-
Thông tin
-
Quiz
Quan điểm HCM về xây dựng con người - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Quan điểm HCM về xây dựng con người - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM012) 23 tài liệu
Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh 228 tài liệu
Quan điểm HCM về xây dựng con người - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Quan điểm HCM về xây dựng con người - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM012) 23 tài liệu
Trường: Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh 228 tài liệu
Thông tin:
Tác giả:
















Tài liệu khác của Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Preview text:
TTHCM (S12/11)
1. Quan điểm HCM về xây dựng con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra những phương pháp cơ bản để xây dựng con người Việt Nam:
– Việc nêu gương, nhất là với người đứng đầu, có ý nghĩa rất quan trọng. Hồ Chí Minh thường
nói đến “tu thân, chính tâm” thì mới có thể “trị quốc, bình thiên hạ” (làm những việc có lợi cho
nước, cho dân). Văn hoá phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm
bài diễn văn tuyên truyền” và “tiên trách kỉ, hậu trách nhân”. Hồ Chí Minh thường nhắc i những
điều ấy trong khi bàn biện pháp xây dựng con người. Người nói rằng “lấy gương người tốt, việc
tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau” là rất cần thiết và bổ ích.
– Phát triển giáo dục – đào tạo là một biện pháp quan trọng để xây dựng con người. Giáo dục là
quá trình đào tạo, rèn luyện con người để con người trở thành người lao động, người công dân có
đủ năng lực làm chủ – những con người phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh vạch rõ: “Hiền, dữ
phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Các cháu mẫu giáo, tiểu học như tờ giấy
trắng. Chúng ta vẽ xanh thì xanh, vẽ đỏ thì đỏ. Nói như vậy để thấy giáo dục rất quan trọng trong
việc xây dựng con người. Cùng với quá trình đào tạo là quá trình tự đào tạo của người học, phải tự học suốt đời.
– Chú trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chủng. Thông qua các phong
trào cách mạng như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt” để rèn luyện, xây dựng con người.
Theo Hồ Chí Minh, phát động phong trào thi đua yêu nước để thông qua phong trào thi đua, con
người được thử thách, rèn luyện từ đó mà hình thành những phẩm chất tốt đẹp, trở thành người
tốt. Để mỗi người tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Đặc biệt phải dựa
vào quần chúng theo quan điểm “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.
2. Nội dung cơ bản TTHCM về vấn đề độc lập dân tộc.
1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc:
- Xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm là
truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền
thống độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Người
khẳng định rõ: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi
muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
- Nhân cơ hội các nước đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội
nghị ở Vécxây (Pháp) năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Hồ Chí
Minh đã gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, để đòi quyền bình đẳng về mặt
pháp lí và đòi các quyền tự do, dân chủ. Đây là lần đầu tiên xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền bình đẳng và tự do của các dân tộc thuộc địa.
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, kế thừa và phát triển những quyền tự do,
bình đẳng và quyền con người trong bản Tuyên ngôn Độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776,
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ: Trong thời đại ngày nay, độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất
cả các dân tộc. Trong bản tuyên ngôn Độc lập 1945, Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc
lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ
vững quyền tự do và độc lập
– Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người khẳng định rõ quyết
tâm sắt đá, bảo vệ nền độc lập dân tộc – giá trị thiêng liêng mà nhân dân Việt Nam mới giành lại
được: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
– Năm 1965, trong thời điểm chiến tranh gay go, ác liệt nhất, Hồ Chí Minh đã nêu ra một
chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Với tư tưởng lớn đó, nhân dân
Việt Nam đã anh dũng chiến đấu và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, buộc chúng phải kí kết
Hiệp định Pari, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân Mỹ về nước.
2. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân:
– Tiêu ngữ Hồ Chí Minh đặt cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là “Độc lập – Tự do – Hạnh
phúc”. Từ đó, “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đã trở thành mục tiêu và động lực to lớn của cách
mạng Việt Nam. Nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân,
Người đã khẳng định: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”.
– Vì độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc cho nhân dân, nên Người đã khẳng định một
cách hết sức tâm huyết rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành”.
3. Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để
Trong khi vạch trần chính sách mị dân, gieo rắc chiêu bài “độc lập, tự do” giả hiệu hòng lừa bịp
nhân dân ta của thực dân, đế quốc, Hồ Chí Minh khẳng định: độc lập dân tộc phải là độc lập thật
sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao. Người
nhấn mạnh: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt
Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy... Dù phải kháng chiến 5 năm, 10
năm, hay là lâu hơn nữa, để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và
hạnh phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng”.
4. Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ:
- Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, Việt Nam luôn bị kẻ thù chia cắt đất nước. Thực
dân Pháp đã từng chia nước ta ra thành ba kì, mỗi kì có chế độ cai trị riêng. Sau Cách mạng
tháng Tám, thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai và lại đặt ra cái gọi là “Nam Kỷ tự trị”
hòng chia cắt nước ta một lần nữa. Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ:
“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó
không bao giờ thay đổi”.
− Từ năm 1954, đế quốc Mỹ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và chia cắt lâu
dài nước ta thành hai miền Nam Bắc. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân
tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”. Trong Di chúc, Người đã khẳng định niềm
tin mãnh liệt vào thắng lợi cách mạng và sự thống nhất nước nhà. Đó là: “Dù khó khăn gian khổ
đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước
ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”.
Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc rất toàn diện. Độc lập, tự do là quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc; Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh
phúc của nhân dân; Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để; Độc lập
dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đó là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng Hồ Chí Minh.
* Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc vẫn là kim chỉ Nam của Đảng trong việc
tăng cường quốc phòng, an ninh và triển khai hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm:
- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam.
- Bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của
luật pháp quốc tế. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế.
3. Vận dụng TTHCM về Nhà nước Việt Nam trong công tác xây dựng Việt Nam hiện nay.
1. Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh
- Phải đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn. Đường lối, chủ trương phải dựa trên nền
tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải vận dụng và phát triển sáng tạo phù
hợp với hoàn cảnh của đất nước từng giai đoạn, từng thời kì.
- Phải tổ chức thực hiện thật tốt đường lối, chủ trương của Đảng. Phải thể chế hoá và
phải biến thành hành động tích cực nhất của tất cả các tổ chức của hệ thống chính trị, trong đó
đặc biệt quan trọng là thực thi và phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng
viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chiến lược. Hơn nữa, người đứng đầu phải nêu cao trách
nhiệm làm gương tốt để mọi người noi theo.
- Phải chú trọng hơn nữa công tác chỉnh đốn Đảng. Sự nghiệp cách mạng nói chung và
sự nghiệp đổi mới đất nước có thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự trong sạch,
vững mạnh của bản thân Đảng. Thường xuyên chỉnh đốn nội bộ để Đảng xứng đáng là người
cầm quyền, để đảng viên luôn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân. Phải làm cho Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh”. Phải quán triệt sâu sắc
hơn nữa trong Đảng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thống nhất giữa nói và làm.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để Đảng sử dụng và phát huy tốt quyền lực do dân giao
phó nhằm phục vụ sự phát triển của dân tộc, đưa đất nước tiến những bước vững chắc lên chủ
nghĩa xã hội, làm cho đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc như
tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra trong các văn bản
chính thức của Nhà nước ta (1945). Từ đó, “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đã trở thành mục
tiêu, động lực của cách mạng Việt Nam. Những sinh viên đang là đảng viên của Đảng cần chú
trọng thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chủ trương, điều lệ Đảng, phải là công dân gương mẫu và là sinh viên tốt.
Những sinh viên chưa là đảng viên cần nghiên cứu, học tập thật tốt tư tưởng Hồ Chí
Minh, phấn đấu trở thành đảng viên hoặc người tích cực ủng hộ Đảng, góp phần đưa nước nhà
sánh vai với các cường quốc năm châu, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong Thư gửi học sinh nhân
ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,tháng 9-1945.
2. Xây dựng Nhà nước
- Phải xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh việc hoàn thiện
pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà
nước; bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lí xã hội, vừa là công cụ để nhân dân
làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lí đất nước theo pháp luật, đồng thời coi
trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tồn trọng, bảo
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.
- Phải xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ
chế kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách
nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm
soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. -
Chủ trương công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Đảng phải tập trung
lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách
về cản bộ, công chức. Đẩy mạnh dân chủ hoá công tác cán bộ, quy định rõ trách
nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ,
năng lực chuyên môn phù hợp để thực thi đầy đủ trách nhiệm công vụ, đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn mới. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ
sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lí. Hoàn
thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công
vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến
khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công
vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực,
hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế,
chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài.
Kiên quyết hơn nữa trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và
trong đội ngũ cán bộ, công chức.
- Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Tiếp tục nâng
cao hiệu quả thực hiện và đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước. Đàng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh
đạo thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách,
pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực,
lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp
luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính
và cải cách tư pháp; các tổ chức của Đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ
pháp luật. Bản chất, tính chất của Nhà nước gắn liền với vai trò, trách nhiệm của
Đảng cầm quyền, do đó, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng là yếu tố quyết định
sự thành công của việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Quan điểm HCM về vai trò, sức mạnh của đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. Theo Hồ Chí Minh thì đối
với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người từng viết: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
Vì sao đạo đức cách mạng lại là gốc, nền tảng và ngọn nguồn sức mạnh của người cách mạng?
Có nhiều lý do, song Hồ Chí Minh thường nhắc tới ba lý do cơ bản sau:
- Sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp cách mạng to lớn, rất
khó khăn, chưa từng có trong lịch sử, hoàn thành nó đòi hỏi không phải một mà nhiều thế hệ tận
trung với nước tận hiếu với dân.
- Kẻ thù của cách mạng Việt Nam luôn là những tên phong kiến thực dân đế quốc gian ác mất
nhân tính, chúng ta không hy vọng vào lòng tốt, “sự rủ lòng thương” của chúng để có độc lập
cho Tổ quốc và tự do, hạnh phúc cho con người. Để đạt được mục tiêu ấy, chi bằng con đường
đấu tranh kiên cường, bằng chiến đấu giành lấy, bằng sự hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu
làm nô lệ, khi đó mỗi người phải nêu cao đạo đức cách mạng.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng và khoa học. Đến với nó đòi hỏi mỗi người phải có
quyết tâm cách mạng và tri thức khoa học, có cái tâm trong sáng và cái đức cao đẹp. Đặc biệt, để
hiện thực nó trong cuộc sống càng đòi hỏi người cách mạng không những có tâm sáng, đức cao
thượng mà còn cần có cái trí mẫn tuệ và chỉ khi có cái đức thì mới đi đến được cái trí. Cái đức là
cái bảo đảm cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã tin, đã hiểu và đang
theo. Hồ Chí Minh không chỉ đòi hỏi mỗi người vừa hồng vừa chuyên mà cả Đảng phải “ là đạo đức, là văn minh’'.
Nhờ những người cách mạng có và giữ vững đạo đức cách mạng, chèo lái con thuyền cách mạng
Việt Nam, đã đưa dân tộc ta thoát khỏi ách áp bức ngoại bang, đang thoát đói giảm nghèo vươn
lên tiến kịp các nước để sánh vai với các cường quốc năm châu như Hồ Chí Minh mong đợi.
5. Quan điểm HCM về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới.
1. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
– Nói đi đôi với làm là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong xây dựng nền đạo đức mới. Đối lập
hoàn toàn với thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, nói nhiều làm ít, thậm chí nói mà không làm.
– Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hoá phương Đông. Hồ Chí Minh
đòi hỏi cán bộ, đảng viên: “Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và
khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn
hoá”. Lời nói đi đôi với việc làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức.
– Lời nói đi đôi với việc làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các
dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn
một trăm bài diễn văn tuyên truyền”?. Hồ Chí Minh chính là tấm gương sáng trong nói đi đôi với
làm và nêu gương đạo đức đã trở thành tấm gương đạo đức lớn nhất cho muôn đời con cháu noi theo.
2. Xây đi đôi với chống
Hồ Chí Minh khẳng định, nguyên tắc xây đi đối với chống là đòi hỏi của nền đạo đức mới, thể
hiện tính nhân đạo chiến đấu vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng.
– Xây tức là xây dựng các giá trị, các chuẩn mực đạo đức mới; khơi dậy được ý thức đạo đức
lành mạnh ở mỗi người.
– Chống lại cái sai, cái xấu, các hành vi vô đạo đức, các biểu hiện suy thoái đạo đức trong cuộc
sống hằng ngày; chống chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen, tập quán lạc hậu, loại trừ chủ
nghĩa cá nhân. Trong bài Chống quan liêu, tham ô, lãng phi (1952), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan
liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.
- Phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Trong đời sống hằng ngày, những hiện tượng tốt –
xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức thường đan xen nhau, đối chọi nhau thông qua
hành vi của những con người khác nhau, thậm chí trong mỗi con người. Vì vậy, xây và chống
trong đạo đức không đơn giản. Xây phải đi đối với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm
mục đích xây, lấy xây làm chính.
3. Tu dưỡng đạo đức suốt đời
Theo Hồ Chí Minh, tu dưỡng đạo đức như một cuộc cách mạng trường kì, gian khổ. Một nền đạo
đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của mỗi người.
– Mỗi người tự nhận thấy sâu sắc việc trau dồi đạo đức cách mạng là một việc phải kiên trì,
thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời. Người nêu rõ: “Chính tâm tu thân tức là cải tạo. Cải
tạo cũng phải trường kì gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong bản thân của mỗi người.
Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người cũ để trở thành con
người mới không phải là một việc dễ dàng... Dù khó hãn gian khổ, nhưng muốn cải tạo thì nhất định thành công”.
- Rèn luyện đạo đức là một việc làm tự giác thông qua các hoạt động thực tiễn, trong công việc,
trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải
thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình
để khắc phục. Người tổng kết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu
tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong”
Tu dưỡng đạo đức phải gắn với thực tiễn cách mạng, mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Phải coi
đó là niềm tự hào của mỗi người, phải thấy việc trau dồi đạo đức cách mạng là một việc “sung
sướng, vẻ vang nhất trên đời”.
6. Quan điểm HCM về quy luật ra đời của ĐCSVN.
1.Bối cảnh Lịch Sử
- Từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, cách mạng VN rơi vào khủng hoảng, 1858 Pháp tấn công
VN, triều đình nhà Nguyễn dần thua cuộc ký nhiều ước, Pháp tiến hành công cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ I, nhiều phong trào yêu nước diễn ra như: Phong trào Cần Vương của Hàm
Nghi; Đông Du của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu;v..v. Năm 1911, Hồ Chí Minh ra đi tìm
đường cứu nước, đi nhiều nơi quan sát, tìm tòi và đến 1920 Bác đọc được luận cương của Lênin
lần đầu tiếp cận chủ nghĩa xã hội. Sau đó, Bác tham gia Đảng Cộng Sản Pháp, đến năm 1925 thì
thành lập Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên, đào tạo rồi về nước truyền bá chủ nghĩa Lênin
để chuẩn bị cho phong trào cách mạng. Việt Nam lần lượt xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông
Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn, song lại
hoạt động riêng lẻ gây cản trở cho cách mạng. Đứng trước tình hình đó, Hồ Chí Minh đã thống
nhất cả ba tổ chức thành Đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1930 để lãnh đạo cách mạng.
(Các đ/c nào giỏi Sử có thể chém thêm cho hay)
2.Quy luật ra đời của ĐCS
- Khi đề cập các yếu tố cho sự ra đời của Đảng Cộng sản, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước
Nga và của phong trào công nhân Châu Âu, Lênin nêu lên hai yếu tố, đó là sự kết hợp chủ nghĩa
Mác với phong trào công nhân. Tuy nhiên khi đề cập sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hồ Chí Minh còn kể đến yếu tố thứ ba, đó là phong trào yêu nước. Đây chính là một quan điểm
quan trọng của Hồ Chí Minh về sự hình thành Đảng cộng sản Việt Nam, là sự phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam 3.Quy luật
- Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam và
đối với quá trình hình thành Đảng cộng sản Việt Nam. Người cũng đánh giá cao vị trí, vai trò
lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam với các đặc điểm là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ
chức, có kỷ luật. Giai cấp tiên tiến nhất trong sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ tư bản và đế
quốc để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần tư tưởng cách mạng
nhất tức là chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục
các tầng lớp khác. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, sở dĩ giai cấp công nhân Việt Nam giữ vai trò lãnh
đạo cách mạng Việt Nam còn là vì: giai cấp công nhân có chủ nghĩa Mác– Lênin. Đảng đề ra chủ
trương, đường lối, khẩu hiệu cách mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh,
bồi dưỡng họ thành những phần tử tiên tiến 4.Điểm sáng tạo
- Hồ Chí Minh nêu thêm yếu tố phong trào yêu nước, coi nó là một trong ba yếu tố kết hợp dẫn
đến việc hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam vì những lý do sau đây.
+ Phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
+ Phong trào công nhân kết hợp được với phong trào yêu nước vì hai phong trào đó đều có mục tiêu chung.
+ Phong trào nông dân kết hợp với phong trào công nhân.
+ Phong trào yêu nước của trí thức Việt Nam là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự kết hợp các yếu
tố cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
7. Quan điểm Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước. Liên hệ với thời kỳ đổi mới.
Phương pháp kiểm soát QLNN trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiê ‹n ở những nô ‹i dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sử dụng “pháp luâ Kt của nhân dân” trong viê Kc thực hiê Kn kiểm soát QLNN
Sử dụng pháp luâ ‹t trong viê ‹c thực hiê ‹n kiểm soát QLNN có vai trò cực kỳ quan trọng. Ngay từ
khi đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của pháp luâ ‹t và nhấn mạnh điều
đó bằng mô ‹t câu thơ rất cô đọng trong “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới trưởng
đoàn các nước tham dự Hô ‹i nghị Véc-xây năm 1919: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.
Vào lúc bấy giờ, Người đã nhâ ‹n thức rõ rằng, Nhà nước tư sản cũng là Nhà nước pháp quyền
nhưng pháp luâ ‹t trong Nhà nước đó chủ yếu vẫn do những người đại diê ‹n của giai cấp tư sản xây
dựng nên, chủ yếu bảo vê ‹ lợi ích của giai cấp tư sản mà chưa nhằm bảo vê ‹ lợi ích của đông đảo
nhân dân lao đô ‹ng. Chính vì vâ ‹y, sau này khi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, thực
hiê ‹n xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, Người cho rằng, phải xây dựng pháp luâ ‹t
làm sao bảo đảm thực sự là của nhân dân, bảo vê ‹ lợi ích của nhân dân, và do vâ ‹y phải do nhân
dân xây dựng nên. Người chỉ rõ: “Phép luâ ‹t là phép luâ ‹t của nhân dân, dùng để ngăn cản những
hành đô ‹ng có hại cho nhân dân, để bảo vê ‹ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”.
Theo Hồ Chí Minh, để pháp luâ ‹t thực sự là của nhân dân thì nhân dân cần được trực tiếp tham
gia xây dựng, hay được “phúc quyết về Hiến pháp và những viê ‹c quan hê ‹ đến vâ ‹n mê ‹nh quốc
gia”. Điều đó có nghĩa, nhân dân phải được tham gia đóng góp ý kiến, quyết định đối với các văn
bản pháp luâ ‹t, quyết định đối với những vấn đề hê ‹ trọng của đất nước.
Để thực hiê ‹n kiểm soát QLNN bằng pháp luâ ‹t, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu huy đô ‹ng tài
năng, sáng kiến của nhân dân vào xây dựng pháp luâ ‹t mà còn nhấn mạnh đến viê ‹c thực thi pháp luâ ‹t.
Thứ hai, kiểm soát QLNN tM bên trong Nhà nước
Kế thừa tư tưởng tiến bô ‹ của các nhà lâ ‹p hiến trên thế giới, cũng như vâ ‹n dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin về tổ chức QLNN, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất rõ phương pháp kiểm soát
QLNN từ bên trong Nhà nước. Ở bản Hiến pháp năm 1946, Người đã đưa ra ý tưởng ban đầu về.
sự phân công và có sự kiểm soát giữa các cơ quan cao nhất của QLNN.Trong bản Hiến pháp này,
Hồ Chí Minh đã áp dụng những nguyên lý cơ bản của thuyết phân quyền ở khía cạnh kỹ thuâ ‹t
trong viê ‹c tổ chức thực hiê ‹n QLNN. Trong cơ cấu quyền lực gồm các quyền: Lâ ‹p pháp, hành
pháp và tư pháp; mỗi nhánh quyền lực do mô ‹t loại thiết chế Nhà nước thực hiê ‹n. Hiến pháp năm
1946 đã bảo đảm được tính đô ‹c lâ ‹p của quyền lâ ‹p pháp, hành pháp và tư pháp; đã khẳng định có
tính nguyên tắc là các cơ quan Quốc hô ‹i, Chính phủ và Tòa án đều là những cơ quan cao nhất
của QLNN, mỗi cơ quan Nhà nước nắm mô ‹t bô ‹ phâ ‹n QLNN. Chính những quy định này đã thể
hiê ‹n sự phân công lao đô ‹ng quyền lực giữa các cơ quan cao nhất của QLNN khá rạch ròi, đồng
thời bảo đảm được sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan đó.
Đồng thời với phương pháp kiểm soát giữa các cơ quan QLNN cao nhất, Hồ Chí Minh còn đề
câ ‹p nhiều đến vai trò của cơ quan chuyên trách của Nhà nước trong viê ‹c kiểm soát. Đó là các
Ban Thanh tra trong bô ‹ máy Nhà nước. Không những thế, Người còn nhấn mạnh đến tính đô ‹c
lâ ‹p của các Ban Thanh tra này. Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ có nhiê ‹m vụ “thanh tra
viê ‹c thực hiê ‹n kế hoạch Nhà nước, viê ‹c sử dụng, bảo quản tài sản Nhà nước, chống phá hoại, tham ô và lãng phí”.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, công tác thanh tra, kiểm tra, đă ‹c biê ‹t là sự đô ‹c lâ ‹p trong tổ
chức và hoạt đô ‹ng của các cơ quan này đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác phòng,
chống bê ‹nh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí cũng như các hành vi vi phạm khác trong hoạt đô ‹ng
quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong thực thi công vụ của cán bô ‹, viên chức Nhà nước.
Thứ ba, kiểm soát QLNN tM bên ngoài Nhà nước
Phương pháp kiểm soát QLNN từ bên ngoài Nhà nước được thể hiê ‹n ở viê ‹c nhân dân trực tiếp
hoă ‹c gián tiếp kiểm soát thông qua các hình thức như bầu cử, phê bình…; thông qua các tổ chức
chính trị - xã hô ‹i, tổ chức xã hô ‹i, đă ‹c biê ‹t là qua các phương tiê ‹n truyền thông, báo chí.
Trong các hình thức nhân dân kiểm soát quyền lực thì hình thức bầu cử giữ vai trò quan trọng.
Đây được coi là “mô ‹t hình thức hợp lý để nhân dân lao đô ‹ng thực hành quyền thống trị của
mình”, vừa là hình thức kiểm soát các cơ quan quyền lực trong thời kỳ chuyển giao. Theo Hồ
Chí Minh, để bảo đảm nguyên tắc tất cả QLNN thuô ‹c về nhân dân, điều cần thiết hàng đầu là cơ
quan QLNN phải được nhân dân bầu ra mô ‹t cách tiến bô ‹ và dân chủ. Bầu cử không chỉ là biê ‹n
pháp dân chủ để thành lâ ‹p ra Nhà nước mà còn là mô ‹t phương thức để kiểm soát QLNN
Bầu cử dân chủ là phương thức buô ‹c người trúng cử phải có trách nhiê ‹m với nhân dân bầu ra
mình, là phương thức để các công dân kiểm soát QLNN mà mình ủy thác ra. Ngoài hình thức
bầu cử, nhân dân còn kiểm soát QLNN thông qua viê ‹c sử dụng “quyền bãi miễn” đại biểu mà
mình đã bầu ra nhưng không làm tròn trách nhiê ‹m được giao. Bãi miễn hay miễn nhiê ‹m đối với
người đại diê ‹n, đại biểu là mô ‹t chế định pháp lý thể hiê ‹n tính chất dân chủ của Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân.
Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát QLNN còn được thông qua viê ‹c tham gia hay “phúc
quyết” của người dân đối với những vấn đề hê ‹ trọng của đất nước.
Cùng với các hình thức kiểm soát trên, viê ‹c góp ý, “phê bình”, “bày tỏ ý kiến” hay khiếu nại, tố
cáo… của nhân dân đối với cán bô ‹ trong bô ‹ máy Nhà nước cũng là những hình thức quan trọng
để kiểm soát QLNN. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… phê bình và bày tỏ ý kiến… đó là những cách
quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo”; “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán
bô ‹ và tổ chức của ta”.
Viê ‹c bầu cử, miễm nhiê ‹m, phê bình, khiếu nại, tố cáo của nhân dân trong kiểm soát QLNN có
vai trò quan trọng, vì vâ ‹y Hồ Chí Minh luôn khuyến khích nhân dân góp ý, phê bình đối với các cơ quan QLNN
Thứ tư, kiểm soát QLNN của Đảng
Phương pháp kiểm soát QLNN của Đảng được coi là phương pháp có sự kết hợp giữa kiểm soát
từ bên trong Nhà nước và kiểm soát từ bên ngoài Nhà nước. Phương pháp này trước hết được thể
hiê ‹n ở viê ‹c thiết lâ ‹p mô ‹t thể chế “cầm quyền” của Đảng mô ‹t cách hợp lý, đáp ứng được mục tiêu
chính trị của Đảng là xây dựng mô ‹t Nhà nước mà quyền lực của nó đều thuô ‹c về nhân dân. Điều
đó được thể hiê ‹n rõ qua mô hình “Đảng cầm quyền” mà Hồ Chí Minh đã đề câ ‹p ở mô ‹t mức đô ‹
nhất định trong bản Hiến pháp năm 1946.
Với tư cách là người đứng đầu của Đảng khi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Hồ
Chí Minh đã áp dụng phương thức cầm quyền của Đảng theo mô hình thông dụng, phổ biến trên
thế giới: “Đảng cầm quyền”. Đảng cầm quyền tức là Đảng đã thực hiê ‹n kiểm soát QLNN, bảo
đảm cho quyền lực đó mới đúng là quyền lực của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Đảng
cầm quyền tức là Đảng phải chịu trách nhiê ‹m trước nhân dân về các mă ‹t hoạt đô ‹ng của Nhà
nước; Nhà nước mạnh tức là Đảng mạnh. Đảng cầm quyền thì QLNN mới có thể bảo đảm thực
sự là quyền lực của nhân dân, thực sự vì lợi ích của nhân dân.
Người còn chỉ rõ rằng, để giữ địa vị lãnh đạo trong xã hô ‹i và vị thế là Đảng cầm quyền, Đảng
cần thường xuyên giáo dục, xây dựng đô ‹i ngũ cán bô ‹ đảng viên của Đảng có năng lực về chuyên
môn, về công tác lãnh đạo, quản lý; có phẩm chất đạo đức, uy tín cao để sẵn sàng ứng cử vào giữ
các cương vị chủ chốt trong bô ‹ máy Nhà nước các cấp. Những đảng viên đang hoạt đô ‹ng trong
bô ‹ máy Nhà nước đều phải sinh hoạt trong các tổ chức của Đảng, chịu sự kiểm tra, giám sát của
Đảng nhằm để làm tốt trách nhiê ‹m của mình là những “người đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Viê ‹c Đảng kiểm tra, giám sát, làm trong sạch đô ‹i ngũ đảng viên đang giữ những vị trí chủ chốt
của các cơ quan QLNN tức là Đảng đã thực hiê ‹n sự kiểm soát QLNN. Điều đó cho thấy, nếu
Đảng có tính tổ chức kỷ luâ ‹t càng cao thì viê ‹c kiểm soát của Đảng đối với các đảng viên trong
các cơ quan của bô ‹ máy Nhà nước càng có hiê ‹u quả. Chính vì điều đó mà Hồ Chí Minh thường
xuyên quan tâm đến chất lượng sinh hoạt Đảng, bảo đảm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của
Đảng. Người đã phê bình nghiêm khắc các tê ‹ lạm dụng quyền lực của các đảng viên với tư cách
là những người có chức quyền trong bô ‹ máy Nhà nước.
Công tác kiểm tra của Đảng cầm quyền bao gồm các hoạt đô ‹ng chủ yếu, như: Kiểm tra, thanh
tra, giám sát viê ‹c chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, viê ‹c thực hiê ‹n nguyên tắc tổ chức
sinh hoạt, giữ gìn kỷ luâ ‹t của Đảng. Trong điều kiê ‹n mô ‹t Đảng duy nhất cầm quyền, công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng là đă ‹c biê ‹t quan trọng. Công tác kiểm tra được Hồ Chí Minh ví như
“ngọn đèn pha” giúp cho viê ‹c lãnh đạo và cầm quyền đúng đắn. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới
huy đô ‹ng được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và
khuyết điểm của cán bô ‹, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.
8. Quan điểm Hồ Chí Minh về cách mạng trước hết phải có ĐCS lãnh đạo.
1. Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do
Đảng Cộng sản lãnh đạo.
- Học thuyết Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chỉ rõ: Cần có Đảng
Cộng sản lãnh đạo để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Hồ Chí Minh đã
vận dụng sáng tạo lí luận Mác – Lênin để thành lập Đảng, và khẳng định cách mạng giải phóng
dân tộc Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
– Trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), Người giải thích: Cách mệnh trước phải làm
cho dân giác ngộ, phải giảng giải lí luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải hiểu phong trào thế
giới, phải bày sách lược cho dân. Sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng
cách mệnh lãnh đạo. “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách
mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. -
Tổng kết kinh nghiệm thành công của Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống
Pháp, thực tiễn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ:
“Cần có sự lãnh đạo của một đảng cáchchính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ
nhân dân. Chỉ có của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều
kiện thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách
mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy
liên minh công – nông – trí làm nền tảng
- Chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định rằng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân; quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Không có sự đồng tình ủng hộ của đại
đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách
mạng vô sản không thể thực hiện được.
- Kế thừa và phát triển sáng tạo lí luận Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân,
Hồ Chí Minh khẳng định: Có dân là có tất cả, trên đời này không gì quý bằng dân, được lòng dân
thì được tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả. Cách mạng việc chung cả dân chúng chứ không phải
việc một hai người. Tất cả sĩ, nông, công,thương đều có thể tham gia cách mạng giải phóng dân tộc.
– Năm 1930, trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác định lực lượng cách
mạng bao gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợp đại bộ
phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng; liên lạc với tiểu tư sản, trí
thức, trung nông, để lôi kéo họ về phía vô sản giai cấp; còn đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ
và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập.
– Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng phải thực
hiện được việc đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức – hình thức tổ chức để đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất.
9. Liên hệ Đảng CSVN xây dựng NN của dân, do dân, vì dân
Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì
dân". Nhà nước dân chủ là nhà nước do dân là chủ và làm chủ. Dân chủ phải được thực hiện trên
mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội. - Nhà nước của dân:
+ Tất cả mọi quyền lực trong Nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân.
+ Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát và quyết định các công việc của Nhà nước. Nhân
dân có quyền bãi nhiệm những đại biểu không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
+ Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm là dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ tức là xác
định vị thế của dân, dân làm chủ là xác định quyền và nghĩa vụ của dân.
+ Trong Nhà nước người dân được hưởng mọi quyền dân chủ nghĩa là có quyền làm bất
cứ điều gì trong phạm vi pháp luật cho phép - Nhà nước do dân:
+ Nhà nước do nhân dân làm chủ, nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình.
+ Nhà nước do nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu hoạt động.
+ Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả phải dựa vào dân;
"Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân..." - Nhà nước vì dân:
+ Là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc
quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong Nhà nước, mọi chủ trương chính
sách, mọi quy định của pháp luật, pháp lệnh đều phải xuất phát từ lợi ích của dân.
+ Phải kết hợp hài hòa cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; cả lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
+ Trong quan hệ giữa Chính phủ với nhân dân, Hồ Chí Minh xác định: dân là chủ, Chính
phủ vừa là đầy tớ, vừa là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân.
10. TTHCM về sự ra đời của ĐCSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là chính đảng duy nhất được phép hoạt
động tại Việt Nam theo Hiến pháp.
Trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng
trước hết phải có “đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc
với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công,
cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Khẳng định đảng cộng sản “như người cầm
lái” cho con thuyền là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam trong suốt cả quá trình cách mạng, cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
và cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là
một tất yếu, vai trò lãnh đạo của Đảng cũng là một tất yếu – điều đó xuất phát từ yêu cầu phát
triển của dân tộc Việt Nam. Thực tế quá trình cách mạng Việt Nam vận dụng và phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh đã nói lên rằng, sự bảo đảm, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong suốt tiến trình phát triển của đất nước theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội là một
nguyên tắc vận hành của xã hội Việt Nam từ khi có Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là một đảng chính trị tồn
tại và phát triển theo những quan điểm của V.I. Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Hồ
Chí Minh là người trung thành với học thuyết Mác - Lênin, trong đó có lý luận của VILênin về
đăng kiểu mới của giai cấp vô sản, đồng thời vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận đó vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam. Trên thế giới, nói chung, sự ra đời của một đảng cộng sản là sản phẩm
của sự kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Còn đối với Việt Nam, Hồ
Chí Minh cho rằng: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Như vậy, so với học thuyết Mác
- Lênin thì Hồ Chí Minh đưa thêm vào yếu tố thứ ba nữa, đó là phong trào yêu nước.
Quan điểm của Hồ Chí Minh trên đây là hoàn toàn phù hợp với xã hội thuộc địa và phong
kiến như Việt Nam, khi mọi giai cấp, tầng lớp, trừ tư sản mại bản và đại địa chủ, còn đều có mâu
thuẫn dân tộc. Đó là mâu thuẫn cơ bản giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với các thế lực đế quốc
và tay sai. Trong thực tế, những phong trào đấu tranh của công nhân đã kết hợp được rất nhuần
nhuyễn với phong trào yêu nước, Một số người Việt Nam yêu nước lúc đầu đi theo xu hướng dân
chủ tư sản, nhưng qua thực tế được sự tác động của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã dần dần tiến theo
xu hướng cộng sản, rõ nhất là từ năm 1925 trở đi. Hàng loạt tổ chức yêu nước ra đời, trong đó
nổi rõ nhất là tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên do Hồ Chí Minh lập ra. Đầu tranh
giai cấp quyền chặt với đấu tranh dân tộc. Thật khó mà tách bạch mục tiêu cơ bản giữa các
phong trào đó, tuy lực lượng, phương thức, khẩu hiệu đấu tranh có khác nhau, nhưng mục tiêu
chung là: Giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển
chính là do nhu cầu tất yếu của xã hội Việt Nam từ đầu năm 1930 trở đi, Đảng đã được toàn dân
tộc trao cho sứ mệnh lãnh đạo đất nước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước hết phải khẳng định rằng Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin
cơ sở tư tưởng của phong trào công nhân như là . Người vai trò của cũng nhận thức rõ
phong trào công nhân như là cơ
sở xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. Không có chủ nghĩa
Mác - Lênin thì phong trào công nhân chỉ dừng lại ở trình độ “tự phát”. Không có phong trào
công nhân thì chủ nghĩa Mác - Lênin không có đất để bám rễ.
Và Hồ Chí Minh lại nêu thêm yếu tố mới là phong trào yêu nước, kết hợp với phong trào
công nhân. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam phải có thêm yếu tố mới là phong trào yêu
nước, vì phong trào yêu nước là một yếu tố trường tồn trong lịch sử có trước phong trào công
nhân, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc. Phong trào yêu nước bàn tới
ở đây không phải tất cả mọi loại hình mà chỉ là những phong trào yêu nước theo khuynh hướng
cách mạng vô sản, tức là các phong trào yêu nước triệt để. Các loại phong trào yêu nước triệt để đó có thể được với kết hợp
phong trào công nhân vì mấy lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cả phong trào công nhân và phong trào yêu nước trong điều kiện một nước thuộc
địa đều có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, đưa đất nước phát
triển theo con đường phồn vinh, hạnh phúc. Nhưng dưới ách áp bức của thực dân Pháp thì
trước hết đất nước phải giành được độc lập dân tộc. Không có độc lập dân tộc không có gì hết.
Thứ hai, trong phong trào yêu nước, lực lượng nông dân chiếm phần lớn. Mà nông dân
Việt Nam lại có quan hệ tự nhiên với giai cấp công nhân (nông dân mất ruộng trở thành công
nhân và công nhân mất việc trở thành nông dân). Vì vậy, phong trào nông dân có khả năng kết
hợp với phong trào công nhân.
Thứ ba, trong phong trào yêu nước đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng cả về số lượng và vị
trí, vai trò. Đội ngũ trí thức nhờ điều kiện làm việc đặc thù nên rất nhanh nhạy với thời cuộc, dễ
tiếp thu cái mới. Vì vậy, họ thường là “ngòi nổ" của các phong trào chống Pháp. Họ đưa lý luận
cách mạng vào phong trào công nhân, làm cho phong trào công nhân chuyển dần từ “tự phát” sang “tự giác”. * MỞ BÀI :
Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạngViệt
Nam, được tổ chức UNESCO công nhận hai danh hiệu: Anh hùng giải phóng dân tộc và
danh nhân văn hóa thế giới. Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về đạo đức và thực
hành đạo đức. Suốt cả cuộc đời mình, Người luôn một lòng vì dân, vì nước, đấu tranh
không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong kho tàng tri thức quý giá mà
Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, điều có giá trị lớn nhất chính là tư tưởng của
Người. Tư tưởng HCM là hệ thống những luận điểm khoa học rộng lớn, sâu sắc và phong
phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tư tưởng của Người là một kho tàng những
giá trị nhân văn cao cả. Một trong những giá trị quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn đối với
nước ta hiện nay đó là tư tưởng của Người về ………….. * LIÊN HỆ:
Bản thân tôi là một học viên của trường ĐHCSND, qua nghiên cứu, học tập môn tư tưởng Hồ
Chí Minh về ……………, đối với bản thân tôi là một chiến sĩ trẻ trong lực lượng cảnh sát nhân
dân, hơn bao giờ hết càng cần thấm nhuần tư tưởng đạo đức của Người, về nhận thức chính trị,
tư tưởng đều thấm nhuần nhiệm vụ Đảng giao trọng trách bảo vệ Đảng cho lực lượng Công an,
trong công tác và chiến đấu đều xác định lý tưởng tuyệt đối trung thành với Đảng, sẵn sàng hi
sinh vì nước, vì dân. Rèn luyện nhân cách "người Công an cách mạng" theo sáu điều Bác Hồ dạy
CAND, trong môi trường kinh tế, xã hội hiện nay dù có những thuận lợi cơ bản, song sau những
thuận lợi đó là tác động rất nguy hiểm của tiêu cực xã hội, nó luôn đối mặt trực diện với ý chí
tiên phong trong tư tưởng của người cán bộ, đảng viên; vì vậy bản thân phải giữ vững bản lĩnh
kiên cường, dám đối mặt với hiểm nguy, "nhường cơm, sẻ áo" cùng nhân dân khi khó khăn, hoạn
nạn; luôn luôn học hỏi nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ chuyên môn, học lý luận gắn với
liên hệ vào thực tiễn công tác và chiến đấu, học ở trường lớp gắn với học trong thực tiễn với tinh
thần, tư duy, sáng tạo và đổi mới; bản thân luôn nhận thức rõ nhiệm vụ của mình như lời Bác Hồ
dạy: “Nhiệm vụ của Công an thì nhiều, nhưng nói tóm lại là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa”,
là bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống bình
yên, hạnh phúc của nhân dân; “đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ, đồng thời cũng rất vẻ vang”;
trong cuộc sống luôn đề cao tinh thần tiên phong, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ
khó khăn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; thấm nhuần đầy đủ tiêu chuẩn rèn luyện tư
cách đạo đức nói chung và đặc điểm riêng của mỗi vị trí công tác “làm cho dân tin, dân yêu, dân
ủng hộ”. Trong xu thế phát triển ngày càng nhanh của kinh tế - xã hội hiện nay, để giữ vững được
niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với lực lượng CAND thì mỗi người cán bộ, đảng viên
phải hành động thực sự gương mẫu trong cuộc sống, không ngừng rèn luyện đạo đức, tác phong;
phấn đấu xứng đáng với lòng tin và tôn trọng của quần chúng nhân dân. Có như vậy mới lôi cuốn
được quần chúng vào mọi phong trào cách mạng, đúng như ý nghĩa của hình ảnh “cán bộ, đảng
viên đi trước, làng nước theo sau”, nhằm góp phần huy động được sức mạnh của mọi tầng lớp
nhân dân, sức mạnh của cả dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.