CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC
Mục tiêu

 !"#$%&#$%&"'
()!*)*+,-*$.#$%&'
#/0)%#$%&'
12$%3456,78!9.#$%&'
:&97#$%&%!" !;.<.!=97
#$%&'
7.*#$%&'
1.1. Các vấn đề cơ bản về tổ chức
1.1.1. Khái niệm và phân loại tổ chức
>'>'>'>'? !
Tổ chức đó là nơicác nhà quản trị sẽ làm việc; sự xuất hiện tổ chức đó là một nhu
cầu cần thiết của hội loài người. Xu hướng tổ chức hợp tác trong hoạt động đó đặc
điểm của bản chất con người. Nhờ tổ chức con người hiện đại thể đạt được những
thành tựu không một nhân riêng lẻ nào thể làm được. Một tổ chức cần phải được
quản trị, việc xây dựng một kiến thức đầy đủ về quản trị bắt đầu từ khái niệm về tổ chức. Vậy
tổ chức là gì ?
Có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức:
- Theo Edgar Schein (giáo sư về tâm học MIT): tổ chức một sự phối hợp ý
chí những hoạt động của một số người nhằm hoàn thành những mục tiêu chung, cụ thể thông
qua sự phân chia công việc, nhiệm vụ và một hệ cấp quyền hành - trách nhiệm.
- Theo Gremokast và Jame J. Rosenswieg - Trường Quản trị kinh doanh thuộc Đại học
Washington theo khảo hướng của thuyết hệ thống định nghĩa: Tổ chức (1) sự hướng về
mục tiêu, trong đó con người mục đích theo đuổi, (2) hệ thống tâm hội; con người
làm việc chung với nhau trong tập thể, (3) hệ thống khoa học kỹ thuật, trong đó con người sử
dụng kiến thức kỹ thuật, (4) sự sắp xếp các hoạt động theo hệ thống cấu, tức con
người cùng nhau làm việc.
- Theo Ramon J. Aldag và Timothy' Steans - các giáo sư của đại học Winsconsin định
nghĩa: "Tổ chức sự tập hợp nhiều người cùng tham gia vào một nỗ lực hệ thống để sản
xuất ra hàng hóa hoặc một hành động"
Qua những quan niệm của nhiều tác giả, chúng ta thể khái quát rằng:"Tổ chức
một tập hợp nhiều người cùng hoạt động một cách ý thức trong những hình thái cấu
nhất định để đạt được những mục tiêu chung"
>'>'>'@'AB/C"
DAB/CE<FG: Các tổ chức được chia ra thành tổ chức do nhân
nắm giữ và tổ chức công.
- Tổ chức do cá nhân nắm giữ: tổ chức thuộc quyền sở hữu của một hay một nhóm
nhỏ người. (Các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH).
1
- Tổ chức công: tổ chức thuộc quyền shữu của Nhà nước hoặc của một số lượng
rất lớn các nhân. (các doanh nghiệp Nhà nước, các trường học, bệnh viện hay các tổ chức
xã hội, nghề nghiệp).
*DAB/CE!;." Các tổ chức được phân ra thành tổ chức vì lợi
nhuận và tổ chức phi lợi nhuận.
DAB/CE$78!."
- Các tổ chức sản xuất và khai thác các sản phẩm thô: Các hộ nông dân, các trang trại,
các công ty khai khoáng và nông lâm ngư nghiệp.
- Các tổ chức sản xuất sản phẩm chế tạo hoặc chế biến: Các nhà máy gạch, nhà máy
hoá dầu, nhà máy in, công ty may.
- Các tổ chức cung cấp dịch vụ: Cắt tóc, sửa chữa ôtô, ngân hàng, du lịch.
- Các tổ chức cung cấp thông tin: Tổ chức nghiên cứu thị trường, điều tra hội học,
hệ thống truyền thông.
DAB/CEH9#  Có tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức.
- Tổ chức chính thức: có một số đặc trưng:
+ Mọi thành viên của tổ chức đều được xác định một cách ràng chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và trách nhiệm.
+ Cơ cấu tổ chức có thể được thể hiện thông qua một sơ đồ cơ cấu với các mối liên hệ
rõ ràng.
+ thể cung cấp những sản phẩm dịch vụ cụ thể cho khách hàng của mình trong
khuôn khổ pháp luật.
dụ điển hình về các tổ chức chính thức: Các doanh nghiệp, các quan nhà nước,
các tổ chức tôn giáo.
- Tổ chức phi chính thức: Không mang những đặc trưng kể trên.
dụ điển hình của tổ chức phi chính thức: Những nhóm được hình thành thông qua
các mối quan hệ nhân, tồn tại trong tổ chức chính thức do cùng chung nguyện vọng, sở
thích, quan điểm, tư tưởng.
1.1.2. Đặc điểm chung của các loại hình tổ chức
rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau nhưng các tổ chức đều những đặc điểm
chung sau:
- Mọi tổ chức đều mục tiêu phải hoàn thành.: Mục tiêu của tổ chức đó những
mong muốn trong tương lai tổ chức tìm cách đạt được. Tổ chức hiếm khi mang trong
mình mục đích tự thân công cụ để thực hiện những mục đích nhất định. Các tổ chức
khác nhau sẽ có mục đích khác nhau. Không có mục đích tổ chức không có lý do để tồn tại.
- Mọi tổ chc đu là một đơn vị xã hội bao gồm nhiu ngưi, những người đó chức
năng nhất định trong tổ chức, có quan hệ với nhau trong những hình thái cơ cấu nhất định.
- Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt mục đích: - các kế
hoạch. Thiếu kế hoạch tổ chức khó có thể tồn tại và phát triển.
- Để đạt được các mục đích, các tổ chức đều phải thu hút phân bổ các nguồn lực
cần thiết: nhân lực, tài lực, vật lực thông tin. Các tổ chức bất kỳ đó loại gì, lợi nhuận
hay phi lợi nhuận, lớn hay nhỏ, đều phải dùng 4 nguồn lực phổ biến nói trên.
- Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hơng c vi c tchức kc.
2
- Mọi tổ chức đều cần phải được quản trị, thiếu sự quản trị sẽ không còn tổ chức
nữa, các mục tiêu không được thực hiện. Các nhà quản trị chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp
những con người bên trong bên ngoài tổ chức cùng những nguồn lực khác để đạt được
mục tiêu với hiệu quả cao. Thiếu các nhà quản trị tổ chức sẽ gặp lúng túng.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của tổ chức
Hoạt động của tổ chức rất phong phú, những hoạt động này phụ thuộc vào mục đích
của tổ chức chủ thể quản trị lựa chọn. Tuy nhiên, tổ chức đều thực hiện các hoạt động
trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường; những hoạt động chủ yếu của tổ chức bao gồm:
- Tìm hiểu và dự báo những xu thế biến động của môi trường: hoạt động này nhằm để
biết môi trường mang đến cho tổ chức những thách thức hay hội gì? Chính vậy hoạt
động nghiên cứu và dự báo là tất yếu đối với mọi tổ chức.
- Tìm kiếm, huy động và phân bổ các nguồn lực cho hoạt động của tổ chức.
- Tiến hành c hoạt động đtạo ra các đầu ra n các sản phẩm hoặc dịch vụ.
- Cung cấp các sản phẩm dịch vụ của tổ chức cho c đối tượng kch hàng.
- Phân phối các lợi ích cho những người tạo n tổ chức và các đốiợng tham gia o
hoạt động của tổ chức.
- Hoàn thiện, đổi mới c dịch vụ, c quy tnh hoạt động, tạo ra c sản phẩm dịch v
mới, nâng cao chất lượng c hoạt động của tchức.
Những hoạt động tn kết nối với nhau tạo nên những nh vực hoạt động bản của tổ
chức: Marketing,nh vực tài cnh, lĩnh vực sản xuất,nh vực nn sự, lĩnh vực nghn cứu và
phát triển, nh vực bảo đảm chất ng ...vv
1.2. Quản trị các tổ chức
1.2.1. Quản trị và các dạng quản trị
>'@'>'>'? !
Quản trị có thể hiểu đó là sự tác động có mục đích có ý thức của chủ thể quản trị lên đối
ợng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của i
trường.
>'@'>'@'IC#$%&
3
Nghiên
cứu môi
trường
được
vốn
Sản
xuất
Có được
các đầu vào
khác
Phân phối sản
phẩm dịch vụ
Phân phối
lợi ích
Không ngừng đổi mới và đảm bảo chất lượng
- Quản trị giới vô sinh: nhà xưởng, ruộng đất, máy móc, thiết bị, sản phẩm…
- Quản trị giới sinh vật: vật nuôi, cây trồng…
- Quản trị xã hội loài người: doanh nghiệp, gia đình…
Rút ra kết luận:
+ Chủ thể quản trị: có thể là một người hay một tập thể.
+ Đối tượng quản trị:thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như cây trồng, vật
nuôi, máy móc, thiết bị, con người...
Suy cho cùng, đối tượng quản trị cuối cùng vẫn là con người, quản lý con người tốt thì
quản các yếu tố khác cũng tốt ngược lại, quản con người không tốt thì cũng khó
thể quản lý các yếu tố khác tốt được.
1.2.2. Quản trị tổ chức
>'@'@'>'? !5#$%&"
Quản trị tổ chức quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực
hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả hiệu quả cao
trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Nguồn lực của tổ chức đó là những tài sản của tổ chức như con ngưi, máy móc, ngun
liu, thông tin, kỹ năng, vốn ...
Lôgic của khái niệm quản trị tổ chức được thể hiện trên sơ đồ sau:
4
>'@'@'@'(G7- -*$.#$%&"
Quản trị các tổ chức là một yêu cầu tất yếu khách quan, việc quản trị các tổ chức được
nhìn nhận trên hai phương diện: Phương diện tổ chức - kỹ thuật phương diện kinh tế
hội.
DA- "60
Phương diện này quản trị tổ chức phải làm rõ được các vấn đề:
- Quản trị phải thực hiện những chức năng gì ?
- Đối tượng chủ yếu của quản trị là gì ?
- Quản trị được tiến hành khi nào ?
- Mục đích của quản trị tổ chức là gì ?
vấn đề thứ nhất: ràng những người đứng đầu các tổ chức (nhà quản trị) để quản
trị các tổ chức họ đều phải thực hiện những quá trình quản trị bao gồm các công ciệc như lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra; trong đó lập kế hoạch là quá trình thiết lập nên nhng
mc tiêu và nhng phương thc hành đng thích hp đ đt đưc các mc tiêu đó.
Tổ chức quá trình xây dựng nên những hình thái cấu nhất định với những đảm
bảo nguồn lực để thực hiện cho được những mục tiêu đã định.
Lãnh đạo đó quá trình chỉ đạo, động viên, thúc đẩy các thành viên làm việc một
cách tốt nhất vì lợi ích của tổ chức.
Kiểm tra đó quá trình giám sát, chấn chỉnh các hoạt động nhằm bảo đảm cho
những gì diễn ra đúng như đã định.
Vấn đề thứ hai: Đối tượng quản trị là gì ? Đối tượng chủ yếu của quản trị đó những
mối quan hệ con người bên trong bên ngoài tổ chức. Về thực chất quản trị tổ chức
quản trị con người, biến sức mạnh của nhiều người thành sức mạnh chung của tổ chức để đi
đến những mục tiêu.
Vấn đề thứ ba: Quản trị được tiến hành khi nào ? Đối với một tổ chức quản trị
những quá trình được thực hiện liên tục theo thời gian. Để tổ chức tồn tại phát triển, quản
trị phải tập trung những cố gắng tạo dựng tương lai, mong muốn trên sở của quá khứ
5
Các
nguồn lực:
- Nhân lực
- Tài lực
- Vật lực
- Thông tin
Quá trình quản trị
Kết quả:
- Đạt mục đích
- Đạt mục tiêu:
+ Sản phẩm
+ Dịch vụ
- Mục tiêu đúng
- Hiệu quả cao
Lập kế hoạch
Kiểm tra Tổ chức
Lãnh đạo
Phối hợp
hoạt động
Sơ đồ 1.1: Logic của khái niệm quản trị tổ chức
hiện tại. Quản trị những hành động thể gây ra ảnh hưởng to lớn lâu dài đối với tổ
chức.
Vấn đề thứ tư: Mục đích của quản trị tổ chức ? Nhà quản trị cần thực hiện được
các mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Trong mọi loại hình tổ chức những mục đích
phù hợp với luật pháp hệ thống giá trị hội sẽ tác dụng tạo ra những giá trị gia tăng
cho tổ chức các thành viên. Để tạo được giá trị gia tăng cho tổ chức, các nhà quản trị phải
xác định được những mục tiêu đúng (làm đúng việc - Efectiveness) tổ chức thực hiện các
mục tiêu đó có hiệu quả (làm việc đúng - Eficiency).
Theo Peter Drucker, công tác của một nhà quản trị được xác định theo 2 khái niệm:
Tính hiệu lựctính hiệu quả. Tính hiệu lực là khả năng chọn những mục tiêu thích hợp, tức
“thực hiện đúng công việc”. Tính hiệu quả khả năng làm giảm tới mức tối thiểu chi phí
các nguồn lực để thực hiện mục tiêu, tức thực hiện công việc một cách đúng đắn”. Như
vậy trách nhiệm của nhà quản trị đòi hỏi quản trị vừa phải hiệu lực lại phải vừa hiệu
quả, cần phải bảo đảm rằng ta hành động như vậy là đúng.
Nghn cứu pơng diện Tổ chức - kỹ thuật của quản trị cho thấy nhiều điểm tương
đồng trong hoạt động quản trmọi tchức và đối với mọi nhà quản trị.
*DA- <J.#$%&
Xét trên phương diện này quản trị tổ chức phải trả lời được các câu hỏi:
- Tổ chức được thành lập và hoạt động vì mục đích gì ?
- Ai nắm quyền lãnh đạo và điều hành tổ chức ?
- Ai là đối tượng và khách thể của quản trị ?
- Giá trị gia tăng nhờ hoạt động quản trị thuộc về ai ?
Các tổ chức được những thể nhân, pháp nhân, lực lượng khác nhau tạo ra nhằm những
mục đích khác nhau. Ai nắm quyền sở hữu, người đó nắm quyền lãnh đạo tổ chức họ sẽ
quyết định những người nắm quyền điều hành tổ chức. Đối tượng quản trị những người
những nguồn lực được thu hút vào hoạt động của tổ chức. G trị gia tăng tạo ra được phân
phối như thế nào còn phụ thuộc vào mục đích của tổ chức. Như vậy với những tổ chức khác
nhau thì quản trị cũng khác nhau, hay nói khác đi phương diện kinh tế hội thể hiện đặc
trưng của quản trị trong từng tổ chức. Nó chứng tỏ quản trị vừa mang tính phổ biến, vừa mang
tính đặc thù, vừa là một nghệ thuật.
1.2.3. Các chức năng quản trị
Để quản trị, chủ thể quản trị phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau. Những
loại công việc quản trị này gọi các chức năng quản trị. Như vậy, các chức năng quản trị đó
những loại công việc quản trị khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành
trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản trị. Việc tìm hiểu các chức năng quản trị
giải đáp câu hỏi các nhà quản trị phải thực hiện những công việc gì trong suốt tiến trình quản
trị.
Khi bàn về các chức năng quản trị đã rất nhiều ý kiến khác nhau, vào những năm
1930, Gulick Urwich cho rằng 7 chức năng quản trị viết tắt POSDCORB, trong đó:
P- Planing lập kế hoạch, O - Organizing tổ chức, S - Staffing quản trị nhân sự, CO -
Coordinating phối hợp, R- Reviewing kiểm tra, B - Budgeting tài chính. Còn Henri
Fayol lại nêu lên 5 chức năng quản trị bao gồm: Hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp
kiểm tra. Những năm 1960, Koontz O'Donnell cũng đưa ra 5 chức năng: Hoạch định, tổ
6
chức, quản trị nhân sự, điều khiển kiểm tra. Đến cuối những năm 1980 đầu những năm
1990 các giáo Mỹ cũng không sự thống nhất về phân chia các chức năng quản trị,
James Stoner chia thành 4 chức năng: Hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, còn Stephen
Robbins thì lại chia thành 4 chức năng: Hoạch định, tổ chức, quản trị nhân sự, điều khiển
kiểm tra. Nhìn chung các ý kiến khác biệt đều liên quan đến chức năng quản trị con người,
hoạch định, tổ chức và kiểm tra. Hiện nay bàn về các chức năng quản trị thường xem xét theo
hai cách tiếp cận: theo quá trình quản trị và theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức.
>'@'K'>'I,#$%&7BE#%L#$%&
DI,/07<C
- Thiết kế môi trường hoạt động của tổ chức trong từng giai đoạn.
- Đề ra các chương trình, bước đi để thực hiện mục tiêu.
- Đưa ra cách thức triển khai nguồn lực để thực hiện chương trình, bước đi nhằm
hướng tới mục tiêu.
*DI,"
- Xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý.
- Quản trị nhân sự: là việc bố trí con người vào cơ cấu tổ chức và quản trị họ, bao gồm
các công việc tuyển dụng; bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ; khen thưởng, đề bạt phát triển,
đào tạo đội ngũ.
DI,/JC
- Ra quyết định, chỉ thị để điều tiết hoạt động của người khác.
- Động viên, khích lệ phối hợp hoạt động của các nhân, bộ phận trong tổ chức
sao cho nhịp nhàng, ăn khớp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức.
DI,!%
quá trình đo lường kết quả hoạt động, trên sở đó so sánh với mục tiêu đã đề ra,
phát hiện sai lệch, tìm nguyên nhân đưa ra các chương trình điều chỉnh nhằm đạt được kết
quả mong muốn.
>'@'K'@'I,#$%&7BEC."
Quản trị lĩnh vực marketing
Quản trị lĩnh vực nghiên cứu và phát triển
Quản trị sản xuất
Quản trị tài chính
Quản trị nguồn nhân lực
Quản trị chất lượng
Quản trị các dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức: thông tin, pháp lý, đối ngoại…
>'@'K'K'MH+9.C#$%&!%0,#$%&
Tính thống nhất của các hoạt động quản trị được thể hiện qua ma trận sau:
Lĩnh vực quản trị
Quản trị
marketing
Quản trị
R&D
Quản trị
sản xuất
Quản trị
tài chính
Quản trị
nhân lực
Quá trình quản trị
Lập kế hoạch + + + + + +
Tổ chức + + + + + +
Lãnh đạo + + + + + +
Kiểm tra + + + + + +
7
- Xét theo chiều dọc của ma trận: trong bất kỳ lĩnh vực quản trị nào các nhà quản trị
cũng phải thực hiện các quá trình quản trị.
- Xét theo chiều ngang của ma trận: các kế hoạch trong các lĩnh vực sẽ tạo thành hệ
thống kế hoạch của tổ chức. Cũng như vậy tập hợp cấu của các bộ phận trong một chỉnh
thể thống nhất tạo nên cơ cấu của tổ chức ...
1.2.4. Vai trò của quản trị tổ chức
Bất cứ một cá nhân nào hành động riêng lẻ đều có thể không phát huy được sức mạnh
hoạt động thể kém hiệu quả trong một môi trường nhiều biến động, cần phải phối hợp
những nỗ lực của các nhân trong một tổ chức hướng vào những mục tiêu nhất định,
những nhân thể tìm thấy đạt được những mong muốn lợi ích của mình trong
những mục tiêu chung ấy. Quá trình hoạt động để đạt được những mục tiêu có thể diễn ra trên
quy ngày càng rộng lớntrong một môi trường ngày càng phức tạp; do đó càng đòi hỏi
phải phân công, phải liên kết, hợp tác giữa mọi người với nhau trong hoạt động đòi hỏi
tính tổ chức càng cao. Chính những đòi hỏi đó đã làm xuất hiện một dạng hoạt động mới- đặc
biệt, đó là hoạt động quản trị. Sự xuất hiện dạng hoạt động này như là một tất yếu trong các tổ
chức. C. Mác đã từng nói: " Mọi lao động hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện
trên một quy mô tương đối lớn,mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý"" Một nghệ sỹ
độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần một nhạc trưởng". Như vậy
quản trị đối với một tổ chức rõ ràng là cần thiết.
Quản trị giúp cho các tổ chức các thành viên tham gia vào tổ chức thấy được
mục đích hướng đi của mình. Đây yếu tố đầu tiên quan trọng nhất giúp tổ chức thực
hiện được sứ mệnh của mình (tức những mục đích), tồn tại và phát triển.
Quản trị phối hợp những nguồn lực của tổ chức thành một chỉnh thể tạo nên tính trồi
để thực hiện các mục đích của tổ chức với hiệu quả cao, tạo nên những giá trị mới cho tổ
chức.
Ngày nay, môi trường hoạt động của một tổ chức ngày càng nhiều biến động.
Những biến động của môi trường có thể đem lại cho tổ chức những cơ hội hoặc đe doạ. Quản
trị giúp cho tổ chức thích nghi được với những biến đổi của môi trường, nắm bắt, tận dụng
được các hội giảm thiểu những tác động tiêu cực của những đe doạ do những biến đổi
của môi trường mang đến, không những thế quản trị còn giúp cho tổ chức những tác động
tích cực đến môi trường làm cho môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động của tổ chức.
Quản trị làm nên những thành công của tổ chức nếu đó quản trị tốt ngược lại
cũng thể đưa tổ chức đến chỗ thất bại nếu đó quản trị tồi. Một trường đại học sẽ ngày
càng phát triển nếu như được quản trị tốt đội ngũ cán bộ quản trị tương ứng, một
doanh nghiệp kinh doanh thành công phát đạt đó nhờ quản trị kinh doanh tốt nhờ
các nhà quản trị kinh doanh giỏi. các nước đang phát triển người ta đã tổng kết được rằng
sự cung cấp tiền bạc và công nghệ nói chung không đem lại sự phát triển mong muốn. Yếu tố
hạn chế trong hầu hết mọi trường hợp chính sự thiếu thốn về chất lượng sức mạnh của
các nhà quản trị.
1.2.5. Quy luật và nguyên tắc trong quản trị
>'@'N'>'O0;#/0%#$%&
P>DO0#/0%#$%&
D? !
8
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến, bền vững tng xuyên lặp đi lặp lại của
các svật hiện ợng trong những điu kin nhất định.
Mi sự vật và hiện tượng đu do các quy luật khách quan chi phối. Do vậy khi xem xét quy
luật điều quan trọng phải nh đến điều kiện của nó.
*DQR!#/0
- Con người kng thể tạo ra được quy luật nếu điều kiện xuất hiện quy lut chưa có, nc
lại khi điều kiện tồn ti của quy luật vẫn còn thì con ni không thể xóa bỏ được quy luật. Ví d
n sxuất hiện của thtrường hàng hóa.
- Các quy luật tồn ti và hoạt đng kng lệ thuộc vào việc con người có nhận biết được nó
hay kng, có ưa tch nó hay gt bnó. Ví dụ như quy luật cung cầu, khi một hàng hóa khan
hiếm nhiều người muốn nó, thì giá cả hàng hóa đó sẽ tăng lên. Ngược lại, khi nguồn
cung hàng hóa lớn hơn so với nhu cầu của thị trường, tất nhiên, giá của hàng hóa đó sẽ giảm.
- Các quy luật tồn tại đan xen vào nhau và tạo thành một hthng thống nhất, nhưng khi x
lý cụ thể tng chỉ do một hoặc mt số quy luật quan trọng chi phối. Ví dụ trong hoạt động quản
lý schịu nhiu tác động của nhiều quy luật n: quy luật chính trị, quy luật hi,... nhưng chịu s
tác động mạnh nhất vẫn quy luật kinh tế
c) I-<0;#/0'
Cơ chế vận dng các quy luật là mt quá trình bao gồm tnhận thức các quy luật đến to
điều kiện kết hợp hài hòa các lợi ích trong xã hội làm cho các quy luật phát huy tác dụng.
- Phải nhận thức được quy luật. Quá trình nhận thức quy luật bao gồm hai giai đoạn: nhận
thức quac hiện tượng thực tiễn qua các pn tích bằng khoa học, lý luận. Đây là một quá
trình y thuộc o tnh đ duy, nhạy bén của con người.
- Tổ chức các điều kiện chủ quan của tổ chức để xuất hiện các điều kiện khách quan
mà nhờ đó quy luật sẽ phát huy tác dụng.
Tổ chức thu thập xử thông tin sai phạm, do không tuân thủ các đòi hỏi của các
quy luật khách quan gây ra.
Như vậy để quản trị khoa học hiệu quả đòi hỏi các nhà quản trị trước hết phải nắm
vững hiểu biết về các quy luật khách quan. Nhận thức càng đúng đắn đầy đủ hệ thống
các quy luật khách quan chìa khóa mở đường cho các nhà quản trị đưa tổ chức vượt qua
những trở ngại để đi tới mục tiêu. Tuy nhiên khi vận dụng các quy luật vào quản trị đòi hỏi
phải chú ý một số vấn đề sau:
+ Nhận rõ thực trạng của các tổ chức với tư cách là đối tượng của quản trị
+ Phân tích đúc kết nhằm nhận thức ngày càng đầy đủ hệ thống quy luật khách quan
mang tính lịch sử, cụ thể đang tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức
+ Tìm tòi sáng tạo ra những biện pháp, hình thức cụ thể sinh động nhằm vận dụng các
quy luật khách quan trong thực tiễn quản trị.
Hoạt động quản trị rất đa dạng phong phú, phức tạp bao gồm nhiều phương diện nhiều
khía cạnh, nhiều lĩnh vực với nhiều đối tượng chịu ảnh hưởng của nhiều quy luật khác
nhau, thật khó xác định hoạt động quản trị chịu tác động của những quy luật nào, nhưng nhận
thức khoa học cũng có thể đưa ra những chỉ dẫn để các nhà quản trị hành động không trái với
các quy luật khách quan. Ngày nay trong thời kỳ xây dựng kinh tế phát triển đất nước,
thoát khỏi nghèo nàn, quản trị các tổ chức cũng phải nhằm vào thực hiện những mục tiêu lớn
của đất nước; đặc biệt xây dựng phát triển kinh tế trong trong bối cảnh hội nhập kinh tế
9
quốc tế, việc nhận thức, vận dụng các quy luật vào quản trị trong thực tiễn rất phức tạp
vô cùng quan trọng, trước hết là nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế.
P@D1+#/07"*<00;#$%&
DI#/0ST60
Mọi hoạt động của con người các tổ chứ đều diễn ra trong môi trường tự nhiên.
Những hoạt động đó dù ítnhiều thể gián tiếp hoặc trực tiép tác động đến môi trường
tự nhiên, chẳng hạn con người khai thác các tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông
nghiệp, sản xuất công nghiệp ..., lợi dụng các điều kiện tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của
con người, phát triển kinh tế hội như ngăn sông , xây đập nước làm các công trình thủy
điện ... Quản trị, đặc biệt là quản trị sản xuất trước hết là phải khai thác có hiệu quả các yếu tố
các điều kiện của tự nhiên, nhưng không làm suy giảm môi trường tự nhiên trái lại còn
phải góp phần cải thiện sinh thái môi trường, như vậy mới thể phát triển sản xuất bền
vững. Đây một yêu cầu tính toàn cầu hậu quả của suy giảm môi trường mất cân
bằng sinh thái là vô cùng nguy hiểm. Ngày nay khoa học và công nghệ của thế giới có thể nói
rất phát triển, điều đó giúp cho con người nâng cao được năng suất lao động, hội văn
minh hơn, đó mặt tích cực, nhưng sự phát triển của khoa học công nghệ cũng để lại
những hậu quả xấu về sinh thái môi trường, thực tế cuộc sống nhiều khi chúng ta đã phải
trả giá đắt cho sự coi thường các quy luật tự nhiên.
Để nâng cao hiệu quả quản trị trong các tổ chức, đặc biệt các tổ chức hoạt động
thường gắn liền với các yếu tố của tự nhiên, đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm được những
điều kiện hình thành của các quy luật tự nhiên cũng như cơ chế vận động của các quy luật đó,
hiểu rõ được đặc điểm của các công nghệ để có thể chủ động điều chỉnh hoạt động cho phù hp
với các quy luật tự nhn và áp dụng các công nghệ vào sản xuất có hiệu quả mà không làm ảnh
hưởng xấu đến sinh thái môi trường.
*DI#/0<J
U? !
Trong quản trị hội, quản trị kinh tế một nhiệm vụ chủ yếu, trung tâm, quan
trọng kinh tế nền tảng của hội, mọi hoạt động của con người đều động lực vì kinh
tế. Do đó quản trị phải tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan trong mối quan hệ với các
quy luật xã hội.
Quy luật kinh tế- xã hội là các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến, bền vững, lặp
đi lặp lại của các hiện tượng và các quá trình kinh tế -xã hội trong những điều kiện nhất định.
UQR!.#/0<J
- Các quy luật kinh tế chỉ tồn tại và hoạt động thông qua các hoạt động của con người
- Các quy luật kinh tế có độ bền vững kém hơn các quy luật khác.
- Các quy luật kinh tế có mối liên hệ tác động với các quy luật khác
Để thể vận dụng được các quy luật kinh tế đòi hỏi các nhà quản trị phải đạt được
những yêu cầu sau đây:
- Phải nhận thức được các quy luật kinh tế cả về lý luận và thực tiễn. Đặc biệt các quy
luật kinh tế trong kinh doanh và mối liên hệ tác động của các quy luật kinh tế với các quy luật
tự nhiên và các quy luật của những quan hệ kiến trúc thượng tầng xã hội
- Phải giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu và vấn đề lợi ích của con người và xã hội.
10
- Phải nắm rõ đặc điểm tình hình của tổ chức và đặc điểm môi trường mà tổ chức đang
hoạt động.
- Phải phát huy vai trò điều hành, quản trị của các nhà lãnh đạo tổ chức.
U1+#/0<J
Các quy luật phổ biến: Đó quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính
chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật sản xuất nhu cầu ngày càng
tăng.
Do nhận thức không đúng quy luật, thậm chí chủ quan duy ý chí nên đã dẫn đến
những sai lầm trong quản trị, trong tổ chức sản xuất, trong phân phối, phá bỏ nhng hình thức
t chc phù hp, hu qulà kìm hãm và p hoi sản xut.
Các quy luật chung: Là các quy luật tồn tại và tác động trong các hình thái kinh tế - xã
hội khác nhau như quy luật sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Trước đây chúng
ta phủ nhận quy luật sản xuất hàng hóa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa hội, coi sản
xuất hàng hóa kinh tế thị trường chỉ trong chủ nghĩa bản do đó đã dẫn đến những
định kiến, phủ nhận vai trò của chúng trong phát triển kinh tế xây dựng hội. Thực tiễn
xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam chúng ta mấy chục năm qua đã chứng minh
sinh động sự tồn tại khách quan của kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế
thị trường theo định hướng hội chủ nghĩa nước ta đã đang thành công rực rỡ. Thừa
nhận kinh tế thị trường, thừa nhận sản xuất hàng hóa đòi hỏi các nhà quản trị phải nhận thức
và vận dụng được các quy luật kinh tế thị trường vào thực tiễn quản trị tổ chức của mình.
- Quy luật giá trị: quy luật kinh tế căn bản của sản xuất trao đổi hàng hóa. Nội
dung của quy luật này sản xuất trao đổi phải trên sở thời gian lao động hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hóa đó. Nhận thức đúng về quy luật giá trị sẽ giúp cho
các nhà quản trị điều tiết sản xuất lưu thông hàng hóa, kích thích khoa học kỹ thuậtlực
lượng sản xuất phát triển, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo.
- Quy luật lưu thông tiền tệ: Còn sản xuất hàng hóa thì còn lưu thông hàng hóa và lưu
thông tiền tệ - Quy luật lưu thông tiền tệ xuất hiện tồn tại một cách khách quan. Nội dung
của quy luật này thể hiện ở mối quan hệ giữa lượng tiền tệ phát hành và các nhân tố liên quan.
C. Mác trình bày nội dung quy luật này qua công thức :
Trong đó:
M: là lượng tiền phát hành cần thiết trong lưu thông
P: là mức giá cả hàng hóa và dịch vụ
Q: Là khối lượng hàng hóa, dịch vụ đem ra lưu thông
V: là vòng quay trung bình của đồng tiền cùng loại
Cần chú ý quy luật lưu thông tiền tệ như đã phân tích trên quy luật lưu thông
của tiền (vàng). Với tiền giấy thì sự khác đi nhất định tiền giấy không tác dụng tự
điều chỉnh qua hai kênh lưu thông tích lũy như tiền vàng. Bởi vậy để vận dụng quy luật
này hiệu quả trong điều kiện tiền giấy phải rất coi trọng điều khiển khống chế lượng
tiền giấy phát hành cho lưu thông.
Trong điều kiện nhiều loại tiền phát hành, thì tính toán lượng tiền phát hành sẽ rất
phức tạp nên quy luật lưu thông tiền tệ của Mac mang nhiều ý nghĩa về mặt định tính hơn
về định lượng. Bởi vậy khi vận dụng cần lưu ý đặc điểm này nhất trong điều kiện tồn tại
11
M
=
P x
Q
V
nhiều thành phần kinh tế, nhiều hệ thống ngân hàng, trình độ chuyên môn sở vật chất
chưa hiện đại, chưa phù hợp với trình độ và thông lệ quốc tế.
- Quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ: Mối quan hệ nhân quả giữa cung và cầu liên tục
diễn ra trên thị trường tồn tại một cách khách quan, độc lập đối với ý chí con người được gọi
là quy luật cung cầu.
Sự hoạt động của quy luật này thể hiện chế vận động giữa giá cả thị trường giá
trị hàng hóa thông qua các trường hợp: Cung bằng cầu, cung lớn hơn cầu cung nhỏ hơn
cầu. quy luật cung cầu giải thích nhất sao giữa giá cả giá trị của sản phẩm hàng hóa
lại không ăn khớp với nhau, tạo điều kiện cho quy luật giá trị hoạt động. Nhận thức quy luật
cung cầu giúp cho các nhà quản trị những quyết định năng động linh hoạt trong sản xuất
kinh doanh và trong ký kết các hợp đồng kinh tế.
Tóm lại nghiên cứu các quy luật giá trị, lưu thông tiền tệ cung cầu không chỉ để
nhận thức lực lượng khách quan chi phối chế thị trường, còn ý nghĩa đối với việc
thực hiện chức năng quản trị cả hai tầm: quản trị kinh tế của Nhà nước quản trị
kinh tế vi mô của các doanh nghiệp, tổ chức.
thể khái quát mối quan hệ giữa các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường qua
sơ đồ sau:
Các quy luật kinh tế thị trường luôn tạo ra những áp lực mạnh mẽ, liên tục đối với tổ
chức. Sự tranh đua giữa các đối thủ trên thị trường làm cho tổ chức phải áp dụng những chiến
lược nhằm duy trì vị thế của tổ chức, tìm kiếm nhữnghội phát triển trong thị trường mà tổ
chức đang hoạt động với những hàng hóa dịch vụ hiện có. Bruce D. Henderson- người sáng
lập lãnh đạo nhóm vấn Boston đã nhận xét: "Đối với hầu hết các tổ chức việc duy trì
một môi trường với những áp lực cạnh tranh gay gắt những hoạt động thường nhật của họ
trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh. Do đó bất cứ sự thay đổi nào trong môi trường
ảnh hưởng đến bất cứ đối thủ cạnh tranh nào sẽ đưa đến hậu quả các tổ chức phải sự
thích nghi một mức độ nào đó. Thực tế này đòi hỏi tất cả các tổ chức trên phương diện
đối thủ cạnh tranh của nhau phải liên tục thay đổi thích nghi nhằm duy trì vị thế thích hợp
của họ".
* Quy luật tâm lý: Thực chất của quản trị quản trị con người, điều đó liên quan
đến tâm lý con người; nhà quản trị phải tác động lên tâm lý con người để tạo động lực cho họ
hành động nhằm hoàn thành được mục tiêu đặt ra.
Các quy luật tâm trong quản trị các mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, bản chất về
mặt tâm lý của con người, đám đông, xã hội trong hoạt động quản trị.
Các quy luật tâm thể hiện trong tính cách, nhu cầu, lợi ích, cách suy nghĩ, ứng sử,
động cơ... và cuối cùng thể hiện ra hành vi trước các quyết định quản trị. Kurt Lewin, nhà tâm
lý học về các tổ chức- người Mỹ, khi nghiên cứu về hành vi ứng sử tiêu dùng, đặc biệt về việc
12
Quy luật giá
trị
Quy luật cạnh
tranh
Quy luật lưu
thông tiền tệ
Quy luật cung
cầu
mua sắm những hàng lâu bền đã chỉ rõ: "Hành vi, hàm số của không gian sống, được quy định
bởi sự tương tác giữa cá nhân và môi trường:
C = f(P,S). Do đó mua sắm không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, vào những tài
sản hiện có, vào khả năng tài chính của người mua, mà còn phụ thuộc vào những thiên hướng
tâm lý, vào sự cảm nhận của anh ta về hoàn cảnh, tức là những thái độ, động cơ, những mong
đợi, mức độ khao khát của anh ta... Sự cảm nhận ấy được một số đông người tán thưởng và có
ảnh hưởng tới những quyết định mua sắm (hay tiết kiệm hay đầu tư)". Xã hội càng phát triển,
tính cộng đồng, tính hội càng cao, do vậy trong quản trị để phát huy tính sáng tạo của mỗi
nhân sức mạnh của cộng đồng đòi hỏi người lãnh đạo phải nắm vững vận dụng các
quy luật tâm để nâng cao trình độ hiệu quả quản trị. Socrate, một triết gia cổ hy lạp đã
từng nói: ''Những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển công việc, nhân hoặc
tập thể một cách sáng suốt''. Ai không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong việc điều hành.
Dù là con người kinh tế hay con người hành chính trước hết phải là con người tâm lý.
* Các quy luật tổ chức quản trị
Đây những quy luật tác động trực tiếp vào hoạt động quản trị. Tổ chức một chức
năng của quản trị yếu tố bản để hình thành nên cấu tổ chức bộ máy quản trị cùng
các mối quan hệ giữa chúng. Người ta sẽ không quản trị được hoặc quản trị kém hiệu quả nếu
hệ thống tổ chức rối loạn.
Tổ chức vốn một khoa học, quy luật riêng. Đứng về phương diện quản trị
việc phối hợp các hoạt động cần thiết dể đạt được mục tiêu, việc giao phó mỗi nhóm cho
mỗi người quản trị với quyền hạn cần thiết để giám sátlà việc tạo điều kiện cho sự liên
kết ngang dọc trong cấu tổ chức, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống,
hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất. Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng
tổ chức là một nhu cầu không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Khi những
hoạt động kinh tế - hội ngày càng rộng lớn phức tạp thì vai trò của ngày càng tăng.
Nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại trong hoạt động của
một tổ chức và giữ vai trò to lớn trong quản trị vì:
- Thứ nhất, T chức m cho c chức ng khác của hoạt dộng quản trị thực hiện
hiệu quả.
- Th hai, t khi lượng công vic qun tr mà xác đnh biên chế, sắp xếp con ngưi.
- Thứ ba, tạo điều kiện cho việc hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên trong
tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản trị và đối tượng quản trị.
- Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá tất cả những công việc đó của công tác
tổ chức đòi hỏi những kiến thức người quản trị phải nắm như mối quan hệ giữa các cấp
quản trị khâu quản trị, giữa tập trung phân cấp, về quyền hạn trách nhiệm trong tổ
chức v.v...để có thể vận dụng trong hoạt động quản trị của mình. Mục đích của việc vận dụng
các quy luật tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa và góp phần tăng thêm tính
hiệu quả về mặt quản trị.
Nhận thức vận dụng các quy luật quản trị quá trình khó khăn phức tạp, chịu sự
chi phối của rất nhiều quy luật, những quy luật đó luôn ẩn dấu đằng sau các hiện tượng
biểu hiện ra bên ngoài rất khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể. Do vậy nhận thức và vận dụng
các quy luật trong quản trị, đòi hỏi các nhà quản trị phải được những tố chất đạt được
các yêu cầu sau:
13
- Phải trình độ luận, kiến thức nhất định. sự am hiểu về tự nhiên- hội -
duy. Đó là cơ sở giúp cho con người hiểu được quy luật, biết được xu hướng vận động tác
động của quy luật.
- Phải bản lĩnh vững vàng cả về chính trị khoa học. Nếu không bản lĩnh thì
hoặc bị động, thụ động trước sự vận động phát triển của sự vật hoặc ngược lại sẽ phủ nhận
quy luật, dẫn đến những hậu quả xấu.
- Phải có phương pháp luận đúng đắn, phải tính đến các điều kiện vận động, điều kiện
phát sinh và phát huy tác dụng của các quy luật, đó là điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội, điều
kiện tự nhiên, điều kiện dân trí...đặt trong điều kiện không gian thời gian cụ thể. Tức
phải có quan điểm lịch sử cụ thể.
Các hiện tượng kinh tế - hội luôn luôn vận động phát triển. Hoạt động kinh tế -
hội ngày càng năng động thì sự vận động biến đổi của đối tượng quản trị càng lớn,
ngoài ra còn chịu tác động của môi trường, của các yếu tố khách quan chủ quan khác. Do
đó khi xem xét các quy luật trong quản trị phải quan điểm động theo xu hướng phát
triển.
Quản trị luôn chịu sự tác động của hàng loạt quy luật có mối quan hệ hữu cơ với nhau,
khi vận dụng quy luật để giải quyết những vấn đề thực tiễn quản trị đòi hỏi phải đặt sự vật
hiện tượng trong sự tồn tại vận động của hệ thống. Do vậy phải quan điểm hệ thống
trong quá trình nhận thức và vận dụng.
Nắm bắt vận dụng các quy luật trong quản trị việc rất khó khăn phức tạp,
ngoài yếu tố khoa học còn phải nghệ thuật, phải xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm
tiêu chuẩn để đánh giá sự đúng đắn của luận, khoa học; đồng thời phải vận dụng quy luật
trong những điều kiện thực tiễn cụ thể. Tóm lại cần phải quan điểm lịch sử - cụ thể, quan
điểm động phát triển, quan điểm hệ thống, quan điểm thực tiễn trong quá trình nhận thức
và vận dụng quy luật trong quản trị.
>'@'N'@'I)-*$.#$%&
Trong quá trình nhận thức và vận dụng quy luật vào quản trị, bước cơ bản nhất là từ sự
phân tích thực trạng đối tượng (khách thể), nhận thức hệ thống quy luật xác lập hệ thống
nguyên tắc chủ đạo, xem đó quan niệm bản về hệ thống quản trị. Hệ thống nguyên tắc
đó hình nhận thức vận dụng tổng thể các quy luật, nội dung tinh thần cốt lõi
của các chính sách, điều lệ, chương trình, nội dung của quản trị.
- Khái niệm về nguyên tắc quản trị
Các nguyên tắc quản trị các quy tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi các
quan quản trị và các nhà quản trị phải tuân thủ trong quá trình quản trị.
- Vị trí của các nguyên tắc quản trị
Nghiên cứu các quy luật chỉ bước phân tích nhằm nhận thức bản chất từng mặt
trong sự trừu tựơng hóa các mặt khác của sự vật. Nghiên cứu vận dụng lại phải tái tạo sự vật
trong chỉnh thể làm cho sự vật sống động hơn, làm nổi bật vai trò của từng quy luật trong mối
tác động qua lại với các quy luật khác. Sự xác lập sử dụng chế vận dụng quy luật trong
quản trị là phù hợp với đòi hỏi nhận thứcvận dụng quy luật trong chỉnh thể nhằm mô hình
hóa sự nhận thức và vận dụng đó. Đó chính là cơ sở khoa học để xác lập hệ thống nguyên tắc,
hình nguyên tắc, cũng tức quan niệm xây dựng đổi mới hệ thống quản trị. Như vậy
14
nguyên tắc đóng vai trò kim chỉ nam đối vớiluận và chính sách để tìm ra những hình thức,
phương pháp cụ thể và đặc thù của quản trị.
Nhận thức và vận dụng các quy luật trong quản trị là một quá trình đi từ cái chung đến
cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể để đề ra các nguyên tắc quản trị. Các nguyên tắc vừa phản
ánh các quy luật khách quan nhưng cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Trong lịch sử
hoạt động thực tiễn quản trị, người ta đã đưa ra nhiều nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động
lại những nguyên tắc quản trị đặc thù. Tuy nhiên để quản trị thành công các tổ chức, các
chủ thể quản trị cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
P>D(!)#$%&
D()!+/ 
Nguyên tắc mối liên hệ ngược nguyên tắc đòi hỏi chủ thể quản trị phải nắm chắc
được hành vi của đối tượng thông qua thông tin phản hồi về các hành vi đó. Mối liên hệ
ngược có hai loại•:
- Mối liên hệ ngược dương, biểu thị chỗ phản ứng đầu ra làm tăng tác động đến
đầu vào, và đến lượt mình,đầu vào lại tăng thêm tác động đối với đầu ra hơn nữa v.v...( Tức
khi đối tượng đưa ra thông tin phản hồi, chủ thể quản trị nhận thấy không đúng với kế
hoạch đề ra. Vì vậy họ lại tạo ra các tác động mới đến đối tượng quản trị nhằm sửa chữa sai
lệch hay phục vụ tình hình mới. Đối tượng sau đó lại đưa ra thông tin mới đến chủ thể, nếu
vẫn chưa làm họ thỏa mãn thì lại tiếp tục những tác động mới. Nếu quá trình cứ diễn biến
như vậy, khi những mục tiêu kế hoạch thay đổi liên tục sẽ làm cho các nhà quản trị lúng
túng, tổ chức hoạt động kém hiệu quả không đạt được mục tiêu) Mối liên hệ ngược dương
bao giờ cũng dẫn đến sự thay đổi căn bản trong tổ chức, phá hủy trạng thái nội cân bằng
để thiết lẩptạng thái nội cân bằng mới. Đây là chữ "tín" trong quản trị, là sự ổn định tương đối
của chính sách.
- Mối liên hệ âm thì trái lại, đầu ra tăng sẽ tác động trở lại kìm hãm đầu vào , tổ chức
có mói liên hệ ngược âm là tổ chức ổn định.
*D()*"
Đối với những tổ chức phức tạp không thể tả đầy đủ được ngay từ lần đầu bằng
một ngôn ngữ nào đó, cho ngôn ngữ đó phong phú đến đâu, để tả đầy đủ tổ chức
(thông qua thông tin phản ánh các tính chất đặc trưng của tổ chức), phải bổ sung việc mô tả tổ
chức bằng các ngôn ngữ khác lấy từ ngoài tổ chức.
D()C4<. Nguyên tắc này đòi hỏi khi hành vi của đối tượng
rất đa dạng và ngẫu nhiên, để điều khiển phảimột hệ thống các tác động điều khiển với độ
đa dạng tương ứng để hạn chế độ bất định trong hành vi của đối tượng điều khiển.
D()7B97PM07%B.)
Một tổ chức phức tạp, chủ thể nếu độc quyền quản trị, tự mình đề ra các quyết định,
thì thường phải làm việc với một khối lượng thông tin rất lớn, sẽ gặp phải 2 kết quả: 1)
Kng khả năng xử lý hết thông tin và quyết đnh sẽ kém cnh c, 2) X được tng tin
cũ t lại nảy sinh tm c tng tin mới- tức là c quyết định đề ra do cần phải nhiu thời gian
x thông tin nên đã trtnh lạc hậu.
Muốn quản trị được, chủ thể phải phân cấp việc quản trị cho các phân hệ, mỗi phân hệ
lại cần phải có một chủ thể quản trị với những quyền hạn, nhiệm vụ nhất định. Việc phân chia
15
quyền hạn, nhiệm vụ xử thông tin ra quyết định tất yếu tạo thêm cấp bậc trong tổ chức,
tạo ra sự "bất bình đẳng" giữa các cấp về quyền hạn, nhiệm vụ và lợi ích.
ED()B<
rong quá trình quản trị tổ chức thường xuyên xuất hiện sự đột biến một vài đối
tượng nào đó- những khâu xung yếu, với những mối liên hệ ngược dương hoặc âm dẫn đến sự
hoàn thiện hoặc phá vỡ cơ cấu của đối tượng đó. Sự phá vỡ hoặc hoàn thiện này kéo theo, lan
truyềnsang các đối tượng khác và cả hệ thống. Vì nguồn lực của tổ chức luôn bị hạn chế nên
chủ thể phải biết tập trung nguồn lực vào khâu xung yếu để tăng cường độ hoàn thiện hạn
chế khả năng đổ vỡ cho tổ chức.
VD()HW!2%X
Đây nguyên tắc quản trị đòi hỏi tổ chức phải biết tận dụng tiềm năng của môi
trường để biến thành nội lực của mình.
P@D(!)#$%&"<J
D MB./0772/ J
Hệ thống luật pháp được xây dựng trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm
quy định những điều các thành viên trong hội không được làm sở để chế tài
những hành động vi phạm các mối quan hệ hội pháp luật bảo vệ. (Pháp luật đã tạo ra
khung pháp cho tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường cho phát triển
kinh tế, củng cố bảo vệ các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường; quy định về kế hoạch,
giá cả, thuế, tài chính, tín dụng và tạo ra một cơ chế quản trị có hiệu quả)
Nhà nước quản lý xã hội trên cơ sở luật pháp, bảo đảm cho sự ổn định xã hội theo một
trật tự nhất định, bảo đảm cho mọi tổ chức hoạt động thuận lợi không ảnh hưởng đến lợi
ích của các thành viên khác cũng như những giá trị tốt đẹp của xã hội.
Như vậy giữa chính trị - luật pháp - hoạt động quản trị, kinh doanh mối quan hệ
hữu cơ, trong đó thể chế chính chị giữ vai trò định hướng chi phối toàn bộ các hoạt động
trong hội- trong đó hoạt động kinh doanh. Trong xu thế hóa toàn cầu hiện nay, hoạt
động của các tổ chức ngày càng gắn chặt trẽ với nhau trở thành một mắt xích trong hệ
thống chính trị xã hội, do đó sự ổn định chính trị - pháp luật sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối
với hoạt động kinh doanh, hấp dẫn các nhà đầu trong ngoài nước, cho phép tận dụng
được những lợi thế so sánh của nền kinh tế, thu hút vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị bên
ngoài thâm nhập vào thị trường thế giới. Chính vì vậy trong nền kinh tế thị trường, vai trò
của nhà nước cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Việc lựa chọn đúng định hướng phát triển, đề ra các chính sách kinh tế thích hợp sẽ mở
ra triển vọng, hội cho các tổ chức, doanh nghiệp thể tham gia vào sphát triển của đất
nước.
*DM07%B.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc bản của quản trị, phản ánh mối quan hệ giữa chủ
thể và đối tượng quản trị cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản trị. Tập trung dân chủ là hai
mặt của một thể thống nhất. Tập trung thể hiện sự thống nhất trong quản trị vào một đầu
mối, đó là nơi hội tụ trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của tổ chức. Nhờ đó mà phát huy sức mạnh
của tổ chức, tránh được phân tán, rối loạn bảo đảm thực hiện được các mục tiêu chung một
cách có hiệu quả.
16
Dân chủ thể hiện sự tôn trọng quyền chủ động sáng tạo của tập thể và cá nhân trong tổ
chức, trên cơ sở đó mà sức hòa hợp tốt hơn những ý chí nguyện vọng của cá nhân và tổ chức,
phát huy cao đọ sức mạnh của tổ chức nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi nhân
trong thực hiện những nhiệm vụ của tổ chức giao cho.
Nội dung của nguyên tắc là phải bảo đảm mối quan hệ chặt trẽ và tối ưu giữa tập trung
và dân chủ; dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Đây là một nguyên tắc rất
quan trọng, tính khách quan phổ biến song thực hiện không đơn giản, phụ thuộc vào
bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người quản trị. Bảo đảm quyền tự chủ của các
đơn vị, các cấp một tất yếu khách quan khi lực lượng sản xuất cần được hội hóa, tiềm
năng của các thành phần kinh tế phải được khai thác triệt để. Mặt khác chế thị trường đòi
hỏi nhà quản trị phải tiếp cận và xử lý linh hoạt các tng tin có ln quan đến hoạt đng sn xuất
kinh doanh. Vì vậy quản trị tập trung thống nhất phải đi liền với bo đảm quyền chủ động sáng tạo,
x tốt mối quan hệ vtch nhim, quyền hạn lợi ích giữa c tnh vn trong tchức.
D?<73/H
Quản trị suy cho đến cùng quản trị con người nhằm phát huy tính tích cực sáng
tạo của các thành viên trong tổ chức; song động lực của quản trị lợi ích, do đó nguyên tắc
quan trọng của quản trị phải chú ý đến lợi ích của con người, bảo đảm kết hợp hài hòa các
lợi ích, trong đó lợi ích người lao động động lực trực tiếp, đồng thời cũng phải chú ý đến
các lợi ích khác. Adam Smith đã quy định những hiện tượng về của cải thành một sự thống
nhất cao nhất bằng cách dựa vào một động tâm căn bản lợi ích nhân. Ông viết:
"Không phải từ thiện cảm của anh hàng thịt, của người bán rượu, của người bán bánh
chúng ta chờ đợi bữa ăn tối của mình từ lợi ích nhân của họ. Chúng ta không kêu gọi
lòng nhân ái của họ, hướng tới lòng tự ái của họ chúng ta không bao giờ nói với họ về
sự cần thiết mà bao giờ cũng nói với họ về những mối lợi của họ".
Về lý thuyết cũng như về thực tiễn, lợi ích là mục tiêu, nhu cầu, là động lực khiến con
người hành động; thế sẽ không sự nhất trí về mục đích hành động nếu không sự
thống nhất về lợi ích và nhu cầu:
- Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thỏa mãn một nhu cầu
nào đó của bản thân.
- Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực chủ động của con người
- Lợi ích còn phương tiện của quản trị cho nên phải dùng để động viên con
người.
Nội dung của nguyên tắc: Phải kết hợp hài hòa các lợi ích liên quan đến tổ chức
trên cơ sở của những đòi hỏi của quy luật khách quan.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần,nhiều lợi ích cần được thỏa mãn . Do vậy việc
kết hợp hài hòa các lợi ích phải được xem xét đề ra ngay từ khi xây dựng các chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch kinh tế - hội, quá trình hoạt động quản trị đến khâu phân phối tiêu
dùng. Các kế hoạch và mục tiêu của tổ chức phải phản ánh được lợi ích lâu dài của mọi thành
viên, phải quy tụ được quyền lợi của cả hệ thống phải tính hiện thực cao. Sự đúng đắn
hay lệch lạc trong vấn đề lợi ích kinh tế không chỉ thuộc phạm vi công cụ, động lực mà trước
hết sự đúng đắn về mục tiêu sản xuất- kinh doanh. Quan điểm lợi ích kinh tế quan điểm
về mục tiêu,quan điểm định hướng bản, quan điểm xuất phát của việc xây dựng chế
quản trị. Chính vậy giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích trong quản trị sẽ bảo đảm cho tổ
17
chức vận hành thuận lợi và có hiệu quả, ngược lại nếu quan hệ lợi ích bị rối loạn sẽ là nguyên
nhân của rối loạn tổ chức, phá vỡ hệ thống quản trị. Thực hiện tốt nguyên tắc này cần chú ý
một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, các quyết định quản trị phải quan tâm trước hết đến lợi ích người lao động.
Người lao động tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho hội, hơn nữa lại
nhân tố khả năng sáng tạo. Bởi vậy hệ thống phương pháp, công cụ, chế chính sách
quản trị phải nhằm vào việc đem lại lợi ích, quan trọng nhất lợi ích vật chất cho người
lao động. Đó những khoản tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể phúc lợi hội
họ được hưởng thụ. Đồng thời người lao động ngày càng nhu cầu cao về học tập, chữa
bệnh, đi lại trưởng thành trong công việc. thế mọi chính sách kinh tế luôn luôn được
gắn liền với chính sách xã hội nhằm thỏa mãn sự đòi hỏi của con người.
- Thhai, phải tạo ra những "vec" lợi ích chung nhằm kết hợp c lợi ích kinh tế.
Nếu chỉ quan tâm đến lợi ích của người lao động sao nhãng lợi ích tập thể lợi
ích xã hội thì chủ nghĩa cá nhân sẽ phát triển, thậm chí dẫn đến tham nhũng đặc quyền đặc lợi
ở một số người có chức, có quyền. Hơn nữa lợi ích nhân không thể bền vữngkhông thể
được thỏa mãn cao hơn nếu không đồng thời chăm lo đến lợi ích tập thể lợi ích hội.
thế các quyết định quản trị phải có tác dụng huy động sự đóng góp về trí tuệ, sức lực và cơ sở
vật chất để xây dựng tổ chức và người lao động có cơ hội để thỏa mãn lợi ích, đồng thời được
hưởng thụ các khoản phúc lợi tập thể.
- Thứ ba, phải coi trọng lợi ích vật chất lợi ích tinh thần của tập thể người lao
động.
Trong khi lao động còn một hoạt động bắt buộc đối với con người thì vấn đề
khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động phải được ưu tiên thỏa đáng. Song không
phải thế coi nhẹ hoặc phủ nhận khuyến khích lợi ích tinh thần thông qua các phương
pháp động viên, giáo dục chính trị, tưởng, thưởng phạt, cất nhắc, đề bạt vào các chức vụ
công tác thích hợp. Khuyến khích lợi ích tinh thần về thực chất sự đánh giá của tập thể
hội đối với sự cống hiến của mỗi người, là sự khẳng định thang bậc về giá trị của họ trong
cộng đồng. Cũng thông qua các hình thức khuyến khích đó người lao động nhận biết được kết
quả, ý nghĩa của công việc mình làm. Vì thế nó rất cần thiết đối với bất kỳ aivào thời gian
nào.
DI!2
Nguyên tắc chuyên môn hoá quản được hiểu việc làm sao để cho quá trình vận
động, thao tác của các công nhân, nhân viên trong công ty diễn ra hợp lý, không trùng lặp, tốn
ít thời gian sức lực, qua đó đạt được năng suất lao động cao nhất. Đó chính sự hợp
hoá lao động, hay nói theo cách hiện đại là tổ chức lao động một cách khoa học
Nguyên tắc chuyên môn hóa đòi hỏi việc quản trị phải được thực hiện bởi những
người trình độ chuyên môn, được đào tạo, kinh nghiệm khả năng điều hành để thực
hiện các mục tiêu của tổ chức hiệu quả. Để được những phẩm chất năng lực này đòi
hỏi các nhà quản trị phải nỗ lực không ngừng. Những kiến thức lý thuyết giúp cho việc tư duy
có hệ thống, còn những kinh nghiệm thực tế có thể tự tích lũy rút ra trong quá trình hoạt động;
đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà quản trị và của tổ chức. Bởi vậy một
mặt những người hoạt động trong guồng máy hệ thống phải nắm vững chuyên môn nghề
nghiệp vị trí công tác của mình, mặt khác họ phải ý thức được mối quan hệ của họ với
18
những người khác bộ phận khác thuộc guồng máy chung cả tổ chức. Mối quan hệ phụ
thuộc của mỗi bộ phận và nhân viên thừa hành nhất thiết phải được xác định rõ ràng, cần phải
phân cấp và phân bố hợp lý các chức năng quản trị, bảo đảm sự cân xứng giữa các chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, lợi ích của các bộ phận quản trị. Điều đó cho phép cán bộ quản trị
thể độc lập giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng của mình.
EDY<!C!
Mạo hiểm không phải sự liều lĩnh sự phiêu lưu tính toán. Nguyên tắc này
đòi hỏi các nhà lãnh đạo tổ chức phải biết tìm ra các giải pháp độc đáo (nhất là các giải pháp
công nghệ) để tăng sức mạnh cạnh tranh của tổ chức. Giá trị của tính mạo hiểm chỗ,
đưa tới sự ra đời của một sản phẩm mới, một cải tiến mới trong công nghệ, đưa ra một phát
minh mới về tổ chức quản trị, nhằm tăng năng suất lao động hoặc phát hiện ra một hthị trường
mới cho doanh nghiệp.
Mt nữ tiến sngười Mỹ đã điều tra 1000 người tnh đạt trong sự nghiệp kinh doanh trên
thế giới và pt hiện ra ở họ có 12 điểm chung. Trong đó tính mạo hiểm "Phạm sai lầm vẫn không
nao núng" được coi là một trong những điểm quan trng nhất.
Dám mạo hiểm phải đi đôi với dám chịu trách nhiệm về hậu quả, do đó nó đòi hỏi nhà
quản trị phải tự tin trên sở tỉnh táo xem xét, cân nhắc. Lòng tự tin giúp nhà lãnh đạo
được các quyết định táo bạo, gây ra một số "đảo lộn hợp lý, hiệu quả" nhằm biến đổi tình
thế.
Chủ hãng Mitshushita - nơi sản xuất các mặt hàng điện tử mang nhãn hiệu JVC đã rút
ra điều này: "Nếu ta tin vào những nguyên tắc vững chắc đến mức ta sẵn sàng biến chúng
thành một bộ phận của con người ta thì không có khó khăn nào mà ta không thể đương đầu
vượt qua. Cứ nghĩ tới thành công rồi ta sẽ mặc nhiên tạo ra những hoàn cảnh những cuộc
vận động dẫn tới thành công". Một tờ báo Pháp viết: "mạo hiểm tự tin mẹ để ra tất cả
của cải vật chất trên đời ngồn ngộn sinh sôi nảy nở không cùng".
VD 2Z
Thời đại chúng ta hiện nay những thay đổi diễn ra như bão táp trên mọi lĩnh vực
của đời sống hội. Thời đại nền kinh tế thế giới đang diễn ra xu thế toàn cầu hóa mạnh
mẽ; trong tương lai gần sẽ không còn công nghệ hay sản phẩm quốc gia, công ty quốc gia hay
các ngành kinh doanh ... Tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức các kỹ
năng quản trị sáng kiến của các thành viên của ...Các tổ chức, các công ty, doanh
nghiệp sẽ trở thành những mạng lưới toàn cầu, hoạt động trong một môi trường cạnh tranh
toàn cầu ...Trong bối cảnh đó, các tổ chức các nhà quản trị cần hoạch định chiến lược, ủy
quyền tối đa, đổi mới liên tục về nhận thức, hành động để thích nghi phát triển bền vững
trong một thế giới luôn thay đổi.
Trong hoạt động nếu đểi cho một phương sách đạt được sự hoàn mỹ thì sẽ không
tưởng hoặc chậm trễ. Nếu chần chừ do dự sẽ bỏ lỡ hội. Bởi vậy phải hành động khi độ
tin cậy của các phương án mới chiếm một tỷ lệ khả quan.
Người quản trị phải biết khai thác các thông tin có lợi từ mọi nguồn để kịp thời có đối
sách tận dụng thời cơ. Đặc biệt các thông tin về cung, cầu, công nghệ mới, về chính sách
của Nhà nước liên quan về sự biến động trong cách thức quản trị của các tổ chức khác
ảnh hưởng tới tổ chức mình. Đây là mối quan hệ giữa thế và lực của hệ thống. Lực là tiềm
năng của hệ thống, còn thế là mối quan hệ của hệ thống với môi trường.
19
vậy thể nói rằng quản trị một quá trình rất năng động đổi mới không
ngừng. Sự thành công của các nhà quản trị, sự sống còn của tổ chức phụ thuộc phần lớn vào
những chiến lược đổi mới hữu hiệu. Bởi vậy nhiều tổ chức kinh doanh lớn tiếng tăm đang
tiến hành việc hoàn thiện và đổi mới tại tất cả các cấp và trong hầu hết toàn bộ chức năng cuả
tổ chức; mở rộng và nâng cao năng lực sáng tạo của nhân viên:
Cần phải thưởng cho tất cả những ai sáng kiến, nếu không sẽ làm thui chột niềm
say mê của họ, trên cơ sở đó thúc đẩy tổ chức phát triển và phù hợp thích nghi với sự thay đổi
của môi trường.
D()< ! #$
Là nguyên tắc quy định mục tiêu của quản trị, bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả
hội, nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả đòi hỏi người quản trị phải quan điểm hiệu quả
đúng đắn, biết phân tích hiệu quả trong từng tình huống khác nhau, biết đặt lợi ích của tổ chức
lên trên lợi ích của nhân, từ đó ra các quyết định ti ưu nhằm to được các thành quả có li
nhất cho nhu cầu pt triển của tổ chức.
- Quan điểm thực hiện: Tiết kiệm hiệu quả vấn đề mang tính quy luật của các tổ
chức kinh tế- hội. Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế tiêu dùng. Vấn đề tiêu dùng
hợp trên khả năng điều kiện cho phép. Trong nhiều trường hợp cần phải kích thích tiêu
dùng để khắc phục tình trạng thiểu phát, thúc đẩy sản xuất phát triển. Tiết kiệm cũng không
phải chi ít tiền chi tiêu sử dụng đồng tiền sao cho thể sản xuất ra nhiều sản
phẩm hàng hóa chất lượng cao, giá thành hạ, thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Khi cần
thiết phải tăng chi phí bằng cách đầu nhằm tạo việc làm tăng khối lượng hàng hóa
dịch vụ cho xã hội.
PKDO0;)%#$%&
Vận dụng nguyên tắc trong thực tiễn quản trị một họat động sáng tạo. Người quản
trị giỏi người biết vận dụng một cách thích hợp các nguyên tắc vào những tình huống
đối tượng cụ thể. Nắm vững thực chất của nguyên tắc, am hiểu sâu sắc đối tượng quản trị,
sáng tạo những hình thức biện pháp thích hợp những điều bản bảo đảm vận dụng
đúng đắn các nguyên tắc. Tuy nhiên đây là một vấn đề rất phức tạp, nó tùy thuộc vào năng lực
trình độ và nghệ thuật của nhà quản trị. Trong quá tnh vận dụng nguyên tắc quản trị phải cý
một số vấn đề sau:
- Coi trọng việc hoàn thiện hệ thống nguyên tắc quản trị. Nguyên tắc quản trị vừa
mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan. Nhận thức của các nhà quản trị luôn giới
hạn trong khi các quá trình kinh tế, môi trường quản trị diễn ra rất đa dạng và thay đổi thường
xuyên. Vì vậy phải không ngừng nghiên cứu lý luận để không ngừng nâng cao khả năng nhận
thức quy luật, đồng thời tổng kết thực tiễn nhằm hn thiện nội dung c ngun tắc phù hợp
với svận nh của chế quản trị.
Việc hoàn thiện hệ thống nguyên tắc quản trị còn đòi hỏi một mặt phải tự giác, tôn
trọng và kiên trì và kiên trì tuân thủ các nguyên tắc, mặt khác cần phát hiện những nguyên tắc
không còn phù hợp, bổ sung những nguyên tắc mới phù hợp với quy luật khách quan và do sự
đòi hỏi của thực tiễn quản trị.
- Vận dụng tổng hợp các nguyên tắc quản trị
Mi nguyên tc đu có mc đích, ni dung và yêu cu riêng đi vi quá trình
qun tr. Bi vy khi ra quyết đnh qun tr, khi phân tích thc trng ca t chc, phi
20