1. Khái quát về phong tục tập quán Việt Nam
1.1. Khái niệm
a. Phong tục
toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình
lịch sử ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận tựgiác thực hiện,
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của
cộng đồng.
Phong tục những nghi thức thuộc về đời sống của con người được hình thành qua
nhiều thế hệ được công nhận như một phần trong nếp sống của cộng đồng.
Phong tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có tính bắt buộc
thay đổi theo từng quần thể, dân tộc cũng như tôn giáo khác nhau.
dụ một số phong tục: phong tục cưới hỏi, phong tục ma chay, đặc biệt việc xây
dựng nhà cửa, xây mộphần cho người thân,..
b. Tập quán
phương thức ứng xử hành động đã định hình quen thuộc đã thành nếp
trong lối sống, trong lao động một nhân, một cộng đồng.
Tập quán được hiểu lối sống của một tập thể, tổ chức hoặc quần thể sinh vật lớn
được nh thành như một thói quen trong đời sống, sản xuất, sinh hoạt được công
nhận coi như một quy ước chung của tất cả mọi nhân sống trong tổ chức, quần
thể đó.
dụ điển hình: tập quán di trú của các loài chim, tập quán ngủ đông của loài gấu khi
mùa đông về. Hoặc một số dân tộc tập quán di canh di để tìm vùng đất mới
thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc.
Như vậy, phong tục tập quán toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người
được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể coi đó như một nếp sống truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.Tùy theo mỗi địa phương tín ngưỡng khác nhau,
phong tục tập quán mỗi quần thể sẽ những sự khác biệt với nhau.
Phong tục tập quán của người Việt một t đẹp văn hóa cần được bảo tồn phát
huy. Đó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn những giá trị truyền thống còn cách
để ghi nhớ cội nguồn của dân tộc. Con người Việt Nam cùng hãnh diện tự hào
với bạn quốc tế bởi những phong tục đặc biệt chỉ người Việt mớimới.
1.2. Một số phong tục điển hình của người Việt
a. Thờ cúng tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu. Bàn thờ tổ tiên thường đặt trang
trọng trên cao hoặc giữa nhà, bao gồm di ảnh người đã mất, bình hoa tươi, đĩa trái
cây. Hằng năm, vào ngày t tiên mất, người thân sẽ tiến hành cúng, tức chuẩn
bị nhiều món ăn đặt lên bàn thờ, thắp nhang.
Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên một trong những nguyên tắc đạo
đức làm người đồng thời một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của
người Việt, đặc biệt cuộc sống các làng quê. Đó hình thức thể hiện tấm
lòng thành kính thể hiện đạo uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông , cha
mẹ đã sinh thành gây dựng nên cuộc sống cho cháu con.
b. Đón Tết âm lịch
Người Việt cũng chào mừng Tết dương lịch, song quan trọng nhất vẫn Tết
âm lịch. Tết âm lịch hay Tết Nguyên Đán, còn gọi Tết ta,Tết Cổ truyền,...
dịp lễ quan trọng nhất trong văn hoá của người Việt Nam.
Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây, thường rơi vào khoảng
cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch nói chung kéo dài khoảng 5-6 ngày,
tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn nơi xa có thể về
quê vui cảnh đoàn viên ít ngày.
Ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết chỗ không chỉ dịp để người Việt nhớ về
cội nguồn, ông tổ tiên dịp đoàn tụ gia đình để nghỉ ngơi, vui chơi, ăn
uống chào đón m mới, chào đón sự khởi đầu mới,rũ bỏ những không hay đẹp
của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm
khích cũ. Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc thịnh vượng
cho năm mới. Người Việt rất nhiều phong tục trong dịp Tết âm lịch như tặng
quà tết cho người thân quen, quét dọn nhà cửa thật sạch, trang trí nhà cửa thật đẹp,
mừng tuổi trẻ em -người già,chúc Tết, đi chùa để cầu nguyện những điều may
mắn...
c. Kính già, yêu trẻ, trọng khách
Kính già, yêu trẻ,trọng khách điểm người nước ngoài ghi nhận tại Việt Nam từ
hàng trăm năm trước.
Việc nh trọng người cao tuổi không chỉ một thuần phong mỹ tục của người
Việt đó còn bản sắc n hóa dân tộc lại vừa ý nghĩa cùng thiêng liêng,
sâu sắc. Người Việt Nam rất kính trọng người cao tuổi niềm tin rằng người cao
tuổi người nhiều kinh nghiệm sống nhất “kính lão đắc thọ” (tức khi
kính trọng người cao tuổi thì chúng ta sẽ sống thọ hơn).
Việc kính trọng người già trước hết phải bắt đầu ngay trong gia đình: Phải
kính trọng cha mẹ-người đã sinh thành dưỡng dục con cái nên người.
1.3. Đặc điểm
nguồn gốc từ lâu đời, được hình thành t những thói quen lâu đời của nhân dân,
dần được đa số nhân dân công nhận lưu truyền từđời này sang đời khác.
Phong tục bao gồm c tập tục tốt đẹp hủ tục.
chế bên trong, điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống của một nhóm
người hay một hội. Phong tục tập quán bịảnh hưởng bởi các lễ giáo tục lệ địa
phươnt.
Luôn mang tính ổn định, bền vững, nh bảo thủ, nhưng tác động tâm
mạnh mẽ tới các thế hệ sau tinh thần con người.
2. Phong tục tập quán cổ truyền.
2.1. Tục ma chay
Phong tục tang ma của người Việt bao gồm nhiều quy trình, nhiều nghi thức khác nhau.
Trải qua nhiều thời nghi thức này đã nhiều thay đổi tuy nhiên vẫn phải bao gồm các
nghi thức chính kể từ khi người qua đời: L khâm liệm; Lễ nhập quan; Lễ viếng; Lễ
đưa tang; Lễ hạ huyệt lễ viếng mộ.
a. Lễ khâm liệm
Đây một trong những bước chuẩn bị cho người đã khuất đi về thế giới n kia.
bước cần thiết trước khi tiến hành nhập quan phát tang, cáo phó cho người thân
mọi người đến viếng.
Theo phong tục tang ma của người Việt, người vừa mất được thân nhân tắm gội sạch
sẽ bằng nước thơm, cắt móng chân móng tay sau đó gói lại cẩn thận để đặt vào quan
tài. Khi tắt thở, con cháu vuốt mắt thay quần áo mới, thường bộ quần áo may trắng
được chuẩn bị từ trước. Sau đó, người mất được buộc hai ngón chân cái với nhau, để
hai tay lên bụng, vai bằng dây vải bỏ một ít gạo sống vào miệng.
Người dân quan niệm: tiền gạo phàm hàm đó lương thực lộ phí cho người
chết nh trình sang cõi âm. Việc ngáng đũa trong miệng về mặt khoa học để tử
khí trong thể lối thoát ra. Nhưng theo quan niệm thì chết ngậm miệng cái
chết không thanh thản còn nhiều ngậm ngùi, giằng với trần gian.
Người mất được đặt nằm trên giường, buông màn rồi thắp một ngọn đèn nơi đầu
giường, thi hài của người đã mất thể để như vậy đợi người thân về. Tuy nhiên,
không được quá ba ngày.
Đặc biệt, để người mất ra đi thanh thản con cháu đau đớn cũng không được khóc
thành tiếng sẽ khiến người chết không thể nhẹ nhàng ra đi.
Nghi thức khâm liệm: được tiến hành sau hồi dài kèn trống, người thân dùng vải trắng
hoặc đỏ để gói thân thể người mất đặt vào áo quan, gáy được gối lên hai chiếc bát
ăn cơm úp, một s vùng còn đem một bộ tam cúc bỏ vào trong ván để trừ trùng. Với
những người chết có bệnh, người ta dùng cám rang hoặc gạo rang giã nhỏ khi
chè khô trải phía trong ván để hút nước khử mùi.
b. Lễ nhập quan
Trước khi nhập quan thời xưa thường phải làm lễ phạt mộc, bằng cách cầm nén
nhang đang cháy, đọc chú, chém khẽ vào áo quan 3 nhát (đầu, cuối, cạnh bên cỗ áo
quan) để trừ khử hết ma quái đi, tránh ám hại người chết gieo tai họa cho người
sống (tang gia).
Khi nhập quan, thân nhân mặt đứng theo thứ tự gần rồi đến xa, a có quy định:
con trai đứng bên trái, con gái đứng n phải người chết, cổ tục nói những người
kị tuổi với người chết giờ chết trong vòng con cháu ruột thịt phải lánh mặt ra chỗ
khác để phòng ngừa tai họa về sau.
Lưu ý: Không nâng thi hài trực tiếp bằng tay để nhập quan. Khi đặt thi hài vào quan
tài cần chuẩn bị gối bông nhỏ, vải mềm nhiều lớp để kê, đệm, lót làm cho thi thể cố
định một khối với quan tài (kê phần đầu phải cao hơn phần thân).
Nhập quan xong đặt quan tài vào đúng vị trí thờ, lúc này con cháu kị tuổi được phép
trở về để cùng với mọi người thực hiện nghi lễ của việc tang.
Kể t lúc nhập quan đến đưa tang, trên quan tài luôn được thắp nến: cha thì thắp 7
ngọn, mẹ thì thắp 9 ngọn nến đỏ, giữa mặt ván quan tài đặt một bát cơm bông trên
một quả trứng luộc đã bóc vỏ được kẹp bằng một đôi đũa bông, bát cơm sẽ
được đặt trên mộ sau khi chôn cất.
c. Lễ viếng
Lễ viếng được tiến nh trang nghiêm, mọi người xếp hàng để viếng, tang gia sẽ ngồi
cạnh quan tài cúi đầu cảm ơn những người đến chia buồn cùng với gia đình.
*Lưu ý: đi viếng đám tang cần kiêng kị
Không mặc lòe loẹt cười nói ầm ĩ
Người cao tuổi, phụ nữ thai người bị chó dại cắn kiêng đi viếng đám tang.
Không nên bật nhạc điện thoại chuông to khi đi viếng đám tang.
Nếu đi viếng đám tang l người quá cố ấy đẹp trai hay xinh gái không được khen.
Ra đường gặp đám tang ngược chiều phải xuống xe ngả mũ nón dắt bộ qua đám tang
rồi mới lên xe, ô tô t chậm lại không bóp còi, đi cùng chiều không tiện xuống xe thì
đi chậm lại ngả mũ.
Khi đi viếng đám tang về đặt sẵn cửa ra vào một than đốt vỏ bưởi quả bồ kết
để trừ uế khí.
d. Lễ đưa tang
Thầy cúng hoặc tang chủ cùng con cháu nội ngoại thực hiện lễ tiễn biệt người quá cố
về nơi an nghỉ cuối cùng, mọi người theo thứ tự trong nội ngoại gia tộc xếp hàng
trước bàn thờ vong.
Thầy cúng hoặc tang chủ thực hiện các bước thắp hương, dâng rượu, nước trang
nghiêm như lễ phát tang đọc lời ai điếu tiễn biệt lần cuối, con cháu thành kính bái
lễ.
Khi di quan phải thật sự chậm rãi, từ từ từng nửa bước chân một, vừa thể hiện nỗi đau
tiễn biệt muốn níu kéo lại cũng vừa đảm bảo cho quan tài luôn được thăng bằng, để
người ra đi tròn giấc ngủ yên lành;
Đi đầu hai phương tướng mặc áo đạo đeo mặt nạ, cầm dao hoặc binh khí để
trừ ma, rồi đến đoàn người vác cờ tang, tiếp minh binh, vòng hoa, trướng, câu
đối, linh xa, phường bát âm phèng phèng thanh la kèn, trống, đến đoàn khiêng nhà
táng, sau cùng đoàn đi đưa ma.
e. Lễ h huyệt
Trước khi hạ huyệt người ta phải làm lễ cúng thổ thần để xin phép được an táng
người chết tại nơi đây. Cúng thổ thần xong, linh cữu mới được hạ huyệt.
Đợi tới giờ hoàng đạo người ta đặt linh cữu xuống, lúc đó thầy địa dùng la bàn
gióng hướng phúc lại cho đúng;
Khi hạ huyệt con trai trưởng lấp hòn đất đầu tiên, sau đó tới các con lần lượt ném
xuống nắm đất với ý nghĩa con cái đắp mộ cho cha mẹ.
Các cụ đội cầu kiều đi vòng quanh mộ cầu kinh xong xuôi đám tang trở về nhưng
phải theo con đường khác, tránh không về bằng con đường lúc đi cũng không được
khóc nữa, như vậy hồn người chết sẽ biết lối theo về.
f. Lễ ấp mộ, viếng mộ
Trong ba ngày sau khi hạ huyệt, vào mỗi buổi chiều, con cháu đem cơi trầu đến mộ
khóc lóc gọi ấp mộ. Việc này nghĩa là đem hơi nóng của tình thân gia đình làm
cho mộ đỡ lạnh.
Đến ngày thứ a con cháu đắp sửa lại mộ, lễ này được gọi cúng mở cửa mả. Cũng t
ngày đó trở đi ngày nào cũng cúng cơm một hoặc hai buổi cho đủ 100 ngày. nơi
cúng hết tang 3 năm.
g. Các nghi thức sau tang lễ
* Tuần chung thất (49 ngày): Gia chủ làm lễ thất cho đến khi được tuần thứ 7 t làm
lễ chung thất, thôi cúng cơm cho người chết.
Việc cúng cầu siêu như vậy tác dụng nhắc nhở gợi cho người quá vãng hướng tâm
về các thiện sự đã m hoặc thiết tha thực hiện những tưởng tốt đẹp, nhờ đó thần
thức được tái sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn.
+ Tuần tốt khốc (100 ngày): Khi người chết được 100 ngày gia chủ làm lễ tốt khốc
(thôi khóc), gia chủ thường mời thầy cúng đốt tang phục, đốt nhà cho người chết
đưa di ảnh người chết lên bàn thờ tổ tiên.
+ Giỗ đầu (Tiểu tường): Sau một m âm lịch, gia đình người chết sẽ tổ chức giỗ đầu
nhằm mục đích nhớ về người đã khuất.
+ Mãn tang (Đạt tường): Sau khi người chết được 3 m gia chủ làm lễ hết tang.
h. Trang phục hoa trong tang lễ
*Trang phục
Trang phục trong tang lễ biểu thị mối quan hệ họ hàng, anh em gần - xa với người đã
khuất, tùy theo địa vị của từng người trong gia đình trang phục sẽ khác nhau.
Con trai con r trong đám tang mặc bộ trang phục thảm trôi nghĩa may áo nhưng
không cắt khâu cẩn thận để mép vải ra, áo dài đến đùi gối, rộng, tay thụng
bằng vải thô buộc sợi dây ngang lưng đội rơm;
Con i, con dâu cũng mặc trang phục thảm trôi nhưng không cần đội rơm đeo
dây, chỉ xõa tóc không đeo dép;
Cháu nội, ngoại anh em họ hàng ruột thịt buộc mọt tấm khăn màu trắng để tỏ lòng
thương tiếc mang ý nghĩa cùng chịu tang với người thân của mình.
*Hoa
Với mỗi bông hoa mặt trong cuộc sống của chúng ta này đều sẽ mang trong mình
một sứ mệnh một ý nghĩa khác nhau. thế đôi khi không phải ngẫu nhiên chúng
lại mặt trong các buổi tiệc vui mừng hay lại hiện diện trong những khoảnh khắc
đau buồn chia xa. Trong tang lễ, thường nhiều loại hoa nhưng phổ biến thông
dụng nhất đó hoa cúc vàng.
Câu chuyện em vào rừng sâu tìm hoa chữa bệnh cho mẹ lẽ đó bông hoa cúc
nghiễm nhiên trở thành hoa của s hiếu thảo, trong tang l người ta thường dùng hoa
cúc vàng để tỏ lòng hiếu thảo của mình tới người đã khuất. Ngoài ra trong tang lễ còn
sử dụng hoa cúc trắng, hoa huệ tây, hoa ly…
Tìm hiểu tang ma một số dân tộc thiểu số Việt Nam (Tang ma người
Mông đen Sa Pa)
Trong đám tang này, gái mới 25 tuổi, chết do bệnh nặng không điều kiện
thuốc thang. Sau khi phát hiện đã chết trên giường, người anh trai nhanh chóng
thông báo cho con trong bản, bằng cách bắn hai phát súng kíp lên trời.
Người trong bản đều biết tín hiệu này báo người mới chết. Sau đó, thầy mo
được mời về để làm lễ, người chết được thay váy áo giày mới, chân được bằng
một tấm vải. Tuy nhiên, chân người chết được bằng vải màu trắng, chứ không phải
vải đen như những người phụ nữ H'Mông vẫn chân thường ngày.
Nghi lễ thứ nhất gọi lễ Ngựa tức đưa xác người chết lên treo giữa nhà để cúng.
Họ dùng ván gỗ Mu hoặc hai đoạn tre dài được ghép lại với nhau thành tấm bằng
những sợi dây rừng cho người chết nằm. Họ buộc chân phần thân người chết trong
thế nằm ngủ, trên người phủ rất nhiều quần áo ch để hở chân mặt. Ngoài ra, họ
buộc một con trống vào thân một cây nỏ cùng một con dao rồi cúng cho người
chết.
Lễ thứ hai trong đám tang người Mông đen là lễ mổ trâu, mổ lợn, tùy theo gia đình
giàu hay nghèo mà lễ vật lớn hay nhỏ. Họ đem trâu, lợn tới với ngụ ý giao cho người
chết, sau đó sẽ giết thịt làm đồ cúng chia cho những người tới dự đám tang.
Ngoài ra, những người thân thiết, bạn có nhã ý muốn cúng tiến trâu, lợn cho người
chết thể đem lễ vật tới. Sau khi làm l giao cho người chết, phần thịt được chia cho
nhà chủ phần chân sau cái đuôi, phần còn lại được chia cho những người tới tham
dự
Ngày giờ chôn cất được gia đình thầy mo sắp đặt. Họ thường chôn vào lúc sáng
sớm khi chưa ánh mặt trời hoặc chôn vào buổi chiều muộn. Trước khi đưa xác ra
khỏi nhà, họ làm lễ cúng giao các đồ vật để người chết mang theo. Các xâu tiền vàng
được đem đốt giữa nhà, sau đó họ gói tro vào một tờ giấy đặt vào thùng gỗ đựng đồ
ăn của người chết.
Những thanh niên bắt đầu chặt sợi dây buộc chiếc cáng tre nơi người chết nằm. Họ
khiêng trên vai, lúc này những que nhang mới bắt đầu được đốt, để những người thân
trong gia đình quỳ lạy ngoài cửa. Họ khiêng xác chết đi rất nhanh qua rừng, dường
như vừa đi vừa chạy, theo sau rất đông người trong bản đi xem chôn cất.
Nơi chôn cất cách xa nhà khoảng 2 km, trên một khu đồi tre xanh tốt. Những người
phụ nữ chỉnh sửa trang phục cho người chết một lần nữa. Trong khi đó những người
đàn ông bắt đầu đào huyệt mộ.
Thầy mo lẩm nhẩm một bài cúng truyền rồi tung 2 chiếc thẻ tre tới khi hai mặt đều
nhau, sau đó lấy chiếc khăn đỏ bỏ vào ngực áo của người chết rồi mới đậy nắp quan
i.
Trước đó, những người phụ nữ không ai bảo ai đã chạy về bản rất nhanh. Sau khi
đóng nắp quan tài, chỉ còn những thanh niên trẻ lại lấp mộ. H vừa lấp vừa chia
nhau những chén rượu cuối cùng. Khi lấp xong những người thanh niên còn lại cũng
chạy đi rất nhanh, như sợ bị ma đuổi.
Sau khi chôn cất được 12 ngày, người nhà sẽ mời thầy mo về làm lễ cúng một lần nữa.
Đây lễ mời người chết về thăm nhà, giúp linh hồn người chết ra đi thanh thản,
không trở về làm hại những người thân trong gia đình.
Kể từ đây người chết sẽ vĩnh viễn ra đi những người còn sống rất ít khi nhắc tới họ
bởi người Mông đen không tập tục thờ cúng tổ tiên. Chỉ khi nào các dịp lễ lớn
hay người trong nhà hay đau ốm thì họ mới làm lễ cúng cầu may mắn gọi hồn
người chết về lại thăm nhà.
2.2. Tục thờ cúng tổ tiên
Nguồn gốc
Như các dân tộc khác trên thế giới, t thuở xa xưa dân tộc Việt Nam đã thờ rất nhiều
thần linh. Họ thờ tất cả các thế lực hình hữu nh thực chất các hiện
tượng thiên nhiên hội họ chưa thể giải thích được vào thời đó. Từ đó, hình
thành nên tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Trong các loại tín ngưỡng thì tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên một nh thức tín ngưỡng bản phổ biến của người Việt, bất
kể họ đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị, người giàu hay người
nghèo...
Những biến đổi về hình thức thờ cúng tổ tiên xưa nay
Từ sau đổi mới, các loại hình tôn giáo tín ngưỡng đều được coi “trỗi dậy” sau một
giấc ngủ dài. Đời sống tôn giáo trở nên sôi động. sở thờ tự các tôn giáo ngày càng
được xây dựng, tu bổ khang trang hơn. Cùng với nó, số lượng tín đồ đến tham dự các
hình thức nghi l tôn giáo cũng nhiều hơn.Thờ cúng t tiên cũng hòa mình vào xu thế
chung đó. Thờ cúng tổ tiên trong các gia đình cũng ngày càng được chú trọng hơn.
Nếu tôn giáo ch đáp ứng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận người n tín đồ
của tôn giáo đó thì thờ cúng t tiên đáp ứng nhu cầu tâm linh của đại bộ phận người
Việt Nam.
Nếu trước đây, thờ cúng tổ tiên được tập trung tại nhà dòng trưởng (trưởng tộc,
trưởng họ, trưởng chi, con trưởng) thì nay, mọi thành viên trong gia đình đều th
cúng tổ tiên tại gia đình mình. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được tục lệ cứ giỗ, Tết tập
trung lại vào nhà con trưởng để làm giỗ.
Tuy nhiên, tại nhiều gia đình, ngày giỗ không còn ngày con cháu tập trung như
trước nữa. nh thức cúng giỗ mang tính cộng đồng chung các thành viên trong gia
đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ thể. Mỗi thành viên trong gia đình làm
lễ cúng giỗ người đã mất tại nhà nh.

Preview text:

1. Khái quát về phong tục tập quán Việt Nam 1.1. Khái niệm a. Phong tục
Là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình
lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tựgiác thực hiện,
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng.
Phong tục là những nghi thức thuộc về đời sống của con người được hình thành qua
nhiều thế hệ và được công nhận như một phần trong nếp sống của cộng đồng.
Phong tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có tính bắt buộc
và thay đổi theo từng quần thể, dân tộc cũng như tôn giáo khác nhau.
Ví dụ một số phong tục: phong tục cưới hỏi, phong tục ma chay, đặc biệt là việc xây
dựng nhà cửa, xây mộphần cho người thân,. b. Tập quán
Là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp
trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng.
Tập quán được hiểu là lối sống của một tập thể, tổ chức hoặc quần thể sinh vật lớn
được hình thành như một thói quen trong đời sống, sản xuất, sinh hoạt được công
nhận và coi như một quy ước chung của tất cả mọi cá nhân sống trong tổ chức, quần thể đó.
Ví dụ điển hình: tập quán di trú của các loài chim, tập quán ngủ đông của loài gấu khi
mùa đông về. Hoặc ở một số dân tộc có tập quán di canh di cư để tìm vùng đất mới
thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc.
Như vậy, phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người
được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.Tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau,
phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau.
Phong tục tập quán của người Việt là một nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát
huy. Đó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là cách
để ghi nhớ cội nguồn của dân tộc. Con người Việt Nam vô cùng hãnh diện và tự hào
với bạn bè quốc tế bởi những phong tục đặc biệt chỉ người Việt mớimới. 1.2.
Một số phong tục điển hình của người Việt
a. Thờ cúng tổ tiên
Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu. Bàn thờ tổ tiên thường đặt trang
trọng trên cao hoặc giữa nhà, bao gồm di ảnh người đã mất, bình hoa tươi, đĩa trái
cây. Hằng năm, vào ngày tổ tiên mất, người thân sẽ tiến hành cúng, tức chuẩn
bị nhiều món ăn đặt lên bàn thờ, thắp nhang.
Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một trong những nguyên tắc đạo
đức làm người đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của
người Việt, đặc biệt là cuộc sống ở các làng quê. Đó là hình thức thể hiện tấm
lòng thành kính thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông bà, cha
mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho cháu con.
b. Đón Tết âm lịch
Người Việt cũng chào mừng Tết dương lịch, song quan trọng nhất vẫn là Tết
âm lịch. Tết âm lịch hay Tết Nguyên Đán, còn gọi Tết ta,Tết Cổ truyền,. . là
dịp lễ quan trọng nhất trong văn hoá của người Việt Nam.
Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây, thường rơi vào khoảng
cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch và nói chung kéo dài khoảng 5-6 ngày,
tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn ở nơi xa có thể về
quê vui cảnh đoàn viên ít ngày.
Ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết ở chỗ nó không chỉ là dịp để người Việt nhớ về
cội nguồn, ông bà tổ tiên mà là dịp đoàn tụ gia đình để nghỉ ngơi, vui chơi, ăn
uống chào đón năm mới, chào đón sự khởi đầu mới,rũ bỏ những gì không hay đẹp
của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm
khích cũ. Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng
cho năm mới. Người Việt có rất nhiều phong tục trong dịp Tết âm lịch như tặng
quà tết cho người thân quen, quét dọn nhà cửa thật sạch, trang trí nhà cửa thật đẹp,
mừng tuổi trẻ em -người già,chúc Tết, đi chùa để cầu nguyện những điều may mắn. .
c. Kính già, yêu trẻ, trọng khách
Kính già, yêu trẻ,trọng khách là điểm người nước ngoài ghi nhận tại Việt Nam từ hàng trăm năm trước.
Việc kính trọng người cao tuổi không chỉ là một thuần phong mỹ tục của người
Việt mà đó còn là bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng,
sâu sắc. Người Việt Nam rất kính trọng người cao tuổi vì niềm tin rằng người cao
tuổi là người có nhiều kinh nghiệm sống và nhất là “kính lão đắc thọ” (tức khi
kính trọng người cao tuổi thì chúng ta sẽ sống thọ hơn).
Việc kính trọng người già trước hết phải bắt đầu ngay trong gia đình: Phải
kính trọng cha mẹ-người đã sinh thành dưỡng dục con cái nên người. 1.3. Đặc điểm
Có nguồn gốc từ lâu đời, được hình thành từ những thói quen lâu đời của nhân dân,
dần được đa số nhân dân công nhận và lưu truyền từđời này sang đời khác.
Phong tục bao gồm cả tập tục tốt đẹp và hủ tục.
Là cơ chế bên trong, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống của một nhóm
người hay một xã hội. Phong tục tập quán bịảnh hưởng bởi các lễ giáo và tục lệ địa phươnt.
Luôn mang tính ổn định, bền vững, nó có tính bảo thủ, nhưng có tác động tâm lý
mạnh mẽ tới các thế hệ sau và tinh thần con người.
2. Phong tục tập quán cổ truyền. 2.1. Tục ma chay
Phong tục tang ma của người Việt bao gồm nhiều quy trình, nhiều nghi thức khác nhau.
Trải qua nhiều thời kì nghi thức này đã có nhiều thay đổi tuy nhiên vẫn phải bao gồm các
nghi thức chính kể từ khi có người qua đời: Lễ khâm liệm; Lễ nhập quan; Lễ viếng; Lễ
đưa tang; Lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ. a. Lễ khâm liệm
Đây là một trong những bước chuẩn bị cho người đã khuất đi về thế giới bên kia. Là
bước cần thiết trước khi tiến hành nhập quan và phát tang, cáo phó cho người thân và mọi người đến viếng.
Theo phong tục tang ma của người Việt, người vừa mất được thân nhân tắm gội sạch
sẽ bằng nước thơm, cắt móng chân móng tay sau đó gói lại cẩn thận để đặt vào quan
tài. Khi tắt thở, con cháu vuốt mắt thay quần áo mới, thường là bộ quần áo may trắng
được chuẩn bị từ trước. Sau đó, người mất được buộc hai ngón chân cái với nhau, để
hai tay lên bụng, vai bó bằng dây vải và bỏ một ít gạo sống vào miệng.
Người dân quan niệm: tiền và gạo phàm hàm đó là lương thực và lộ phí cho người
chết hành trình sang cõi âm. Việc ngáng đũa trong miệng về mặt khoa học là để tử
khí trong cơ thể có lối thoát ra. Nhưng theo quan niệm thì chết ngậm miệng là cái
chết không thanh thản còn nhiều ngậm ngùi, giằng xé với trần gian.
Người mất được đặt nằm trên giường, buông màn rồi thắp một ngọn đèn nơi đầu
giường, thi hài của người đã mất có thể để như vậy đợi người thân về. Tuy nhiên, không được quá ba ngày.
Đặc biệt, để người mất ra đi thanh thản con cháu dù đau đớn cũng không được khóc
thành tiếng sẽ khiến người chết không thể nhẹ nhàng ra đi.
Nghi thức khâm liệm: được tiến hành sau hồi dài kèn trống, người thân dùng vải trắng
hoặc đỏ để gói thân thể người mất và đặt vào áo quan, gáy được gối lên hai chiếc bát
ăn cơm úp, một số vùng còn đem một bộ tam cúc bỏ vào trong ván để trừ trùng. Với
những người chết có bệnh, người ta dùng cám rang hoặc gạo rang giã nhỏ có khi là
chè khô trải phía trong ván để hút nước và khử mùi. b. Lễ nhập quan
Trước khi nhập quan thời xưa thường phải làm lễ phạt mộc, bằng cách cầm nén
nhang đang cháy, đọc chú, chém khẽ vào áo quan 3 nhát (đầu, cuối, cạnh bên cỗ áo
quan) để trừ khử hết lũ ma quái đi, tránh ám hại người chết và gieo tai họa cho người sống (tang gia).
Khi nhập quan, thân nhân có mặt đứng theo thứ tự gần rồi đến xa, xưa có quy định:
con trai đứng bên trái, con gái đứng bên phải người chết, cổ tục có nói những người
kị tuổi với người chết và giờ chết trong vòng con cháu ruột thịt phải lánh mặt ra chỗ
khác để phòng ngừa tai họa về sau.
Lưu ý: Không nâng thi hài trực tiếp bằng tay để nhập quan. Khi đặt thi hài vào quan
tài cần chuẩn bị gối bông nhỏ, vải mềm nhiều lớp để kê, đệm, lót làm cho thi thể cố
định một khối với quan tài (kê phần đầu phải cao hơn phần thân).
Nhập quan xong đặt quan tài vào đúng vị trí thờ, lúc này con cháu kị tuổi được phép
trở về để cùng với mọi người thực hiện nghi lễ của việc tang.
Kể từ lúc nhập quan đến đưa tang, trên quan tài luôn được thắp nến: cha thì thắp 7
ngọn, mẹ thì thắp 9 ngọn nến đỏ, giữa mặt ván quan tài đặt một bát cơm bông trên có
một quả trứng gà luộc đã bóc vỏ và được kẹp bằng một đôi đũa bông, bát cơm sẽ
được đặt trên mộ sau khi chôn cất. c. Lễ viếng
Lễ viếng được tiến hành trang nghiêm, mọi người xếp hàng để viếng, tang gia sẽ ngồi
cạnh quan tài cúi đầu cảm ơn những người đến chia buồn cùng với gia đình.
*Lưu ý: đi viếng đám tang cần kiêng kị
Không mặc lòe loẹt và cười nói ầm ĩ
Người cao tuổi, phụ nữ có thai và người bị chó dại cắn kiêng đi viếng đám tang.
Không nên bật nhạc điện thoại chuông to khi đi viếng đám tang.
Nếu đi viếng đám tang lỡ người quá cố ấy có đẹp trai hay xinh gái không được khen.
Ra đường gặp đám tang ngược chiều phải xuống xe ngả mũ nón dắt bộ qua đám tang
rồi mới lên xe, ô tô thì chậm lại không bóp còi, đi cùng chiều không tiện xuống xe thì
đi chậm lại và ngả mũ.
Khi đi viếng đám tang về đặt sẵn ở cửa ra vào một lò than đốt vỏ bưởi và quả bồ kết để trừ uế khí. d. Lễ đưa tang
Thầy cúng hoặc tang chủ cùng con cháu nội ngoại thực hiện lễ tiễn biệt người quá cố
về nơi an nghỉ cuối cùng, mọi người theo thứ tự trong nội ngoại gia tộc xếp hàng trước bàn thờ vong.
Thầy cúng hoặc tang chủ thực hiện các bước thắp hương, dâng rượu, nước trang
nghiêm như lễ phát tang và đọc lời ai điếu tiễn biệt lần cuối, con cháu thành kính bái lễ.
Khi di quan phải thật sự chậm rãi, từ từ từng nửa bước chân một, vừa thể hiện nỗi đau
tiễn biệt muốn níu kéo lại cũng là vừa đảm bảo cho quan tài luôn được thăng bằng, để
người ra đi tròn giấc ngủ yên lành;
Đi đầu là hai phương tướng mặc áo mũ đạo sĩ đeo mặt nạ, cầm dao hoặc binh khí để
trừ tà ma, rồi đến đoàn người vác cờ tang, tiếp là minh binh, vòng hoa, trướng, câu
đối, linh xa, phường bát âm có phèng phèng thanh la kèn, trống, đến đoàn khiêng nhà
táng, sau cùng là đoàn đi đưa ma. e. Lễ hạ huyệt
Trước khi hạ huyệt người ta phải làm lễ cúng thổ thần để xin phép được an táng
người chết tại nơi đây. Cúng thổ thần xong, linh cữu mới được hạ huyệt.
Đợi tới giờ hoàng đạo người ta đặt linh cữu xuống, lúc đó thầy địa lý dùng la bàn
gióng hướng phúc lại cho đúng;
Khi hạ huyệt con trai trưởng lấp hòn đất đầu tiên, sau đó tới các con lần lượt ném
xuống nắm đất với ý nghĩa con cái đắp mộ cho cha mẹ.
Các cụ đội cầu kiều đi vòng quanh mộ cầu kinh xong xuôi đám tang trở về nhưng
phải theo con đường khác, tránh không về bằng con đường lúc đi và cũng không được
khóc nữa, vì như vậy hồn người chết sẽ biết lối mà theo về.
f. Lễ ấp mộ, viếng mộ
Trong ba ngày sau khi hạ huyệt, vào mỗi buổi chiều, con cháu đem cơi trầu đến mộ
mà khóc lóc gọi là ấp mộ. Việc này nghĩa là đem hơi nóng của tình thân gia đình làm cho mộ đỡ lạnh.
Đến ngày thứ a con cháu đắp sửa lại mộ, lễ này được gọi là cúng mở cửa mả. Cũng từ
ngày đó trở đi ngày nào cũng cúng cơm một hoặc hai buổi cho đủ 100 ngày. Có nơi cúng hết tang là 3 năm.
g. Các nghi thức sau tang lễ
* Tuần chung thất (49 ngày): Gia chủ làm lễ thất cho đến khi được tuần thứ 7 thì làm
lễ chung thất, thôi cúng cơm cho người chết.
Việc cúng cầu siêu như vậy có tác dụng nhắc nhở gợi cho người quá vãng hướng tâm
về các thiện sự đã làm hoặc thiết tha thực hiện những tư tưởng tốt đẹp, nhờ đó thần
thức được tái sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn.
+ Tuần tốt khốc (100 ngày): Khi người chết được 100 ngày gia chủ làm lễ tốt khốc
(thôi khóc), gia chủ thường mời thầy cúng đốt tang phục, đốt nhà cho người chết và
đưa di ảnh người chết lên bàn thờ tổ tiên.
+ Giỗ đầu (Tiểu tường): Sau một năm âm lịch, gia đình người chết sẽ tổ chức giỗ đầu
nhằm mục đích nhớ về người đã khuất.
+ Mãn tang (Đạt tường): Sau khi người chết được 3 năm gia chủ làm lễ hết tang.
h. Trang phục và hoa trong tang lễ *Trang phục
Trang phục trong tang lễ biểu thị mối quan hệ họ hàng, anh em gần - xa với người đã
khuất, tùy theo địa vị của từng người trong gia đình mà trang phục sẽ khác nhau.
Con trai con rể trong đám tang mặc bộ trang phục thảm trôi nghĩa là may áo nhưng
không cắt khâu cẩn thận mà để mép vải xơ ra, áo dài đến đùi gối, rộng, tay thụng
bằng vải thô và buộc sợi dây ngang lưng đội mũ rơm;
Con gái, con dâu cũng mặc trang phục thảm trôi nhưng không cần đội mũ rơm và đeo
dây, chỉ xõa tóc và không đeo dép;
Cháu nội, ngoại và anh em họ hàng ruột thịt buộc mọt tấm khăn màu trắng để tỏ lòng
thương tiếc và mang ý nghĩa là cùng chịu tang với người thân của mình. *Hoa
Với mỗi bông hoa có mặt trong cuộc sống của chúng ta này đều sẽ mang trong mình
một sứ mệnh một ý nghĩa khác nhau. Vì thế mà đôi khi không phải ngẫu nhiên chúng
lại có mặt trong các buổi tiệc vui mừng hay lại hiện diện trong những khoảnh khắc
đau buồn chia xa. Trong tang lễ, thường có nhiều loại hoa nhưng phổ biến và thông
dụng nhất đó là hoa cúc vàng.
Câu chuyện em bé vào rừng sâu tìm hoa chữa bệnh cho mẹ vì lẽ đó bông hoa cúc và
nghiễm nhiên trở thành hoa của sự hiếu thảo, trong tang lễ người ta thường dùng hoa
cúc vàng để tỏ lòng hiếu thảo của mình tới người đã khuất. Ngoài ra trong tang lễ còn
sử dụng hoa cúc trắng, hoa huệ tây, hoa ly…
Tìm hiểu tang ma một số dân tộc thiểu số Việt Nam (Tang ma người Mông đen Sa Pa)
Trong đám tang này, cô gái mới 25 tuổi, chết do bệnh nặng và không có điều kiện
thuốc thang. Sau khi phát hiện cô đã chết trên giường, người anh trai nhanh chóng
thông báo cho bà con trong bản, bằng cách bắn hai phát súng kíp lên trời.
Người trong bản đều biết tín hiệu này là báo có người mới chết. Sau đó, thầy mo
được mời về để làm lễ, người chết được thay váy áo và giày mới, chân được bó bằng
một tấm vải. Tuy nhiên, chân người chết được bó bằng vải màu trắng, chứ không phải
vải đen như những người phụ nữ H'Mông vẫn bó chân thường ngày.
Nghi lễ thứ nhất gọi là lễ Ngựa tức là đưa xác người chết lên treo giữa nhà để cúng.
Họ dùng ván gỗ Pơ Mu hoặc hai đoạn tre dài được ghép lại với nhau thành tấm bằng
những sợi dây rừng cho người chết nằm. Họ buộc chân và phần thân người chết trong
tư thế nằm ngủ, trên người phủ rất nhiều quần áo chỉ để hở chân và mặt. Ngoài ra, họ
buộc một con gà trống vào thân một cây nỏ cùng một con dao rồi cúng cho người chết.
Lễ thứ hai trong đám tang người Mông đen là lễ mổ trâu, mổ lợn, tùy theo gia đình
giàu hay nghèo mà lễ vật lớn hay nhỏ. Họ đem trâu, lợn tới với ngụ ý giao cho người
chết, sau đó sẽ giết thịt làm đồ cúng và chia cho những người tới dự đám tang.
Ngoài ra, những người thân thiết, bạn bè có nhã ý muốn cúng tiến trâu, lợn cho người
chết có thể đem lễ vật tới. Sau khi làm lễ giao cho người chết, phần thịt được chia cho
nhà chủ phần chân sau và cái đuôi, phần còn lại được chia cho những người tới tham dự
Ngày giờ chôn cất được gia đình và thầy mo sắp đặt. Họ thường chôn vào lúc sáng
sớm khi chưa có ánh mặt trời hoặc chôn vào buổi chiều muộn. Trước khi đưa xác ra
khỏi nhà, họ làm lễ cúng giao các đồ vật để người chết mang theo. Các xâu tiền vàng
được đem đốt giữa nhà, sau đó họ gói tro vào một tờ giấy đặt vào thùng gỗ đựng đồ ăn của người chết.
Những thanh niên bắt đầu chặt sợi dây buộc chiếc cáng tre nơi người chết nằm. Họ
khiêng trên vai, lúc này những que nhang mới bắt đầu được đốt, để những người thân
trong gia đình quỳ lạy ngoài cửa. Họ khiêng xác chết đi rất nhanh qua rừng, dường
như vừa đi vừa chạy, theo sau là rất đông người trong bản đi xem chôn cất.
Nơi chôn cất cách xa nhà khoảng 2 km, trên một khu đồi tre xanh tốt. Những người
phụ nữ chỉnh sửa trang phục cho người chết một lần nữa. Trong khi đó những người
đàn ông bắt đầu đào huyệt mộ.
Thầy mo lẩm nhẩm một bài cúng bí truyền rồi tung 2 chiếc thẻ tre tới khi hai mặt đều
nhau, sau đó lấy chiếc khăn đỏ bỏ vào ngực áo của người chết rồi mới đậy nắp quan tài.
Trước đó, những người phụ nữ không ai bảo ai đã chạy về bản rất nhanh. Sau khi
đóng nắp quan tài, chỉ còn những thanh niên trẻ ở lại lấp mộ. Họ vừa lấp vừa chia
nhau những chén rượu cuối cùng. Khi lấp xong những người thanh niên còn lại cũng
chạy đi rất nhanh, như sợ bị ma đuổi.
Sau khi chôn cất được 12 ngày, người nhà sẽ mời thầy mo về làm lễ cúng một lần nữa.
Đây là lễ mời người chết về thăm nhà, giúp linh hồn người chết ra đi thanh thản,
không trở về làm hại những người thân trong gia đình.
Kể từ đây người chết sẽ vĩnh viễn ra đi và những người còn sống rất ít khi nhắc tới họ
bởi người Mông đen không có tập tục thờ cúng tổ tiên. Chỉ khi nào có các dịp lễ lớn
hay có người trong nhà hay đau ốm thì họ mới làm lễ cúng cầu may mắn và gọi hồn
người chết về lại thăm nhà.
2.2. Tục thờ cúng tổ tiên Nguồn gốc
Như các dân tộc khác trên thế giới, từ thuở xa xưa dân tộc Việt Nam đã thờ rất nhiều
thần linh. Họ thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện
tượng thiên nhiên và xã hội mà họ chưa thể giải thích được vào thời đó. Từ đó, hình
thành nên tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Trong các loại tín ngưỡng thì tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt, bất
kể họ ở đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay thành thị, người giàu hay người nghèo. .
Những biến đổi về hình thức thờ cúng tổ tiên xưa và nay
Từ sau đổi mới, các loại hình tôn giáo tín ngưỡng đều được coi là “trỗi dậy” sau một
giấc ngủ dài. Đời sống tôn giáo trở nên sôi động. Cơ sở thờ tự các tôn giáo ngày càng
được xây dựng, tu bổ khang trang hơn. Cùng với nó, số lượng tín đồ đến tham dự các
hình thức nghi lễ tôn giáo cũng nhiều hơn.Thờ cúng tổ tiên cũng hòa mình vào xu thế
chung đó. Thờ cúng tổ tiên trong các gia đình cũng ngày càng được chú trọng hơn.
Nếu tôn giáo chỉ đáp ứng được nhu cầu tâm linh của một bộ phận người dân là tín đồ
của tôn giáo đó thì thờ cúng tổ tiên đáp ứng nhu cầu tâm linh của đại bộ phận người Việt Nam.
Nếu trước đây, thờ cúng tổ tiên được tập trung tại nhà dòng trưởng (trưởng tộc,
trưởng họ, trưởng chi, con trưởng) thì nay, mọi thành viên trong gia đình đều thờ
cúng tổ tiên tại gia đình mình. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được tục lệ cứ giỗ, Tết tập
trung lại vào nhà con trưởng để làm giỗ.
Tuy nhiên, tại nhiều gia đình, ngày giỗ không còn là ngày con cháu tập trung như
trước nữa. Hình thức cúng giỗ mang tính cộng đồng chung các thành viên trong gia
đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ cá thể. Mỗi thành viên trong gia đình làm
lễ cúng giỗ người đã mất tại nhà mình.
Document Outline

  • b.Tập quán
  • 1.2.Một số phong tục điển hình của người Việt
  • b.Đón Tết âm lịch
  • c.Kính già, yêu trẻ, trọng khách
  • 1.3.Đặc điểm
  • 2.Phong tục tập quán cổ truyền.
  • a.Lễ khâm liệm
  • b.Lễ nhập quan
  • c.Lễ viếng
  • d.Lễ đưa tang
  • e.Lễ hạ huyệt
  • f.Lễ ấp mộ, viếng mộ
  • g.Các nghi thức sau tang lễ
  • h.Trang phục và hoa trong tang lễ
  • Nguồn gốc
  • Những biến đổi về hình thức thờ cúng tổ tiên xưa v