Phê phán các quan điểm phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn coi độc lập dân tộc gắn liền  với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt và chủ đạo trong quá trình lãnh đạo  cách mạng Việt Nam. Và như một minh chứng cho sự lựa chọn này là tất yếu và  khách quan, nhân dân cả nước dưới sự chỉ huy sáng suốt và tài tình của Đảng đã  giành được độc lập dân tộc từ tay chủ nghĩa đế quốc thực dân, bước chân lên con  đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
26 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Phê phán các quan điểm phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn coi độc lập dân tộc gắn liền  với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt và chủ đạo trong quá trình lãnh đạo  cách mạng Việt Nam. Và như một minh chứng cho sự lựa chọn này là tất yếu và  khách quan, nhân dân cả nước dưới sự chỉ huy sáng suốt và tài tình của Đảng đã  giành được độc lập dân tộc từ tay chủ nghĩa đế quốc thực dân, bước chân lên con  đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

9 5 lượt tải Tải xuống
1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
-------------------------
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Phê phán các quan điểm phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn
liền với Chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện nay
Sinh viên: PHẠM PHƯƠNG THẢO.
Mã số sinh viên: 2151100044.
Lớp: QUẢNG CÁO K41.
Hà N , tháng n m 2021 ội 12 ă
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3
1, Lý do nghiên cứu vấn đề: .............................................................................. 3
2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: ............................................................... 3
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................ 4
4, Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài: ............................................................... 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
1, Sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: ...................... 5
1.1, Căn cứ, lý luận của sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với
Chủ nghĩa xã hội: 5...........................................................................................
1.1.1 Q, uan điểm của Chủ nghĩa Mác – nin về hình thái kinh tế xã hội Lê-
cộng sản chủ nghĩa: ..................................................................................... 5
1.1.2, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: ........................................................... 6
a, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: ................ 7
b, Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: ................. 9
1.1.3, Lý luận về phân kỳ hình thái kinh tế xã hội: .................................. 11
1.2, vào Căn cứ thực tiễn của sự lựa chọn: .................................................. 15
2, Nhận dạng điểm quan các con lên phủ nhận đường đi Chủ nghĩa hội
bảo vệ con đường độc lập gắn với Ch nghĩa hội Việt Nam nay: hiện ... 16
2.1, các quan Nhận dạng điểm con phủ nhận đường độc lập dân tộc gắn với
Chủ nghĩa Việt hội ở Nam nay: hiện ....................................................... 16
2.2, Phê phán quan các điểm phủ nhận bảo vệ sự lựa chọn đường độc con
lập gắn với Chủ nghĩa Việt hội ở Nam nay: hiện .................................... 17
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 26
3
MỞ ĐẦU
1, Lý do nghiên c u v ấn đề:
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn độc lập dân tộc coi
gắn liền với hủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt và chủ đạo trong quá C trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và như một minh chứng cho sự lựa chọn này là
tất yếu và khách quan, nhân dân cả nước dưới sự chỉ huy sáng suốt và tài tình
của Đảng đã giành được độc lập dân tộc từ tay chủ nghĩa đế quốc thực dân, bước
chân lên con đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ
sau khi hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào
cuối thế kỉ XX, những quan điểm mang ý xuyên tạc, bôi nhọ, công kích hòng lật
đổ chế độ xã hội chủ nghĩa đã nổi lên không các thế lực thù địch, cơ hội ít, và
chính trị, phản động tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới
chống phá Chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Việt Nam .
Những kẻ mang quan điểm đó luôn lợi dụng mọi sơ hở để tư tưởng sai truyền
trái, xuyên tạc quyết định của Đảng và Nhà nước ta, kích động nhân dân bằng
những lập luận đầy xảo trá và mang hàm ý tiêu cực. Vì vậy, việc trang bị cho
mỗi công dân Việt Nam kiến thức vững vàng về chế độ xã hội chủ nghĩa, cách
nhận dạng những tư tưởng sai lệch về độc lập dân tộc đi đôi với tiến lên Chủ
nghĩa xã hội là vô cùng cấp thiết.
Chính vì hiểu được tính tất yếu và khách quan của sự lựa chọn con đường
xã hội chủ nghĩa, em xin được trình bày về đề tài: "Phê phán các quan điểm phủ
nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện
nay”.
2, Mục đích và nhiệm v nghiên c ứu:
Những kẻ có ý định công kích và chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Việt Nam sẽ tiếp cận bằng những luận điểm vô cùng tinh vi, nếu người nghe
không có kiến thức và quan điểm vững vàng sẽ dễ dàng bị cuốn theo trong vô
thức. Vì thế, bài tiểu luận này sẽ giải thích căn cứ cho sự lựa chọn con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời phản bác tới các quan điểm phủ
4
nhận con đường độc lập gắn liền với Chủ nghĩa xã hội – những cơ sở để hình
thành nhận thức đúng đắn quyết định tiến lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng và về
nhân dân ta.
3, Đối tượng và ph m vi nghiên c ứu:
Trong bài tiểu luận này, em sẽ nghiên cứu và phân tích sự lựa chọn con
đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cũng như các quan điểm phủ nhận
con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội bảo vệ con đường độc lập dân tộc.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: giai đoạn hiện nay.
4, Ý nghĩa của vi c nghiên c tài: ứu đề
Qua việc nghiên cứu về đề tài này, em nhận thức được tính tất yếu của
công cuộc tiến lên Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn lựa. Đây
không chỉ là quyết định của dân tộc Việt Nam, mà còn của lịch sử Việt Nam
trong suốt quá trình kháng chiến cứu nước. Nhờ đó, em một công dân Việt
Nam sẽ hiểu được trách nhiệm mà bản thân phải gánh vác để gìn giữ và góp
phần bảo vệ con đường độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa xã hội khỏi những
luận điểm đi ngược lại với ý chí và nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta.
5
NỘI DUNG
1, S l a ch ọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam:
1.1, Căn cứ, lý luận của sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với
Chủ nghĩa xã hội:
1.1.1 Q, uan điểm của Chủ nghĩa Mác – nin về hình thái kinh tế xã hội Lê-
cộng sản chủ nghĩa:
Các nhà sáng l p n a x h chủ ghĩ ã ội khoa học, C. Ăngghen khi Ph. Mác
nghiên cứu lịch sử phát triển c a xã h i loài người, nhất là lịch sử ội tư bản xã h
đã xây d ng nên học thuyết về hình thái kinh tế ội. Học thuyết vạch rõ -xã h
những quy luậ cơ bản củ ận đột a v ng xã h i, ch ra phương pháp khoa học để giải
thích lịch Học thuyết hình thái kinh tế sử. - xã hội của C. Mác không ch làm rõ
những yếu tố ấu thành hình thái kinh tế c - xã hội mà còn xem xét xã h i trong
quá trình biến đổi và phát triển không ngừng.
Học thuyết về hình thái ki - xã hnh tế ội do C. Mác và Ph. Ăngghen khởi
xướng được V.I. Lênin bổ sung, phát tri n và hi n c hoá trong công cu xây thự ộc
dựng ch n a x h c Nga ghĩ ã ội ở nướ Xô viết trở thành học thuyết hình thái kinh tế
- xã h i c a ch a - nghĩ Mác Lênin, tài sản vô giá của nhân loại.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ ngh a Mác - Lĩ ênin đã chỉ ra
tính tất yếu sự hay thế hình thái kinh tế tư bản chủ t - xã hội nghĩa bằng hình thái
kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa, đó quá trình lịch sử – tự nhiên. S thay thế
này c được thự hiện thông qua cách mạng xã hộ xuất phát từ hai tiềi chủ nghĩa n
đề vật chất quan trọng nhất là sự ực lượng sản xuất và sự trưởng phát triển của l
thành của giai cấp công nhân.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ n a - L cung ghĩ Mác ênin đã
cấp những tiêu chuẩn thự ật, khoa học cho sự phân kỳ lịch sử ong đóc sự duy v , tr
có s phân kỳ hình thái kinh tế ộng sản chủ- xã hội c nghĩa.
Khi phân tích hình thái kinh tế ộng sản chủ- xã hội c nghĩa, C. Mác và Ph.
Ăngghen cho rằng, hình thái kinh tế ộng sản chủ ển từ - xã hội c nghĩa phát tri
thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao, giai đoạn cộ ng
6
sản chủ ĩa; giữa xã hội tư bản chủ ộng sản chủ ngh nghĩa và xã hội c nghĩa là thời
kỳ quá độ lên ch a củ nghĩ ộng sản. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta
(1875) C. cho r ng: Mác đã “Giữa xã ội tư bản chủ h nghĩa v x h i cà ã ộng sản
chủ ngh a l m t thĩ à ời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang x h i kia. Th ch ã í
ứng với thời kỳ ấy là một th ời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy
không th l cái g n à ì khác hơn là ền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô
sản” . [1, tr.47] Khẳng định quan điểm của C. Mác, V.I. Lênin cho r ng: “Về lý
luận, không th nghi ng g ì được rằng giữa chủ ĩa tư bản và chủ ngh nghĩa cộng
sản, có mộ ời kỳ quá độ nhất địnht th ”.
Về xã h i c a thời kỳ quá độ , C. Mác cho rằng đó ội vừa thoát thai là xã h
từ xã hội tư bản chủ ội chưa phát triể trên cơ sở nghĩa, xã h n của chính nó còn
mang nhi u d ấu vết củ ội cũ để lại: “ ội mà chúng ta nói ở đây a xã h Cái xã h
không phải là mộ ộng sản chủt xã hội c nghĩa đã phát tri c a chính ển trên cơ sở
nó, mà trái lại là mộ ộng sản chủ ĩa vừa thoát thai từ ội tư bản t xã hội c ngh xã h
ch a,ủ nghĩ do đó là một xã h i v mọi phương diệ kinh tế, đạo đứ , tinh thần n - c -
còn mang những dấu vết củ cũ mà lọt lòng ra”a xã hội nó đã [1, tr.33].
Sau này, từ ực tiễn nướ th c Nga, V. Lênin cho rI. ằng, đố ới những nưới v c
chưa có chủ tư bản phát triể cần phải có thời kỳ nghĩa n cao q khá lâu dài uá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” . [11, tr.464]
Vậy là, v mặt lý luậ tiễn, thời kỳ quá độ ĩa tư bản lên và thực từ chủ ngh n
chủ ngh a cĩ ộng sản, được hiểu theo hai ngh a: th i vĩ nhất, đố ới các nước chưa
trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, cần thiết phải có thời kỳ khá lâu dài quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - những cơn đau đẻ kéo dài [13, tr.223];
thứ hai, đố ới những nước đãi v trải qua chủ ngh a ĩ tư bản phát triển, giữa chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có mộ ời kỳt th quá độ nhất định, ời kỳ ải th c
biến cách mạng từ xã hội này sang x h i ki ã a, thời kỳ quá độ từ ngh a chủ ĩ tư bản
lên ch a c nghĩ ộng sản.
1.1.2, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
7
a, Mối quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:hệ
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan
hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội
loài người. Mối liên hệ này do C. hiện ra và được trình bày trong Mác phát
nhiều tác phẩm của ông, trong đó, tập trung nhất ở “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự
khốn cùng của triết học”, Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị”, Bộ “Tư bản luận” và nhiều tác phẩm khác.
Trong Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, C. Mác
đã chỉ rõ rằng, “trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những
quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ tức những quan -
hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình đ phát triển nhất định
của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy
họp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng
lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã
hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn
tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Tới một giai đoạn phát triển nào đó
của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan
hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất
đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực
lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực
lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng
sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng hội, không một hình
thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái
xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan
hệ sản xuất mới cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều
kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng xã hội cũ”
8
[2, tr.14-15]. Sau này, chính V.I. Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổng
kết thực tiễn chỉ đạo cách mạng cũng đi đến kết luận: “…chỉ có đem quy những
quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất
vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở
vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì -
không thể có một khoa học xã hội được” . [15, tr.163]
Từ những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, Lênin có thể tóm lược
những nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất như sau:
Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu
thành nên phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất,
ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Mỗi phương thức sản xuất
hay quá trình sản xuất xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai
thành tố trên. Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật,
công nghệ của quá trình này còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh
tế của quá trình đó. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản
xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản
xuất, lực lượng sản xuất mới có thể tiếp tục phát triển.
Hai là, trong mi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai
trò quyết định. Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan
hệ sản xuất đó và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu
đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất.
Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở lại, đối với
việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất. Quá trình tác
động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với
hai khả năng: tác động tích cực hoặc tiêu cực. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với
9
nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản
xuất thì có tác động tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại,
nếu trái với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động
tiêu cực. Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, trong khi đó quan hệ sản
xuất lại có tính ổn định tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của
giai cấp cầm quyền. Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản
chất xã hội của nó. Chính vì thế mà Các Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì
những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ sản
xuất, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển
lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt. Xã hội cổ đại , xã
hội phong kiến, xã hội tư bản đều là tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi
tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch
sử nhân loại” Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan . [4, tr.553]
hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng như một quá trình
lịch sử tự nhiên. -
Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan
hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập. Sự
vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì
tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra
quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất.
b, Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
C - hủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ
tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là
phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở
hạ tầng đã sinh ra nó.
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng.
10
Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quy
định. Trong các quan hệ xã hội, quan hệ vật chất, kinh tế (cái thứ nhất) quy định
quan hệ tinh thần, tư tưởng (cái thứ hai). Mâu thuẫn trong đời sống vật chất,
kinh tế, xét cho đến cùng, quy định mâu thuẫn trong đời sống tinh thần, tư
tưởng.
Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những biến đổi trong kiến
trúc thượng tầng. Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản
xuất, kéo theo sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và thông qua sự biến đổi này, làm
biến đổi kiến trúc thượng tầng. Trong đó quan điểm chính trị, pháp luật v.v thay
đổi trước; tôn giáo, nghệ thuật, v.v... biến đổi sau, thậm chí chúng còn được kế
thừa trong kiến trúc thượng tầng mới. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái
kinh tế – xã hội cụ thể cũng như trong quá trình chuyển hoá từ hình thái kinh tế
– xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, có nghĩa là mỗi hình thái kinh tế -
– xã hội đều có kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của riêng mình (là tính
lịch sử – cụ thể của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng).
Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng phong phú và
phức tạp. Bên trong kiến trúc thượng tầng cũng có những mối liên hệ tác động
lẫn nhau, đôi khi dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng mà không
do cơ sở hạ tầng gây nên. Nhưng suy cho đến cùng, mọi sự biến đổi của kiến
trúc thượng tầng đều có cơ sở từ những sự biến đổi trong cơ sở hạ tầng.
Thứ hai, kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Trong đời sống xã hội, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều tác động,
bằng nhiều hình thức khác nhau, theo những khác nhau, ở mức độ này cơ chế
hay ở mức độ kia, ở vai trò này hoặc vai trò khác đối với cơ sở hạ tầng.
Trong mỗi kiến trúc thượng tầng còn kế thừa một số yếu tố của kiến trúc
thượng tầng trước. Các yếu tố chính trị, pháp luật tác động trực tiếp, còn triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học v.v tác động gián tiếp đối với cơ sở
hạ tầng, bị các yếu tố chính trị, pháp luật chi phối.
11
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố vật chất có tác động mạnh
nhất đối với cơ sở hạ tầng. Nhà nước kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao
gồm những yếu tố vật chất như cảnh sát, toà án, nhà tù để tăng cường sức mạnh
kinh tế của giai cấp thống trị. Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối
với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là
bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong đó, nhà nước, dựa trên hệ tư
tưởng, kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như
quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù, để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp
thống trị. Tác dụng những tác động của kiến trúc thượng tầng lên cơ sở hạ tầng
sẽ là tích cực khi tác động đó cùng chiều với sự vận động của các quy luật kinh
tế khách quan, nếu trái lại, thì sẽ gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất, cản
đường phát triển của xã hội. Kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh, nhưng
không thay thế được yếu tố vật chất, kinh tế; nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm
sự phát triển của kinh tế xã hội thì sớm hay muộn, bằng cách này cách khác, -
kiến trúc thượng tầng đó sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới, thúc
đẩy kinh tế hội tiếp tục phát triển. -
1.1.3, Lý luận về phân kỳ hình thái kinh tế xã hội:
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá trình lịch sử,
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật để nghiên
cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại, đã hình thành nên lý luận "hình thái
kinh tế xã hội". Lý luận hình thái kinh tế xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa -
duy vật lịch sử do C. Mác xây dựng lên, có vị trí quan trọng trong triết học Mác
- Lênin. Lý luận đó đã được khoa học thừa nhận và là phương pháp luận cơ bản
trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế xã hội, -
lần đầu tiên trong lịch sử loài người, C. Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên
trong, nội tại của sự phát triển xã hội, bản chất của từng chế độ xã hội, nghiên
cứu về cấu trúc cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp
của xã hội để chỉ ra các mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của
12
nó; chỉ ra quy luật vận động và phát triển của nó như một qua trình lịch sử tự -
nhiên.
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản
xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội và vai trò quyết định của người lao
động đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người
để giải thích các hiện tượng đời sống mà phải từ phương thức sản xuất. Trong đó
con người giữ vị trí trung tâm, là chủ thể của lịch sử, người lao động là nhân tố
đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất. Không thể phủ
nhận được ngày nay những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại với sự -
ra đời của người máy đã thay thế không chỉ những công việc nặng nhọc, những
hoạt động cơ bắp mà còn có thể thay thế cho cả những hoạt động tinh vi, phức
tạp của con người. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khoa học công nghệ -
hiện đại trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó
người lao động trở thành yếu tố thứ yếu, đứng bên ngoài quá trình sản xuất. Về
thực chất, khoa học công nghệ là sản phẩm của quá trình nhận thức, sản phẩm -
của sự phát triển trí tuệ của con người. Có thể nói, do yêu cầu của sản xuất mà
con người đã sáng tạo và quyết định khuynh hướng, tốc độ phát triển của khoa
học ghệ, đồng thời quyết định việc sử dụng khoa học công nghệ vào - công n -
sản xuất theo mc đích của mình. Thực tế cho thấy, kỹ thuật, công nghệ hiện đại
với tư cách là phần vật chất trong các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất dù
năng động và cách mạng đến mấy cũng chỉ là sản phẩm do bàn tay và khối óc
của con người làm ra và chịu sự điều khiển, giám sát của con người. Do đó, trí
tuệ nhân tạo dù được mệnh danh là tiên tiến đến đâu cũng chỉ là sản phẩm của
con người, hoạt động của nó phụ thuộc vào những chương trình mà con người
đã lập ra, đã cài đặt vào máy tính điện tử và người máy công nghiệp. Chính vì
thế, khoa học công nghệ là của con người, gắn liền với con người, phụ thuộc -
vào con người và phải thông qua hoạt động của con người mới có thể được vật
hóa vào quá trình sản xuất. Nếu không xuất phát từ con người, được tiến hành
13
bởi con người và không hướng về mục đích phục vụ con người, không có quá
trình sản xuất nào có đủ lý do để tồn tại và phát triển. Do vậy, trong bất cứ thời
đại nào, kể cả thời đại của khoa học công nghệ hiện đại, người lao động vẫn là -
nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai là, xã hội không phải là sự kết hợp mt cách ngẫu nhiên, máy móc
giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong tác phẩm: “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống
những người dân chủ nghĩa xã hội ra sao”, Lênin đã chỉ ra rằng: Các nhà xã hội
học chủ quan không chỉ ra được nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động
phát triển xã hội, họ coi xã hội là một tổ hợp máy móc hỗn loạn không tuân theo
quy luật nhất định.
Ngược lại, lý luận hình thái kinh tế xã hội cho thấy để nhận thức, lý giải -
đúng đời sống xã hội, phải phân tích mt cách sâu sắc các mặt của đời sống xã
hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. V.I. Lênin viết: “Xã hội là một cơ thể
sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành
từ máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế
nào cũng được), mt cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải nghiên cứu
những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó” Cũng . [14, tr.198]
như phải sử dụng phương pháp luận trừu tượng hóa khoa học đó là cần phải -
xuất phát từ quan hệ sản xuất hiện thực của xã hội để đi sâu tìm hiểu các phương
diện khác nhau (chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học…) và mối quan hệ giữa
chúng để thấy được tính thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã
hội. Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội
khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau.
Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, có
những quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế xã hội và đòi -
phải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh. Cách tiếp cận này phân chia lịch sử
phát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp (hay văn minh tin học, văn
14
minh trí tuệ). Thực chất đây là phân chia dựa và các trình độ phát triển của kinh
tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ. Rõ ràng, cách tiếp cận này không
thể thay thế được học thuyết hình thái kinh tế xã hội, nó không vạch ra mối -
quan hệ giữa các mặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động của xã hội
từ thấp đến cao.
Ba là, sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch -
sử tự nhiên- .
Quan điểm của C. Mác: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế -
hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [5, tr.21]. Tức diễn ra theo các quy luật khách
quan, chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Xã hội loài người vận động, phát
triển liên tục từ thấp đến cao không phụ thuộc và ý muốn chủ quan của con người,
mà do các quy luật nội tại của đời sống xã hội quy định, trong đó trước hết và cơ
bản là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Lênin đã chỉ rõ cơ sở khoa học của vấn đề này như sau: “Chỉ có đem quy
những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan h
sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một
cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là
một quá trình lịch sử tự nhiên” [14, tr.163].
Quan niệm Mácxít cũng chỉ ra rằng: Toàn bộ xã hội loài người vận động
phát triển tuần tự qua hình thái kinh tế xã hội kế tiếp nhau từ thấp đến cao: -
Cộng sản nguyên thủy; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến; Tư bản chủ nghĩa; Cộng
sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội). Những đồng thời cũng chỉ ra
rằng: Một dân tộc, hay quốc gia cụ thể nào đó trong những điều kiện khách
quan, chủ quan, thời đại hay trong nước cho phép, thì không nhất thiết phải phát
triển tuần tự, mà có thể phát triển “bỏ qua” một nấc thang nào đó của lịch sử để
tiến lên một hình thái kinh tế xã hội cao hơn. Đó chính là quá trình lịch sử tự - -
nhiên đặc thù.
Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy dưới ảnh hưởng, tác động của
15
cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, của quá trình toàn cầu hóa, thì -
những nước kinh tế kém phát triển nếu đã giành chính quyền về tay giai cấp vô
sản, có được những nhân tố khách quan và chủ quân cần thiết thì hoàn toàn có
khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó cũng
là một tất yếu lịch sử.
Nói tóm lại, từ những luận căn lý cứ nêu trên, thể khẳng định sự lựa
chọn con đường độc lập tộc gắn liền với Chủ nghĩa hội Việt dân Nam
một điều tất yếu khách quan theo quy luật.
1.2, vào Căn cứ thực tiễn của sự lựa chọn:
Lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam chính minh nét chứng
nhất cho sự lựa chọn đường Chủ nghĩa con hội đúng đắn khách quan.
Xuất phát từ lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi
đó các lực lượng cách mạng trong xã hội lúc bấy giờ đã đứng lên làm cách mạng
nhưng đều bị thất bại. Đã có những nhân trung hào kiệt đại diện cho các chế độ
phong kiến, tư bản chủ nghĩa,... xung phong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành
độc lập qua các phong trào như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế,
phong trào Đông Du,... nhưng đều đi đến ngõ cụt vì chưa xác định được hướng
đi phù hợp cho nhân dân Việt Nam, cách mạng Việt Nam. Chỉ đến khi Nguyễn
Ái Quốc Hồ Chí Minh đến được với chủ nghĩa Mác Lênin, truyền bá chủ - -
nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cách -
mạng Việt Nam mới chấm dứt sự bế tắc về đường lối cách mạng. Từ đó, Người
khẳng định: “Muốn cứu nước giải tộc phóng dân không con đường nào
khác con cách . đường mạng sản” [9, tr.30] Đó là việc xác định cách mạng giải
phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng
khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì thế, trong Cương lĩnh chính tr đầu tiên của Đảng,
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ
rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản” . Nghĩa là muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trước hết [7, tr.1]
16
phải thực hiện được cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập
dân tộc và người cày có ruộng. Đây là hai giai đoạn khác nhau của cách mạng,
nhưng có quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Bởi vì độc lập dân tộc là cơ
sở để xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là điều
kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc, để thực hiện mục tiêu xây
dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân tộc Việt Nam
đã đứng lên làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây chính là lời hẳng định chắc chắn, rằng sự k
lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
sự lựa chọn duy nhất đúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam
và là khát vọng của dân tộc Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã
hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” [6,
tr.70]. Tạo nên sức mạnh nội sinh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, ở Nam, Việt thực tiễn đã chứng minh độc lập dân tộc chỉ
được bảo đảm vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chỉ vậy mới mang
lại được cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân vì đây chính là sự lựa chọn dân,
của dân tộc Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Theo đó, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam cũng không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với điều
kiện của đất nước trong từng giai đoạn lịch; là thực tế khách quan không ai có
thể phủ nhận được.
2, Nhận dạng điểm các quan con lên phủ nhận đường đi Chủ nghĩa hội
bảo vcon đường độc lập gắn với Chủ nghĩa hội ở Việt Nam hiện
nay:
2.1, các quan Nhận dạng điểm con phủ nhận đường độc lập dân tộc gắn với
Chủ nghĩa Việt hội ở Nam nay:hiện
17
Trước sự sụp của đổ hệ thống Chủ nghĩa hội Đông ở Liên Âu,
đã ý nghi nhiều luồng kiến ngờ về độ bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa
xuất hiện nhiều Thậm cá nhân. chí, các nước bản chủ nghĩa còn nhằm thời
cơ này lan truyền, thiệp nội can vào bộ các nước hội chủ nghĩa với âm mưu
xóa bỏ sự hiện diện của Chủ nghĩa hội – mặt đối lập của Chủ nghĩa bản.
Từ đó, những điểm quan phủ nhận nhìn sai trái nhận về Chủ nghĩa hội
mọc lên không ít, gây khó cho con dễ đường độc lập tộc gắn với Chủ nghĩa dân
Nam ta, tiêu là: hội Việt biểu
Một là, xuyên tạc giá tính khoa cách trị, học, mạng của học thuyết - Mác
Lênin, nền tảng tưởng của Đảng về Chủ nghĩa hội.
Hai là, xuyên tạc Chủ nghĩa mục tưởng đường hội, tiêu, con đi lên
Chủ nghĩa hội ở Nam Việt .
Ba là, đưa kiến nghị nhiều thức, ra các hình như “gửi thư”, “trao đổi”,
“góp kiến nghị những Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến ý” vào dịp pháp…, rằng cho
đó thời cơ để đổi chính theo mới trị hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập, dựng nước dựa nền tảng chủ, xây nhà trên dân hội dân sự”.
Bốn là, quan điểm, luận điệu lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn
chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống hội để đánh đồng hiện tượng thành n bả
chất của Chủ nghĩa hội kết quả , mang theo con lại do đi đường Chủ nghĩa
hội.
2.2, Phê phán các quan điểm phủ nhận bảo vệ sự con lựa chọn đường
độc lập gắn với Chủ nghĩa hội Việt Nam nay:hiện
Mặc các thế lực đối lập với ý chí sự lựa chọn của Đảng Nhà
nước Việt Nam đưa ra các luận điểm thâm hết sức hiểm tinh vi, nhưng Đảng
và nhân dân ta bác vẫn cách phản những quan sai trái điểm đó và kiên định
với lựa chọn của mình.
Về : xuyên quan điểm thứ nhất tạc giá trị, học, tính khoa cách mạng của
học thuyết - Lênin, Mác nền tảng tưởng của Đảng Chủ nghĩa hội. về
18
Để - Lênin, phủ định học thuyết Mác các thế lực địch rằng, học thù cho
thuyết - Lênin phù Mác chỉ hợp với thế kỷ XIX phù trong hợp một chừng
mực với nào đó trình đphát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó.
này không còn phù luận hợp với thế kỷ trong ngày XX đặc biệt điều kiện
nay càng không phù hoàn hợp với cảnh Việt Nam. tuyên xuyên Từ đó, họ truyền
tạc, rêu rao: - Lênin chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, hợp Việt không phù Nam
cần loại bỏ. Gần đây, trước những khó khăn về kinh tế, hội của đất nước, họ
tuyên truyền luận điệu: Việt Nam không đang chỉ bế tắc về kinh tế còn mà bế
tắc cả về tinh r không còn tin vào thần; ằng, ai chủ nghĩa nữa. Mác Họ cho
rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chỉ C. Mác một mớ thuyết
suông về một chủ nghĩa hội tưởng, giờ thực hiện được. không không bao Do
vậy, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, trên toàn Đông Âu thế giới là một tất
yếu, sự chung báo cáo đã được trước.
Thế nhưng, nền tảng tưởng luận của chủ nghĩa - Lênin Mác học
thuyết học khoa cách mạng của cấp giai ng nhân quần chúng lao
động. nghĩa Chủ - Lênin Mác học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt mục ra
tiêu con phóng chỉ đường giải triệt cấp để giai công nhân, nhân dân lao động
dân trên các tộc bị áp bức thế giới khỏi dịch và bóc lột, hướng tới một
hội chủ thể, nướ thuộc Đồng thời, học mà nhà c về nhân dân. thuyết chỉ đó còn ra
lực lượng mạng thực hiện cách sự phóng phát nghiệp giải triển hội giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho tin vào họ niền khả năng
sức mạnh của chính mình. khoa cách Bản chất học mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin còn thể hiện chỗ, đây học thuyết mở, cứng nhắc, bất biến, không mà
đòi được đổi mới, triển chảy hỏi luôn bổ sung, phát trong dòng phát trí triển tuệ
nhân Toàn loại. bộ học thuyết - Lênin giá Mác trị bền vững x trong tinh ét
thần biện chứng của nó, với bản chất cách khoa mạng, học. Chủ nghĩa - Mác
Lênin khí luận sắc bén, trong ngọn cờ tưởng sự nghiệp đấu của tranh
giai công nhân nhân dân lao cấp cần tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh
19
khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, mệnh nhất chủ nghĩa cách - LêninMác . [8, tr.289]
Có thể nói, việc hiểu bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin là rất quan
trọng. Đối với một công dân đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, để không
bị những nhận định mang tính xuyên tạc che mắt, phải tìm hiểu và nhận thức rõ
ràng giá trị cũng như tính lâu dài và bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Về quan điểm thứ hai, xuyên tạc Chủ nghĩa , hội mục tưởng tiêu,
con lên đường đi Chủ nghĩa hội Việt Nam .
Với cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và
Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định Chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, con đường đi lên
Chủ nghĩa xã hội” ọ cho rằng: ai cũng thấy là Chủ nghĩa xã hội đã ở vào giờ , h
thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện Chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đã
hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 1985) thực hiện triệt để dù cố gắng đổi -
mới” 10 năm sau đó (1985 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không -
cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện
nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ
đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về
kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không
phải kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quả thật, trong mt thời gian dài chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về Chủ
nghĩa xã hội, đặc biệt là trước đổi mới, hệ quả là đất nước rơi vào khủng hoảng
về kinh tế xã hội trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng ta đã nhận thức -
lại Chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Vì
vậy, từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 1986), con đường đổi mới đã được thông -
qua. Sự đổi mới ở đây không có nghĩa là từ bỏ con đường XHCN, mà đổi mới
để nhận thức đúng, đầy đủ hơn về Chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đổi mới ở đây
là đổi mới tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế. Vì vậy, nếu trước đổi mới,
quan niệm kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa
20
tư bản, đối lập một cách trừu tượng Chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, thì
nay nhận thức lại đúng đắn hơn, coi kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là
sản phẩm phát triển chung của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, cần
phải kế thừa yếu tố hợp lý, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Nên nhớ rằng, trong Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác nhấn mạnh:
“Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói
chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” ; “Chủ nghĩa cộng sản không [3, tr.615]
tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa
cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của
người khác” . Do vậy, trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã và kể cả [3, tr.618] hội
trong Chủ nghĩa xã hội, việc tồn tại kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân là tất yếu.
Sở hữu tư nhân ở đây với tư cách là quyền chiếm hữu sản phẩm do chính lao
động tạo ra, chứ không phải sở hữu với tư cách là một chế độ chính trị xã hội - -
dùng quyền sở hữu đó để đi bóc lột sức lao động của người khác làm cơ sở tồn
tại của chế độ.
Vì vậy, mỗi người cần tìm hiểu và hiểu bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa, đồng thời nhận thức đúng đắn về hướng đi của Đảng Cộng sản Việt Nam,
về bản chất vẫn luôn đặt lợi ích của người lao động lên hàng đầu.
Về quan điểm thứ ba, đưa các ra kiến nghị nhiều thức, hình như “gửi
thư”, “trao đổi”, góp kiến nghị ý” vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến
pháp…, rằng thời đổi mới trị thức cho đó cơ để chính theo hình đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng n nước dựa nền tảng chủ, trên dân hội
dân sự”.
Để đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phá hoại
cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tập trung tung
ra nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng phê phán Đảng Cộng
sản Việt Nam không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên
chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo”; rằng ở Việt Nam “không có đa nguyên, đa
| 1/26

Preview text:

1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ------------------------- TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Phê phán các quan điểm phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn
liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Sinh viên: PHẠM PHƯƠNG THẢO.
Mã số sinh viên: 2151100044. Lớp: QUẢNG CÁO K41. Hà Nội, tháng 1 n 2 ăm 2021 2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3
1, Lý do nghiên cứu vấn đề: .............................................................................. 3
2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: ............................................................... 3
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................ 4
4, Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài: ............................................................... 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
1, Sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: ...................... 5
1.1, Căn cứ, lý luận của sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với
Chủ nghĩa xã hội: .......................................................................................... .5 1.1.1, Q
uan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa: ..................................................................................... 5
1.1.2, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: ........................................................... 6
a, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: ................ 7
b, Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: ................. 9
1.1.3, Lý luận về phân kỳ hình thái kinh tế xã hội: .................................. 11
1.2, Căn cứ vào thực tiễn của sự lựa chọn: .................................................. 15
2, Nhận dạng các quan điểm phủ nhận con đường đi lên Chủ nghĩa x ã hội và
bảo vệ con đường độ
c lập gắn với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay: ... 16
2.1, Nhận dạng các quan điểm phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn với
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay: ....................................................... 16
2.2, Phê phán các quan điểm phủ nhận và bảo v
ệ sự lựa chọn con đường độc
lập gắn với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay: .................................... 17
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 26 3 MỞ ĐẦU
1, Lý do nghiên cứu vấn đề:
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn coi độc lập dân tộc
gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt và chủ đạo trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và như một minh chứng cho sự lựa chọn này là
tất yếu và khách quan, nhân dân cả nước dưới sự chỉ huy sáng suốt và tài tình
của Đảng đã giành được độc lập dân tộc từ tay chủ nghĩa đế quốc thực dân, bước
chân lên con đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ
sau khi hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào
cuối thế kỉ XX, những quan điểm mang ý xuyên tạc, bôi nhọ, công kích hòng lật
đổ chế độ xã hội chủ nghĩa đã nổi lên không ít, và các thế lực thù địch, cơ hội
chính trị, phản động tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới
chống phá Chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Những kẻ mang quan điểm đó luôn lợi dụng mọi sơ hở để truyền bá tư tưởng sai
trái, xuyên tạc quyết định của Đảng và Nhà nước ta, kích động nhân dân bằng
những lập luận đầy xảo trá và mang hàm ý tiêu cực. Vì vậy, việc trang bị cho
mỗi công dân Việt Nam kiến thức vững vàng về chế độ xã hội chủ nghĩa, cách
nhận dạng những tư tưởng sai lệch về độc lập dân tộc đi đôi với tiến lên Chủ
nghĩa xã hội là vô cùng cấp thiết.
Chính vì hiểu được tính tất yếu và khách quan của sự lựa chọn con đường
xã hội chủ nghĩa, em xin được trình bày về đề tài: "Phê phán các quan điểm phủ
nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay”.
2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
Những kẻ có ý định công kích và chống phá Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Việt Nam sẽ tiếp cận bằng những luận điểm vô cùng tinh vi, nếu người nghe
không có kiến thức và quan điểm vững vàng sẽ dễ dàng bị cuốn theo trong vô
thức. Vì thế, bài tiểu luận này sẽ giải thích căn cứ cho sự lựa chọn con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời phản bác tới các quan điểm phủ 4
nhận con đường độc lập gắn liền với Chủ nghĩa xã hội – những cơ sở để hình
thành nhận thức đúng đắn về quyết định tiến lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta.
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trong bài tiểu luận này, em sẽ nghiên cứu và phân tích sự lựa chọn con
đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cũng như các quan điểm phủ nhận
con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ con đường độc lập dân tộc. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: giai đoạn hiện nay.
4, Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
Qua việc nghiên cứu về đề tài này, em nhận thức được tính tất yếu của
công cuộc tiến lên Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn lựa. Đây
không chỉ là quyết định của dân tộc Việt Nam, mà còn của lịch sử Việt Nam
trong suốt quá trình kháng chiến cứu nước. Nhờ đó, em – một công dân Việt
Nam sẽ hiểu được trách nhiệm mà bản thân phải gánh vác để gìn giữ và góp
phần bảo vệ con đường độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa xã hội khỏi những
luận điểm đi ngược lại với ý chí và nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta. 5 NỘI DUNG
1, Sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
1.1, Căn cứ, lý luận của sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội: 1.1.1, Q
uan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa:
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, C. Mác Ph. Ăngghen khi
nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhất là lịch sử xã hội tư bản
đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội. Học thuyết vạch rõ
những quy luật cơ bản của vận động xã hội, chỉ ra phương pháp khoa học để giải
thích lịch sử. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác không chỉ làm rõ
những yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội mà còn xem xét xã hội trong
quá trình biến đổi và phát triển không ngừng.
Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội do C. Mác và Ph. Ăngghen khởi
xướng được V.I. Lênin bổ sung, phát triển và hiện thực hoá trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết trở thành học thuyết hình thái kinh tế
- xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tài sản vô giá của nhân loại.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra
tính tất yếu sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái
kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa, đó là quá trình lịch sử – tự nhiên. Sự thay thế
này được thực hiện thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa xuất phát từ hai tiền
đề vật chất quan trọng nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự trưởng
thành của giai cấp công nhân.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung
cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho sự phân kỳ lịch sử, trong đó
có sự phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Khi phân tích hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, C. Mác và Ph.
Ăngghen cho rằng, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ
thấp lên cao qua hai giai đoạn, giai đoạn thấp và giai đoạn cao, giai đoạn cộng 6 sản chủ ng ĩ
h a; giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”
(1875) C. Mác đã cho rằng: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản
chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia. Thích
ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy
không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô
sản” [1, tr.47]. Khẳng định quan điểm của C. Mác, V.I. Lênin cho rằng: “Về lý
luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng
sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”.
Về xã hội của thời kỳ quá độ, C. Mác cho rằng đó là xã hội vừa thoát thai
từ xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội chưa phát triển trên cơ sở của chính nó còn
mang nhiều dấu vết của xã hội cũ để lại: “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây
không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính
nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản
chủ nghĩa, do đó là một xã hội về mọi phương diện -kinh tế, đạo đức, tinh thần -
còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” [1, tr.33].
Sau này, từ thực tiễn nước Nga, V.I. Lênin cho rằng, đối với những nước
chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển cao “cần phải có thời kỳ quá độ khá lâu dài
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” [11, tr.464].
Vậy là, về mặt lý luận và thực tiễn, thời kỳ quá độ từ chủ ng ĩ h a tư bản lên
chủ nghĩa cộng sản, được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đối với các nước chưa
trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, cần thiết phải có thời kỳ quá độ khá lâu dài
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - những cơn đau đẻ kéo dài [13, tr.223];
thứ hai, đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, giữa chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhất định, t ời h kỳ cải
biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa cộng sản.
1.1.2, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: 7
a, Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan
hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội
loài người. Mối liên hệ này do C. Mác phát hiện ra và được trình bày trong
nhiều tác phẩm của ông, trong đó, tập trung nhất ở “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự
khốn cùng của triết học”, Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị”, Bộ “Tư bản luận” và nhiều tác phẩm khác.
Trong Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, C. Mác
đã chỉ rõ rằng, “trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những
quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan
hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định
của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy
họp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng
lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã
hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn
tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Tới một giai đoạn phát triển nào đó
của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan
hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất
đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực
lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực
lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng
sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội, không một hình
thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái
xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan
hệ sản xuất mới cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều
kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng xã hội cũ” 8
[2, tr.14-15]. Sau này, chính V.I. Lênin trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổng
kết thực tiễn chỉ đạo cách mạng cũng đi đến kết luận: “…chỉ có đem quy những
quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất
vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở
vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá
trình lịch sử - tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì
không thể có một khoa học xã hội được” [15, tr.163].
Từ những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, Lênin có thể tóm lược
những nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:
Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu
thành nên phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất,
ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Mỗi phương thức sản xuất
hay quá trình sản xuất xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai
thành tố trên. Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật,
công nghệ của quá trình này còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh
tế của quá trình đó. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản
xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản
xuất, lực lượng sản xuất mới có thể tiếp tục phát triển.
Hai là, trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai
trò quyết định. Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan
hệ sản xuất đó và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu
đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất.
Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở lại, đối với
việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất. Quá trình tác
động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với
hai khả năng: tác động tích cực hoặc tiêu cực. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với 9
nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản
xuất thì có tác động tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại,
nếu trái với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động
tiêu cực. Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, trong khi đó quan hệ sản
xuất lại có tính ổn định tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của
giai cấp cầm quyền. Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản
chất xã hội của nó. Chính vì thế mà Các Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì
những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ sản
xuất, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển
lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt. Xã hội cổ đại, xã
hội phong kiến, xã hội tư bản đều là tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi
tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch
sử nhân loại” [4, tr.553]. Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng như một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan
hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập. Sự
vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì
tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra
quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất.
b, Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ
tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là
phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng. 10
Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quy
định. Trong các quan hệ xã hội, quan hệ vật chất, kinh tế (cái thứ nhất) quy định
quan hệ tinh thần, tư tưởng (cái thứ hai). Mâu thuẫn trong đời sống vật chất,
kinh tế, xét cho đến cùng, quy định mâu thuẫn trong đời sống tinh thần, tư tưởng.
Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những biến đổi trong kiến
trúc thượng tầng. Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản
xuất, kéo theo sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và thông qua sự biến đổi này, làm
biến đổi kiến trúc thượng tầng. Trong đó quan điểm chính trị, pháp luật v.v thay
đổi trước; tôn giáo, nghệ thuật, v.v... biến đổi sau, thậm chí chúng còn được kế
thừa trong kiến trúc thượng tầng mới. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái
kinh tế – xã hội cụ thể cũng như trong quá trình chuyển hoá từ hình thái kinh tế
– xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác, có nghĩa là mỗi hình thái kinh tế
– xã hội đều có kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của riêng mình (là tính
lịch sử – cụ thể của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng).
Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng phong phú và
phức tạp. Bên trong kiến trúc thượng tầng cũng có những mối liên hệ tác động
lẫn nhau, đôi khi dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng mà không
do cơ sở hạ tầng gây nên. Nhưng suy cho đến cùng, mọi sự biến đổi của kiến
trúc thượng tầng đều có cơ sở từ những sự biến đổi trong cơ sở hạ tầng.
Thứ hai, kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Trong đời sống xã hội, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều tác động,
bằng nhiều hình thức khác nhau, theo những cơ chế khác nhau, ở mức độ này
hay ở mức độ kia, ở vai trò này hoặc vai trò khác đối với cơ sở hạ tầng.
Trong mỗi kiến trúc thượng tầng còn kế thừa một số yếu tố của kiến trúc
thượng tầng trước. Các yếu tố chính trị, pháp luật tác động trực tiếp, còn triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học v.v tác động gián tiếp đối với cơ sở
hạ tầng, bị các yếu tố chính trị, pháp luật chi phối. 11
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố vật chất có tác động mạnh
nhất đối với cơ sở hạ tầng. Nhà nước kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao
gồm những yếu tố vật chất như cảnh sát, toà án, nhà tù để tăng cường sức mạnh
kinh tế của giai cấp thống trị. Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối
với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là
bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong đó, nhà nước, dựa trên hệ tư
tưởng, kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như
quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù, để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp
thống trị. Tác dụng những tác động của kiến trúc thượng tầng lên cơ sở hạ tầng
sẽ là tích cực khi tác động đó cùng chiều với sự vận động của các quy luật kinh
tế khách quan, nếu trái lại, thì sẽ gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất, cản
đường phát triển của xã hội. Kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh, nhưng
không thay thế được yếu tố vật chất, kinh tế; nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm
sự phát triển của kinh tế - xã hội thì sớm hay muộn, bằng cách này cách khác,
kiến trúc thượng tầng đó sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới, thúc
đẩy kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển.
1.1.3, Lý luận về phân kỳ hình thái kinh tế xã hội:
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá trình lịch sử,
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật để nghiên
cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại, đã hình thành nên lý luận "hình thái
kinh tế xã hội". Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa
duy vật lịch sử do C. Mác xây dựng lên, có vị trí quan trọng trong triết học Mác
- Lênin. Lý luận đó đã được khoa học thừa nhận và là phương pháp luận cơ bản
trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội,
lần đầu tiên trong lịch sử loài người, C. Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên
trong, nội tại của sự phát triển xã hội, bản chất của từng chế độ xã hội, nghiên
cứu về cấu trúc cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp
của xã hội để chỉ ra các mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của 12
nó; chỉ ra quy luật vận động và phát triển của nó như một qua trình lịch sử - tự nhiên.
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản
xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội và vai trò quyết định của người lao
động đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người
để giải thích các hiện tượng đời sống mà phải từ phương thức sản xuất. Trong đó
con người giữ vị trí trung tâm, là chủ thể của lịch sử, người lao động là nhân tố
đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất. Không thể phủ
nhận được ngày nay những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại với sự
ra đời của người máy đã thay thế không chỉ những công việc nặng nhọc, những
hoạt động cơ bắp mà còn có thể thay thế cho cả những hoạt động tinh vi, phức
tạp của con người. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khoa học - công nghệ
hiện đại trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó
người lao động trở thành yếu tố thứ yếu, đứng bên ngoài quá trình sản xuất. Về
thực chất, khoa học - công nghệ là sản phẩm của quá trình nhận thức, sản phẩm
của sự phát triển trí tuệ của con người. Có thể nói, do yêu cầu của sản xuất mà
con người đã sáng tạo và quyết định khuynh hướng, tốc độ phát triển của khoa
học - công nghệ, đồng thời quyết định việc sử dụng khoa học - công nghệ vào
sản xuất theo mục đích của mình. Thực tế cho thấy, kỹ thuật, công nghệ hiện đại
với tư cách là phần vật chất trong các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất dù
năng động và cách mạng đến mấy cũng chỉ là sản phẩm do bàn tay và khối óc
của con người làm ra và chịu sự điều khiển, giám sát của con người. Do đó, trí
tuệ nhân tạo dù được mệnh danh là tiên tiến đến đâu cũng chỉ là sản phẩm của
con người, hoạt động của nó phụ thuộc vào những chương trình mà con người
đã lập ra, đã cài đặt vào máy tính điện tử và người máy công nghiệp. Chính vì
thế, khoa học - công nghệ là của con người, gắn liền với con người, phụ thuộc
vào con người và phải thông qua hoạt động của con người mới có thể được vật
hóa vào quá trình sản xuất. Nếu không xuất phát từ con người, được tiến hành 13
bởi con người và không hướng về mục đích phục vụ con người, không có quá
trình sản xuất nào có đủ lý do để tồn tại và phát triển. Do vậy, trong bất cứ thời
đại nào, kể cả thời đại của khoa học - công nghệ hiện đại, người lao động vẫn là
nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai là, xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc
giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong tác phẩm: “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống
những người dân chủ nghĩa xã hội ra sao”, Lênin đã chỉ ra rằng: Các nhà xã hội
học chủ quan không chỉ ra được nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động
phát triển xã hội, họ coi xã hội là một tổ hợp máy móc hỗn loạn không tuân theo quy luật nhất định.
Ngược lại, lý luận hình thái kinh tế - xã hội cho thấy để nhận thức, lý giải
đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã
hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. V.I. Lênin viết: “Xã hội là một cơ thể
sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành
từ máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế
nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải nghiên cứu
những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó” [14, tr.198]. Cũng
như phải sử dụng phương pháp luận trừu tượng hóa khoa học - đó là cần phải
xuất phát từ quan hệ sản xuất hiện thực của xã hội để đi sâu tìm hiểu các phương
diện khác nhau (chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học…) và mối quan hệ giữa
chúng để thấy được tính thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã
hội. Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội
khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau.
Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, có
những quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đòi
phải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh. Cách tiếp cận này phân chia lịch sử
phát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp (hay văn minh tin học, văn 14
minh trí tuệ). Thực chất đây là phân chia dựa và các trình độ phát triển của kinh
tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ. Rõ ràng, cách tiếp cận này không
thể thay thế được học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nó không vạch ra mối
quan hệ giữa các mặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động của xã hội từ thấp đến cao.
Ba là, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Quan điểm của C. Mác: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [5, tr.21]. Tức diễn ra theo các quy luật khách
quan, chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Xã hội loài người vận động, phát
triển liên tục từ thấp đến cao không phụ thuộc và ý muốn chủ quan của con người,
mà do các quy luật nội tại của đời sống xã hội quy định, trong đó trước hết và cơ
bản là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Lênin đã chỉ rõ cơ sở khoa học của vấn đề này như sau: “Chỉ có đem quy
những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ
sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một
cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là
một quá trình lịch sử tự nhiên” [14, tr.163].
Quan niệm Mácxít cũng chỉ ra rằng: Toàn bộ xã hội loài người vận động
phát triển tuần tự qua hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp nhau từ thấp đến cao:
Cộng sản nguyên thủy; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến; Tư bản chủ nghĩa; Cộng
sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội). Những đồng thời cũng chỉ ra
rằng: Một dân tộc, hay quốc gia cụ thể nào đó trong những điều kiện khách
quan, chủ quan, thời đại hay trong nước cho phép, thì không nhất thiết phải phát
triển tuần tự, mà có thể phát triển “bỏ qua” một nấc thang nào đó của lịch sử để
tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Đó chính là quá trình lịch sử - tự nhiên đặc thù.
Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy dưới ảnh hưởng, tác động của 15
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, của quá trình toàn cầu hóa, thì
những nước kinh tế kém phát triển nếu đã giành chính quyền về tay giai cấp vô
sản, có được những nhân tố khách quan và chủ quân cần thiết thì hoàn toàn có
khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó cũng
là một tất yếu lịch sử.
Nói tóm lại, từ những l
ý luận và căn cứ nêu trên, c
ó thể khẳng định sự lựa
chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa x ã hội ở Việt Nam là
một điều tất yếu và khách quan theo quy luật.
1.2, Căn cứ vào thực tiễn của sự lựa chọn:
Lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam chính là minh chứng rõ nét
nhất cho sự lựa chọn con đường Chủ nghĩa xã hội là đúng đắn v à khách quan.
Xuất phát từ lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi
đó các lực lượng cách mạng trong xã hội lúc bấy giờ đã đứng lên làm cách mạng
nhưng đều bị thất bại. Đã có những nhân trung hào kiệt đại diện cho các chế độ
phong kiến, tư bản chủ nghĩa,... xung phong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành
độc lập qua các phong trào như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế,
phong trào Đông Du,... nhưng đều đi đến ngõ cụt vì chưa xác định được hướng
đi phù hợp cho nhân dân Việt Nam, cách mạng Việt Nam. Chỉ đến khi Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cách
mạng Việt Nam mới chấm dứt sự bế tắc về đường lối cách mạng. Từ đó, Người
khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác con đường cách mạng v
ô sản” [9, tr.30]. Đó là việc xác định cách mạng giải
phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng
khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì thế, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ
rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản” [7, tr.1]. Nghĩa là muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trước hết 16
phải thực hiện được cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập
dân tộc và người cày có ruộng. Đây là hai giai đoạn khác nhau của cách mạng,
nhưng có quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Bởi vì độc lập dân tộc là cơ
sở để xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là điều
kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc, để thực hiện mục tiêu xây
dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân tộc Việt Nam
đã đứng lên làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây chính là lời khẳng định chắc chắn, rằng sự
lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là
sự lựa chọn duy nhất đúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam
và là khát vọng của dân tộc Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã
hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” [6,
tr.70]. Tạo nên sức mạnh nội sinh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh độc lập dân tộc chỉ
được bảo đảm vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chỉ vậy mới mang
lại được cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân, vì đây chính là sự lựa chọn
của dân tộc Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Theo đó, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam cũng không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với điều
kiện của đất nước trong từng giai đoạn lịch; là thực tế khách quan không ai có thể phủ nhận được.
2, Nhận dạng các quan điểm ph
ủ nhận con đường đ ilên Chủ nghĩa x ã hội
và bảo vệ con đường độc lập gắn với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay:
2.1, Nhận dạng các quan điểm ph
ủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa x
ã hội ở Việt Nam hiện nay: 17
Trước sự sụp đổ của hệ thống Chủ nghĩa x ã hội ở Liên X ô và Đông Âu, đã c
ó nhiều luồng ý kiến nghi ngờ về độ bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa
xuất hiện ở nhiều cá nhân. Thậm chí, các nước tư bản chủ nghĩa còn nhằm thời
cơ này lan truyền, can thiệp vào nội bộ các nước x
ã hội chủ nghĩa với âm mưu xóa b
ỏ sự hiện diện của Chủ nghĩa x
ã hội – mặt đối lập của Chủ nghĩa tư bản.
Từ đó, những quan điểm phủ nhận và nhìn nhận sai trái về Chủ nghĩa xã hộ i
mọc lên không ít, gây khó d
ễ cho con đường độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa
xã hộ iở Việt Nam ta, tiêu biểu là:
Một là, xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác -
Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về Chủ nghĩa xã hội.
Hai là, xuyên tạc Chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, l
ý tưởng con đường đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ba là, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”,
“góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp…, cho rằng
đó là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ, “xã hội dân sự”.
Bốn là, quan điểm, luận điệu lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn
chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống x
ã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của Chủ nghĩa x
ã hội, là kết quả mang lại d
o đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội.
2.2, Phê phán các quan điểm ph
ủ nhận và bảo vệ sự lựa chọn con đường
độc lập gắn với Chủ nghĩa x
ã hội ở Việt Nam hiện nay: Mặc d
ù các thế lực đối lập với ý chí và sự lựa chọn của Đảng và Nhà
nước Việt Nam đưa ra các luận điểm hết sức thâm hiểm và tinh vi, nhưng Đảng và nhân dân ta vẫn c
ó cách phản bác những quan điểm sai trái đó và kiên định
với lựa chọn của mình.
Về quan điểm thứ nhất: xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của
học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về Chủ nghĩa x ã hội. 18
Để phủ định học thuyết Mác - Lênin, các thế lực thù địch cho rằng, học
thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và phù hợp trong một chừng
mực nào đó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó.
Lý luận này không còn phù hợp với thế kỷ X
X và đặc biệt trong điều kiện ngày
nay càng không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. T
ừ đó, họ tuyên truyền xuyên
tạc, rêu rao: chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không phù hợp ở Việt Nam và
cần loại bỏ. Gần đây, trước những khó khăn về kinh tế, xã hộ icủa đất nước, h ọ
tuyên truyền luận điệu: Việt Nam đang không chỉ bế tắc về kinh tế m à còn bế
tắc cả về tinh thần; v
à rằng, không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa. Họ cho
rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C .Mác chỉ là một mớ lý thuyết
suông về một chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. D o
vậy, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông  u v
à trên toàn thế giới là một tất
yếu, là sự cáo chung đã được báo trước.
Thế nhưng, nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là học
thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao
động. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu chỉ r
õ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị á
p bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, hướng tới một xã
hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học thuyết đó còn chỉ ra
lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền tin vào khả năng và
sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến, m à
đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn b
ộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xé ttrong tinh
thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là v
ũ khí lý luận sắc bén, ngọn c
ờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh 19
khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin” [8, tr.289].
Có thể nói, việc hiểu bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin là rất quan
trọng. Đối với một công dân đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, để không
bị những nhận định mang tính xuyên tạc che mắt, phải tìm hiểu và nhận thức rõ
ràng giá trị cũng như tính lâu dài và bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Về quan điểm thứ hai, xuyên tạc Chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, l ý tưởng
con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Với cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và
Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định Chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội”, ọ
h cho rằng: ai cũng thấy là Chủ nghĩa xã hội đã ở vào giờ
thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện Chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đã
hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 - 1985) thực hiện triệt để dù cố gắng “đổi
mới” 10 năm sau đó (1985 - 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không
cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện
nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ
đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về
kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không
phải kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quả thật, trong một thời gian dài chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về Chủ
nghĩa xã hội, đặc biệt là trước đổi mới, hệ quả là đất nước rơi vào khủng hoảng
về kinh tế - xã hội trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng ta đã nhận thức
lại Chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Vì
vậy, từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), con đường đổi mới đã được thông
qua. Sự đổi mới ở đây không có nghĩa là từ bỏ con đường XHCN, mà đổi mới
để nhận thức đúng, đầy đủ hơn về Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đổi mới ở đây
là đổi mới tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế. Vì vậy, nếu trước đổi mới,
quan niệm kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa 20
tư bản, đối lập một cách trừu tượng Chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, thì
nay nhận thức lại đúng đắn hơn, coi kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là
sản phẩm phát triển chung của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, cần
phải kế thừa yếu tố hợp lý, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Nên nhớ rằng, trong Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác nhấn mạnh:
“Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói
chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” [3, tr.615]; “Chủ nghĩa cộng sản không
tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa
cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của
người khác” [3, tr.618]. Do vậy, trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và kể cả
trong Chủ nghĩa xã hội, việc tồn tại kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân là tất yếu.
Sở hữu tư nhân ở đây với tư cách là quyền chiếm hữu sản phẩm do chính lao
động tạo ra, chứ không phải sở hữu với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội -
dùng quyền sở hữu đó để đi bóc lột sức lao động của người khác làm cơ sở tồn tại của chế độ.
Vì vậy, mỗi người cần tìm hiểu và hiểu bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa, đồng thời nhận thức đúng đắn về hướng đi của Đảng Cộng sản Việt Nam,
về bản chất vẫn luôn đặt lợi ích của người lao động lên hàng đầu.
Về quan điểm thứ ba, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức, như “gửi
thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi Hiến pháp…, cho rằng đó l
à thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ, “xã hội dân sự”.
Để đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phá hoại
cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tập trung tung
ra nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng phê phán Đảng Cộng
sản Việt Nam không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên
chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo”; rằng ở Việt Nam “không có đa nguyên, đa