1. Phát triển bền vững về kinh tế là gì?
Khái niệm phát triển bền vững:
KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.
KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự
phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững)
PTBV về kinh tế phải đảm bảo 4 yêu cầu
- TTKT trong lâu dài và ổn định
+ TTKT trong lâu dài và ổn định thể hiện ở tổng thu nhập của nền kinh tế và thi nhập
bình quân đầu người tăng lên trong dài hạn
+ TTKT trong lâu dài và ổn định: GDP tăng, sản lượng hàng hóa và dịnh vụ tăng tạo
điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, DN có điều kiện hiện đại hóa
quá trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống
dân cư.
+TTKT trong lâu dài và ổn định từ đó doanh nghiệp sẽ có điều kiện để đào tạo nguồn
nhân lực, nâng cao năng suất lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ nghèo đói, cải thiện
chất lượng cuộc sống dân cư.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hợp lí
+CCKTCD theo hướng tiến bộ, hợp lí sẽ giúp khai thác tiền năng, lợi thế so sánh của
đất nước cũng như từng vùng miền địa phương, nên từng loại sản phẩm hàng hóa có
chất lượng tốt, giá bán hợp lí đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, thúc đẩy xuất khẩu
hàng hóa.
+CCKTCD theo hướng tiến bộ, hợp lí giúp quốc gia đạt hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả
xã hội và bảo vệ môi trường.
- Sử dụng tối ưu các nguồn lực
+Các nguồn lực của nền kinh tế gồm vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, KH-CN)
+ Sử dụng tối ưu các nguồn lực nghĩa là sử dụng tiết kiệm, hợp li, hiệu quả từ đó làm
giảm chi phí sản xuất, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, gia tăng sản
lượng hàng hóa của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và dài hạn.
+Nếu sử dụng nguồn lực lãng phí sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm doanh thu, giảm
lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm sản lượng hàng hóa của nên kinh tế, kìm hãm tăng
trưởng kinh tế.
- Năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế
+ Sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, giá bán sản phẩm
hợp lí, chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
+ Năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế được
nâng cao giúp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, tăng thu ngoại tệ để phát triển các ngành
kinh tế, thúc đẩy TTKT quốc gia.
+ Nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế
sẽ giúp nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường thế giới, từ đó góp phần thu hút
đầu tư nước ngoài, góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
2. PTBV về xã hội là gì?
Khái niệm phát triển bền vững:
KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.
KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự
phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững).
PTBV cần đảm bảo 4 yêu cầu:
- Chống được nghèo đói, thất nghiệp và bất công bằng xã hội: Chống được nghèo đói,
thất nghiệp và bất công bằng xã hội sẽ giảm tệ nạn do nghèo đói, thất nghiệp và bất
công bằng gây ra và tạo môi trường cho xã hội phát triển ổn định.
- Cải thiện sâu rộng mọi khía cạnh của cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội: Khi
cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội hội được cải thiện sâu rộng mọi khía cạnh
của cuộc sống thì người dân sẽ có cuộc sống hạnh phúc và họ sẽ yên tâm sống và làm
việc vì xã hội hơn và giảm thiếu tệ nạn xã hội.
- Đảm bảo cân bằng giữa cuộc sống vật chất và tinh thần, duy trì và phát triển được các
giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại: Đảm bảo cân bằng giữa cuộc sống vật
chất và tinh thần sẽ đảm bảo cho con người có cuộc sòng hài hòa, thiện lượng và tránh
được sự suy đồi của đạo đức do chạy theo cuộc sống vật chất gây ra làm cho xã họi
phát triển bất ổn. Thực trạng xã hội hiện nay đã chứng tỏ điều đó và ngày càng nghiêm
trọng dẫn đến suy đồi về đạo đức dẫn đến nguy cơ xã hội bất ổn. Duy trì và phát triển
được các giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại sẽ làm cho con người sống thiện
lương hơn, đoàn kết thương yêu nhau hơn và từ đó làm cho đạo đức nhân loại và đạo
đức của từng dân tộc thăng hoa, đó là cội nguồn của sự phát triển xã hội lâu dài và bền
vững.
- Đảm bảo cho mọi người có cơ hội lựa chọn, có năng lực lựa chọn, tham gia vào quá
trình phát triển và cùng hưởng lợi từ quá trình phát triển: Nếu đảm bảo cho mọi người
có cơ hội lựa chọn, có năng lực lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển và cùng
hưởng lợi từ quá trình phát triển thì dất nước sẽ có cơ hội có đội ngũ nhân lực chất
lượng cao và sẽ hết lòng làm việc và sẽ làm việc với nhau đoàn kết và cũng hỗ trự
nhau trong quá trình làm việc và giảm được tiêu cực dó không đảm bào cho mọi người
có năng lực và cơ hội lựa chọn cũng cùng hưởng lợi, từ đó làm cho xã hội mất đoàn
kết và không phát huy được động lực của nhân tố con người.
3. Phát triển bền vững về môi trường là gì?
Khái niệm phát triển bền vững:
KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.
KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự
phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững).
PTBV về xã hội cần đản bảo 4 yêu cầu:
- Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái: Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái sẽ giảm thiểu
được thiên tai như lũ lụt, hạn hán, biến đối khí hâu.v.v. Nạn chặt phá rừng, khai thách
khoáng sản bừa bãi cộng với phát triển công nghiệp nhưng không quan tâm đến bảo vệ
môi trường làm cho môi trowngf mất cân bằng sinh thái đang là cái họa đối với nhân
loại hiện nay.
- Xử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường:
Xử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường
sẽ làm môi trường trong sạch trở lại đương nhiên sẽ dẫn đến môi trương trong sach
hơn.
- Phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng: Phòng chống cháy và chặt phá rừng là giữ
gìn bào bảo vệ lá phổi xanh từ đó giảm thiểu thiên tai, dịch bện. Tình trạng chặt phá
rựng ở nước ta thói gian qua đã là nguyên nhân gậy nên các hiện tượng thiên tai như lũ
lụt, hạn hán, sạt lở, nước biển xâm nhập sâu và nội địa làm cho môi trường bị ô nhiễm
ngày càng nghiêm trọng.
- Khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên: Khai thác hợp lý và sử
dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cho tài nguyên được bảo tồn tốt hơn.
Khai tác và sử dụng tài nguyên lãng phí là nguyên nhân dẫ đến môi trường bị ô nhiễm
ngày càng nghiêm trọng như hiện nay.
4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế? Vì sao nói tăng
trưởng kinh tế ko phải là điều kiện đủ để có phát triển kinh tế?
KN tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng kết quả đầu ra của nền kinh tế
trong 1 thời kỳ ( thường là năm) so với kỳ gốc ( năm gốc).
Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:
+ Các nhân tố thuộc tổng cầu: đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các Tổng cầu biến
đổi theo 2 xu hướng:
+ Sụt giảm
+ Gia tăng _ Nền kinh tế hoạt động < sản lượng tiềm năng
_ Nền kinh tế hoạt động >= sản lượng tiềm năng
doanh nghiệp và CP sẽ sử dụng: ( GDP = C + I + G + X -M)
+ Các nhân tố thuộc tổng cung: đề cập đến khối lượng sản phẩm mà các ngành kinh doanh
sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định ( Y
= F (K, L, R, T))
+ Các nhân tố phi kinh tế: như thể chế chính trị-kinh tế-xã hội, cơ cấu dân tộc, tôn giáo, đặc
điểm văn hoá-xã hội.
KN phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt
của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả về lượng và chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế
và xã hội của mỗi quốc gia.
Nội dung của phát triển kinh tế:
- Tăng trưởng kinh tế trong ổn định và dài hạn
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ
- Là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người từ kết quả kinh tế
Mối quan hệ giữa TTKT và PTKT:
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ với
nhau. Sự khác nhau thể hiện rõ nhất ở chỗ, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi thuần túy
về mặt kinh tế, về mặt lượng của nền kinh tế. Trong khi đó, phát triển kinh tế không chỉ phản
ánh sự thay đổi về lượng mà phản ánh cả sự thay đổi về chất của nền kinh tế; phản ánh không
chỉ sự tiến bộ về mặt kinh tế, mà còn phản ánh cả sự thay đổi về xã hội trong quá trình phát
triển của một quốc gia. Song cũng vì thế chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:
- TTKT tác động đến phát triển kinh tế: TTKT là nội dung cơ bản nhất và là điều kiện
cần để có PTKT vì ko có TTKT thì không có PTKT, bởi vì tiến bộ về mặt kinh tế là cơ
sở, là điều kiện để đạt được sự tiến bộ xã hội. Khi quốc gia có TTKT, nhà nước có
nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế hướng đến quốc gia có PTKT. Cụ
thể:
+ Nhà nước có nguồn lực để gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, khai thác và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao thu nhập của dân cư, thúc đẩy
PTKT.
+ Nhà nước có nguồn lực để đầu tư vào giáo dục, y tế thông qua đầu tư xây dựng bệnh
viện, trường học, thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân. Vì vậy, nâng
cao trình độ dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, quốc gia đạt được tiến bộ
về mặt xã hội.
+ Nhà nước có nguồn lực để thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã
hội, đảm bảo cho người ngheo có mức sống tối thiểu, và được đào tạo tay nghề để tìm
kiếm việc làm vươn lên thoát nghèo, từ đó cải thiện đời sống dân cư.
- PTKT tác động đến TTKT
+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng
tiến bộ hợp lí, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp vad
dịch vụ, các khu đô thị ngày càng được mở rộng, vì vậy thúc đẩy tăng trưởng thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế cao.
+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là năng lực nội sinh của nền kinh tế được
nâng cao, khoa học – công nghệ ngày càng phát triển, chất lượng nguồn lao động được
cải thiện. Từ đó, gia tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng hàng hóa dịch vụ của
nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao ổn định và dài hạn.
+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân
cư được dâng cao, vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt. Từ đó phát huy tiềm
năng của các cá nhân, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, làm gia tăng
sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
TTKT chỉ là điều kiện cần mà không phải là điều kiện đủ cho PTTKT bởi vì:
- Tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế, mà chưa
phản ánh sự thay đổi theo hướng tiến bộ về mặt chất của nền kinh tế.
- Tăng trưởng kinh tế có thể được thể hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nếu quốc
gia có tăng trưởng kinh tế dựa vào khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên sẵn có,
làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, thì phương thức tăng trưởng kinh tế
như vậy không dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
- Nếu quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng kết quả từ quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ
đem lại lợi ích cho vùng kinh tế này hoặc bộ phận dân cư này mà không đem lại lợi
ích cho vùng kinh tế khác hoặc bộ phận dân cư khác. Thì có thể làm bất bình đẳng gia
tăng , phân hóa giàu nghèo, phương thức tăng trưởng kinh tế như vậy cũng không dẫn
đến phát triển kinh tế.
- Điều kiện đủ để quốc gia trở thành quốc gia có phát triển kinh tế là chính sách và quan
điểm của nhà nước có hướng đến các mục tiêu của phát triển kinh tế hay không, quốc
gia có sử dụng các kết quả của tăng trưởng kinh tế để thực hiện các nội dung của phát
triển kinh tế hay không
- Trên thực tế có những quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng ko có phát triển kinh tế
5.Thế nào là khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát triển bền
vững? Để đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát
triển bền vững ở Việt Nam cần quan tâm những vấn đề gì?
KN tài nguyên thiên nhiên: TNTN là tất cả những yếu tố thiên nhiên mà con người có thể sử
dụng để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.
- TNTN hữu hạn có thể tái sinh: tn rừng, các động vật trên cạn, dưới nước,...
- TNTN hữu hạn không thể tái sinh: Các khoáng sản kim loại, phi kim,..
- TNTN vô hạn: tn nước, không khí, gió, mặt trời,..
KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.
KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự
phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững)
KN khai thác và sử dụng TNTN theo quan điểm PTBV được hiểu là: Việc khai thác và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu tăng hiện tại nhưng làm tổn thương đến thế
hệ mai sau.
Nội dung khai thác và sử dụng;
- Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát triển là khai thác và
sử dụng phải theo quy hoạch, kế hoạch, không khai thác bữa bãi.
- Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải dựa trên cơ sở đầu tư và hiện tại hóa
công nghiệp, khai thác và chế biến đầu tư để tránh tình trạng xuất khẩu tài nguyên thô
gây lãng phí và nhanh chóng bị cạn kiệt.
- Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải đi đôi với việc tăng cường công tác
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- Khai thác và sử dụng tài nhiên thiên nhiên phải đi đôi với việc tăng cường đầu tư
nghiên cứu và sản xuất ra các nguồn nguyên liệu và năng lượng mới thay thế những
nguồn tài nguyên có nguy cơ cạn kiệt.
Thực trạng khai thác và sử dụng TNTN
- Việc khai thác còn bừa bãi, không theo quy hoạch. Nhiều vùng còn có sự chồng chéo
trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, quản lý tài nguyên thiếu chặt chẽ. Ngoài ra có
tình trạng cạnh tranh trong khai thác giữa khu vực nhà nước và tư nhân.
- Khai thác chưa gắn với tái tạo và bảo vệ môi trường, công nghệ khai thác lạc hậu
- Sau khai thác chưa quan tâm đến công nghiệp chế biến
- Còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác
Nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở Việt
Nam
- Do quản lý của nhà nước trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn lỏng
lẻo, luật pháp chưa nghiêm minh, chưa có tính chất răn đe, hình thức phạt còn quá nhẹ
- Do thiếu chiến lược và kế hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên 1 cách
khoa học
- Do thiếu vốn, công nghê lạc hậu nên sau khai thác chưa quan tâm đến chế biến tài
nguyên, chủ yếu xuất khẩu tài nguyên thô
- Do ý thức của 1 bộ phận dân cư còn yếu kém nên chỉ quan tâm đến khai thác, chưa
quan tâm đến tái tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
- Do năng lực nghiên cứu ra năng lượng mới thay thế cho những nguồn tài nguyên sẵn
còn yếu nên phải nhập khẩu nhiều tài nguyên
Giải pháp:
- Nhà nước cần tăng cường đầu tư nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chiến
lược, quy họach và kế hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên có cơ sở khoa học và thực tiễn
phù hợp từng loại tài nguyên và từng vùng địa phương.
- Tăng cường đầu tư theo hướng hiện đại công nghệ khai thác và chế biến tài
nguyên,
- Tăng đầu tư cho công tác bảo vệ tài nguyên và đầu tư tái tạo những nguồn tài
nguyên có khả năng tái sinh, như trồng rừng, nuôi trồng thủy sản.
- Tăng cường đâu tư nghiên cứu sản xuất các nguồn nguyên liệu và năng lượng
mới thay thế các nguyền tài nguyên có nguy cơ cạn kiệt.
- Tăng cường vai trò nhà nước về khai thác và sử dụng tài nguyên theo hướng
bền vững (đưa vài vấn đề để minh chứng, không trình bày dài )
Ngành khai khoáng áp dụng tuyển quặng công nghệ tuyển nổi – từ đó tăng thu hồi quặng và
giảm chất thải rắn.
Chương trình trồng 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021–2025 góp phần tái tạo rừng và tăng hấp thụ
CO .
Câu 6: Chất lượng nguồn lao động là gì? Để nâng cao chất lượng nguồn lao động trong
điều kiện VN cần quan tâm giải quyết vấn đề j?
KN nguồn lao động: Là 1 bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động
và những người không có việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động được xem xét trên 2 khía cạnh: số lượng lao động và chất lượng lao động
Chất lượng lao động : là tổng thể những đặc trưng, năng lực và phẩm chất của người lao động,
phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu công việc và đóng góp vào sự phát triển của tổ chức,
quốc gia.•Các yếu tố chính cấu thành chất lượng lao động bao gồm sức khỏe thể chất và tinh
thần, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, cùng với các phẩm chất đạo đức và khả
năng thích ứng.•
Thực trạng chất lượng lao động Việt Nam:
- Chất lượng của nguồn lao động được đánh giá thông qua các yếu tố làm cho lao động có
hiệu quả hơn.
- Ở từng người lao động cụ thể, chất lượng lao động được thể hiện trên các khía cạnh: sức
khoẻ; trình độ học vấn; kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được; ý thức, thái
độ, tác phong của người lao động.
- Ở tổng thể nguồn lao động, chất lượng lao động không chỉ xem xét dưới góc độ cá nhân
từng người lao động, mà còn thể hiện ở cơ cấu của nguồn lao động xét theo ngành nghề và cơ
cấu lao động trong từng ngành cụ thể, cũng như cơ cấu xét theo tính chất lành nghề của chất
lượng chuyên môn.
- Trình độ tổ chức của lao động. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quyết định đến nâng cao chất
lượng nguồn lạo động. Trình độ tổ chức của một tổ chức ảnh hưởng đến việc nâng cao trình
độ lao động bằng cách tạo ra một môi trường làm việc tích cực, tối ưu hóa việc sử dụng tài
nguyên, tăng cơ hội học hỏi và phát triển, cũng như khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.Tạo
điều kiện cho sáng tạo và đổi mới:Sự phối hợp trong tổ chức khuyến khích trao đổi ý kiến và
ý tưởng, từ đó tạo ra môi trường thúc đẩy sáng tạo và đổi mới.
Tăng khả năng giải quyết vấn đề: Công việc theo tổ chức thường yêu cầu sự hợp tác và phối
hợp giữa các thành viên, từ đó tạo ra nhiều cơ hội để giải quyết các vấn đề phức tạp.
Tạo ra cơ hội phát triển cá nhân: Các tổ chức thường có các chính sách phúc lợi và tiến
thưởng công bằng, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển sự nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc
sống.
Chất lượng nguồn lao động còn thể hiện ở chính sách sử dụng lao động, như chính sách tuyển
dụng, chính sách đãi ngộ và chế độ khen thưởng và kỷ luật lao động.
Giải pháp:
- Tạo việc làm và tăng cầu lao động thông qua phát triển các ngành sử dụng nhiều lao
động như dệt may, da giày, nông – lâm – thủy sản và các ngành nghề truyền thống ở
nông thôn.
- Thu hút đầu tư đa thành phần, khuyến khích doanh nghiệp trong nước và FDI đầu tư
vào những vùng tiềm năng nhưng thiếu vốn và công nghệ.
- Tái phân bố lao động hợp lý giữa ngành và vùng bằng cách mở rộng đào tạo nghề cho
lao động chuyển dịch vào các khu công nghiệp, khu đô thị mới.
- Đối với khu vực nông thôn, cần phát triển kinh tế trang trại, công nghiệp – dịch vụ
nông thôn theo phương châm “ly nông bất ly hương” để tạo việc làm tại chỗ.
- Hỗ trợ các chương trình việc làm và giảm nghèo, huy động nguồn vốn nhà nước, tín
dụng ưu đãi và hỗ trợ quốc tế; khuyến khích các hội, đoàn thể tham gia.
- Phát triển thị trường lao động hiện đại, mở sàn giao dịch, hệ thống thông tin việc làm,
văn phòng giới thiệu việc làm nhằm kết nối cung – cầu minh bạch và hiệu quả.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhưng phải quản lý chặt chẽ, đảm bảo đào tạo nghề,
ngoại ngữ và thông tin hợp đồng rõ ràng để bảo vệ quyền lợi lao động.
- Kiểm soát tốc độ gia tăng dân số bằng việc hoàn thiện chính sách dân số và tăng
cường xử lý vi phạm.
- Nâng cao phúc lợi và điều kiện làm việc, bao gồm tiền lương tối thiểu, bảo hiểm
hội – y tế, an toàn lao động, nhà ở công nhân và các dịch vụ an sinh.
- Cải thiện chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động theo hướng trọng dụng nhân tài,
tạo cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc ổn định để giữ chân lao động.
Câu 7: Vì sao trong định hướng CDCCKT ở việt nam lại ưu tiên phát triển các ngành sử
dụng nhiều lao động? Để các ngành này phát triển bền vững thì cần quan tâm đến vấn
đề gì?
KN cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và
mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể.
KN chuyển dịch cơ cấu kinh tế: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu kinh
tế từ trạng thái này sang trạng thái khác sao cho phù hợp với môi trường và điều kiện phát
triển của nền kinh tế.
Các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn ưu tiên phát triển ở việt nam
Ưu tiên phát triển các ngành thu hút nhiều lao động, như các ngành dệt may, giày dép,
chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển dịch vụ… Đó là
những ngành vừa có lợi thế xuất khẩu, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
ngày một tăng cao đồng thời gắn với yêu cầu giải quyết việc làm.
Phát triển nông nghiệp theo hướng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh
xuất khẩu và tạo cơ sở nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Phát triển các ngành công nghiệp trung gian như công nghiệp luyện kim, hoá chất, vật
liệu xây dựng và một số ngành mũi nhọn về công nghệ như: công nghiệp chế tạo máy
móc, thiết bị đồng bộ, công nghệ sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp
công nghệ thông tin…
•Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có nhiều lợi thế như du lịch, các ngành dịch vụ đáp
ứng nhu cầu toàn diện về phát triển kinh tế, xã hội đất nước và các ngành dịch vụ phù
hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, như hệ thống
giao thông, các loại cảng, hệ thống thông tin, điện, nước…
Các ngành sử dụng nhiều lao động: dệt may, da giày,...
Vì :
Việt Nam có lực lượng lao động đông và dồi dào, đang ở trong thời kì cơ cấu dân số
vàng vì vậy ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động có ý nghĩa qtrong cả
về kinh tế và xã hội
Các ngành sử dụng nhiều lao động là những ngành đòi hỏi vốn đầu tư ko lớn khả năng
thu hồi vốn nhanh, độ rủi ro thấp hơn so với các ngành sử dụng công nghệ cao. Do vậy
phù hợp với trình độ lao động và trình độ công nghệ của nước ta
Ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giúp thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Các ngành sử dụng nhiều lao động là những ngành có khả năng phát triển rộng khắp
cả nước với quy mô khác nhau, loại hình khác nhau. Từ đó, có thể tận dụng tối đa
nguồn lực sẵn có của đất nước về vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên
Sản phẩm của các ngành sử dụng nhiều lao động đáp ứng nhu cầu đa dạng ở trong
nước và xuất khẩu đến thị trường thế giới. Từ đó, giúp quốc gia có nguồn ngoại tệ lớn
để phát triển các ngành nghề lĩnh vực khác trong nền kinh tế
Thành tựu: Tạo việc làm, huy động các nguồn lực và phát triển kinh tế đất nước, cung cấp
sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập và nâng cao chất
lượng cuộc sống.......
Hạn chế:
+Chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển từng ngành phù hợp với tiềm năng và lợi thế của
đất nước cũng nhưn từng vùng địa phương nên dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, không
qua tâm đến nhu cầu thị trường.
+ Chưa thật sự quan tâm đầu tư đổi mới và hiện đại hóa công nghệ nên nhiều ngành vẫn sử
dụng công nghệ truyền thống cộng nghệ lạc hậu nên chất lượng sản phẩm thấp.
+ Chưa quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại lao động nên nhiều ngành lao động qua
đào tạo chiếm tỷ trọng thấp, chủ yếu là tự đào tạo.
+ Chưa quan tâm đến đổi mới sản phảm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm cả thị
trường trong nước và thế giới.
+ Chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với những ngành sử dụng nhiều lao động chưa được
xây dựng đồng bộ, thực thi còn nhiều khó khăn như chính sách cho vay vốn, hỗ trợ đào tạo
nhân lực, đổi mới và chuyển giao công nghệ, tìm kiếm và mở rộng thị trường, nhất là thị
trường ngoài nước.v.v...
Nguyên nhân:•
Do nhà nước chưa quan tâm đầu tư đổi mới hiện đại hoá công nghệ nên các ngành sử
dụng nhiều lao động vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp
Do chưa quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại nên trình độ lao động còn thấp
thiếu lao động có trình độ cao
Do chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển ngành phù hợp với tiềm năng lợi thế
của đất nước và của các vùng địa phương nên dẫn đến tình trạng các ngành này phát
triển tự phát ko đáp ứng nhu cầu của thị trường
Do chưa quan tâm đến đầu tư đổi mới sản phẩm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản
phẩm ở trong nước và thị trường thế giới
Do các chính sách của nhà nước cho phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động còn
nhiều hạn chế như: chưa đồng bộ, gặp khó khăn trong quá trình thực thi, các chính
sách liên quan đến vốn, đào tạo lao động, đổi mới công nghệ còn chưa được quan tâm
đúng mức
Giải pháp:
+Nhà nước cũng như các địa phương cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện các chiến lược
phát triển từng ngành cụ thể. Trên cơ sở chiến lược cần tiến hành quy hoạch phát triển từng
ngành phù hợp với tiềm năng và lợi thế của đất nước cũng nhưn từng vùng địa phương và phù
hợp với nhu cầu thị trường.
+ Quan tâm đầu tư đổi mới và hiện đại hóa công nghệ phù hợp với yêu cầu phát triển của
từng ngành.
+Quan tâm đến đào tạo và đào tạo lại lao động Pphù hợp yêu cầu phát triển của từng ngành và
từng vùng địa phương.
+ Các cơ sở sản xuất cần quan tâm đến đổi mới sản phảm, xây dựng thương hiệu, quảng bá
sản phẩm cả thị trường trong nước và thế giới dưới sự hỗ trợ của các tổ chức nhà nước có liên
quan..
+ Nhà nước cần chỉ đạo các bộ ngành cũng như các địa phương xây dựng đồng bộ, thực thi
Các chính sách như cho vay vốn, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đổi mới và chuyển giao công nghệ,
tìm kiếm và mở rộng thị trường, nhất là thị trường ngoài nước.v.v.
Câu 8: Phân tích giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Vì sao TTKT chỉ là điều
kiện cần mà ko phải là điều kiện đủ để thực hiện công bằng xã hội.
KN tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng kết quả đầu ra của nền kinh tế
trong 1 thời kỳ ( thường là 1 năm) so với kỳ gốc•
Các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT
- Nhân tố kinh tế gồm ( nhân tố thuộc tổng cầu và nhân tố thuộc tổng cung)
a, Nhân tố thuộc tổng cầu
Tổng cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các doanh nghiệp và CP
sẽ sử dụng: (GDP = C+I+G+X-M)
Tổng cầu có thể biến đổi theo 2 xu hướng :
- Tổng cầu sụt giảm.
- Tổng cầu gia tăng: Có 2 trường hợp xảy ra :
+ Nền kinh tế đang hoạt động dưới sản lượng tiềm năng.
+ Nền kinh tế đã đạt hoặc vượt sản lượng tiềm năng.
b, Nhân tố thuộc tổng cung.
Tổng cung đề cập đến khối lượng sản phẩm mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra
trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định.
Các nhân tố quyết định đến tổng cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất.
Có thể biểu hiện dưới dạng hàm sản xuất:
Y = F(K,L,R,T)
Trong đó K là vốn, L là lao động, R là tài nguyên, T là tiến bộ khoa học và công nghệ.
- Các nhân tố phi kinh tế:
+ Như thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, cơ chế, chính sách và luật pháp, cơ cấu dân tộc, tôn
giáo, đặc điểm văn hóa-xã hội.v.v.
+ Từ thực tiễn phát triển kinh tế thế giới những năm gần đây cho thầy nhân tố phi kinh tế, đặc
biệt là thể chế chính tri-kinh tế-xã hội, cơ chế, chính sách và luật pháp ngày càng có vai trò
quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ( vai trò của nhà
nước )
KN công bằng xã hội:
-“Công bằng xã hội là khái niệm đạo đức pháp quyền, đồng thời là khái niệm chính trị – xã
hội. Khái niệm công bằng xã hội bào hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực
tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa quyền và nghĩa
vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt,
giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được
đánh giá là bất công”
- Công bằng xã hội gồm : Công bằng xã hội theo chiều dọc và công bằng xã hội theo chiều
ngang
- Công bằng theo chiều ngang: Đối xử như nhau đối với người có đóng góp như nhau.
-Công bằng theo chiều dọc: Đối xử khác nhau đối với người có khác biệt bẩm sinh hoặc có
điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau, cường độ lao động
khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, về giáo dục đào tạo, về thừa kế và chiếm hữu tài sản
khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau.
Trong Báo cáo phát triển thế giới 2006 “Công bằng và phát triển của WB đã chỉ
“Trong báo cáo này, chúng tôi định nghĩa công bằng theo hai nguyên tắc cơ bản sau: Cơ hội
công bằng và Tránh sự cùng khổ tuyệt đối ( không ai sống dưới mức nghèo khổ ).
Tăng trưởng kinh tế tác động đến công bằng xã hội:
Tích cực: Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện, là cơ sở để thực hiện công bằng xã hội, hay
tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để thực hiện công bằng xã hội vì:
- Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao GDP tằn, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo đói do đó các vấn đề công bằng xã
hội được thực hiện tốt
- Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm gia tăng nguồn thu cho ngân sách
nhà nước từ đó vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt, cụ thể. Nhà nước có
nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như bệnh
viện, trường học đường xá. Đảm bảo cho người nghèo có mức sống tối thiểu, bên
cạnh đó nhà nước thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và xóa
đói giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát nghèo.
- Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhà nước có điều kiện phát triển mọi mặt của
xã hội như giáo dục, văn hóa, thể thao vì vậy vấn đề công bằng xã hội được thực
hiện tốt hơn.
Tiêu cực: Nếu quốc gia quá chú trọng đến việc thực hiện tăng trưởng kinh tế thì dẫn đến
chênh lệch thu nhập, chênh lệch giàu nghèo,bất bình đẳng gia tăng, làm trầm trọng hóa các
vấn đề xã hội.
Công bằng xã hội tác động đến tăng trưởng kinh tế:
Tích cực :
- CBXH được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho mọi người cơ hội công bằng trong
tiếp cận các dịch vụ xã hội: Khi CBXH được đảm bảo, người dân – đặc biệt là
nhóm yếu thế – có cơ hội tốt hơn trong tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng cơ bản.
Điều này giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động và
đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
- CBXH giúp phát huy và khai thác các nguồn lực trong xã hội: Giảm bất bình đẳng
giúp người nghèo có cơ hội sử dụng các nguồn lực như đất đai, vốn, giáo dục, từ
đó khai thác được tiềm năng của toàn xã hội. Khi bất bình đẳng giảm, sự ổn định
và đoàn kết xã hội tăng lên, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và sản xuất kinh
doanh.
- CBXH được thực hiện tốt sẽ làm giảm bớt gánh nặng của NSNN trong giải quyết
các vấn đề xã hội: Khi CBXH được cải thiện, số người rơi vào nghèo đói hoặc
thiếu tiếp cận dịch vụ cơ bản giảm xuống. Điều này hạn chế áp lực chi NSNN cho
trợ cấp, cứu trợ, và các chương trình hỗ trợ đặc thù; qua đó tăng tỷ lệ ngân sách
dành cho đầu tư phát triển kinh tế.
Tiêu cực: Thực hiện CBXH kiểu “bình quân” làm giảm động lực kinh tế, giảm hiệu quả sản
xuất. Tái phân phối quá mức (thuế cao, trợ cấp lớn) làm giảm đầu tư, giảm tiết kiệm và giảm
sức cạnh tranh. Chính sách xã hội thiên lệch dễ gây méo mó thị trường, phân bổ nguồn lực
kém hiệu quả. Chi tiêu xã hội quá lớn có thể làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế.
TTKT chỉ là điều kiện cần mà ko phải là điều kiện đủ để thực hiện công bằng xã hội vì:
TTKT chỉ phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế mà chưa phản ánh quốc
gia có gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội hay ko
Nếu quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng kết quả từ quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ
đem lại lợi ích cho 1 bộ phận dân cư mà ko nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ
phận dân cư trong xã hội thì bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo, công bằng
xã hội ko được thực hiện tốt
Điều kiện đủ để thực hiện tốt vấn đề công bằng xã hội này chủ trương chính sách của
nhà nước có gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tốt CBXH hay ko
Quốc gia có sử dụng kết quả tăng trưởng kinh tế để thực hiện các nội dung của công
bằng xã hội hay ko

Preview text:

  1. Phát triển bền vững về kinh tế là gì?

Khái niệm phát triển bền vững:

KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.

KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững)

PTBV về kinh tế phải đảm bảo 4 yêu cầu

  • TTKT trong lâu dài và ổn định

+ TTKT trong lâu dài và ổn định thể hiện ở tổng thu nhập của nền kinh tế và thi nhập bình quân đầu người tăng lên trong dài hạn

+ TTKT trong lâu dài và ổn định: GDP tăng, sản lượng hàng hóa và dịnh vụ tăng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, DN có điều kiện hiện đại hóa quá trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư.

+TTKT trong lâu dài và ổn định từ đó doanh nghiệp sẽ có điều kiện để đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư.

  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hợp lí

+CCKTCD theo hướng tiến bộ, hợp lí sẽ giúp khai thác tiền năng, lợi thế so sánh của đất nước cũng như từng vùng miền địa phương, nên từng loại sản phẩm hàng hóa có chất lượng tốt, giá bán hợp lí đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.

+CCKTCD theo hướng tiến bộ, hợp lí giúp quốc gia đạt hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường.

  • Sử dụng tối ưu các nguồn lực

+Các nguồn lực của nền kinh tế gồm vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, KH-CN)

+ Sử dụng tối ưu các nguồn lực nghĩa là sử dụng tiết kiệm, hợp li, hiệu quả từ đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, gia tăng sản lượng hàng hóa của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và dài hạn.

+Nếu sử dụng nguồn lực lãng phí sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm doanh thu, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm sản lượng hàng hóa của nên kinh tế, kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

  • Năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế

+ Sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, giá bán sản phẩm hợp lí, chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.

+ Năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế được nâng cao giúp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, tăng thu ngoại tệ để phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy TTKT quốc gia.

+ Nâng cao năng lực cạnh của sản phẩm hàng hóa, của doanh nghiệp, của nền kinh tế sẽ giúp nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường thế giới, từ đó góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.

  1. PTBV về xã hội là gì?

Khái niệm phát triển bền vững:

KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.

KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững).

PTBV cần đảm bảo 4 yêu cầu:

  • Chống được nghèo đói, thất nghiệp và bất công bằng xã hội: Chống được nghèo đói, thất nghiệp và bất công bằng xã hội sẽ giảm tệ nạn do nghèo đói, thất nghiệp và bất công bằng gây ra và tạo môi trường cho xã hội phát triển ổn định.
  • Cải thiện sâu rộng mọi khía cạnh của cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội: Khi cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội hội được cải thiện sâu rộng mọi khía cạnh của cuộc sống thì người dân sẽ có cuộc sống hạnh phúc và họ sẽ yên tâm sống và làm việc vì xã hội hơn và giảm thiếu tệ nạn xã hội.
  • Đảm bảo cân bằng giữa cuộc sống vật chất và tinh thần, duy trì và phát triển được các giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại: Đảm bảo cân bằng giữa cuộc sống vật chất và tinh thần sẽ đảm bảo cho con người có cuộc sòng hài hòa, thiện lượng và tránh được sự suy đồi của đạo đức do chạy theo cuộc sống vật chất gây ra làm cho xã họi phát triển bất ổn. Thực trạng xã hội hiện nay đã chứng tỏ điều đó và ngày càng nghiêm trọng dẫn đến suy đồi về đạo đức dẫn đến nguy cơ xã hội bất ổn. Duy trì và phát triển được các giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại sẽ làm cho con người sống thiện lương hơn, đoàn kết thương yêu nhau hơn và từ đó làm cho đạo đức nhân loại và đạo đức của từng dân tộc thăng hoa, đó là cội nguồn của sự phát triển xã hội lâu dài và bền vững.
  • Đảm bảo cho mọi người có cơ hội lựa chọn, có năng lực lựa chọn, tham gia vào quá trình phát triển và cùng hưởng lợi từ quá trình phát triển: Nếu đảm bảo cho mọi người có cơ hội lựa chọn, có năng lực lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển và cùng hưởng lợi từ quá trình phát triển thì dất nước sẽ có cơ hội có đội ngũ nhân lực chất lượng cao và sẽ hết lòng làm việc và sẽ làm việc với nhau đoàn kết và cũng hỗ trự nhau trong quá trình làm việc và giảm được tiêu cực dó không đảm bào cho mọi người có năng lực và cơ hội lựa chọn cũng cùng hưởng lợi, từ đó làm cho xã hội mất đoàn kết và không phát huy được động lực của nhân tố con người.
  1. Phát triển bền vững về môi trường là gì?

Khái niệm phát triển bền vững:

KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.

KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững).

PTBV về xã hội cần đản bảo 4 yêu cầu:

  • Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái: Đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái sẽ giảm thiểu được thiên tai như lũ lụt, hạn hán, biến đối khí hâu.v.v. Nạn chặt phá rừng, khai thách khoáng sản bừa bãi cộng với phát triển công nghiệp nhưng không quan tâm đến bảo vệ môi trường làm cho môi trowngf mất cân bằng sinh thái đang là cái họa đối với nhân loại hiện nay.
  • Xử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường: Xử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường sẽ làm môi trường trong sạch trở lại đương nhiên sẽ dẫn đến môi trương trong sach hơn.
  • Phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng: Phòng chống cháy và chặt phá rừng là giữ gìn bào bảo vệ lá phổi xanh từ đó giảm thiểu thiên tai, dịch bện. Tình trạng chặt phá rựng ở nước ta thói gian qua đã là nguyên nhân gậy nên các hiện tượng thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sạt lở, nước biển xâm nhập sâu và nội địa làm cho môi trường bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
  • Khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên: Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cho tài nguyên được bảo tồn tốt hơn. Khai tác và sử dụng tài nguyên lãng phí là nguyên nhân dẫ đến môi trường bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng như hiện nay.
  1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế? Vì sao nói tăng trưởng kinh tế ko phải là điều kiện đủ để có phát triển kinh tế?

KN tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng kết quả đầu ra của nền kinh tế trong 1 thời kỳ ( thường là năm) so với kỳ gốc ( năm gốc).

Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:

+ Các nhân tố thuộc tổng cầu: đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các Tổng cầu biến đổi theo 2 xu hướng:

+ Sụt giảm

+ Gia tăng _ Nền kinh tế hoạt động < sản lượng tiềm năng

_ Nền kinh tế hoạt động >= sản lượng tiềm năng

doanh nghiệp và CP sẽ sử dụng: ( GDP = C + I + G + X -M)

+ Các nhân tố thuộc tổng cung: đề cập đến khối lượng sản phẩm mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định ( Y = F (K, L, R, T))

+ Các nhân tố phi kinh tế: như thể chế chính trị-kinh tế-xã hội, cơ cấu dân tộc, tôn giáo, đặc điểm văn hoá-xã hội.

KN phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả về lượng và chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia.

Nội dung của phát triển kinh tế:

  • Tăng trưởng kinh tế trong ổn định và dài hạn
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ
  • Là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế
  • Nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người từ kết quả kinh tế

Mối quan hệ giữa TTKT và PTKT:

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau. Sự khác nhau thể hiện rõ nhất ở chỗ, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi thuần túy về mặt kinh tế, về mặt lượng của nền kinh tế. Trong khi đó, phát triển kinh tế không chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng mà phản ánh cả sự thay đổi về chất của nền kinh tế; phản ánh không chỉ sự tiến bộ về mặt kinh tế, mà còn phản ánh cả sự thay đổi về xã hội trong quá trình phát triển của một quốc gia. Song cũng vì thế chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:

  • TTKT tác động đến phát triển kinh tế: TTKT là nội dung cơ bản nhất và là điều kiện cần để có PTKT vì ko có TTKT thì không có PTKT, bởi vì tiến bộ về mặt kinh tế là cơ sở, là điều kiện để đạt được sự tiến bộ xã hội. Khi quốc gia có TTKT, nhà nước có nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế hướng đến quốc gia có PTKT. Cụ thể:

+ Nhà nước có nguồn lực để gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao thu nhập của dân cư, thúc đẩy PTKT.

+ Nhà nước có nguồn lực để đầu tư vào giáo dục, y tế thông qua đầu tư xây dựng bệnh viện, trường học, thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân. Vì vậy, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, quốc gia đạt được tiến bộ về mặt xã hội.

+ Nhà nước có nguồn lực để thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, đảm bảo cho người ngheo có mức sống tối thiểu, và được đào tạo tay nghề để tìm kiếm việc làm vươn lên thoát nghèo, từ đó cải thiện đời sống dân cư.

  • PTKT tác động đến TTKT

+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ hợp lí, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp vad dịch vụ, các khu đô thị ngày càng được mở rộng, vì vậy thúc đẩy tăng trưởng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.

+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là năng lực nội sinh của nền kinh tế được nâng cao, khoa học – công nghệ ngày càng phát triển, chất lượng nguồn lao động được cải thiện. Từ đó, gia tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao ổn định và dài hạn.

+Khi quốc gia có phát triển kinh tế nghĩa là chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư được dâng cao, vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt. Từ đó phát huy tiềm năng của các cá nhân, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, làm gia tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.

TTKT chỉ là điều kiện cần mà không phải là điều kiện đủ cho PTTKT bởi vì:

  • Tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế, mà chưa phản ánh sự thay đổi theo hướng tiến bộ về mặt chất của nền kinh tế.
  • Tăng trưởng kinh tế có thể được thể hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nếu quốc gia có tăng trưởng kinh tế dựa vào khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên sẵn có, làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, thì phương thức tăng trưởng kinh tế như vậy không dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
  • Nếu quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng kết quả từ quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích cho vùng kinh tế này hoặc bộ phận dân cư này mà không đem lại lợi ích cho vùng kinh tế khác hoặc bộ phận dân cư khác. Thì có thể làm bất bình đẳng gia tăng , phân hóa giàu nghèo, phương thức tăng trưởng kinh tế như vậy cũng không dẫn đến phát triển kinh tế.
  • Điều kiện đủ để quốc gia trở thành quốc gia có phát triển kinh tế là chính sách và quan điểm của nhà nước có hướng đến các mục tiêu của phát triển kinh tế hay không, quốc gia có sử dụng các kết quả của tăng trưởng kinh tế để thực hiện các nội dung của phát triển kinh tế hay không
  • Trên thực tế có những quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng ko có phát triển kinh tế

5.Thế nào là khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát triển bền vững? Để đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam cần quan tâm những vấn đề gì?

KN tài nguyên thiên nhiên: TNTN là tất cả những yếu tố thiên nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.

  • TNTN hữu hạn có thể tái sinh: tn rừng, các động vật trên cạn, dưới nước,...
  • TNTN hữu hạn không thể tái sinh: Các khoáng sản kim loại, phi kim,..
  • TNTN vô hạn: tn nước, không khí, gió, mặt trời,..

KN 1: PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai.

KN 2: PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữ 3 mặt của sự phát triển, đó là PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội, PTBV về môi trường ( 2002 – Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững)

KN khai thác và sử dụng TNTN theo quan điểm PTBV được hiểu là: Việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu tăng hiện tại nhưng làm tổn thương đến thế hệ mai sau.

Nội dung khai thác và sử dụng;

  • Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm phát triển là khai thác và sử dụng phải theo quy hoạch, kế hoạch, không khai thác bữa bãi.
  • Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải dựa trên cơ sở đầu tư và hiện tại hóa công nghiệp, khai thác và chế biến đầu tư để tránh tình trạng xuất khẩu tài nguyên thô gây lãng phí và nhanh chóng bị cạn kiệt.
  • Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải đi đôi với việc tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
  • Khai thác và sử dụng tài nhiên thiên nhiên phải đi đôi với việc tăng cường đầu tư nghiên cứu và sản xuất ra các nguồn nguyên liệu và năng lượng mới thay thế những nguồn tài nguyên có nguy cơ cạn kiệt.

Thực trạng khai thác và sử dụng TNTN

  • Việc khai thác còn bừa bãi, không theo quy hoạch. Nhiều vùng còn có sự chồng chéo trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, quản lý tài nguyên thiếu chặt chẽ. Ngoài ra có tình trạng cạnh tranh trong khai thác giữa khu vực nhà nước và tư nhân.
  • Khai thác chưa gắn với tái tạo và bảo vệ môi trường, công nghệ khai thác lạc hậu
  • Sau khai thác chưa quan tâm đến công nghiệp chế biến
  • Còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác

Nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

  • Do quản lý của nhà nước trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn lỏng lẻo, luật pháp chưa nghiêm minh, chưa có tính chất răn đe, hình thức phạt còn quá nhẹ
  • Do thiếu chiến lược và kế hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên 1 cách khoa học
  • Do thiếu vốn, công nghê lạc hậu nên sau khai thác chưa quan tâm đến chế biến tài nguyên, chủ yếu xuất khẩu tài nguyên thô
  • Do ý thức của 1 bộ phận dân cư còn yếu kém nên chỉ quan tâm đến khai thác, chưa quan tâm đến tái tạo và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
  • Do năng lực nghiên cứu ra năng lượng mới thay thế cho những nguồn tài nguyên sẵn còn yếu nên phải nhập khẩu nhiều tài nguyên

Giải pháp:

- Nhà nước cần tăng cường đầu tư nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chiến

lược, quy họach và kế hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên có cơ sở khoa học và thực tiễn phù hợp từng loại tài nguyên và từng vùng địa phương.

- Tăng cường đầu tư theo hướng hiện đại công nghệ khai thác và chế biến tài

nguyên,

- Tăng đầu tư cho công tác bảo vệ tài nguyên và đầu tư tái tạo những nguồn tài

nguyên có khả năng tái sinh, như trồng rừng, nuôi trồng thủy sản.

- Tăng cường đâu tư nghiên cứu sản xuất các nguồn nguyên liệu và năng lượng

mới thay thế các nguyền tài nguyên có nguy cơ cạn kiệt.

- Tăng cường vai trò nhà nước về khai thác và sử dụng tài nguyên theo hướng

bền vững (đưa vài vấn đề để minh chứng, không trình bày dài )

Ngành khai khoáng áp dụng tuyển quặng công nghệ tuyển nổi – từ đó tăng thu hồi quặng và giảm chất thải rắn.

Chương trình trồng 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021–2025 góp phần tái tạo rừng và tăng hấp thụ CO₂.

Câu 6: Chất lượng nguồn lao động là gì? Để nâng cao chất lượng nguồn lao động trong điều kiện VN cần quan tâm giải quyết vấn đề j?

KN nguồn lao động: Là 1 bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Nguồn lao động được xem xét trên 2 khía cạnh: số lượng lao động và chất lượng lao động

Chất lượng lao động : là tổng thể những đặc trưng, năng lực và phẩm chất của người lao động, phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu công việc và đóng góp vào sự phát triển của tổ chức, quốc gia. Các yếu tố chính cấu thành chất lượng lao động bao gồm sức khỏe thể chất và tinh thần, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, cùng với các phẩm chất đạo đức và khả năng thích ứng.

Thực trạng chất lượng lao động Việt Nam:

- Chất lượng của nguồn lao động được đánh giá thông qua các yếu tố làm cho lao động có hiệu quả hơn.

- Ở từng người lao động cụ thể, chất lượng lao động được thể hiện trên các khía cạnh: sức khoẻ; trình độ học vấn; kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được; ý thức, thái độ, tác phong của người lao động.

- Ở tổng thể nguồn lao động, chất lượng lao động không chỉ xem xét dưới góc độ cá nhân từng người lao động, mà còn thể hiện ở cơ cấu của nguồn lao động xét theo ngành nghề và cơ cấu lao động trong từng ngành cụ thể, cũng như­ cơ cấu xét theo tính chất lành nghề của chất lượng chuyên môn.

- Trình độ tổ chức của lao động. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quyết định đến nâng cao chất lượng nguồn lạo động. Trình độ tổ chức của một tổ chức ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ lao động bằng cách tạo ra một môi trường làm việc tích cực, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, tăng cơ hội học hỏi và phát triển, cũng như khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.Tạo điều kiện cho sáng tạo và đổi mới:Sự phối hợp trong tổ chức khuyến khích trao đổi ý kiến và ý tưởng, từ đó tạo ra môi trường thúc đẩy sáng tạo và đổi mới.

Tăng khả năng giải quyết vấn đề: Công việc theo tổ chức thường yêu cầu sự hợp tác và phối hợp giữa các thành viên, từ đó tạo ra nhiều cơ hội để giải quyết các vấn đề phức tạp.

Tạo ra cơ hội phát triển cá nhân: Các tổ chức thường có các chính sách phúc lợi và tiến thưởng công bằng, tạo điều kiện cho cá nhân phát triển sự nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Chất lượng nguồn lao động còn thể hiện ở chính sách sử dụng lao động, như chính sách tuyển dụng, chính sách đãi ngộ và chế độ khen thưởng và kỷ luật lao động.

Giải pháp:

  • Tạo việc làm và tăng cầu lao động thông qua phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, nông – lâm – thủy sản và các ngành nghề truyền thống ở nông thôn.
  • Thu hút đầu tư đa thành phần, khuyến khích doanh nghiệp trong nước và FDI đầu tư vào những vùng tiềm năng nhưng thiếu vốn và công nghệ.
  • Tái phân bố lao động hợp lý giữa ngành và vùng bằng cách mở rộng đào tạo nghề cho lao động chuyển dịch vào các khu công nghiệp, khu đô thị mới.
  • Đối với khu vực nông thôn, cần phát triển kinh tế trang trại, công nghiệp – dịch vụ nông thôn theo phương châm “ly nông bất ly hương” để tạo việc làm tại chỗ.
  • Hỗ trợ các chương trình việc làm và giảm nghèo, huy động nguồn vốn nhà nước, tín dụng ưu đãi và hỗ trợ quốc tế; khuyến khích các hội, đoàn thể tham gia.
  • Phát triển thị trường lao động hiện đại, mở sàn giao dịch, hệ thống thông tin việc làm, văn phòng giới thiệu việc làm nhằm kết nối cung – cầu minh bạch và hiệu quả.
  • Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhưng phải quản lý chặt chẽ, đảm bảo đào tạo nghề, ngoại ngữ và thông tin hợp đồng rõ ràng để bảo vệ quyền lợi lao động.
  • Kiểm soát tốc độ gia tăng dân số bằng việc hoàn thiện chính sách dân số và tăng cường xử lý vi phạm.
  • Nâng cao phúc lợi và điều kiện làm việc, bao gồm tiền lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội – y tế, an toàn lao động, nhà ở công nhân và các dịch vụ an sinh.
  • Cải thiện chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động theo hướng trọng dụng nhân tài, tạo cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc ổn định để giữ chân lao động.

Câu 7: Vì sao trong định hướng CDCCKT ở việt nam lại ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động? Để các ngành này phát triển bền vững thì cần quan tâm đến vấn đề gì?

KN cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể.

KN chuyển dịch cơ cấu kinh tế: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác sao cho phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển của nền kinh tế.

Các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn ưu tiên phát triển ở việt nam

  • Ưu tiên phát triển các ngành thu hút nhiều lao động, như các ngành dệt may, giày dép, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển dịch vụ… Đó là những ngành vừa có lợi thế xuất khẩu, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày một tăng cao đồng thời gắn với yêu cầu giải quyết việc làm.
  • Phát triển nông nghiệp theo hướng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu và tạo cơ sở nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
  • Phát triển các ngành công nghiệp trung gian như công nghiệp luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng và một số ngành mũi nhọn về công nghệ như: công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị đồng bộ, công nghệ sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp công nghệ thông tin…
  • Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có nhiều lợi thế như du lịch, các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu toàn diện về phát triển kinh tế, xã hội đất nước và các ngành dịch vụ phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, như hệ thống giao thông, các loại cảng, hệ thống thông tin, điện, nước…

Các ngành sử dụng nhiều lao động: dệt may, da giày,...

Vì :

  • Việt Nam có lực lượng lao động đông và dồi dào, đang ở trong thời kì cơ cấu dân số vàng vì vậy ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động có ý nghĩa qtrong cả về kinh tế và xã hội
  • Các ngành sử dụng nhiều lao động là những ngành đòi hỏi vốn đầu tư ko lớn khả năng thu hồi vốn nhanh, độ rủi ro thấp hơn so với các ngành sử dụng công nghệ cao. Do vậy phù hợp với trình độ lao động và trình độ công nghệ của nước ta
  • Ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giúp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
  • Các ngành sử dụng nhiều lao động là những ngành có khả năng phát triển rộng khắp cả nước với quy mô khác nhau, loại hình khác nhau. Từ đó, có thể tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có của đất nước về vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên
  • Sản phẩm của các ngành sử dụng nhiều lao động đáp ứng nhu cầu đa dạng ở trong nước và xuất khẩu đến thị trường thế giới. Từ đó, giúp quốc gia có nguồn ngoại tệ lớn để phát triển các ngành nghề lĩnh vực khác trong nền kinh tế

Thành tựu: Tạo việc làm, huy động các nguồn lực và phát triển kinh tế đất nước, cung cấp sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.......

Hạn chế:

+Chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển từng ngành phù hợp với tiềm năng và lợi thế của đất nước cũng nhưn từng vùng địa phương nên dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, không qua tâm đến nhu cầu thị trường.

+ Chưa thật sự quan tâm đầu tư đổi mới và hiện đại hóa công nghệ nên nhiều ngành vẫn sử dụng công nghệ truyền thống cộng nghệ lạc hậu nên chất lượng sản phẩm thấp.

+ Chưa quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại lao động nên nhiều ngành lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng thấp, chủ yếu là tự đào tạo.

+ Chưa quan tâm đến đổi mới sản phảm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm cả thị trường trong nước và thế giới.

+ Chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với những ngành sử dụng nhiều lao động chưa được xây dựng đồng bộ, thực thi còn nhiều khó khăn như chính sách cho vay vốn, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đổi mới và chuyển giao công nghệ, tìm kiếm và mở rộng thị trường, nhất là thị trường ngoài nước.v.v...

Nguyên nhân:

  • Do nhà nước chưa quan tâm đầu tư đổi mới hiện đại hoá công nghệ nên các ngành sử dụng nhiều lao động vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp
  • Do chưa quan tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại nên trình độ lao động còn thấp thiếu lao động có trình độ cao
  • Do chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển ngành phù hợp với tiềm năng lợi thế của đất nước và của các vùng địa phương nên dẫn đến tình trạng các ngành này phát triển tự phát ko đáp ứng nhu cầu của thị trường
  • Do chưa quan tâm đến đầu tư đổi mới sản phẩm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm ở trong nước và thị trường thế giới
  • Do các chính sách của nhà nước cho phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động còn nhiều hạn chế như: chưa đồng bộ, gặp khó khăn trong quá trình thực thi, các chính sách liên quan đến vốn, đào tạo lao động, đổi mới công nghệ còn chưa được quan tâm đúng mức

Giải pháp:

+Nhà nước cũng như các địa phương cần quan tâm xây dựng và hoàn thiện các chiến lược phát triển từng ngành cụ thể. Trên cơ sở chiến lược cần tiến hành quy hoạch phát triển từng ngành phù hợp với tiềm năng và lợi thế của đất nước cũng nhưn từng vùng địa phương và phù hợp với nhu cầu thị trường.

+ Quan tâm đầu tư đổi mới và hiện đại hóa công nghệ phù hợp với yêu cầu phát triển của từng ngành.

+Quan tâm đến đào tạo và đào tạo lại lao động Pphù hợp yêu cầu phát triển của từng ngành và từng vùng địa phương.

+ Các cơ sở sản xuất cần quan tâm đến đổi mới sản phảm, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm cả thị trường trong nước và thế giới dưới sự hỗ trợ của các tổ chức nhà nước có liên quan..

+ Nhà nước cần chỉ đạo các bộ ngành cũng như các địa phương xây dựng đồng bộ, thực thi Các chính sách như cho vay vốn, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đổi mới và chuyển giao công nghệ, tìm kiếm và mở rộng thị trường, nhất là thị trường ngoài nước.v.v.

Câu 8: Phân tích giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Vì sao TTKT chỉ là điều kiện cần mà ko phải là điều kiện đủ để thực hiện công bằng xã hội.

KN tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng kết quả đầu ra của nền kinh tế trong 1 thời kỳ ( thường là 1 năm) so với kỳ gốc

Các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT

  • Nhân tố kinh tế gồm ( nhân tố thuộc tổng cầu và nhân tố thuộc tổng cung)

a, Nhân tố thuộc tổng cầu

Tổng cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các doanh nghiệp và CP sẽ sử dụng: (GDP = C+I+G+X-M)

Tổng cầu có thể biến đổi theo 2 xu hướng :

- Tổng cầu sụt giảm.

- Tổng cầu gia tăng: Có 2 trường hợp xảy ra :

+ Nền kinh tế đang hoạt động dưới sản lượng tiềm năng.

+ Nền kinh tế đã đạt hoặc vượt sản lượng tiềm năng.

b, Nhân tố thuộc tổng cung.

Tổng cung đề cập đến khối lượng sản phẩm mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định.

Các nhân tố quyết định đến tổng cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất.

Có thể biểu hiện dưới dạng hàm sản xuất:

Y = F(K,L,R,T)

Trong đó K là vốn, L là lao động, R là tài nguyên, T là tiến bộ khoa học và công nghệ.

  • Các nhân tố phi kinh tế:

+ Như thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, cơ chế, chính sách và luật pháp, cơ cấu dân tộc, tôn giáo, đặc điểm văn hóa-xã hội.v.v.

+ Từ thực tiễn phát triển kinh tế thế giới những năm gần đây cho thầy nhân tố phi kinh tế, đặc biệt là thể chế chính tri-kinh tế-xã hội, cơ chế, chính sách và luật pháp ngày càng có vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ( vai trò của nhà nước )

KN công bằng xã hội:

-“Công bằng xã hội là khái niệm đạo đức pháp quyền, đồng thời là khái niệm chính trị – xã hội. Khái niệm công bằng xã hội bào hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là bất công”

- Công bằng xã hội gồm : Công bằng xã hội theo chiều dọc và công bằng xã hội theo chiều ngang

- Công bằng theo chiều ngang: Đối xử như nhau đối với người có đóng góp như nhau.

-Công bằng theo chiều dọc: Đối xử khác nhau đối với người có khác biệt bẩm sinh hoặc có điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kĩ năng lao động khác nhau, cường độ lao động khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, về giáo dục đào tạo, về thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau.

Trong Báo cáo phát triển thế giới 2006 “Công bằng và phát triển của WB đã chỉ rõ “Trong báo cáo này, chúng tôi định nghĩa công bằng theo hai nguyên tắc cơ bản sau: Cơ hội công bằng và Tránh sự cùng khổ tuyệt đối ( không ai sống dưới mức nghèo khổ ).

Tăng trưởng kinh tế tác động đến công bằng xã hội:

Tích cực: Tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện, là cơ sở để thực hiện công bằng xã hội, hay tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để thực hiện công bằng xã hội vì:

  • Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao GDP tằn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo đói do đó các vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt
  • Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ đó vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt, cụ thể. Nhà nước có nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như bệnh viện, trường học đường xá. Đảm bảo cho người nghèo có mức sống tối thiểu, bên cạnh đó nhà nước thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát nghèo.
  • Khi quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhà nước có điều kiện phát triển mọi mặt của xã hội như giáo dục, văn hóa, thể thao vì vậy vấn đề công bằng xã hội được thực hiện tốt hơn.

Tiêu cực: Nếu quốc gia quá chú trọng đến việc thực hiện tăng trưởng kinh tế thì dẫn đến chênh lệch thu nhập, chênh lệch giàu nghèo,bất bình đẳng gia tăng, làm trầm trọng hóa các vấn đề xã hội.

Công bằng xã hội tác động đến tăng trưởng kinh tế:

Tích cực :

  • CBXH được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho mọi người cơ hội công bằng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội: Khi CBXH được đảm bảo, người dân – đặc biệt là nhóm yếu thế – có cơ hội tốt hơn trong tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng cơ bản. Điều này giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
  • CBXH giúp phát huy và khai thác các nguồn lực trong xã hội: Giảm bất bình đẳng giúp người nghèo có cơ hội sử dụng các nguồn lực như đất đai, vốn, giáo dục, từ đó khai thác được tiềm năng của toàn xã hội. Khi bất bình đẳng giảm, sự ổn định và đoàn kết xã hội tăng lên, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và sản xuất kinh doanh.
  • CBXH được thực hiện tốt sẽ làm giảm bớt gánh nặng của NSNN trong giải quyết các vấn đề xã hội: Khi CBXH được cải thiện, số người rơi vào nghèo đói hoặc thiếu tiếp cận dịch vụ cơ bản giảm xuống. Điều này hạn chế áp lực chi NSNN cho trợ cấp, cứu trợ, và các chương trình hỗ trợ đặc thù; qua đó tăng tỷ lệ ngân sách dành cho đầu tư phát triển kinh tế.

Tiêu cực: Thực hiện CBXH kiểu “bình quân” làm giảm động lực kinh tế, giảm hiệu quả sản xuất. Tái phân phối quá mức (thuế cao, trợ cấp lớn) làm giảm đầu tư, giảm tiết kiệm và giảm sức cạnh tranh. Chính sách xã hội thiên lệch dễ gây méo mó thị trường, phân bổ nguồn lực kém hiệu quả. Chi tiêu xã hội quá lớn có thể làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế.

TTKT chỉ là điều kiện cần mà ko phải là điều kiện đủ để thực hiện công bằng xã hội vì:

  • TTKT chỉ phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế mà chưa phản ánh quốc gia có gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội hay ko
  • Nếu quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhưng kết quả từ quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích cho 1 bộ phận dân cư mà ko nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư trong xã hội thì bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo, công bằng xã hội ko được thực hiện tốt
  • Điều kiện đủ để thực hiện tốt vấn đề công bằng xã hội này chủ trương chính sách của nhà nước có gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tốt CBXH hay ko
  • Quốc gia có sử dụng kết quả tăng trưởng kinh tế để thực hiện các nội dung của công bằng xã hội hay ko