trên, thông báo tập trung kinh tế giữa Vinamilk với GTNfoods sg đủ điều kiện để
được thẩm định bộ theo tiêu chí này sg không phải thẩm định chính thức.
6
Như vậy, với những số liệu giả định sau khi tập trung kinh tế nhóm đưa ra, trong
trường hợp này, việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk GTNfoods sg được thực hiện
trên thực tế.
2.4.2. Thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế
Trường hợp việc tập trung kinh tế không đáp ứng được điểu kiện thẩm định bộ thì
sg được chuyển sang thẩm định chính thức. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sg thẩm định
trong vòng 90 ngày kể từ ngày ra thông báo vụ việc phải thẩm định chính thức, tuy
nhiên, nếu vụ việc đó mang tính chất phức tạp thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể
gia hạn thẩm định chính thức nhưng không quá 60 ngày thông báo bằng văn bản
cho doanh nghiệp nộp hồ thông báo tập trung kinh tế theo khoản 1 Điều 37 Luật
Cạnh tranh. Nội dung thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế được quy định tại
khoản 2 Điều 37 của luật. Trong quá trình này, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyền
được đi tham vấn các quan lĩnh vực liên quan tới vụ việc, hình thức thời hạn
của việc tham vấn được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2018.
Sau khi kết thúc thẩm định chính thức thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra quyết
định về một trong các trường hợp tập trung kinh tế được thực hiện, tập trung kinh tế
điều kiện, tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm.
2.5. Kết quả trên thực tế về việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk GTNfoods
Sau khi thông báo tập trung kinh tế, Bộ Công Thương đã đưa ra văn bản xác định đây
hình thức tập trung kinh tế mua lại doanh nghiệp theo khoản 4 Điều 29, Luật Cạnh
tranh năm 2018 được thực hiện việc tập trung kinh tế trên thực tế [1].
Thêm vào đó, Bộ Công Thương cfng yêu cầu Vinamilk sau khi sáp nhập không được
lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo
khoản 1, Điều 27 12 của Luật Cạnh tranh năm 2018. Doanh nghiệp sau khi tập
trung kinh tế cfng cần báo cáo với Bộ Công Thương khi việc tăng giá sản phẩm
như sữa nước sữa chua, tính hợp của việc tăng giá.
7
III. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004
3.1. Phân tích vụ việc tập trung kinh tế theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2004
Quy định về hình thức tập trung kinh tế (Điều 16), thị trường liên quan phân loại
tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2014 về bản không sự khác biệt với
Luật Cạnh tranh năm 2018. Như vậy, theo Luật Cạnh tranh năm 2004, hình thức tập
trung kinh tế của vụ việc vẫn mua lại doanh nghiệp (khoản 3 Điều 17), thị trường
liên quan thị trường sữa Việt Nam tập trung kinh tế theo chiều ngang.
Mặt khác, tại Điều 18 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định nếu thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên
quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này đã gây khó khăn trong việc
xác định vụ việc nhóm đưa ra liệu bị cấm hay không. Nguyên nhân bởi thị
phần kết hợp giữa Vinamilk GTNfoods dự định sg 60.7%, vượt quá ngưỡng thị
phần luật cho phép n nếu mục đích của thương vụ này không đáp ứng được yêu
cầu của khoản 2 Điều 19 mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế -
hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệthì vụ việc sg thuộc trường hợp bị cấm. Như vậy, việc
Vinamilk mua 75% cổ phần của GTNfoods để kiểm soát doanh nghiệp này vi phạm
pháp luật cạnh tranh năm 2004.
Trong trường hợp vụ việc tập trung kinh tế của Vinamilk GTNfoods được được
hưởng miễn trừ thì sg không cần thông báo việc tập trung kinh tế sg làm đơn thông
báo được hưởng miễn trừ theo quy định tại mục 4 Chương II của Luật Cạnh tranh năm
2004.
3.2. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004
Thứ nhất, về việc c định hành vi tập trung kinh tế bị cấm
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về việc xác định hành vi tập trung kinh tế bị cấm
dựa trên gây tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách
đáng kể trên thị trường Việt Nam”, do đó, với tiêu chí định tính như thế này thì rất khó
để xác định vụ việc nhóm đưa ra bị cấm hay không. Mặc dù, Luật Cạnh tranh
năm 2004 chỉ đưa ra một tiêu chí thị phần để xác định hành vi tập trung kinh tế bị
cấm nhưng lại quy định rất cụ thể về con số, theo đó nếu thị phần kết hợp của các
8
doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”.
Như vậy, nếu áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2004 thì vụ việc Vinamilk mua lại 75% cổ
phần của GTNfoods để trở thành công ty mẹ vi phạm pháp luật.
Mặt khác, tại luật năm 2004, nếu việc Vinamilk chi phối GTNfoods nhằm mở rộng
xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ theo
quy định tại khoản 2 Điều 19 thì sg được phép thực hiện tập trung kinh tế. Như vậy,
mặc Luật Cạnh tranh năm 2004 đưa ra định lượng cụ thể khi nào hành vi tập trung
kinh tế bị cấm nhưng việc đưa ra quy định miễn trừ định tính cfng sg gây ảnh hưởng
lớn đến việc tập trung kinh tế của các doanh nghiệp tham gia.
Thứ hai, về ngưỡng thông báo tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ xác định một tiêu chí duy nhất tại khoản 1 Điều 20
tiêu chí thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan. Tuy nhiên, nếu xét
theo tiêu cthị phần thì vụ việc tập trung kinh tế của Vinamilk GTNfoods đã được
xác định hành vi tập trung kinh tế bị cấm nên sg không được xem xét. Nếu xác định
theo hướng vụ việc này được hưỡng miễn trừ thì theo quy định tại khoản 2 Điều 20,
Vinamilk GTNfoods sg nộp hồ hưởng miễn trừ thay cho việc thông báo.
Tại Luật Cạnh tranh năm 2018, tiêu chí để xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh
tế được quy định tại khoản 2 Điều 33 không chỉ dựa vào thị phần. Dựa trên tiêu chí
giá trị giao dịch thì trong vụ việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk GTNfoods
3400 tỷ đồng nên vụ việc này phải thông báo tập trung kinh tế.
IV. Vướng mắc kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động
hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường tại Điều 33 Luật Cạnh tranh
năm 2018
Các quy định trong chỉ mang tính định tính không các tiêu chí định lượng cụ
thể làm sở để quan cạnh tranh đánh giá các giao dịch tập trung kinh tế. Điều này
sg dẫn đến những thiệt hại to lớn cho cả các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Do đó, cần quy định hơn về những yếu tố đánh giá
khả năng gây hạn chế cạnh tranh khi tập trung kinh tế như đưa ra con số thị phần kết
hợp cụ thể của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan,…
9
Đối với vụ việc Vinamilk mua GTNfoods, nhóm cho rằng không quy định đánh
giá cụ thể về thị phần kết hợp nên vụ việc trên mới được phép thực hiện tập trung kinh
tế. Trên thực tế, trước khi tập trung kinh tế, Vinamilk đang dẫn đầu thị phần sữa trong
thị trường Việt Nam với số thị phần 58%. ràng, nếu nhận thêm thị phần từ Mộc
Châu công ty thành viên của GTNfoods thì thị phần sữa của Vinamilk sg gây ra
những hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường sữa Việt Nam.
Thứ hai, ban hành một hướng dẫn chung về cách thức đánh giá một giao dịch tập
trung kinh tế.
Như đã nêu trên, các văn bản này chỉ quy định các tiêu chí định tính, không các
tiêu chí định lượng cụ thể làm sở để quan cạnh tranh đánh giá các giao dịch tập
trung kinh tế diễn ra dưới nhiều quy hình thức khác nhau. Do đó, để đảm bảo
một cách hiểu áp dụng thống nhất, quan cạnh tranh nên ban hành một hướng dẫn
trong đó nêu quan điểm của quan cạnh tranh trong việc sử dụng các tiêu chí đã
được quy định trong luật nghị định để đánh giá các vụ việc. Chẳng hạn như, trong
việc tính toán mức độ tập trung thị trường, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thể sử dụng
những phương pháp hay tham khảo những phương pháp nào, các chỉ số định lượng
trong các phương pháp đó được sử dụng ra sao [2].
Thứ ba, cần đề ra những quy định linh hoạt về thời gian xem xét giao dịch tập trung
kinh tế hoặc bổ sung nhân lực cho quan cạnh tranh
Việc đánh giá một giao dịch kinh tế dựa trên các yếu tố định tính như trên đã một
thách thức với quan thực thi. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam đặt ra những giới
hạn về thời gian rất hạn chế cho việc xem xét vấn đề này. Theo Luật Cạnh tranh hiện
hành, thời gian cho giai đoạn thẩm định bộ 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ. Thời
gian thẩm định chính thức 90 ngày trong trường hợp phức tạp thể gia hạn
thêm 60 ngày. Tuy nhiên, việc đánh giá một giao dịch tập trung kinh tế thực sự rất
phức tạp cần nhiều thời gian, như vụ tập trung kinh tế giữa Vinamilk GTNfoods,
thương vụ này được nhận xét kinh điển với số vốn cực kỳ khủng quan trọng hơn,
Vinamilk còn doanh nghiệp dẫn đầu trong thị trường sữa. Như vậy, với thời gian
như trên thì việc đánh giá vụ việc này quả áp lực lớn cho quan cạnh tranh sg
dẫn đến những thiếu xót trong quá trình đánh giá.
10
KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên, nhóm đã giới thiệu toàn cảnh thương vụ tập trung kinh tế
M&A giữa Vinamilk GTNfoodsFoods, từ đó phân tích những nội dung liên quan
đến vụ việc theo Luật Cạnh tranh năm 2018 sự đối chiếu với Luật Cạnh tranh
năm 2004. Từ những đối chiếu với luật, nhóm đã đưa ra những đề xuất hoàn thiện
pháp luật cạnh tranh hiện hành thông qua những vướng mắc liên quan tới vụ việc.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M. phương, "Báo Thanh niên," 23 12 2019. [Online]. Available:
https://thanhnien.vn/vinamilk-hoan-tat-thau-tom-ong-chu-sua-moc-chau-185911641.htm.
[Accessed 10 10 2023].
[2] M. Anh, "Báo điện tử Chính Phủ," 05 06 2019. [Online]. Available:
https://baochinhphu.vn/vinamilk-mua-thanh-cong-hon-90-trieu-co-phieu-gtn-
102256948.htm. [Accessed 10 10 2023].
[3] M. Anh, "Nhịp cầu Đầu tư," 13 3 2019. [Online]. Available: https://s.net.vn/EuyK.
[Accessed 10 10 2023].
[4] C. Securities, "Báo cáo phân tích CTCP Sữa Việt Nam (VNM) - Tài chính lành mạnh,
triển vọng lạc quan," 2022.
[5] T. S. Phú, "Công ty cổ phần GTNfoods," 2018.
[6] N. Đ. Hiệp, "HOANGANH IBC LAW FIRM," 31 1 2023. [Online]. Available:
https://s.net.vn/Jqy8. [Accessed 12 10 2023].
[7] P. V. Cao, "Tạp chí Công Thương điện tử - quan thông tin luận của Bộ Công
Thương," Thay đổi cách tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế - những thuận lợi thách
thức đối với quan thực thi, 20 10 2021. [Online]. Available: https://s.net.vn/lmcK.
[Accessed 12 10 2023].

Preview text:

MỤC LỤC
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN LUẬT CẠNH TRANH MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
NỘI DUNG................................................................................................................... 1
I. Giới thiệu về vụ việc tập trung kinh tế............................................................................1
1.1. Nội dung vụ việc tập trung kinh tế...........................................................................1
1.2. Các bên tham gia tập trung kinh tế trong vụ việc..................................................2
1.2.1. Về phía bên mua..................................................................................................2
1.2.2. Về phía bên bán....................................................................................................2
II. Những vấn đề cần làm rõ trong vụ việc của Luật Cạnh tranh năm 2018..................3
2.1. Hình thức tập trung kinh tế, thị trường liên quan và phân loại tập trung kinh tế
.............................................................................................................................................3
2.1.1. Hình thức tập trung kinh tế.................................................................................3
2.1.2. Thị trường liên quan............................................................................................3
2.1.3. Phân loại tập trung kinh tế..................................................................................3
2.2. Thông báo tập trung kinh tế.....................................................................................4
2.3. Hồ sơ thông báo tập trung kinh tế............................................................................4
2.4. Thẩm định hồ sơ tập trung kinh tế...........................................................................5
2.4.1. Thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế..............................................................5
2.4.2. Thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế.....................................................7
2.5. Kết quả trên thực tế về việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk và GTNfoods.......7
III. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy định
tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004..........................................................7
3.1. Phân tích vụ việc tập trung kinh tế theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2004. .7
3.2. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004.............................................8
IV. Vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật.............................................9
KẾT LUẬN................................................................................................................ 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cfng như sự dịch chuyển mạnh mg của nền kinh tế toàn
cầu, xu hướng tập trung kinh tế là hình thức tất yếu trong hoạt đô ing kinh doanh, đặc
biệt là hình thức mua – bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Rõ ràng, tập trung kinh tế
là phương án tiết kiệm và hiệu quả để liên kết tài chính và thị trường giữa các doanh
nghiệp. Hoạt động tập trung kinh tế ở Việt Nam mới được khởi động từ năm 2000
nhưng đã chứng kiến những thương vụ lớn chưa từng thấy. Vào cuối năm 2019, thị
trường Việt Nam nói chung và thị trường sữa nói riêng đã chứng kiến vụ mua bán và
sáp nhập được xem là kinh điển giữa công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) –
công ty dẫn đầu về thị trường sữa nội địa và công ty Cổ phần GTNfoodsFoods
(GTNfoods) – công ty chủ quản của công ty Cổ phần Giống Bò sữa Mộc Châu. Trong
thương vụ này, Vinamilk đã chi ra số tiền khủng để mua lại và chi phối GTNfoods.
Nhận thấy đây là vụ việc tập trung kinh tế nổi bật, nhóm đã chọn vụ việc này để phân
tích theo Luật Cạnh tranh năm 2018 và có sự đối chiếu với Luật Cạnh tranh năm 2004,
từ đó đưa ra những kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật hiện hành. NỘI DUNG
I. Giới thiệu về vụ việc tập trung kinh tế
1.1. Nội dung vụ việc tập trung kinh tế
Vào 12/3/2019, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) thông báo Nghị quyết
Hội đồng quản trị về việc chào mua công khai Công ty Cổ phần GTNfoods
(GTNfoods). Thời gian chào mua dự kiến từ 22/4/2019 đến 22/5/2019 với tổng giá trị
chào mua là 1.517 tỷ đồng. Trước khi chính thức chào mua công khai, Vinamilk đã sở
hữu 2.32% cổ phần phổ thông của GTNfoods. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến
tháng 11 cùng năm, Vinamilk đã nâng mức sở hữu tại GTNfoods lên 43.17% với giá
trị giao dịch là 264.9 tỷ đồng.
Vào ngày 18/12 và ngày 19/12 của năm 2019, Vinamilk hoàn tất việc mua vào gần
78.6 triệu cổ phiếu của GTNfoods, tăng tỷ lệ sở hữu từ 43% lên 75% và chính thức trở
thành công ty mẹ của GTNfoods [1]. Tại thời điểm đó, công ty chứng khoán VCSC
ước tính Vinamilk đã chi ra tổng cộng 3.400 tỷ đồng để thâu tóm 75% cổ phần của
GTNfoods. Ở thời điểm đó, GTNfoods đang nắm giữ 74,5% Tổng Công ty Cổ phần 1
Chăn nuôi Việt Nam và qua đó gián tiếp sở hữu 38% tại Sữa Mộc Châu – thương hiệu
có lịch sử lâu đời và quen thuộc tại thị trường miền Bắc, đặc biệt là khu vực nông thôn [2].
Trước khi tập trung kinh tế, Vinamilk đã nắm tới 58% thị phần sữa ở Việt Nam [3]
và thị phần sữa của GTNfoods chỉ chiếm 2,7% thị phần.
1.2. Các bên tham gia tập trung kinh tế trong vụ việc 1.2.1. Về phía bên mua
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy Products
Join Stock) được thành lập vào năm 1976, là một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và
các sản phẩm từ sữa cfng như thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam. Đây là doanh
nghiệp dẫn đầu về thị phần trong thị trường sữa Việt Nam, thuộc phạm vi 36 công ty
sữa lớn nhất thế giới về doanh thu. Tại Việt Nam, Vinamilk hiện có 13 trang trại và 13
nhà máy sữa trên cả nước, trong đó có 2 siêu nhà máy là Nhà máy sữa Việt Nam và
Nhà máy sữa bột Việt. Không dừng lại ở đó, Vinamilk còn xuất khẩu sữa sang thị
trường quốc tế, trong đó có một số nước nổi bật như Mỹ, Pháp, Đức...Trước khi mua
lại GTNfoods, vào năm 2013, Vinamilk đã chi 10 triệu đô mua lại nhà máy sữa tại Mỹ
là Driftwood, thông qua đó gián tiếp sở hữu công ty TNHH đường Khánh Hòa và
thành lập Công ty cổ phần Đường Việt Nam (Vietsugar). Nhờ đó doanh thu Vietsugar
tăng gấp 3 lần, từ đó giúp Vinamilk dần hoàn thiện chuỗi cung ứng và chủ động
nguyên liệu. Nhờ những thương vụ M&A đầy khôn khéo, Vinamilk đưa mình vào top
30 công ty sữa lớn nhất về doanh thu [3]. Năm 2018, Vinamilk đã nhập hơn 400 cô bò
sữa, tăng tổng số lượng bò hiện nay trong các trang trại Vinamilk và hộ nông dân lên
tới hơn 120,000 con, với sản lượng khoảng 800 tấn sữa tươi nguyên liệu mỗi ngày. 1.2.2. Về phía bên bán
GTNfoods là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần GTNfoods (Gtnfoods joint stock
company). GTNfoods tiền thân là Công ty Cổ phần Đầu tư và Sản xuất Thổng Nhất
được thành lập từ năm 2011 thông qua việc tăng vốn điều lệ và góp vốn tại các công ty
nhựa, khoáng sản, tre công nghiệp,…
Cuối 2017, GTNfoods năm 35% Công ty Thực phẩm Lâm Đồng (Ladofoods), 95%
Tổng công ty Chè Việt Nam (Vinatea) và 73.72% Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam
(Vilico) – qua đó nắm giữ gián tiếp 37.6% Công ty Cổ phần sữa Mộc Châu. Sau khi tái 2
cơ cấu, hoạt động kinh doanh chính của GTNfoods gồm sản xuất và chế biến chè
thông qua Vinatea, sản xuất và kinh doanh sữa bò thông qua sữa Mộc Châu; sản xuất
rượu, nước giải khát và xuất khẩu thông qua Ladofoods. Trong đó, sữa là mảng đóng
góp chính về doanh thu và lợi nhuận của công ty [4].
II. Những vấn đề cần làm rõ trong vụ việc của Luật Cạnh tranh năm 2018
2.1. Hình thức tập trung kinh tế, thị trường liên quan và phân loại tập trung kinh tế
2.1.1. Hình thức tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định bốn hình thức tập trung kinh tế gồm sáp nhập
doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp và liên doanh doanh
nghiệp. Điều kiện để việc tập trung kinh tế được xem xét thuộc hình thức nào được
quy định chi tiết tại Điều 29 của luật.
Theo đó, với 75% cổ phần mà Vinamilk nắm giữ của GTNfoods đã giúp cho
Vinamilk kiểm soát được doanh nghiệp này. Như vậy, hình thức tập trung kinh tế giữa
hai doanh nghiệp này là mua lại doanh nghiệp với quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 29
của Luật Cạnh tranh hiện hành.
2.1.2. Thị trường liên quan
Tại khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2018 xác định thị trường liên quan gồm thị
trường sản phẩm liên quan là “thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế
cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả” và thị trường địa lý liên quan là
“khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ được cung cấp có thể thay
thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các
khu vựa địa lý lân cận”.
Trong vụ việc tập trung kinh tế, cả Vinamilk và GTNfoods đều sản xuất, kinh doanh
sữa. Cả hai công ty đều hoạt động tại thị trường Việt Nam. Như vậy, thị trường sản
phẩm liên quan trong thương vụ này là sản phẩm sữa và thị trường địa lý liên quan là ở Việt Nam.
2.1.3. Phân loại tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định ba nhóm trong phân loại tập trung kinh tế gồm
phân loại theo chiều ngang, phân loại theo chiều dọc và phân loại dạng hỗn hợp. Khi 3
tập trung kinh tế diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng năm ở một cấp độ trong chuỗi sản
xuất thì sg được xác định là tập trung kinh tế theo chiều ngang. Tập trung kinh tế theo
chiều dọc được hiểu là tập trung kinh tế diễn ra giữa những doanh nghiệp ở những cấp
độ khác nhau trong chuỗi sản xuất. Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp xảy ra khi các
doanh nghiệp không phải đối thủ cạnh tranh và cfng không có những mối quan hệ
mua bán thwujc thực sự tiềm năng trên thị trường liên quan.
Như vậy, tập trung kinh tế của Vinamilk và GTNfoods là theo chiều ngang vì hai
doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh sản phẩm sữa trên thị trường
2.2. Thông báo tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định mỗi vụ việc tập trung kinh tế đều phải thông báo
cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nhưng chỉ những vụ việc tập trung kinh tế thuộc
ngưỡng thông báo tập trung kinh tế thì mới phải thông báo. Ngưỡng thông báo tập
trung kinh tế được quy định tại khoản 2 Điều 33 gồm tổng tài sản trên thị trường Việt
Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, tổng doanh thu trên thị trường Việt
Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế, giá trị giao dịch của tập trung kinh
tế và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của giao dịch tập trung kinh tế. Nghị
định 35/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính Phủ Quy định chi tiết một
số điều của luật cạnh tranh đã hướng dẫn cụ thể các tiêu chí trên tại Khoản 1 Điều 13.
Trong thương vụ thâu tóm trên, để nắm được 75% cổ phần của GTNfoods, Vinamilk
đã phải chi 3.400 tỷ đồng. Như vậy, tiêu chí để xác định vụ việc tập trung kinh tế giữa
Vinamilk và GTNfoods có thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế hay không là tiêu
chí về giá trị giao dịch của tập trung kinh tế. Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 13 của
Nghị định quy định “Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế từ 1.000 tỷ đồng trở lên”
thì vụ việc Vinamilk mua GTNfoods thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế và bắt
buộc phải thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi thực hiện tập trung kinh tế.
2.3. Hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
Khi đã xác định được việc tập trung kinh tế thuộc ngưỡng thông báo thì Vinamilk và
GTN phải nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước
khi tiến hành tập trung kinh tế. Thành phần hồ sơ thông báo tập trung kinh tế được quy
định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Cạnh tranh hiện hành. Bên cạnh đó, các bên phải chịu 4
trách nhiệm về tính trung thực của hồ sơ. Trường hợp tài liệu trong hồ sơ bằng tiếng
nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt.
2.4. Thẩm định hồ sơ tập trung kinh tế
Nhằm xác định xem một vụ việc tập trung kinh tế có được phép tập trung kinh tế trên
thực tế hay không thì bước quan trọng nhất chính là thẩm định hồ sơ. Luật Cạnh tranh
năm 2018 quy định về hai loại thẩm định gồm thầm định sơ bộ được quy định tại Điều
36 và thẩm định chính thức được quy định tại Điều 37. Nếu vụ việc tập trung kinh tế
đáp ứng được yêu cầu của thẩm định sơ bộ thì không cần thẩm định chính thức.
2.4.1. Thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế
Sau khi đã nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể
từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có
trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho bên nộp hồ sơ về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ
sơ. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản các nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung để các bên sửa
đổi, bổ sung hồ sơ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra thông báo (Điều 35). Khi kết
thúc thời hạn mà bên được yêu cầu không sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc sửa đổi, bổ
sung không đầy đủ theo yêu cầu thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trả lại hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
Nội dung thẩm định sơ bộ việc tập trung kinh tế được quy định tại khoản 1 Điều 36
Luật Cạnh tranh năm 2018 và được hướng dẫn chi tiết tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định
35/2020/NĐ-CP. Thời gian thẩm định sơ bộ hồ sơ tập trung kinh tế là 30 ngày, trong
thời gian này, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ
về việc tập trung kinh tế sg được thực hiện hay không hay phải thẩm định chính thức.
Để thẩm định hồ sơ tập trung kinh tế đòi hỏi cơ quan Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải
tốn rất nhiều thời gian để nghiên cứu, đối chiếu với thị trường và các bên tham gia tập
trung kinh tế, bên cạnh đó cfng sg phải hỏi ý kiến chuyên gia.
Tuy nhiên, nhằm áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh vào vụ việc Vinamilk
mua lại GTNfoods, nhóm sg dựa trên thị phần trước khi tập trung kinh tế của hai
doanh nghiệp để từ đó đưa ra những số liệu giả định sau khi tập trung kinh tế theo tiêu chí được đưa ra. 5
Trước khi tập trung kinh tế, vào năm 2018, Vinamilk đã nắm tới 58% thị phần sữa ở
Việt Nam và thị phần sữa của GTNfoods chỉ chiếm 2,7% thị phần. Sau khi tập trung
kinh tế, Vinamilk sg trở thành công ty chủ quản của GTNfoods, đồng nghĩa với việc
thị phần sữa sg được tính vào thị phần sữa của Vinamilk trên thị trường. Như vậy, dựa
vào thị phần sữa trước khi tập trung kinh tế của cả hai công ty, Vinamilk dự tính sg
chiếm khoảng 60.7%. Mặt khác, thương vụ mua lại GTNfoods của Vinamilk được xét
vào trường hợp tập trung kinh tế theo chiều ngang nên sg chỉ cần xem xét đến những
trường hợp tại điểm a, điểm b, điểm c tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
Điểm a quy định “Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập
trung kinh tế ít hơn 20% trên thị trường liên quan”, với thị phần kết hợp dự định là
60.7% sau khi tham gia tập trung kinh tế thì vụ việc tập trung kinh tế mà nhóm đưa ra
không thuộc trường hợp này.
Điểm b quy định “Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập
trung kinh tế từ 20% trở lên trên thị trường liên quan và tổng bình phương mức thị
phần của các doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan thấp hơn
1.800”. Thị phần kết hợp của Vinamilk và GTNfoods nếu tham gia tập trung kinh tế sg
là 60.7% trên thị trường sữa. Tổng bình phương mức thị phần của Vinamilk và
GTNfoods trên thị trường liên quan (hay còn được gọi là chỉ số HHI) sau tập trung
kinh tế sg là 3684.49. Mặc dù đáp ứng được tiêu chí về thị phần nhưng với chỉ số HHI
vượt quá 1.800 thì hồ sơ thông báo tập trung kinh tế của Vinamilk và GTNfoods sg
không đủ điều kiện để được thẩm định sơ bộ theo trường hợp này.
Điểm c quy định “Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
từ 20% trở lên trên thị trường liên quan, tổng bình phương mức thị phần của các
doanh nghiệp sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan trên 1.800 và biên độ
tăng tổng bình phương mức thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan
trước và sau tập trung kinh tế thấp hơn 100”. Thị phần kết hợp của Vinamilk và
GTNfoods sg là 60.7% trên thị trường sữa và đáp ứng được tiêu chí thị phần trong
trường hợp này. Chỉ số HHI của Vinamilk và GTNfoods sau khi khi tập trung kinh tế
sg là 3684.49, biên độ HHI được dự tính trong thương vụ này là sg là 17.69. Từ sự đối
chiếu trên, thông báo tập trung kinh tế giữa Vinamilk với GTNfoods sg đủ điều kiện để
được thẩm định sơ bộ theo tiêu chí này và sg không phải thẩm định chính thức. 6
Như vậy, với những số liệu giả định sau khi tập trung kinh tế mà nhóm đưa ra, trong
trường hợp này, việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk và GTNfoods sg được thực hiện trên thực tế.
2.4.2. Thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế
Trường hợp việc tập trung kinh tế không đáp ứng được điểu kiện thẩm định sơ bộ thì
sg được chuyển sang thẩm định chính thức. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sg thẩm định
trong vòng 90 ngày kể từ ngày ra thông báo vụ việc phải thẩm định chính thức, tuy
nhiên, nếu vụ việc đó mang tính chất phức tạp thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể
gia hạn thẩm định chính thức nhưng không quá 60 ngày và thông báo bằng văn bản
cho doanh nghiệp nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo khoản 1 Điều 37 Luật
Cạnh tranh. Nội dung thẩm định chính thức việc tập trung kinh tế được quy định tại
khoản 2 Điều 37 của luật. Trong quá trình này, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền
được đi tham vấn các cơ quan có lĩnh vực liên quan tới vụ việc, hình thức và thời hạn
của việc tham vấn được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2018.
Sau khi kết thúc thẩm định chính thức thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra quyết
định về một trong các trường hợp tập trung kinh tế được thực hiện, tập trung kinh tế có
điều kiện, tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm.
2.5. Kết quả trên thực tế về việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk và GTNfoods
Sau khi thông báo tập trung kinh tế, Bộ Công Thương đã đưa ra văn bản xác định đây
là hình thức tập trung kinh tế mua lại doanh nghiệp theo khoản 4 Điều 29, Luật Cạnh
tranh năm 2018 và được thực hiện việc tập trung kinh tế trên thực tế [1].
Thêm vào đó, Bộ Công Thương cfng yêu cầu Vinamilk sau khi sáp nhập không được
lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường và thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo
khoản 1, Điều 27 và 12 của Luật Cạnh tranh năm 2018. Doanh nghiệp sau khi tập
trung kinh tế cfng cần có báo cáo với Bộ Công Thương khi có việc tăng giá sản phẩm
như sữa nước và sữa chua, tính hợp lý của việc tăng giá. 7
III. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004
3.1. Phân tích vụ việc tập trung kinh tế theo quy định Luật Cạnh tranh năm 2004
Quy định về hình thức tập trung kinh tế (Điều 16), thị trường liên quan và phân loại
tập trung kinh tế của Luật Cạnh tranh năm 2014 về cơ bản không có sự khác biệt với
Luật Cạnh tranh năm 2018. Như vậy, theo Luật Cạnh tranh năm 2004, hình thức tập
trung kinh tế của vụ việc vẫn là mua lại doanh nghiệp (khoản 3 Điều 17), thị trường
liên quan là thị trường sữa Việt Nam và tập trung kinh tế theo chiều ngang.
Mặt khác, tại Điều 18 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định “nếu thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên
quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này” đã gây khó khăn trong việc
xác định vụ việc mà nhóm đưa ra liệu có bị cấm hay không. Nguyên nhân là bởi thị
phần kết hợp giữa Vinamilk và GTNfoods dự định sg là 60.7%, vượt quá ngưỡng thị
phần mà luật cho phép nên nếu mục đích của thương vụ này không đáp ứng được yêu
cầu của khoản 2 Điều 19 là “mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã
hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ” thì vụ việc sg thuộc trường hợp bị cấm. Như vậy, việc
Vinamilk mua 75% cổ phần của GTNfoods để kiểm soát doanh nghiệp này là vi phạm
pháp luật cạnh tranh năm 2004.
Trong trường hợp vụ việc tập trung kinh tế của Vinamilk và GTNfoods được được
hưởng miễn trừ thì sg không cần thông báo việc tập trung kinh tế mà sg làm đơn thông
báo được hưởng miễn trừ theo quy định tại mục 4 Chương II của Luật Cạnh tranh năm 2004.
3.2. So sánh quy định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với quy
định tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004
Thứ nhất, về việc xác định hành vi tập trung kinh tế bị cấm
Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về việc xác định hành vi tập trung kinh tế bị cấm
dựa trên “gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách
đáng kể trên thị trường Việt Nam”, do đó, với tiêu chí định tính như thế này thì rất khó
để xác định vụ việc mà nhóm đưa ra có bị cấm hay không. Mặc dù, Luật Cạnh tranh
năm 2004 chỉ đưa ra một tiêu chí là thị phần để xác định hành vi tập trung kinh tế bị
cấm nhưng lại quy định rất cụ thể về con số, theo đó “nếu thị phần kết hợp của các 8
doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan ”.
Như vậy, nếu áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2004 thì vụ việc Vinamilk mua lại 75% cổ
phần của GTNfoods để trở thành công ty mẹ là vi phạm pháp luật.
Mặt khác, tại luật năm 2004, nếu việc Vinamilk chi phối GTNfoods nhằm mở rộng
xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ theo
quy định tại khoản 2 Điều 19 thì sg được phép thực hiện tập trung kinh tế. Như vậy,
mặc dù Luật Cạnh tranh năm 2004 đưa ra định lượng cụ thể khi nào hành vi tập trung
kinh tế bị cấm nhưng việc đưa ra quy định miễn trừ định tính cfng sg gây ảnh hưởng
lớn đến việc tập trung kinh tế của các doanh nghiệp tham gia.
Thứ hai, về ngưỡng thông báo tập trung kinh tế
Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ xác định một tiêu chí duy nhất tại khoản 1 Điều 20 là
tiêu chí thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan. Tuy nhiên, nếu xét
theo tiêu chí thị phần thì vụ việc tập trung kinh tế của Vinamilk và GTNfoods đã được
xác định là hành vi tập trung kinh tế bị cấm nên sg không được xem xét. Nếu xác định
theo hướng vụ việc này được hưỡng miễn trừ thì theo quy định tại khoản 2 Điều 20,
Vinamilk và GTNfoods sg nộp hồ sơ hưởng miễn trừ thay cho việc thông báo.
Tại Luật Cạnh tranh năm 2018, tiêu chí để xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh
tế được quy định tại khoản 2 Điều 33 và không chỉ dựa vào thị phần. Dựa trên tiêu chí
giá trị giao dịch thì trong vụ việc tập trung kinh tế giữa Vinamilk và GTNfoods là
3400 tỷ đồng nên vụ việc này phải thông báo tập trung kinh tế.
IV. Vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động
hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường tại Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018
Các quy định trong chỉ mang tính định tính mà không có các tiêu chí định lượng cụ
thể làm cơ sở để cơ quan cạnh tranh đánh giá các giao dịch tập trung kinh tế. Điều này
sg dẫn đến những thiệt hại to lớn cho cả các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
và Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Do đó, cần quy định rõ hơn về những yếu tố đánh giá
khả năng gây hạn chế cạnh tranh khi tập trung kinh tế như đưa ra con số thị phần kết
hợp cụ thể của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan,… 9
Đối với vụ việc Vinamilk mua GTNfoods, nhóm cho rằng vì không có quy định đánh
giá cụ thể về thị phần kết hợp nên vụ việc trên mới được phép thực hiện tập trung kinh
tế. Trên thực tế, trước khi tập trung kinh tế, Vinamilk đang dẫn đầu thị phần sữa trong
thị trường Việt Nam với số thị phần là 58%. Rõ ràng, nếu nhận thêm thị phần từ Mộc
Châu – công ty thành viên của GTNfoods thì thị phần sữa của Vinamilk sg gây ra
những hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường sữa Việt Nam.
Thứ hai, ban hành một hướng dẫn chung về cách thức đánh giá một giao dịch tập trung kinh tế.
Như đã nêu trên, các văn bản này chỉ quy định các tiêu chí định tính, không có các
tiêu chí định lượng cụ thể làm cơ sở để cơ quan cạnh tranh đánh giá các giao dịch tập
trung kinh tế diễn ra dưới nhiều quy mô và hình thức khác nhau. Do đó, để đảm bảo
một cách hiểu và áp dụng thống nhất, cơ quan cạnh tranh nên ban hành một hướng dẫn
trong đó nêu rõ quan điểm của cơ quan cạnh tranh trong việc sử dụng các tiêu chí đã
được quy định trong luật và nghị định để đánh giá các vụ việc. Chẳng hạn như, trong
việc tính toán mức độ tập trung thị trường, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể sử dụng
những phương pháp hay tham khảo những phương pháp nào, các chỉ số định lượng
trong các phương pháp đó được sử dụng ra sao [2].
Thứ ba, cần đề ra những quy định linh hoạt về thời gian xem xét giao dịch tập trung
kinh tế hoặc bổ sung nhân lực cho cơ quan cạnh tranh
Việc đánh giá một giao dịch kinh tế dựa trên các yếu tố định tính như trên đã là một
thách thức với cơ quan thực thi. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam đặt ra những giới
hạn về thời gian rất hạn chế cho việc xem xét vấn đề này. Theo Luật Cạnh tranh hiện
hành, thời gian cho giai đoạn thẩm định sơ bộ là 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ. Thời
gian thẩm định chính thức là 90 ngày và trong trường hợp phức tạp có thể gia hạn
thêm 60 ngày. Tuy nhiên, việc đánh giá một giao dịch tập trung kinh tế thực sự rất
phức tạp và cần nhiều thời gian, như vụ tập trung kinh tế giữa Vinamilk và GTNfoods,
thương vụ này được nhận xét là kinh điển với số vốn cực kỳ khủng và quan trọng hơn,
Vinamilk còn là doanh nghiệp dẫn đầu trong thị trường sữa. Như vậy, với thời gian
như trên thì việc đánh giá vụ việc này quả là áp lực lớn cho cơ quan cạnh tranh và sg
dẫn đến những thiếu xót trong quá trình đánh giá. 10 KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên, nhóm đã giới thiệu toàn cảnh thương vụ tập trung kinh tế
M&A giữa Vinamilk và GTNfoodsFoods, từ đó phân tích những nội dung liên quan
đến vụ việc theo Luật Cạnh tranh năm 2018 và có sự đối chiếu với Luật Cạnh tranh
năm 2004. Từ những đối chiếu với luật, nhóm đã đưa ra những đề xuất hoàn thiện
pháp luật cạnh tranh hiện hành thông qua những vướng mắc liên quan tới vụ việc. 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M. phương, "Báo Thanh niên," 23 12 2019. [Online]. Available:
https://thanhnien.vn/vinamilk-hoan-tat-thau-tom-ong-chu-sua-moc-chau-185911641.htm. [Accessed 10 10 2023].
[2] M. Anh, "Báo điện tử Chính Phủ," 05 06 2019. [Online]. Available:
https://baochinhphu.vn/vinamilk-mua-thanh-cong-hon-90-trieu-co-phieu-gtn-
102256948.htm. [Accessed 10 10 2023].
[3] M. Anh, "Nhịp cầu Đầu tư," 13 3 2019. [Online]. Available: https://s.net.vn/EuyK. [Accessed 10 10 2023].
[4] C. Securities, "Báo cáo phân tích CTCP Sữa Việt Nam (VNM) - Tài chính lành mạnh,
triển vọng lạc quan," 2022.
[5] T. S. Phú, "Công ty cổ phần GTNfoods," 2018.
[6] N. Đ. Hiệp, "HOANGANH IBC LAW FIRM," 31 1 2023. [Online]. Available:
https://s.net.vn/Jqy8. [Accessed 12 10 2023].
[7] P. V. Cao, "Tạp chí Công Thương điện tử - Cơ quan thông tin lý luận của Bộ Công
Thương," Thay đổi cách tiếp cận kiểm soát tập trung kinh tế - những thuận lợi và thách
thức đối với cơ quan thực thi, 20 10 2021. [Online]. Available: https://s.net.vn/lmcK. [Accessed 12 10 2023].