



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58702377 lOMoAR cPSD| 58702377 MỤC LỤC
I.Tổng quan về FDI..............................................................................................................................................2
1. Khái niệm về FDI .........................................................................................................................................2
2. Đặc điểm của FDI ........................................................................................................................................3
II. Xu hướng chuyển dịch FDI trên thế giới ......................................................................................................3
2.1. Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai ..........................................................................3
2.2 Sự thay đổi trong nhu cầu của nhà đầu tư FDI (lao động, hạ tầng, chính sách) ..................................4
2.3. Tăng trưởng FDI ở các nước phát triển .................................................................................................8
2.4. Tăng trưởng FDI ở các nước đang phát triển - khu vực Châu Á .........................................................9
2.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI trên thế giới trong thời gian qua ................................................... 11
III.Phân tích các điều kiện mà Việt Nam cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển này. ..... 13
3.1 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước năm 2023 tại Việt Nam ............................13
3.2. Các chính sách, hướng đi, hành động cần có để thích ứng với xu hướng thế giới về FDI ...............16
IV.Tổng kết ........................................................................................................................................................ 22
V.Tài liệu tham khảo ......................................................................................................................................... 23 I.Tổng quan về FDI 1. Khái niệm về FDI.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay
công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá
nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
FDI là nguồn vốn quan trọng không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với
các nước công nghiệp phát triển. Theo báo cáo của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế), các quốc gia nhận được nhiều dòng vốn FDI nhất trên toàn thế giới
trong quý 1 năm 2022 là Trung Quốc (101 tỷ USD), Hoa Kỳ (67 tỷ USD) và Australia
(59 tỷ USD). Mục đích hàng đầu của FDI, khác với ODA, chính là mang lại lợi
nhuận cho nhà đầu tư. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư (lợi tức), nhà đầu tư sẽ
nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả; nói
cách khác, thu nhập của nhà đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh.
Chủ đầu tư có quyền tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi, cũng như tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư… lOMoAR cPSD| 58702377
2. Đặc điểm của FDI.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn
vốn nước ngoài là việc tiếp nhận vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận
vốn. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận
thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào
nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những
ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế, nguồn vốn này
có tác dụng cực kì to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư.
Ngoài ra, FDI còn có một số đặc điểm sau: Ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ
chính trị giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Hiệu quả đầu tư cao. Nước nhận đầu
tư không phải lo trả nợ mà được chia sẻ lợi ích theo mức đóng góp. Giảm rủi ro tài
chính cho các doanh nghiệp trong nước. 3. Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư.
Đối với nhận đầu tư thì FDI đóng vai trò khá quan trọng: Góp phần bổ sung
nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực khai thác và nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước.
Không những là nguồn vốn bổ sung quan trọng, đầu tư FDI còn đóng góp vào
việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Cũng
như đóng góp cho ngân sách nhà nước của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể.
Đặc biệt nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc hoàn
chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, bưu
chính viễn thông,... Bước đầu hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa các khu vực phát
triển, hình thành các khu dân cư mới, tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương.
II. Xu hướng chuyển dịch FDI trên thế giới
2.1. Xu thế đầu tư toàn cầu hiện tại và tầm nhìn tương lai.
- Xu thế đầu tư toàn cầu:
Một nền kinh tế toàn cầu bị phân mảnh chuyển thành một triển vọng đa dạng.
Trong khi nền kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với một triển vọng đầy thách thức,
sự phân mảnh địa chính trị và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng đang tạo ra sự ly khai trong
khu vực khỏi câu chuyện chính này.
Nhờ giá hàng hóa tăng ở một số khu vực và chu kỳ cải cách mạnh mẽ ở những
khu vực khác, các quốc gia từ Trung Đông và Bắc Phi (MENA) — cũng như cường
quốc kinh tế đang lên của châu Á, Ấn Độ — được kỳ vọng sẽ mang lại động lực đầu
tư và kinh tế mạnh mẽ nhất vào năm mới, theo ' Danh sách theo dõi FDI nổi bật năm 2023 ' của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới cho năm 2021 là 2.199,06 tỷ đô la, tăng 92,69% so với năm 2020. lOMoAR cPSD| 58702377
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới năm 2020 là 1.141,22 tỷ USD, giảm 30,52% so với năm 2019.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới năm 2019 là 1.642,44 tỷ USD, tăng
77,16% so với năm 2018. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới năm 2018 là
927,11 tỷ đô la, giảm 57,38% so với năm 2017.
Trong bối cảnh các vấn đề kinh tế toàn cầu gặp phải vào năm 2022, số lượng dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực xanh dự kiến sẽ cao hơn so với
năm 2021. Ước tính tạm thời của chúng tôi đưa ra số lượng dự án FDI được ghi nhận
vào năm 2022 cao hơn 5–10% so với số lượng được ghi nhận vào năm 2021 Tuy
nhiên, điều kiện kinh tế khó khăn sẽ khiến mức FDI giảm vào năm 2023, với nửa
đầu năm bị ảnh hưởng nhiều hơn. - Dự báo FDI:
+ Lạm phát toàn cầu sẽ bắt đầu cải thiện nhưng sẽ ảnh hưởng đến mức FDI trong nửa đầu năm 2023.
+ Cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine sẽ tiếp tục gây áp lực kinh tế toàn cầu.
+ Các điều kiện kinh tế sẽ khiến một số quốc gia rơi vào suy thoái, điều này
sẽ tác động tiêu cực đến FDI.
+ Việc tái cân bằng các đối tác thương mại và đầu tư sẽ trở nên rõ ràng hơn
vào năm 2023 – kết bạn, phân phối lại năng lượng, tái cấu trúc các hoạt động của
Nga và ngành công nghệ sẽ là những chủ đề chính.
+ Các nước châu Á sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ sự sụt giảm FDI vào Trung Quốc.
+ Các quốc gia có kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cao vào năm 2023 sẽ hy vọng
chuyển đổi sang mức FDI tăng
2.2 Sự thay đổi trong nhu cầu của nhà đầu tư FDI (lao động, hạ tầng, chính sách) 2.2.1. Lao động
Nhu cầu về kỹ năng lao động: Trong quá khứ, các nhà đầu tư FDI có thể tìm
kiếm các thị trường có lao động rẻ và chất lượng lao động thấp để tiết kiệm chi phí.
Tuy nhiên, hiện nay các nhà đầu tư FDI đang tìm kiếm các thị trường có nguồn lao
động có kỹ năng cao và đào tạo tốt để đảm bảo sản xuất và kinh doanh hiệu quả.
Nhu cầu về quyền lợi của lao động: Các nhà đầu tư FDI hiện nay đang đặt nhiều
tầm quan tâm đến quyền lợi và chế độ làm việc của lao động.
+ Điều kiện làm việc tốt: bao gồm vệ sinh an toàn, môi trường làm việc và
quyền hưởng lương công bằng.
+ Đào tạo và phát triển nhân viên: đào tạo và phát triển nhân viên để đảm bảo
rằng họ có đủ kỹ năng và năng lực để thực hiện công việc của mình
+ Chế độ phúc lợi và bảo hiểm xã hội: tìm kiếm các chế độ phúc lợi và bảo
hiểm xã hội cho nhân viên để đảm bảo rằng họ được bảo vệ trong trường hợp có
chấn thương hoặc bệnh tật. lOMoAR cPSD| 58702377
Nhu cầu về đào tạo và phát triển lao động: Các nhà đầu tư FDI đang tìm kiếm các
thị trường có chính sách và cơ sở hạ tầng để đảm bảo rằng họ có thể đào tạo và phát
triển lao động của mình để đáp ứng các yêu cầu sản xuất và kinh doanh của họ +
Đào tạo cơ bản: yêu cầu nhân viên của họ có đầy đủ kiến thức cơ bản về ngành công
nghiệp và kỹ năng nghề nghiệp để có thể thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả
+ Đào tạo chuyên sâu: yêu cầu đào tạo nhân viên của họ về các công nghệ mới
nhất, kỹ thuật tiên tiến và các quy trình sản xuất tiên tiến để cải thiện hiệu quả sản
xuất và tăng cường năng lực cạnh tranh.
+ Phát triển kỹ năng mềm: yêu cầu nhân viên của họ có khả năng làm việc
nhóm, giao tiếp và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. 2.2.2 Hạ tầng:
Sự thay đổi trong nhu cầu của nhà đầu tư FDI về hạ tầng liên quan đến yêu cầu của
họ về một cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại để đảm bảo sản xuất và kinh doanh được
suôn sẻ và hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các ngành công nghiệp đòi
hỏi nhiều vốn đầu tư ban đầu như cơ sở hạ tầng vật liệu xây dựng, đường giao thông,
năng lượng và cơ sở hạ tầng thông tin và viễn thông.
Hạ tầng giao thông là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển kinh
tế của một quốc gia. Nhà đầu tư FDI yêu cầu hạ tầng giao thông phải đáp ứng được
nhu cầu của sản xuất, vận chuyển và tiêu dùng hàng hoá, đồng thời phải đảm bảo
tính hiệu quả, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí cho các hoạt động của họ. Để đáp
ứng được yêu cầu này, hạ tầng giao thông cần được đầu tư và phát triển đồng bộ, liên
kết và hiện đại hóa. Điều này bao gồm các hoạt động như:
+ Nâng cấp và xây dựng đường bộ: Điều này bao gồm xây dựng và nâng cấp
các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường cao tốc và đường hầm để giảm thiểu thời
gian và chi phí vận chuyển hàng hoá.
+ Xây dựng và phát triển đường sắt: Điều này bao gồm xây dựng các tuyến
đường sắt hiện đại, cải thiện tốc độ và chất lượng vận chuyển hàng hoá và người đi lại.
+ Nâng cấp và xây dựng đường hàng không: Điều này bao gồm nâng cấp cơ
sở hạ tầng sân bay và xây dựng các sân bay mới để tăng khả năng vận chuyển hàng hoá và người.
+ Xây dựng và phát triển đường thủy lợi: Điều này bao gồm xây dựng các bến
cảng hiện đại, cải thiện hệ thống vận chuyển hàng hóa và người trên đường thủy lợi.
Hạ tầng năng lượng: Hạ tầng năng lượng gồm các cơ sở hạ tầng để sản xuất, truyền
tải và phân phối năng lượng điện. Sự phát triển của hạ tầng năng lượng là một yếu
tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư FDI đến các khu vực và quốc gia. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp sử dụng năng
lượng nhiều như sản xuất kim loại, chế tạo, hóa chất, điện tử và các ngành sản xuất lOMoAR cPSD| 58702377
khác. Một hạ tầng năng lượng tốt sẽ giúp giảm chi phí sản xuất, tăng tính cạnh tranh
và đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng liên tục và ổn định.
+ Nguồn cung cấp điện ổn định và đáng tin cậy: Nhà đầu tư FDI cần đảm bảo
rằng họ có thể sử dụng nguồn cung cấp điện ổn định và đáng tin cậy để sản xuất và kinh doanh.
+ Điện giá rẻ: Điện giá rẻ có thể giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao tính
cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
+ Năng lượng tái tạo: Nhu cầu của nhà đầu tư FDI đối với năng lượng tái tạo
đang tăng lên do nhu cầu về sản xuất sạch hơn và bảo vệ môi trường.
+ Hệ thống truyền tải và phân phối điện: Hệ thống truyền tải và phân phối điện
cần được phát triển để đảm bảo năng lượng được truyền tải một cách hiệu quả và ổn định.
Hạ tầng viễn thông: bao gồm các cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, bao gồm mạng lưới điện
thoại di động, internet và các cơ sở hạ tầng liên quan. Với sự phát triển của công
nghệ thông tin và truyền thông, hạ tầng viễn thông đang trở thành một trong những
yếu tố cơ bản để thu hút đầu tư FDI
+ Mạng lưới liên lạc tốc độ cao: Nhà đầu tư FDI cần mạng lưới liên lạc tốc độ
cao để kết nối với khách hàng, đối tác và nhà cung cấp. Mạng lưới này cần phải đảm
bảo chất lượng tốt để đảm bảo các hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục và không bị gián đoạn.
+ Hạ tầng internet: Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, hạ tầng
internet đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động kinh doanh và đầu
tư FDI. Các doanh nghiệp cần một mạng lưới internet đáp ứng được yêu cầu về băng
thông, độ ổn định và an toàn thông tin.
+ Cơ sở hạ tầng viễn thông sẵn có: Nhà đầu tư FDI ưu tiên các quốc gia có cơ
sở hạ tầng viễn thông sẵn có, giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí khi phát triển và
triển khai các dự án mới.
+ An ninh mạng và bảo mật thông tin: Nhà đầu tư FDI quan tâm đến việc bảo
vệ thông tin và dữ liệu của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng. Vì
vậy, các quốc gia cần có các quy định bảo vệ an ninh mạng và thông tin để thu hút đầu tư FDI. 2.2.3. Chính sách:
Tất cả các quốc gia đều cố gắng thu hút các nhà đầu tư FDI bằng cách cung cấp các
chính sách hỗ trợ để tăng cường hoạt động kinh doanh và đầu tư của các công ty nước ngoài. Chính sách thuế: lOMoAR cPSD| 58702377
+ Miễn thuế hoặc giảm thuế đối với hoạt động đầu tư cụ thể: Những chính
sách này giúp giảm chi phí cho các nhà đầu tư FDI và tạo điều kiện thuận lợi hơn để
thúc đẩy các hoạt động đầu tư. Các chính sách này thường được áp dụng đối với các
lĩnh vực đầu tư cần thiết, như công nghệ cao, sản xuất, vận chuyển và phân phối hàng hóa.
+ Chính sách thuế ưu đãi dành cho các khu công nghiệp: Các khu công nghiệp
được thiết lập nhằm thu hút các nhà đầu tư FDI bằng cách cung cấp một môi trường
kinh doanh thuận lợi và chính sách thuế ưu đãi. Các chính sách này thường bao gồm
giảm thuế đối với các hoạt động đầu tư trong khu công nghiệp, cũng như giảm thuế
cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh.
+ Chính sách thuế hỗ trợ về nghiên cứu và phát triển: Các chính sách này hỗ
trợ các hoạt động nghiên cứu và phát triển của các công ty nước ngoài thông qua
việc giảm thuế hoặc miễn thuế cho các hoạt động này.
+ Chính sách thuế hỗ trợ về đầu tư cho các khu vực nghèo khó: Các chính sách
thuế này cung cấp các khoản giảm thuế cho các hoạt động đầu tư tại các khu vực
nghèo khó, giúp tạo việc làm và phát triển kinh tế tại những vùng này. Chính sách đầu tư:
+ Chính sách hỗ trợ về tài chính: Các chính sách này cung cấp các khoản tài
trợ và các khoản vay ưu đãi cho các nhà đầu tư FDI.
+ Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Các chính sách này cung cấp các
chương trình đào tạo, đào tạo kỹ năng và các khóa học để hỗ trợ các nhà đầu tư FDI
đào tạo và phát triển nhân lực tại địa phương.
+ Chính sách hỗ trợ về đất đai và hạ tầng: Các chính sách này cung cấp hỗ trợ
về đất đai và các yếu tố hạ tầng cơ sở như điện, nước, đường giao thông và thông tin và viễn thông. Chính sách pháp lý:
+ Quy định về đầu tư và kinh doanh: Các quy định này cung cấp hướng dẫn
về quy trình đăng ký đầu tư, thủ tục cấp phép kinh doanh và các quy định liên quan
đến hoạt động kinh doanh.
+ Chính sách về bảo vệ nhà đầu tư: Các chính sách này đảm bảo rằng các nhà
đầu tư FDI được bảo vệ bởi pháp luật địa phương và có quyền được giải quyết tranh
chấp một cách công bằng và minh bạch.
+ Chính sách về sở hữu trí tuệ: Các chính sách này đảm bảo rằng quyền sở
hữu trí tuệ của các nhà đầu tư được bảo vệ và tuân thủ các quy định pháp luật tại địa phương. lOMoAR cPSD| 58702377
2.3. Tăng trưởng FDI ở các nước phát triển
2.3.1. Gia tăng quy mô và điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Các nền kinh tế phát triển chứng kiến mức tăng mạnh nhất về vốn FDI, lên tới
424 tỷ USD trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6/2021 - gấp hơn 3 lần so với thời kỳ đại dịch năm 2020.
Ở châu Âu, một số nền kinh tế lớn đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong
vốn FDI, chỉ còn thấp hơn 5% so với mức trung bình hàng quý trước đại dịch. Theo
báo cáo của Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD’s
Investment Trends Monitor), dòng vốn FDI vào Mỹ đã tăng 90%, nhờ vào sự gia
tăng của các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A).
Trong tổng mức tăng phục hồi, 75% được ghi nhận ở các nền kinh tế phát triển.
Nguồn vốn FDI phục hồi không đều (nửa đầu năm 2021 so với năm 2020) (đơn vị: %)
2.3.2. Sự chuyển hướng dòng vốn đầu tư vào các nước phát triển
Ở các nền kinh tế phát triển, phản ứng ban đầu đối với cú sốc Covid-19, theo
lịch sử chính sách được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đó, là đẩy vào thị
trường tài chính các chính sách nới lỏng định lượng mới. Tuy nhiên, các chính phủ
ở các nền kinh tế phát triển đã sớm nhận ra vấn đề, vì các cuộc phong tỏa gây ra một
tác động ngược lên kinh tế đòi hỏi các biện pháp có mục tiêu và phối hợp để bảo vệ
cuộc sống và sinh kế của người dân.
Trong quá trình này, các quan điểm chính sách bất khả xâm phạm trước đây
đã từ bỏ. Mặc dù vậy, sự sụt giảm sản lượng trong quý 2 và quý 3 năm 2020 là chưa
từng có; ngay cả khi các nền kinh tế bắt đầu mở cửa và niềm tin quay trở lại, sự phục
hồi trở lại được đánh dấu bằng sự không đồng đều đáng kể giữa các ngành, nhóm
thu nhập và khu vực. Hơn nữa, sự bất bình đẳng về thu nhập và tài sản xuất hiện
trong bốn thập kỷ qua, nếu có, ngày càng gia tăng, trong đó, chủ sở hữu tài sản tài
chính và kỹ thuật số thu được lợi nhuận lớn nhất từ việc phục hồi.
Tại EU, sau một thời gian điều chỉnh giảm - sự điều chỉnh góp phần giảm mất
cân bằng toàn cầu - thặng dư tài khoản vãng lai tính theo phần trăm GDP được dự lOMoAR cPSD| 58702377
báo sẽ trở lại mức trước đại dịch là 3% trong năm nay. Vào năm 2023, thặng dư dự
kiến sẽ tăng lên 3,2% GDP. Với sự phục hồi dự kiến của du lịch, thặng dư ngày càng
tăng trong tài khoản dịch vụ được coi là yếu tố đóng góp chính. Ngoài ra, lợi tức đầu
tư của EU ra nước ngoài sẽ phục hồi cùng với sự phục hồi của thu nhập toàn cầu.
2.4. Tăng trưởng FDI ở các nước đang phát triển - khu vực Châu Á
2.4.1 Dòng vốn FDI trên khắp châu Á vẫn phục hồi
Theo báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2021 của Hội nghị Liên Hợp Quốc về
Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn FDI toàn cầu giảm 1/3 từ 1.500 tỷ
USD năm 2019 xuống 1.000 tỷ USD năm 2020.
Trên thực tế, dòng vốn FDI năm 2020 còn thấp hơn 20% so với những năm
2009 khi các đợt phong tỏa nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19 diễn ra ở
nhiều nước và viễn cảnh suy thoái kinh tế khiến nhiều công ty trên khắp thế giới phải
đánh giá lại kế hoạch đầu tư của họ.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ông Sam Cheong - Trưởng nhóm tư vấn FDI
và mạng lưới đối tác tại ngân hàng UOB có trụ sở tại Singapore- cho biết: bất chấp
tác động kinh tế của đại dịch Covid-19, châu Á vẫn là một điểm đến hấp dẫn đối với
dòng vốn FDI. Báo cáo của UNCTAD cho thấy dòng vốn FDI vào châu Á năm 2020
tăng 4% lên mức 533 tỷ USD. Trong đó, dòng vốn đầu tư vào Trung Quốc đạt 149
tỷ USD, tăng so với mức 141 tỷ USD năm 2019.
Tăng trưởng FDI ở châu Á được dự báo tiếp tục tăng với mức 5-10% so với
cùng kỳ hàng năm trong năm 2021. Theo báo cáo của UNCTAD, mức tăng này được
thúc đẩy nhờ các nền kinh tế đang phát triển, liên kết khu vực và toàn cầu ngày càng
sâu rộng cũng như môi trường đầu tư trong khu vực nhìn chung vẫn thông thoáng bất chấp đại dịch.
Riêng đối với khu vực ASEAN, tác giả cho biết, dòng vốn FDI trong năm
2020 vào khu vực có sụt giảm nhẹ. Những nước thu hút FDI nhiều nhất ở ASEAN
đều ghi nhận sụt giảm như Singapore giảm 21%, Indonesia giảm 22%, Việt Nam
giảm 2%. Tuy vậy, 3 quốc gia này vẫn chiếm hơn 90% dòng vốn FDI của khu vực trong năm 2020.
Năm 2019, vốn FDI vào Thái Lan đạt khoảng 3 tỷ USD. Tuy nhiên, con số
này đã chuyển sang âm 6 tỷ USD trong năm 2020 do các nhà đầu tư nước ngoài thoái
vốn. Trong khi đó, Malaysia giảm 55% xuống 3 tỷ USD; Myanmar giảm 34% xuống còn 1,8 tỷ USD.
Tuy nhiên, tờ The Business Times cho rằng, triển vọng của các nền kinh tế
ASEAN vẫn sáng sủa. Việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
(RCEP), bao gồm tất cả các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Australia và New Zealand, được kỳ vọng sẽ là một trong những động lực tăng
trưởng chính khi khối thương mại này hội nhập kinh tế sâu hơn. lOMoAR cPSD| 58702377
2.4.2 Các dự án hạ tầng năng lượng thu hút vốn FDI
Theo tác giả, dòng vốn vào các dự án cơ sở hạ tầng năng lượng trên toàn cầu
trong năm 2020 đã giảm 40% xuống còn 27 tỷ USD, thấp nhất trong 8 năm. Nhưng
điều đó dường như ngoại lệ với châu Á. Châu Á là khu vực duy nhất có các dự án
cơ sở hạ tầng năng lượng tăng trưởng về cả số lượng lẫn giá trị.
Nêu ví dụ như tại Việt Nam, tác giả cho biết, trong năm 2020, Tập đoàn
ExxonMobil của Mỹ đã đề xuất đầu tư một nhà máy nhiệt điện khí trị giá 5 tỷ USD
tại Hải Phòng trong khi Tập đoàn Delta Offshore Energy (Singapore) cũng sẽ thiết
lập một cơ sở sản xuất điện LNG trị giá 4 tỷ USD tại Bạc Liêu.
Bất chấp chi tiêu trên toàn cầu giảm sút, vốn FDI vào các dự án năng lượng
tái tạo vẫn gia tăng, từ mức 30,7 tỷ USD trong năm 2019 lên 33,4 tỷ USD trong năm
2020. Trong đó, FDI vào các dự án năng lượng tái tạo ở ASEAN cũng sẽ tăng hơn
nữa khi khu vực cam kết xem xét và chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững.
B. Grimm, một nhà sản xuất điện tư nhân của Thái Lan, đã đầu tư xây dựng
một nhà máy điện mặt trời tại tỉnh Tây Ninh, được coi là một trong những nhà máy
điện mặt trời lớn nhất trong khu vực. Tương tự, Impact Electrons Siam cũng đang
phát triển một trang trại điện gió tại Lào. Đây sẽ là dự án điện gió lớn nhất ASEAN.
2.4.3 Đầu tư trong khu vực của các công ty Đông Nam Á
Theo bài viết của ông Sam Cheong, phần lớn đầu tư FDI của các doanh nghiệp
ASEAN vẫn nằm trong khu vực. Dòng vốn FDI nội khối tăng 5,4%, từ mức 22,1 tỷ
USD trong năm 2019 lên 23,3 tỷ USD trong năm 2020.
Trong đó, Singapore và Thái Lan là hai nhà đầu tư lớn nhất tại ASEAN trong
năm 2020. Trên thực tế, các công ty từ Singapore đã hình thành nhóm nhà đầu tư lớn
nhất ở một số nước. Nhà đầu tư Singapore chiếm đến 25% vốn FDI vào Indonesia
và 40% vốn FDI vào Việt Nam. Theo Enterprise Singapore, các công ty từ quốc đảo
này đã đầu tư vào các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng, sản xuất, vận tải, logistic và
cơ sở hạ tầng của Indonesia.
Tương tự Singapore, trong năm 2020, dòng vốn FDI của các nhà đầu tư Thái
Lan cũng đã tăng gấp đôi lên 17 tỷ USD. Trong đó, 85% vốn FDI của nước này tập
trung vào các ngành như dịch vụ tài chính, bán lẻ, bán buôn, sản xuất, bất động sản
và hoạt động xây dựng trong ASEAN.
Indonesia và Philippines cũng đầu tư vào khu vực với số vốn lần lượt là 4,5 tỷ
USD và 3,5 tỷ USD. Ví dụ như Tập đoàn Japfa Comfeed (Indonesia) đã mở nhà máy
sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam trong khi Tập đoàn Ayala (Philippines) cùng
với đối tác Singapore cũng đang xây dựng một trang trại điện gió tại Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58702377
2.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI trên thế giới trong thời gian qua. 2.5.1. Đại dịch covid
2.5.1.1. Xu hướng chuyển dịch FDI trong đại dịch covid 19
Theo báo cáo của tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại, Đầu tư và
Phát triển (UNCTAC), các biện pháp phong tỏa chống dịch và viễn cảnh suy thoái
toàn cầu trầm trọng đã thu hẹp đáng kể nguồn FDI, vốn là thước đo đầu tư xuyên
biên giới của khu vực tư nhân.
UNCTAD cho biết trên toàn thế giới, trong 6 tháng đầu năm 2020, FDI đã giảm
49% so với cùng kỳ năm ngoái và tất cả các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
đều bị ảnh hưởng, từ vốn cho cơ sở hạ tầng, cho tới mua bán và sáp nhập.
Tuy nhiên, sự giảm sút này không đồng đều giữa các quốc gia, khu vực, nhóm nền kinh tế (Hình 1).
Các nước phát triển có sự sụt giảm mạnh nhất, giảm tới tới 69%, chỉ còn 229
tỷ USD. Trong đó, khu vực Bắc Mỹ giảm tới 46%, chỉ còn 166 tỷ USD. Vốn FDI
vào Mỹ giảm tới 49%. Sự giảm sút vốn đầu tư mới tập trung trong lĩnh vực thương
mại bán buôn, các dịch vụ tài chính và chế biến chế tạo. Đồng thời, hoạt động mua lOMoAR cPSD| 58702377
bán và sáp nhập (M&A) xuyên quốc gia từ các nhà đầu tư ngoài Mỹ giảm 41%. Khu
vực châu Âu cũng có sự sụt giảm mạnh về dòng vốn FDI, giảm tới 71% so với năm
2019, thậm chí FDI tại Anh giảm xuống còn bằng 0. Chiều ngược lại, cũng có một
số quốc gia châu Âu lại có sự tăng lên đáng kể trong dòng vốn FDI, ví dụ như trường
hợp của Thụy Điển (tăng hơn gấp 2 lần từ 12 tỷ USD lên 29 tỷ USD), hay Tây Ban
Nha cũng tăng tới 52% so với năm 2019. Vốn FDI vào Úc năm 2020 giảm 46%,
xuống còn 22 tỷ USD. Trong khi FDI ghi nhận tăng ở một số quốc gia, ví dụ như
Israel (tăng từ 18 lên 26 tỷ USD) hay Nhật Bản (tăng từ 15 lên 17 tỷ USD).
Tại các nước đang phát triển, mức giảm vốn FDI năm 2020 chỉ là 12%, xuống
còn 616 tỷ USD. Tốc độ giảm ở các khu vực là không đồng đều. Các nước đang phát
triển ở châu Mỹ La Tinh giảm 37%, trong đó ở châu Phi là 18%, các nước đang phát
triển ở châu Á chỉ giảm 4%.
2.5.1.2. Sự phục hồi mạnh mẽ trong dòng vốn FDI
Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) và các
tổ chức quốc tế, sau khi giảm mạnh trong năm 2020, dòng vốn FDI toàn cầu phục
hồi khả quan trong năm 2021 cùng với những tiến triển trong kiểm soát dịch bệnh
Covid-19, xu hướng mở cửa kinh tế và các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng với quy mô
rất lớn của nhiều quốc gia.
Các nền kinh tế phát triển tiếp tục dẫn đầu trong việc thu hút vốn FDI do được
hưởng lợi từ sức bật trở lại từ phía cầu, chi phí tài chính thấp và sự hỗ trợ tích cực
từ phía các chính phủ. Với việc 34/48 nền kinh tế phát triển tiếp nhận số vốn FDI
tăng trong năm 2021 từ các các ngành công nghiệp, sản xuất-lắp ráp, công nghệ
thông tin, thương mại, logistics, tài chính-bảo hiểm, dịch vụ và đầu tư “xanh” phục
vụ phát triển bền vững, nhóm các nền kinh tế phát triển tiếp nhận tổng số vốn 746 tỷ
USD, tăng 134% so với năm 2020, các dự án đầu tư xuyên biên giới tăng 70% về số
lượng và 149% về giá trị.
Nhóm nền kinh tế mới nổi và đang phát triển thu hút 837 tỷ USD, tăng 30% so
với năm 2020, cao nhất từ trước đến nay, các dự án đầu tư xuyên biên giới tăng 64%
về số lượng và 142% giá trị, trong đó số dự án đầu tư xanh tăng 16%. Các lĩnh vực
thu hút vốn đầu tư chủ yếu là chế tạo, chuyển đổi số và kết cấu hạ tầng.
Vốn FDI vào nhóm nền kinh tế đang nổi châu Á đạt mức kỷ lục 619 tỷ USD,
tăng 19%, trong đó FDI vào Trung Quốc đạt 181 tỷ USD, tăng 21%; vào các nước
Đông Nam Á đạt 175 tỷ USD, tăng 44%; vào khu vực Tây Á đạt 55 tỷ USD, tăng 59%.
Nhìn lại năm 2021, có thể thấy lượng FDI tăng trưởng cao một phần do nền so
sánh thấp của năm 2020, song sự phục hồi được đánh giá mạnh mẽ, chủ yếu đến từ
sự bùng nổ của hoạt động mua bán-sáp nhập (M&A), tái cấu trúc các tập đoàn và
sự gia tăng các dự án đầu tư mới.
2.5.2. Chiến sự Ukraine - Nga
Tác động của cuộc xung đột giữa Nga - Ukraine đã vượt ra ngoài phạm vi khu
vực, gây ra cuộc khủng hoảng trên cả ba lĩnh vực: lương thực, nhiên liệu và tài chính,
đẩy giá năng lượng và hàng hóa tăng cao dẫn đến lạm phát và vòng xoáy nợ ngày lOMoAR cPSD| 58702377
càng trầm trọng. Điều này đang làm gia tăng tình trạng rủi ro, làm suy giảm niềm tin kinh doanh và đầu tư.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của cuộc xung đột này không gây ảnh hưởng quá lớn tới
dòng chảy FDI toàn cầu qua sự chuyển dịch của nguồn vốn này vào và ra hai quốc
này, nhưng cuộc khủng hoảng năng lượng nó gây ra có thể có những hệ quả sâu sắc.
Báo cáo mới của World Bank: Tác động của Chiến tranh ở Ukraine đối với Thương
mại và Đầu tư Toàn cầu cho thấy thương mại thế giới sẽ giảm một phần trăm, làm
giảm GDP toàn cầu chỉ dưới một phần trăm. Các nước xuất khẩu hàng công nghiệp
như Việt Nam, Thái Lan và Mexico đều giảm mạnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực
sử dụng nhiều năng lượng. Các nhà xuất khẩu ròng cây trồng, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ,
Brazil và Ấn Độ, và nhiên liệu hóa thạch, chẳng hạn như Nigeria và các nước ở
Trung Đông, đều ghi nhận mức xuất khẩu tăng, làm giảm bớt những tác động tiêu
cực của chiến tranh. Các ảnh hưởng từ cuộc chiến thể hiện rõ ở các mặt của nền kinh
tế như thị trường hàng hóa, mạng lưới hậu cần, chuỗi cung ứng, FDI và các lĩnh vực
du lịch, dự kiến sẽ gây ảnh hưởng sâu sắc tới đầu tư toàn cầu.
III.Phân tích các điều kiện mà Việt Nam cần chuẩn bị để thích ứng với xu hướng dịch chuyển này.
3.1 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước năm 2023 tại Việt Nam
Tính đến 20/12/2022, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua
cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt gần 27,72 tỷ USD, bằng
89% so với cùng kỳ năm 2021. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt
gần 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2021.
Tính lũy kế đến ngày 20/12/2022, cả nước có 36.278 dự án còn hiệu lực với
tổng vốn đăng ký trên gần 438,7 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư
nước ngoài ước đạt gần 274 tỷ USD, bằng 62,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
3.1.1 Tác động của FDI đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các số liệu thống kê cho thấy, tăng trưởng kinh tế có mối tương quan thuận
chiều với tốc độ tăng thu hút FDI thực hiện hàng năm ở Việt Nam. Vốn FDI chiếm
một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội. Việc gia tăng vốn FDI
được giải ngân sẽ làm mở rộng quy mô sản xuất của các ngành kinh tế, từ đó tạo
điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Vốn FDI thực hiện đạt 20,38 tỷ USD, chiếm
khoảng 1/4 tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp 20,35% trong giá trị GDP năm 2019).
Có thể thấy, cơ cấu khu vực FDI trong GDP có xu hướng tăng dần từ năm
2005 đến nay. Năm 2005, khu vực FDI đóng góp 15,16% trong tăng trưởng GDP.
Con số này có xu hướng tăng đều đến năm 2008, mặc dù có giảm nhẹ vào năm 2009
và năm 2010, nhưng sau đó tiếp tục tăng trở lại và tăng dần đến 20,35% vào năm
2019. Kết quả này cho thấy, khu vực FDI ngày càng có những đóng góp trực tiếp rất
quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. lOMoAR cPSD| 58702377
Bên cạnh đó, FDI cũng giúp đẩy mạnh xuất khẩu, đóng góp vào thặng dư cán
cân thương mại của Việt Nam, từ đó thúc đẩy tăng trưởng GDP. Những đóng góp
này ngày càng được nâng cao. Giá trị xuất khẩu hàng hoá của khu vực doanh nghiệp
FDI chiếm 27% vào năm 1995 và tăng gấp gần 3 lần lên tới 71,7% kim ngạch xuất
khẩu cả nước vào năm 2020.
Mặc dù, nhập khẩu của khu vực FDI đạt 168,8 tỷ USD, chiếm tới 64,3% kim
ngạch nhập khẩu của cả nước nhưng tính chung cho năm 2020, khu vực FDI đã xuất
siêu 33 tỷ USD không kể dầu thô, giúp bù đắp 15,6 tỷ USD nhập siêu của khu vực
doanh nghiệp trong nước (Tổng cục Thống kê, 2020), từ đó, đảo ngược cán cân
thương mại của Việt Nam về kết quả xuất siêu 19,1 tỷ USD.
Những đóng góp này cho thấy, vai trò quan trọng của FDI trong tăng trưởng
của Việt Nam. Tốc độ tăng vốn FDI đăng ký và và thực hiện ở Việt Nam trong những
năm gần đây được đánh giá là do Việt Nam đang tích cực hội nhập tham gia nhiều
Hiệp định Thương mại tự do - FTA với các quốc gia trong khu vực và quốc tế. Tuy
nhiên, điều này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với nền kinh tế. Nền kinh tế có thể dễ
bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài.
Về tác động của FDI đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam, sự tham
gia của khu vực FDI trong nhiều ngành, lĩnh vực, đặc biệt là sự tập trung vốn FDI
trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và một số ngành công nghiệp khác, là
nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, góp
phần xây dựng môi trường kinh tế năng động và gia tăng năng lực sản xuất các sản
phẩm chứa hàm lượng chất xám cao trong nền kinh tế. FDI góp phần chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu. lOMoAR cPSD| 58702377
3.1.2Tác động của FDI đến thị trường lao động và vấn đề việc làm
Khu vực FDI góp phần không nhỏ trong việc tạo việc làm cho người lao động.
Theo Tổng cục Thống kê (2019), kết quả Điều tra Lao động - Việc làm quý 1/2019,
khu vực doanh nghiệp FDI đã và đang tạo công ăn việc làm cho 3,8 triệu người lao
động, chiếm trên 7% trong tổng lực lượng lao động (trên 54 triệu lao động), chiếm
trên 15% trong tổng lao động làm công ăn lương (25,3 triệu người) ở Việt Nam. Bên
cạnh tạo việc làm trực tiếp, khu vực FDI cũng gián tiếp tạo việc làm cho rất nhiều
lao động trong các ngành công nghiệp phụ trợ hay các doanh nghiệp khác nằm trong
chuỗi cung ứng hàng hoá cho các doanh nghiệp FDI.
Mức lương bình quân của lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp có
vốn FDI cao hơn so với trong khu vực nhà nước hoặc khu vực ngoài nhà nước. Cụ
thể, mức lương trung bình của lao động trong khu vực có vốn FDI là 8,2 triệu
đồng/tháng, trong đó đối với lao động nam là 9,2 triệu đồng/tháng và lao động nữ là
7,6 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, lao động trong khu vực nhà nước có mức lương
trung bình là 7,7 triệu đồng/tháng và đối với khu vực ngoài nhà nước là 6,4 triệu
đồng/tháng (Tổng cục Thống kê, 2019).
Bên cạnh mức lương cao, khu vực FDI cũng góp phần quan trọng nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thông qua hệ thống đào tạo nội bộ trong
doanh nghiệp hoặc liên kết với các cơ sở đào tạo ngoài doanh nghiệp.
3.1.3. Tác động của FDI trong cải tiến khoa học - công nghệ
Không thể phủ nhận rằng, khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công
nghệ, là kênh quan trọng giúp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn cả về kinh
tế - xã hội với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. FDI được kỳ vọng
là kênh quan trọng để tiếp thu công nghệ tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là trong một
số ngành như: Điện tử, công nghiệp phần mềm, công nghệ sinh học... lOMoAR cPSD| 58702377
Tuy nhiên, tác động của FDI trong việc cải tiến khoa học - công nghệ vẫn còn
rất hạn chế. Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đến đầu
năm 2020, chỉ có khoảng 6% doanh nghiệp FDI sử dụng các công nghệ tiên tiến của
châu Âu và Hoa Kỳ. Ngược lại, có tới 30% đến khoảng 45% doanh nghiệp FDI đang
sử dụng các công nghệ của Trung Quốc. Tuổi đời của công nghệ được sử dụng chủ
yếu là công nghệ ra đời từ năm 2000 đến năm 2005 và phần lớn những công nghệ
này là công nghệ trung bình hoặc trung bình tiên tiến của khu vực. Các công nghệ
này đa phần chưa được cập nhật, do các doanh nghiệp FDI chưa tập trung nhiều
nguồn lực cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
3.1.4. Tác động của FDI đến môi trường
Khu vực FDI đã tích cực tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ xanh,
thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, xây dựng và nâng cao nhận thức về nền kinh tế
xanh cho người lao động và người tiêu dùng. Có thể kể đến lợi thế của FDI đối với
việc phát triển bảo vệ môi trường tại Việt Nam như Dự án hệ thống xử lý nước thải
y tế tại Bệnh viện Chợ Rẫy; Công ty Điện lực Phú Mỹ 3 với việc cài đặt hệ thống
phát hiện rò rỉ tự động và trồng 4.000 cây xanh xung quanh công ty…
Bên cạnh những tác động tích cực, nhiều sự cố môi trường xảy ra do hoạt động
xả thải của các doanh nghiệp FDI trong những năm qua là những bằng chứng cho
thấy tác động tiêu cực của việc thu hút FDI đến môi trường ở Việt Nam. Nhiều nghiên
cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh, ô nhiễm có khả năng “di cư” từ các nước phát
triển sang các nước đang phát triển thông qua kênh FDI.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018) tiếp
tục ủng hộ lý thuyết các nước đang phát triển là “nơi trú ẩn ô nhiễm” của Ederington
và cộng sự; Robert Hoffmann; Grossman và Krueger. Xét theo quy mô, doanh nghiệp
FDI lớn thường gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất so với các doanh nghiệp trong những khu vực còn lại.
3.2. Các chính sách, hướng đi, hành động cần có để thích ứng với xu hướng thế
giới về FDI
3.2.1. Cơ hội và thách thức trong thu hút FDI của Việt Nam
Sau hơn ba thập niên mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bối
cảnh xung đột thương mại trên thế giới, xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công
nghiệp (CMCN) 4.0, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu… cùng với
sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và chống tự do hóa thương mại đa phương trên thế
giới đã tác động đến việc điều chỉnh dòng vốn đầu tư của các quốc gia. Do đó, cần
nhận diện những cơ hội và thách thức Việt Nam phải đối mặt, từ đó đề xuất một số
giải pháp cho Việt Nam nhằm thu hút có hiệu quả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) trong bối cảnh mới.
3.2.1.1 Cơ hội Cơ hội khi Việt Nam liên tiếp ký kết các
FTA thế hệ mới.
Các FTA thế hệ mới (đặc biệt là CPTPP) đã giúp Việt Nam tiếp cận với nền
kinh tế của 60 nước, trong đó có 15/20 nước thuộc khối G20. Thông qua việc đàm
phán và ký kết các FTA, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu chú ý, quan tâm nhiều lOMoAR cPSD| 58702377
hơn đến thị trường Việt Nam. Minh chứng điển hình là sự gia tăng về vốn đầu tư từ
các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản… năm 2019 và đây đều là các đối tác chủ
chốt trong các FTA đã có hiệu lực. Khi các FTA có hiệu lực, hàng hóa xuất khẩu có
xuất xứ từ Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi, đặc biệt là về hàng rào thuế quan.
Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam để tận dụng
cơ hội này. FTA giúp cho việc tiết kiệm chi phí vận chuyển sản phẩm trung gian và
sản phẩm cuối cùng giữa công ty mẹ ở nước đầu tư và các công ty con đặt ở các nước
tiếp nhận. Bên cạnh đó, FTA giúp hình thành mạng lưới doanh nghiệp khu vực, giúp
làm giảm chi phí dịch vụ. Đây là điều mà các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm nhằm
tận dụng được các nguồn lực tại các nước tiếp nhận nguồn đầu tư. Cơ hội khi luồng
vốn FDI dịch chuyển do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung thời kỳ tổng thống Mỹ mới là ông Biden
vẫn tiếp tục, nhiều công ty công nghệ của Hoa Kỳ, Nhật Bản rời Trung Quốc sang
các nước khác đầu tư và Việt Nam được coi là một điểm đến: Tập đoàn Pegatron
(Đài Loan) - một trong 5 nhà sản xuất linh kiện, sản phẩm điện tử hàng đầu thế giới
- đang đề xuất đầu tư khoảng 1 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất tại khu công
nghiệp Nam Đình Vũ, TP. Hải Phòng. Đáng lưu ý, Pegatron cũng đang có ý định đưa
trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) từ Trung Quốc về Việt Nam vào thời điểm
phù hợp. Dự án này đi vào hoạt động dự kiến sẽ tạo việc làm cho khoảng 22.500 lao
động trực tiếp và đóng góp vào nguồn thu ngân sách ở thời kỳ đầu khoảng 100 tỷ
đồng/năm. Foxconn, Luxshare vào Việt Nam được 3 năm và đang tăng tốc đầu tư và
đẩy mạnh sản xuất tại Việt Nam và nhiều dự án chất lược cao khác nữa.
Cơ hội khi luồng vốn FDI dịch chuyển do tác động của đại dịch Covid-19.
Đại dịch Covid-19 là chất xúc tác thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch, sắp
xếp lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng chính là cơ hội để các nước trên thế giới
nhận thấy sự phụ thuộc lớn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng từ Trung Quốc. Chính
vì lý do này, các tập đoàn đa quốc gia muốn dịch chuyển đầu tư sang các nước châu
Á khác, như: Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Philippines… Đơn
cử, các công ty, như: Apple, Nintendo, HP, Dell đã có kế hoạch di chuyển khỏi Trung
Quốc và điểm đến có thể là Ấn Độ; Nikkei Asian Review, Google và Microsoft đang
chuyển một số dây chuyền sản xuất của họ từ Trung Quốc sang Việt Nam và Thái Lan.
Cơ hội được nhà đầu tư nước ngoài đánh giá có vị trí chiến lược trong đảm bảo
chuỗi cung ứng toàn cầu, là điểm đến đầu tư an toàn và hấp dẫn.
Đối với các nhà đầu tư, Việt Nam cũng có thể là một lựa chọn thay thế cho
Trung Quốc, từ đó Việt Nam có thể được hưởng lợi từ việc đón đầu tư nước ngoài,
thúc đẩy khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Thực tế là sau khi
chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn ra, nhiều nhà đầu tư từ Mỹ, Anh, Nhật
Bản… và cả những nhà đầu tư Trung Quốc đã cân nhắc đến khả năng dịch chuyển
đầu tư từ thị trường Trung Quốc sang thị trường Việt Nam. Trong những năm gần
đây, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài
ngày càng tăng. Bên cạnh những lợi thế truyền thống, như: vị trí địa lý chiến lược,
lao động giá rẻ, nền chính trị hòa bình ổn định…, Việt Nam hiện nay còn thu hút nhà lOMoAR cPSD| 58702377
đầu tư nước ngoài bởi môi trường đầu tư ngày càng năng động, cởi mở, có nhiều
chính sách khuyến khích ưu đãi của chính quyền đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đặc
biệt, việc Việt Nam chính thức tham gia vào 2 FTA (CPTPP và EVFTA) đã giúp các
nhà sản xuất tiếp cận tốt hơn các thị trường xuất khẩu lớn. Do đó, Việt Nam được
đánh giá là một trong những điểm đến quan trọng của dòng FDI dịch chuyển khỏi Trung Quốc.
3.2.1.2 Thách thức trong thu hút FDI vào Việt Nam
Bên cạnh các cơ hội, Việt Nam cũng còn phải đối mặt trước nhiều thách thức
trong quá trình thu hút nguồn vốn quan trọng này. Những thách thức cơ bản có thể được kể đến là:
Thách thức hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực pháp lý, năng lực
quản lý và quản trị, chất lượng nhân lực
Việt Nam cần phải vượt qua những thách thức đang trực tiếp ảnh hưởng đến
môi trường đầu tư, như: sự thiếu ổn định về chính sách, các quy định pháp luật chưa
rõ ràng và thiếu minh bạch, gây ra những khó khăn cho nhà đầu tư trong quá trình
thực hiện; cơ sở hạ tầng cho các hoạt động logistics chưa phát triển đồng bộ; nguồn
nhân lực có trình độ chuyên môn cao còn hạn chế, thủ tục hành chính vẫn còn phức
tạp… Một số nhà đầu tư nước ngoài chưa hài lòng về khả năng đáp ứng yêu cầu công
khai, minh bạch, ổn định, dễ dự báo về thể chế, chính sách, luật pháp; thực thi pháp
luật nghiêm minh, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư ở
Việt Nam. Do đó, đây cũng là rào cản cần được tháo gỡ trong thời gian tới. Thách
thức do khả năng kết nối với doanh nghiệp FDI của doanh nghiệp trong nước
yếu, cùng các khó khăn trong phát triển công nghiệp phụ trợ và tham gia chuỗi
cung ứng toàn cầu
Các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay gặp khó khăn trong việc tham gia vào
chuỗi cung ứng toàn cầu và chưa đủ năng lực để chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh
doanh cho phù hợp với xu thế mới, từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh so với các
doanh nghiệp nước ngoài. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp Việt Nam có nguy
cơ “thua ngay trên sân nhà” và Nhà nước không thể can thiệp vì những ràng buộc về
các nguyên tắc của các FTA. Công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho các dự án công nghệ
cao của Việt Nam còn nhiều hạn chế, doanh nghiệp nội địa nhỏ về quy mô, trình độ
công nghệ thấp nên chưa thể trở thành vệ tinh, là mắt xích trong chuỗi cung ứng của
các tập đoàn đa quốc gia. Thực trạng này dẫn tới hạn chế tính lan tỏa của các dự án
FDI đối với phát triển các ngành kinh tế Việt Nam. Mặc dù, cơ sở hạ tầng: đường xá,
cầu cảng, điện, internet của các vùng miền Việt Nam có nhiều cải thiện, nhưng so
với nhiều nước vẫn còn chưa đồng bộ, tắc nghẽn giao thông, chi phí vận tải cao, điện
nước chập chờn, đặc biệt ở Tây Nam Bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tình
trạng này tác động bất lợi đến khả năng thu hút các dự án lớn có trình độ công nghệ cao.
Thách thức suy giảm dòng vốn FDI toàn cầu lOMoAR cPSD| 58702377
Theo dự báo của WIPA (2020), lượng vốn FDI toàn cầu sẽ sụt giảm tới
30%40% trong giai đoạn 2020-2021. Thêm vào đó, xu hướng ưu tiên chuyển dịch
sản xuất từ nước ngoài về nội địa hoặc các nước gần đang dần gia tăng nhằm nâng
cao tính chủ động của nhiều nước trong chuỗi cung ứng, dẫn đến tình trạng cạnh
tranh trong thu hút đầu tư càng trở nên gay gắt. Trong khi các nguồn vốn đầu tư đang
sụt giảm, thì các thị trường mới nổi hấp dẫn nhà đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều,
như: Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia… với đủ các hình thức thu hút đầu tư hấp dẫn khác
nhau. Họ có lợi thế tương đồng hoặc riêng biệt vẫn đang cạnh tranh quyết liệt với
Việt Nam. Các quốc gia này cũng đang ban hành nhiều chính sách rất mạnh mẽ để
giữ chân, cũng như lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài, như: ưu đãi về thuế, xây dựng
các khu công nghiệp, gói hỗ trợ đào tạo thợ lành nghề, hoặc những cam kết sẽ cải
thiện môi trường kinh doanh nội địa…
Thách thức khi dịch Covid-19 đã làm đứt gãy nhiều chuỗi sản xuất và cung ứng
toàn cầu nguy cơ của sự “tháo chạy” FDI khỏi Việt Nam
Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của
Việt Nam, làm gián đoạn các chuỗi cung ứng và cản trở các hoạt động thương mại,
đầu tư… Dịch bệnh đang tiếp tục lây lan với tốc độ nhanh trên diện rộng tại nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt đã xuất hiện chủng vi rút mới có khả năng lây lan mạnh
hơn tại khoảng 40 quốc gia, khiến nhiều nước phải áp dụng các biện pháp mạnh, tái
phong tỏa để phòng, chống dịch. Việt Nam vẫn đang tiếp tục chống dịch trong diễn
biến tình hình dịch ngày càng phức tạp và khó kiểm soát.
Trong công văn “Đề xuất chiến lược phòng ngừa và kiểm soát đại dịch nhằm
khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh an toàn trong trạng thái chống dịch mới”
ngày 17/9/2021 của các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài: Amcham, Eurocham,
Korcham, US-ASEAN gửi Thủ tướng Chính phủ đã cho biết, 20% các doanh nghiệp
thành viên của họ đã chuyển một số hoạt động sản xuất sang quốc gia khác do tình
trạng ngưng trệ sản xuất và ách tắc logistics, rất nhiều đơn hàng của các doanh nghiệp
FDI và doanh nghiệp Việt Nam đã được chuyển ra nước ngoài.
Tuy nhiên, cũng trong công văn của các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài,
một mặt họ khẩn thiết kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các giải pháp tháo gỡ khó
khăn, khôi phục sản xuất trong trạng thái bình thường mới cho các doanh nghiệp
FDI, mặt khác, họ cũng thể hiện quyết tâm cùng hợp tác, chia sẻ, chung tay cùng
người dân và Chính phủ Việt Nam vượt qua đại dịch, thể hiện trách nhiệm xã hội cao
và tình cảm gắn bó, nguyện vọng tiếp tục làm ăn lâu dài tại Việt Nam. Do đó, đây
vẫn là một trong những thách thức lớn nhất, mà Việt Nam cần phải vượt qua, để trở
thành điểm đến an toàn của nhà đầu tư nước ngoài.
3.2.2 Một số chính sách cụ thể để cải thiện môi trường đầu tư
Bối cảnh mới với nhiều cơ hội và thách thức như hiện nay đòi hỏi Việt Nam
cần phải có những thay đổi về định hướng chiến lược thu hút FDI trong thời gian tới, cụ thể như sau: lOMoAR cPSD| 58702377
● Chính sách về thủ tục hành chính
Cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cải cách thủ tục hành chính, khắc phục sự trì
trệ trong các cơ quan quản lý nhà nước, đơn giản hoá các thủ tục hành chính theo
nguyên tắc “một cửa”, “một dấu”. Các cơ quan phụ trách hợp tác và đầu tư tạo điều
kiện thuận lợi cho họ đăng ký. Về hồ sơ đăng ký cấp giấy phép đầu tư, các cơ quan
chức năng phải thông báo công khai các loại giấy phép cần có, riêng các loại dự án
có tỉ lệ xuất khẩu từ 80% trở lên và một số lĩnh vực khác do bộ Kế hoạch và Đầu tư
công bố, nhà đầu tư phải đăng ký theo mẫu của bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường cần sửa đổi, điều chỉnh một số nội
dung theo hướng giảm bớt các danh mục phải báo cáo đánh giá tác động đến môi
trường và quy định cụ thể các dự án được miễn lập các loại báo cáo này. Với các dự
án đó, cơ quan thẩm định phải tiến hành khẩn trương và đảm bảo độ chính xác cao
để vừa rút ngắn thời gian đăng kí vừa hạn chế được các công nghệ lạc hậu, gây ô
nhiễm môi trường. Muốn vậy các cơ quan phải thường xuyên thu thập các thông tin
về công nghệ tiên tiến của thế giới.
Việc cấp giấy phép kinh doanh đối với những lĩnh vực và ngành nghề mà theo
quy định phải có giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép hành nghề, doanh nghiệp chỉ
cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để triển khai hoạt động của mình
theo mục tiêu, ngành nghề quy định tại giấy phép đầu tư, không phải xin giấy phép
kinh doanh hoặc giấy phép hành nghề.
Để tạo điều kiện cho việc triển khai dự án nhanh sau khi được cấp giấy phép
đầu tư, nhà nước giải quyết nhanh chóng các thủ tục: -
Thủ tục cấp đất: Sở địa chính ở các tỉnh, thành phố chỉ tiến hành đo đạc,
lập bản đồ địa chính một lần và đơn giản hoá mọi thủ tục khác về đất đai. Đồng thời
đề nghị tổng cục địa chính và các cơ quan hữu quan soạn thảo ngay các quy định về
giải phóng mặt bằng, về đền bù cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như
quy định về chuyển quyền sử dụng đất. -
Thủ tục quản lý xây dựng cơ bản theo thiết kế đã đăng ký cần được tổ
chức chặt chẽ nhưng không được can thiệp quá sâu. cơ quan nhà nước quản lý xây
dựng cơ bản cần thực hiện đúng chức năng thẩm quyền của mình, đồng thời cải tiến
các thủ tục theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả.
● Chính sách đơn giản hóa thủ tục hải quan
Các quy định thủ tục hải quan phải được sửa đổi ngay và công bố công khai
theo hướng đơn giản, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khắc phục ngay các hiện
tượng phiền hà, tiêu cực; biết tiếp thu và xử lý các ý kiến đóng góp hoặc khiếu nại
của khách hàng. Muốn vậy phải có sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành có liên quan
như thương mại, hải quan, công nghệ môi trường. Những vấn đề phát sinh không
giải quyết được thì cần phải nhanh chóng có công văn hỏi ý kiến và công văn phúc
đáp của cơ quan chức năng.