PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ, MỘT ĐOẠN THƠ
Hin nay tình trạng “diễn xuôi” các câu thơ trong quá trình phân tích, cảm nhận các văn bản thơ vẫn
còn din ra rt ph biến. Vì vy, bài viết này s gi ý cho các bn mt s vấn đề để tránh được vic din
xuôi các câu thơ trong quá trình phân tích.
I. Khi phân tích một bài thơ, đoạn thơ, câu thơ trữ tình cần chú ý đến:
- Cuộc đời tác gi.
- Hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
- Th thơ: lc bát, t do, thơ 5 chữ,…
- Hình ảnh thơ: Ví dụ như hình ảnh người lính trong cuc kháng chiến chng Pháp Mĩ trong “Đồng
chí”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính, hình ảnh người bà trong “Bếp lửa”.
- Chi tiết thơ
- Giọng điệu: gm có ging hào hùng, nh nhàng, xót thương, bi lụy, triết lí…
- Vn (nhịp) thơ.
- Ngôn ng thơ: gm có ngôn ng bình dân, ngôn ng bác hc, ngôn ng đưc s dụng trong bài thơ
(t láy, câu đặc bit, thành ng, tc ng, du ?, du !... => tt c đều có dng ý ca tác gi).
- B cc: Đây là phần quan trng nhất để các em tìm ý cho bài cm nhn ca mình. Có th chia theo
khổ, chia theo đoạn, câu…
Tt c các đặc điểm trên tác phẩm nào cũng có nhưng mức độ đậm nht của các đặc điểm này trong
mi tác phẩm là khác nhau. Thêm vào đó, các em cần chú ý dựa vào đề bài yêu cầu gì để la chn các
đặc điểm trên cho phù hp theo s trường và kh năng của mình.
II. Kiến thc cần có trước khi làm bài:
- Kiến thc v tác gi:
+ Tên, bút danh, năm sinh, năm mất, gia đình…
+ Xã hi mà tác gi sống và sáng tác…
+ Khuynh hướng sáng tác, ch đề sáng tác.
+ Các tác phm tiêu biu.
- Thuộc thơ (nếu đề bt chép thuộc bài, đoạn, câu sau đó cảm nhận, phân tích…).
- Ni dung chính ca tác phm.
- Ngh thuật đặc sc ca tác phm.
- Mt s tác gi, tác phm cùng ch đề để so sánh đối chiếu (nếu có).
=> Tt c các kiến thức này các em đã được trang b trường thông qua tiết học dưới s dn dt ca
giáo viên. Lưu ý các em một điều lượng kiến thc này rt quan trng, mi giáo viên s h thng kiến
thc bài hc theo một cách riêng nhưng nhìn chung kiến thc là ging nhau mi tác phm.
III. Các bước phân tích một bài thơ, đoạn thơ, câu thơ:
1. M bài:
Trong phn m bài các em cn có các ni dung ch yếu sau:
- Gii thiu qua v tác gi.
- Gii thiu ni dung chính ca tác phm.
- Nội dung ý nghĩa của đoạn, câu thơ các em chuẩn b phân tích (nếu đề cho ra đoạn, câu thơ)
- Bt vào phần đề bài yêu cu.
Lưu ý: Phn m bài cn t nhiên, đủ ni dung và sáng to.
2. Thân bài:
Đây là phần quan trng nht, khó nht chính vì thế cũng chiếm nhiều điểm nht và trong bài viết ca
các em cũng thể hin lỗi “diễn xuôi” thơ nhiều hơn cả. Để khc phục được tình trạng này trước khi làm
bài các em nên lp dàn ý theo cách:
- Soi bài thơ, đoạn thơ, câu thơ của đề yêu cầu phân tích vào các đặc điểm đã nêu ở phn I. để rút ra
điu các em cn cm nhn t yêu cu của đề bài.
- Đoạn đầu tiên ca thân bài các em nên trình bày khái quát ni dung ngh thut ca c tác phẩm, đặc
biệt là các đề ch yêu cầu phân tích đoạn, câu thơ.
- Đưa các nội dung chính của bài thơ, đoạn thơ thành các luận điểm ln, nếu đề yêu cu cm nhn
đoạn thơ, câu thơ, thì các em chia nhỏ các nội dung có trong đoạn, trong câu, biến chúng thành các
luận điểm lớn đề đi sâu cảm nhn.
- Mỗi đoạn văn các em nên viết theo cách din dch hoc quy np, nh trình bày rõ câu cht, câu din
gii, câu dn chng, câu khái quát nội dung đoạn các em va phải khái quát được nội dung đoạn mình
va viết, va phi liên h đưc vi nội dung mà đề yêu cu, mi khi chuyển đoạn mi phi có liên kết
đon.
- Phn thân bài các em cn trin khai khong bốn đến 5 đoạn, da vào kh năng viết ca mình, nhào
nn nhng nội dung cơ bản trong mi đoạn thành sn phẩm mang đậm cái tôi ca chính mình trong
bài viết.
3. Kết bài:
- Khái quát được nội dung đề yêu cu.
- T những gì đã cảm nhận em rút ra được bài hc rút ra cho bn thân hoc liên h vi cuc sng.
Hi vng vi nhng gì cung cp trong bài viết trên đây, các bạn s tìm cho mình được một phương pháp
phân tích thơ tốt nhất, tránh được li diễn xuôi câu thơ.
VI. Nhng kiến thc b sung để phân tích thơ
Yêu cu cao nht ca một bài phân tích thơ là phải viết đúng và viết hay. Viết đúng đã khó, viết
cho hay lại càng khó hơn. Để bài phân tích đạt hiu qu cao, ngoài nhng k năng cơ bản phân tích thơ,
người làm văn phải đảm bo yêu cu v nhng kiến thc h tr khác. Kiến thc càng phong phú thì
vic phân tích càng sâu sc. Có th nêu ra mt s lĩnh vực kiến thc sau:
1.Kiến thức văn học s :
Văn hc là mt hiện tượng lch s ra đời và phát trin theo thi gian. Tiếp nhn mt tác phm
văn học nói chung, tác phẩm thơ nói riêng không nên tách nó ra khi phm trù lch s, không nên xem
nó như một cá th độc lp, thoát li hn mi quan h, ràng buc ca xã hi.
Kiến thc v văn học s bao gm là nhng hiu biết v các trào lưu văn học, giai đoạn văn học,
thời kì văn học ; nó còn là nhng hiu biết có h thng v tng tác gia c thể. Đứng trước mt tác
phẩm thơ, người làm văn phi biết huy động s biết ca mình v hoàn cảnh ra đời ca tác phm, nó
thuc thời kì, giai đoạn và trào lưu văn học nào ?…, cuộc đời và quá trình sáng tác ca tác gi ra sao ? …
để t đó nhận xét và đánh giá các vấn đề v phương diện lch s cũng như ngh thut trong thi phm.
Thc tê, trong chương trình sách giáo khoa về văn học, nhng kiến thc v văn học s vn còn ít, chưa
có tính h thống . Người hc nếu cu tiến tt phi t tìm tòi, nghiên cu nhng sách v khác .
2. Kiến thc lí lun văn học :
Lí luận văn học là mt b môn công cụ, giúp độc gi có cơ s thâm nhp vào thi phm. Loi kiến thc
này khá nhiều và tương đối phc tp. Vic vn dng kiến thc này vào bài làm khá linh hot và tu
theo từng trường hp mà có yêu cu khác nhau. Trước hết, trong bài làm văn, người viết thường
xuyên s dng các thut ng, khái nim ca lí luận văn học, như: hư cấu, điển hình, hình nh, hình
ợng… Nếu không có s hiu biết đầy đủ, người viết s dùng sai khái nim.
mức độ phc tạp hơn, khi làm bài người viết phi có kiến thc lí luận để lí gii mt vấn đề nào đó
trong tác phẩm thơ , ví như: cái tâm và cái tài của nhà thơ, bn cht của thơ ca, cá tính sáng tạo ca
nhà thơ … Để làm được nhng vấn đề đó, ta phi hiểu căn bản v các vấn đề lí luận như ngun gốc thơ
ca, đối tượng phn ánh, đặc trưng ngôn ngữ thơ …
Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loi c th hữu hình. Nhưng nó khác với cái c th
của văn. Cũng mọc lên t đống tài liu thc tế, nhưng từ mt cái hu hình , nó thc dy nhng cái vô
hình bao la, t một cái điểm nhất định mà nó m ra được cái din không gian thời gian trong đó nhịp
mãi lên mt tm lòng s đip ."
(Thời và thơ Tú Xương Nguyn Tuân )
3. Kiến thc và k năng sử dng ngôn ng :
Ngôn ng là phương tiện để con người th hin những điều mình đã tư duy. Bài phân tích thơ đúng và
hay tu thuc rt ln vào kiến thc và k năng sử dng ngôn ng của người viết. Tht khó diễn đạt
trn vẹn cái điều mình nhìn thy, cm thấy, tư duy thấy. Thc tế, rt nhiu lúc ngôn ng diễn đạt
không theo kịp tư duy. Để khc phc nhng bt cập này, người làm văn phải có ý thức thường xuyên
tích lu vn ngôn ng, trau di k năng sử dng ngôn ng. Kiến thc v ngôn ng giúp người viết va
xâm nhp vào tác phm, va diễn đạt những điều mình cm nhận được t tác phm. Riêng mt s
dng ngôn ng để diễn đt, yêu cầu người viết phi viết đúng và hay theo các cấp độ sau:
+ Dùng t: Yêu cầu người viết phi biết dùng t độc đáo. Sẽ rt chán nản cho người đọc khi mt bài
viết không dùng được mt t cho hay, cho độc đáo. Dùng từ hay thì mới có đoạn hay ri bài hay.T
hay là t dùng đúng lúc, đúng chỗ, lt t đưc cái thn thái ca vấn đề nào đó trong bài thơ, làm cho
câu văn có hồn, có sinh khí, làm cho người đọc sung sướng thán phc. H đưc t " thn ", giá tr
ca bài viết được nâng lên đáng kể. Th xem và hc tp cách dùng ch ca các nhà phê bình:
" Khúc bc mệnh đã gẩy xong ri, mà oán hn vn còn dài mãi nên Nguyn Du mi t xưng cái tên thân
mt ca mình và đau đáu hỏi :
Bất tri tam bách dư niên hu
Thiên h hà nhân khp T Như "
(Xuân Diu )
" Loi t " mnh " trong " mnh mt trời " cũng mới l; ni ta ch nói mnh sành, mnh giy, thm
chí mảnh trăng vì trăng khi tròn khi khuyết, có khi b x làm đôi. Hình ảnh " mnh mt tri " gi ra cái
nhìn tàn bo ca con h mun gim nát c vũ trụ "
( Nam Chi Thế L cuộc đời trong ngh thut )
" Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bt mép ca m văng ra mà tới ngàn năm " (Xuân Diu )
Cũng nên lưu ý rng t hay, t có " thn " không phi là nhng t " đao to búa ln " , hoa m, công
thc, sáo rỗng… mà là những t bình thường nhưng quan trng là s dụng đúng chỗ.
+ Viết câu :
Phương tiện ngôn ng cơ bản để din ý là câu. Mt câu luôn diễn đạt mt nội dung nào đấy.
Mun cách diễn đạt khỏi đơn điệu nhàm chán người viết phi biết cách s dng nhiu kiu câu. Tính
linh hot trong vic s dng câu ch : tu tng lúc, từng nơi, tu giọng văn của từng đoạn mà có
nhng loại câu tương ứng. Khi ni viết mun biểu đạt tình cm ca mình thì dùng câu cm thán; lúc
mun gây s chú ý cho người đọc ta có th dùng câu nghi vấn để đặt vấn đề và t tr lời để gii quyết
vấn đề; khi mun nhìn nhn vấn đề nhiều góc độ theo nhiu mi quan h ta dùng câu có cp quan h
t : tuy nhưng, càng – thì càng, không nhng mà còn, nếu thì …, khi muốn khái quát vn tng hp
đề ta dùng kiu câu có tính cht quy np toàn th vi các t m đầu : nhìn chung, đại th, v cơ bản,
phn lớn …
+ Ngôn ng làm văn phân tích thơ cũng phải có tính to hình và gi cm:
V mt khoa hc, bài phân tích thơ là loại văn của tư duy logic. Văn ý phải rõ ràng, sáng sa, lp lun
cht ch, giàu sc thuyết phc lí trí. Tuy nhiên, không phi vì thế bài phân tích thơ ch trình bày mt
cách khô khan máy móc, chi b cm xúc và hình nh. ngôn ng phân tích thơ thiết nghĩ cũng phải có
chất thơ, phải hp dn lôi cun người đọc bng t ng
tính to hình và giàu sc biu cm. Ví d :
" Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mc T như một ngôi sao chi xot qua bu tri thi ca Vit
Nam với cái đuôi chói loà rực r ca mình."
(Chế Lan Viên )
" Nếu chúng ta liệt Tú Xương vào loại đỉnh thơ Nôm, thì " Sông lấp " chính là cái bóng cây hiên ngang
trên sườn non đó vậy. Dẫn thơ Tú Xương mà vô tình hoặc c ý đánh rớt bài " Sông lp ", tức là bước lên
lu táp, m ca tng này tng kia mà quên mt cái chuông trên vng lâu vy "
(Nguyn Tuân Thời và thơ Tú Xương )
Nhng li bình luận, đánh giá trên phải chăng có sức sng riêng, ám ảnh độc gi là nh ngôn ng ca
nó giàu cht to hình và biu cm ?
4. Kiến thc v các b môn liên quan :
Sóng Hồng định nghĩa " Thơ là nhạc là ho là điêu khắc theo mt phong cách riêng".
Định nghĩa này cho thấy thơ ca liên quan đến các ngành ngh thuật khác. Hơn thế, thơ ca luôn chứa
đựng nhiu vấn đề, phm trù xã hi khác nhau. Do vậy, để có th xâm nhp trn vn vào tác phm thơ,
chúng ta cn phi có hiu biết v nhiều lĩnh vực trong cuc sống, như : Lịch sử, Địa lý, Triết học, Đạo
đức hc … Những kiến thc này là nhng lun c ( va tim tàng va hin thc ) góp phn soi sáng các
hiện tượng thơ ca.
Để đi đến cái đích cuối cùng ni dung biểu đạt ca t " đế " trong bài " Nam quốc sơn hà " ( Lí Thường
Kit ) tt phải đụng đến lch s mà c th vấn đề phong vương xưng đế ca các v vua Trung Quc và
Vit Nam lúc by gi.
Để thy rõ nỗi đau khi phải sng trong cảnh đội tri chung vi gic và khát vng hoà bình hnh phúc
ca nhân dân vùng lc tnh thi năm 1862 thì phải nm rõ các địa danh " Bến Nghé " , " Đồng Nai "
trong câu văn sau:
" Binh ớng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. "
( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuc Nguyễn Đình Chiểu )
Thơ ca là hình thái t do trung thành nht ca tư tưởng. Cm th thơ ca vì thế phi có nhng hiu biết
rất căn bản v các h tư tưởng, các trào lưu triết học để vic nhn xét đánh giá thêm sâu sắc.
Nếu không thông hiu triết học đông tây kim cổ thì làm sao Hoài Thanh có được nhn xét sâu sc sau :"
T cánh cò lng l bay vi nng chiều trong thơ Vương Bột đến cánh cò trong thơ Xuân Diệu cách nhau
ngàn năm và hai thời đại thi ca. "
Và như hai câu thơ sau :
" D thưa xứ Huế bây ch
Vn là núi Ng bên b sông Hương"
(Bùi Giáng )
Nếu không biết đưc " thy núi vn là núi, thy sông vn là sông " trong tinh thn nhà Pht thì làm sao
thấy được v đẹp an nhiên t ti của câu thơ . ..

Preview text:

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ, MỘT ĐOẠN THƠ
Hiện nay tình trạng “diễn xuôi” các câu thơ trong quá trình phân tích, cảm nhận các văn bản thơ vẫn
còn diễn ra rất phổ biến. Vì vậy, bài viết này sẽ gợi ý cho các bạn một số vấn đề để tránh được việc diễn
xuôi các câu thơ trong quá trình phân tích.
I. Khi phân tích một bài thơ, đoạn thơ, câu thơ trữ tình cần chú ý đến: - Cuộc đời tác giả.
- Hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
- Thể thơ: lục bát, tự do, thơ 5 chữ,…
- Hình ảnh thơ: Ví dụ như hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp – Mĩ trong “Đồng
chí”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính, hình ảnh người bà trong “Bếp lửa”. - Chi tiết thơ
- Giọng điệu: gồm có giọng hào hùng, nhẹ nhàng, xót thương, bi lụy, triết lí… - Vần (nhịp) thơ.
- Ngôn ngữ thơ: gồm có ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ được sử dụng trong bài thơ
(từ láy, câu đặc biệt, thành ngữ, tục ngữ, dấu ?, dấu !... => tất cả đều có dụng ý của tác giả).
- Bố cục: Đây là phần quan trọng nhất để các em tìm ý cho bài cảm nhận của mình. Có thể chia theo
khổ, chia theo đoạn, câu…
Tất cả các đặc điểm trên ở tác phẩm nào cũng có nhưng mức độ đậm nhạt của các đặc điểm này trong
mỗi tác phẩm là khác nhau. Thêm vào đó, các em cần chú ý dựa vào đề bài yêu cầu gì để lựa chọn các
đặc điểm trên cho phù hợp theo sở trường và khả năng của mình.
II. Kiến thức cần có trước khi làm bài:
- Kiến thức về tác giả:
+ Tên, bút danh, năm sinh, năm mất, gia đình…
+ Xã hội mà tác giả sống và sáng tác…
+ Khuynh hướng sáng tác, chủ đề sáng tác.
+ Các tác phẩm tiêu biểu.
- Thuộc thơ (nếu đề bắt chép thuộc bài, đoạn, câu sau đó cảm nhận, phân tích…).
- Nội dung chính của tác phẩm.
- Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.
- Một số tác giả, tác phẩm cùng chủ đề để so sánh đối chiếu (nếu có).
=> Tất cả các kiến thức này các em đã được trang bị ở trường thông qua tiết học dưới sự dẫn dắt của
giáo viên. Lưu ý các em một điều lượng kiến thức này rất quan trọng, mỗi giáo viên sẽ hệ thống kiến
thức bài học theo một cách riêng nhưng nhìn chung kiến thức là giống nhau ở mỗi tác phẩm.
III. Các bước phân tích một bài thơ, đoạn thơ, câu thơ: 1. Mở bài:
Trong phần mở bài các em cần có các nội dung chủ yếu sau:
- Giới thiệu qua về tác giả.
- Giới thiệu nội dung chính của tác phẩm.
- Nội dung ý nghĩa của đoạn, câu thơ các em chuẩn bị phân tích (nếu đề cho ra đoạn, câu thơ)
- Bắt vào phần đề bài yêu cầu.
Lưu ý: Phần mở bài cần tự nhiên, đủ nội dung và sáng tạo. 2. Thân bài:
Đây là phần quan trọng nhất, khó nhất chính vì thế cũng chiếm nhiều điểm nhất và trong bài viết của
các em cũng thể hiện lỗi “diễn xuôi” thơ nhiều hơn cả. Để khắc phục được tình trạng này trước khi làm
bài các em nên lập dàn ý theo cách:
- Soi bài thơ, đoạn thơ, câu thơ của đề yêu cầu phân tích vào các đặc điểm đã nêu ở phần I. để rút ra
điều các em cần cảm nhận từ yêu cầu của đề bài.
- Đoạn đầu tiên của thân bài các em nên trình bày khái quát nội dung nghệ thuật của cả tác phẩm, đặc
biệt là các đề chỉ yêu cầu phân tích đoạn, câu thơ.
- Đưa các nội dung chính của bài thơ, đoạn thơ thành các luận điểm lớn, nếu đề yêu cầu cảm nhận
đoạn thơ, câu thơ, thì các em chia nhỏ các nội dung có trong đoạn, trong câu, biến chúng thành các
luận điểm lớn đề đi sâu cảm nhận.
- Mỗi đoạn văn các em nên viết theo cách diễn dịch hoặc quy nạp, nhớ trình bày rõ câu chốt, câu diễn
giải, câu dẫn chứng, câu khái quát nội dung đoạn các em vừa phải khái quát được nội dung đoạn mình
vừa viết, vừa phải liên hệ được với nội dung mà đề yêu cầu, mỗi khi chuyển đoạn mới phải có liên kết đoạn.
- Phần thân bài các em cần triển khai khoảng bốn đến 5 đoạn, dựa vào khả năng viết của mình, nhào
nặn những nội dung cơ bản trong mỗi đoạn thành sản phẩm mang đậm cái tôi của chính mình trong bài viết. 3. Kết bài:
- Khái quát được nội dung đề yêu cầu.
- Từ những gì đã cảm nhận em rút ra được bài học rút ra cho bản thân hoặc liên hệ với cuộc sống.
Hi vọng với những gì cung cấp trong bài viết trên đây, các bạn sẽ tìm cho mình được một phương pháp
phân tích thơ tốt nhất, tránh được lỗi diễn xuôi câu thơ.
VI. Những kiến thức bổ sung để phân tích thơ
Yêu cầu cao nhất của một bài phân tích thơ là phải viết đúng và viết hay. Viết đúng đã khó, viết
cho hay lại càng khó hơn. Để bài phân tích đạt hiệu quả cao, ngoài những kỹ năng cơ bản phân tích thơ,
người làm văn phải đảm bảo yêu cầu về những kiến thức hỗ trợ khác. Kiến thức càng phong phú thì
việc phân tích càng sâu sắc. Có thể nêu ra một số lĩnh vực kiến thức sau:
1.Kiến thức văn học sử :
Văn học là một hiện tượng lịch sử ra đời và phát triển theo thời gian. Tiếp nhận một tác phẩm
văn học nói chung, tác phẩm thơ nói riêng không nên tách nó ra khỏi phạm trù lịch sử, không nên xem
nó như một cá thể độc lập, thoát li hẳn mối quan hệ, ràng buộc của xã hội.
Kiến thức về văn học sử bao gồm là những hiểu biết về các trào lưu văn học, giai đoạn văn học,
thời kì văn học ; nó còn là những hiểu biết có hệ thống về từng tác gia cụ thể. Đứng trước một tác
phẩm thơ, người làm văn phải biết huy động sở biết của mình về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, nó
thuộc thời kì, giai đoạn và trào lưu văn học nào ?…, cuộc đời và quá trình sáng tác của tác giả ra sao ? …
để từ đó nhận xét và đánh giá các vấn đề về phương diện lịch sử cũng như nghệ thuật trong thi phẩm.
Thực tê, trong chương trình sách giáo khoa về văn học, những kiến thức về văn học sử vẫn còn ít, chưa
có tính hệ thống . Người học nếu cầu tiến tất phải tự tìm tòi, nghiên cứu ở những sách vở khác .
2. Kiến thức lí luận văn học :
Lí luận văn học là một bộ môn công cụ, giúp độc giả có cơ sở thâm nhập vào thi phẩm. Loại kiến thức
này khá nhiều và tương đối phức tạp. Việc vận dụng kiến thức này vào bài làm khá linh hoạt và tuỳ
theo từng trường hợp mà có yêu cầu khác nhau. Trước hết, trong bài làm văn, người viết thường
xuyên sử dụng các thuật ngữ, khái niệm của lí luận văn học, như: hư cấu, điển hình, hình ảnh, hình
tượng… Nếu không có sự hiểu biết đầy đủ, người viết sẽ dùng sai khái niệm.
Ở mức độ phức tạp hơn, khi làm bài người viết phải có kiến thức lí luận để lí giải một vấn đề nào đó
trong tác phẩm thơ , ví như: cái tâm và cái tài của nhà thơ, bản chất của thơ ca, cá tính sáng tạo của
nhà thơ … Để làm được những vấn đề đó, ta phải hiểu căn bản về các vấn đề lí luận như nguồn gốc thơ
ca, đối tượng phản ánh, đặc trưng ngôn ngữ thơ …
Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể
của văn. Cũng mọc lên từ đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình , nó thức dậy những cái vô
hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở ra được cái diện không gian thời gian trong đó nhịp
mãi lên một tấm lòng sứ điệp ."
(Thời và thơ Tú Xương – Nguyễn Tuân )
3. Kiến thức và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ :
Ngôn ngữ là phương tiện để con người thể hiện những điều mình đã tư duy. Bài phân tích thơ đúng và
hay tuỳ thuộc rất lớn vào kiến thức và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của người viết. Thật khó diễn đạt
trọn vẹn cái điều mình nhìn thấy, cảm thấy, tư duy thấy. Thực tế, rất nhiều lúc ngôn ngữ diễn đạt
không theo kịp tư duy. Để khắc phục những bất cập này, người làm văn phải có ý thức thường xuyên
tích luỹ vốn ngôn ngữ, trau dồi kỹ năng sử dụng ngôn ngữ. Kiến thức về ngôn ngữ giúp người viết vừa
xâm nhập vào tác phẩm, vừa diễn đạt những điều mình cảm nhận được từ tác phẩm. Riêng ở mặt sử
dụng ngôn ngữ để diễn đạt, yêu cầu người viết phải viết đúng và hay theo các cấp độ sau:
+ Dùng từ: Yêu cầu người viết phải biết dùng từ độc đáo. Sẽ rất chán nản cho người đọc khi một bài
viết không dùng được một từ cho hay, cho độc đáo. Dùng từ hay thì mới có đoạn hay rồi bài hay.Từ
hay là từ dùng đúng lúc, đúng chỗ, lột tả được cái thần thái của vấn đề nào đó trong bài thơ, làm cho
câu văn có hồn, có sinh khí, làm cho người đọc sung sướng thán phục. Hạ được từ có " thần ", giá trị
của bài viết được nâng lên đáng kể. Thử xem và học tập cách dùng chữ của các nhà phê bình:
" Khúc bạc mệnh đã gẩy xong rồi, mà oán hận vẫn còn dài mãi nên Nguyễn Du mới tự xưng cái tên thân
mật của mình và đau đáu hỏi :
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như " (Xuân Diệu )
" Loại từ " mảnh " trong " mảnh mặt trời " cũng mới lạ; người ta chỉ nói mảnh sành, mảnh giấy, thậm
chí mảnh trăng vì trăng khi tròn khi khuyết, có khi bị xẻ làm đôi. Hình ảnh " mảnh mặt trời " gợi ra cái
nhìn tàn bạo của con hổ muốn giẫm nát cả vũ trụ "
( Nam Chi – Thế Lữ cuộc đời trong nghệ thuật )
" Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọt mép của mụ văng ra mà tới ngàn năm " (Xuân Diệu )
Cũng nên lưu ý rằng từ hay, từ có " thần " không phải là những từ " đao to búa lớn " , hoa mỹ, công
thức, sáo rỗng… mà là những từ bình thường nhưng quan trọng là sử dụng đúng chỗ. + Viết câu :
Phương tiện ngôn ngữ cơ bản để diễn ý là câu. Một câu luôn diễn đạt một nội dung nào đấy.
Muốn cách diễn đạt khỏi đơn điệu nhàm chán người viết phải biết cách sử dụng nhiều kiểu câu. Tính
linh hoạt trong việc sử dụng câu ở chỗ : tuỳ từng lúc, từng nơi, tuỳ giọng văn của từng đoạn mà có
những loại câu tương ứng. Khi người viết muốn biểu đạt tình cảm của mình thì dùng câu cảm thán; lúc
muốn gây sự chú ý cho người đọc ta có thể dùng câu nghi vấn để đặt vấn đề và tự trả lời để giải quyết
vấn đề; khi muốn nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc độ theo nhiều mối quan hệ ta dùng câu có cặp quan hệ
từ : tuy – nhưng, càng – thì càng, không những – mà còn, nếu – thì …, khi muốn khái quát vấn tổng hợp
đề ta dùng kiểu câu có tính chất quy nạp toàn thể với các từ mở đầu : nhìn chung, đại thể, về cơ bản, phần lớn …
+ Ngôn ngữ làm văn phân tích thơ cũng phải có tính tạo hình và gợi cảm:
Về mặt khoa học, bài phân tích thơ là loại văn của tư duy logic. Văn ý phải rõ ràng, sáng sủa, lập luận
chặt chẽ, giàu sức thuyết phục lí trí. Tuy nhiên, không phải vì thế mà bài phân tích thơ chỉ trình bày một
cách khô khan máy móc, chối bỏ cảm xúc và hình ảnh. ngôn ngữ phân tích thơ thiết nghĩ cũng phải có
chất thơ, phải hấp dẫn lôi cuốn người đọc bằng từ ngữ có
tính tạo hình và giàu sức biểu cảm. Ví dụ :
" Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời thi ca Việt
Nam với cái đuôi chói loà rực rỡ của mình."
(Chế Lan Viên )
" Nếu chúng ta liệt Tú Xương vào loại đỉnh thơ Nôm, thì " Sông lấp " chính là cái bóng cây hiên ngang
trên sườn non đó vậy. Dẫn thơ Tú Xương mà vô tình hoặc cố ý đánh rớt bài " Sông lấp ", tức là bước lên
lầu táp, mở của tầng này tầng kia mà quên mất cái chuông trên vọng lâu vậy "

(Nguyễn Tuân – Thời và thơ Tú Xương )
Những lời bình luận, đánh giá trên phải chăng có sức sống riêng, ám ảnh độc giả là nhờ ngôn ngữ của
nó giàu chất tạo hình và biểu cảm ?
4. Kiến thức về các bộ môn liên quan :
Sóng Hồng định nghĩa " Thơ là nhạc là hoạ là điêu khắc theo một phong cách riêng".
Định nghĩa này cho thấy thơ ca liên quan đến các ngành nghệ thuật khác. Hơn thế, thơ ca luôn chứa
đựng nhiều vấn đề, phạm trù xã hội khác nhau. Do vậy, để có thể xâm nhập trọn vẹn vào tác phẩm thơ,
chúng ta cần phải có hiểu biết về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, như : Lịch sử, Địa lý, Triết học, Đạo
đức học … Những kiến thức này là những luận cứ ( vừa tiềm tàng vừa hiện thực ) góp phần soi sáng các hiện tượng thơ ca.
Để đi đến cái đích cuối cùng nội dung biểu đạt của từ " đế " trong bài " Nam quốc sơn hà " ( Lí Thường
Kiệt ) tất phải đụng đến lịch sử mà cụ thể là vấn đề phong vương xưng đế của các vị vua Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ.
Để thấy rõ nỗi đau khi phải sống trong cảnh đội trời chung với giặc và khát vọng hoà bình hạnh phúc
của nhân dân vùng lục tỉnh thời năm 1862 thì phải nắm rõ các địa danh " Bến Nghé " , " Đồng Nai " trong câu văn sau:
" Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. "
( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu )
Thơ ca là hình thái tự do trung thành nhất của tư tưởng. Cảm thụ thơ ca vì thế phải có những hiểu biết
rất căn bản về các hệ tư tưởng, các trào lưu triết học để việc nhận xét đánh giá thêm sâu sắc.
Nếu không thông hiểu triết học đông tây kim cổ thì làm sao Hoài Thanh có được nhận xét sâu sắc sau :"
Từ cánh cò lặng lẽ bay với nắng chiều trong thơ Vương Bột đến cánh cò trong thơ Xuân Diệu cách nhau
ngàn năm và hai thời đại thi ca. " Và như hai câu thơ sau :
" Dạ thưa xứ Huế bây chừ
Vẫn là núi Ngự bên bờ sông Hương" (Bùi Giáng )
Nếu không biết được " thấy núi vẫn là núi, thấy sông vẫn là sông " trong tinh thần nhà Phật thì làm sao
thấy được vẻ đẹp an nhiên tự tại của câu thơ . ..