TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN
KINH TẾ ĐẦU
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ VÀ
TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI. DỤ
VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC CÂN BẰNG VỐN
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn : ThS Đào Minh Hoàng
Lớp : DTKT1154(222)_02
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 4
1. Quách Thị Thanh Dung – 11211468
2. Nguyễn Thị Châu Anh – 11216503
3. Lưu Thị Ngọc Trâm – 11216619
4. Nguyễn Thái Hà – 11216536
5. Nguyễn Tài Hiệp – 11216541
6. Lê Khang Minh 11216574
7. Tô Khánh Duy – 11216526 HÀ NỘI,
03/2023
LỜI CAM ĐOAN
Nhóm chúng em xin cam đoan bài tập này hoàn toàn do chúng em thực hiện. Các
phần trích dẫn tài liệu sử dụng trong bài tập hoàn toàn trung thực, được trích nguồn
đảm bảo độ chính c cao nhất trong phạm vi hiểu biết của chúng em. Nếu không đúng
như đã nêu trên, chúng em xin chịu trách nhiệm về bài tập của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Nhóm sinh viên thực hiện
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép chúng em xin được cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên trường
Đại học Kinh tế Quốc dân nói chung và các giảng viên thuộc Khoa Đầu nói riêng đã tận
tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn đến ThS Đào Minh Hoàng, người đã trực tiếp
hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thực hiện bài tập. Trong khoảng thời gian được
làm việc với cô, chúng em đã không ngừng học tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình
còn được học tập được tinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất
cần thiết cho chúng em trong quá trình học tập và công tác sau này.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên,
đóng góp ý kiến và giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bài tập này.
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Nhóm sinh viên thực hiện
lOMoARcPSD| 58702377
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................................1
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
NỘI DUNG.......................................................................................................................6
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI.........................6
I. Các khái niệm............................................................................................................6
1. Toàn cầu hóa.............................................................................................................6
2. Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư...........................................................................6
3. Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế.....................................................6
II. Nội dung của toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:..................................................6
1. Các yếu tố dẫn đến toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:...........................................7
2. Hình thức của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:...................................................7
3. Tác động của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:....................................................8
4. Bảo hộ doanh nghiệp địa phương...........................................................................10
CHƯƠNG II: VÍ DỤ VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC CÂN
BẰNG VỐN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG
NƯỚC.............................................................................................................................14
I. Các lĩnh vực nổi bật trong toàn cầu hoá của Singapore.......................................14 II.
Singapore đưc xem là quc gia thành công nht trong khu vực ASEAN v thu ht
FDI ổn đnh và bn vng qua các năm..................................................................19 III.
Chính sách thu ht FDI cho mục tiêu phát triển bn vng của Singapore.........20 IV.
Một s lý do quan trọng mà các nước đã chọn Singapore để đầu tư và phát triển kinh
tế:............................................................................................................................22
V. Chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước của
Singapore.........................23
lOMoARcPSD| 58702377
VI. Chính sách thu ht nguồn nhân lực cht lưng cao của Singapore....................25
VII. Một s bài học kinh nghiệm cho Việt Nam........................................................27
KẾT LUẬN.....................................................................................................................29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................30
lOMoARcPSD| 58702377
MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Tuy nhiên, diễn biến của quá trình
toàn cầu hóa thì rất khó lường. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, số lượng người tham
gia vào nền kinh tế thế giới đã tăng từ khoảng 1 tỷ lên đến 4 5 tỷ người số lượng này
đã làm tăng mạnh lực lượng sản xuất, thiết lập nên các trung tâm sản xuất dịch vụ mới
các nước đang phát triển, đẩy mạnh nhu cầu về năng lượng ng hóa, tạo ra các
hội to lớn để thúc đẩy tiêu dùng. Nhiều quỹ tiết kiệm mới đang cùng các luồng vốn toàn
cầu đổ vào các cơ hội đầu tại cả các thị trường mới nổi và các nền kinh tế phát triển đang
chuyển đổi. Việc chuyển giao kỹ năng, công nghệ, thông tin các kinh nghiệm thực tiễn
đang được xúc tiến mạnh mẽ.
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết
trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ
kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường…) giữa các quốc gia. Theo nghĩa hẹp,
toàn cầu hóa chquá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác phụ
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Đối với các quốc gia, toàn cầu a tác
động tích cực tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế, hội; thúc đẩy
mở cửa thị trường; thúc đẩy tự do hóa thương mại đầu dịch vụ… Tuy nhiên, mặt tiêu
cực là toàn cầu hóa khiến các quốc gia có nguy cơ suy giảm độc lập, tự chủ về kinh tế, suy
giảm về quyền lực quốc gia; các ngành kinh tế trong nước bị cạnh tranh khốc liệt khi mở
cửa thị trường nội địa.
Còn đối với toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu nói riêng, quá trình liên kết tăng
cường các hoạt động đầu tư giữa các quốc gia trên thế giới. Điều này cho phép các nhà đầu
tiếp cận các thị trường tài chính và tiềm năng đầu các nước khác nhau, tạo điều kiện
cho sự phát triển kinh tế toàn cầu. Toàn cầu hóa trong đầu tư đã đóng góp quan trọng vào
sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới, tạo cơ hội cho tăng trưởng kinh tế,
tăng năng suất lao động nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng bên cạnh đó, cũng
mang lại khá nhiều thách thức rủi ro, bao gồm sự không ổn định của thị trường tài chính,
cũng như việc các doanh nghiệp địa phương bị tụt hậu khi các doanh nghiệp nước ngoài
lOMoARcPSD| 58702377
ngày càng đẩy mạnh phát triển đầu tư, từ đó đòi hỏi các quốc gia phải các biện pháp phù
hợp.
Nhận thức rõ tính đúng đắn và cấp thiết của vấn đề này, nhóm chúng em đã quyết định
lựa chọn đề tài: “Quan điểm toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tính cần thiết của
việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài.
Ví dụ về thành công của 1 quốc gia trong việc cân bằng vốn đầu tư quốc tế phát triển
doanh nghiệp trong nước”. Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, do nguồn tài liệu tiếp
cận thể còn nhiều hạn chế nên chúng em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng
em kính mong cô sẽ nhận xét và góp ý thêm những điều chưa đạt để chúng em có thể hoàn
thiện bài nghiên cứu tốt hơn, ng như cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề mình
đang nghiên cứu. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô ạ!
lOMoARcPSD| 58702377
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA
PHƯƠNG TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC
NGOÀI
I. Các khái niệm
1. Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là: một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc
tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống hội: kinh tế, chính trị, an
ninh, văn hóa, môi trường,… giữa các quốc gia.
2. Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư
Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu là: sự hội nhập phụ thuộc lẫn nhau ngày càng
tăng của các thị trường tài chính đầu trên toàn thế giới. liên quan đến việc tăng
cường liên kết giữa các quốc gia thông qua đầu giao dịch tài chính, nơi các doanh
nghiệp nhà đầu thể đầu vào các công ty, tài sản thị trường tài chính các
quốc gia khác nhau.
3. Mi quan hệ gia toàn cầu hóa và đầu tư quc tế
Toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế gắn liền với nhau và tác động qua lại lẫn nhau:
- Đầu quốc tế động lực cho các công ty thực hiện toàn cầu hóa quốc tế để duy
trì lợi ích và nhu cầu duy trì tính cạnh tranh quốc tế.
- Toàn cầu hóa lại buộc các nền kinh tế được kết nối tiếp tục đầu tư vào nhau để bảo
vệ nền kinh tế của họ và thu được lợi nhuận mới.
- Đầu quốc tế tăng lên do kết quả trực tiếp của toàn cầu hóa - điều này kéo thêm
nhiều nền kinh tế tham gia toàn cầu hóa - Tiếp tục làm tăng thêm đầu tư quốc tế
cứ tiếp tục như vậy….
II. Nội dung của toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:
1. Các yếu t dẫn đến toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:
lOMoARcPSD| 58702377
- Tiến bộ công nghệ: Những tiến bộ trong công nghệ thông tin truyền thông đã thúc
đẩy các nhà đầu tư tiếp có cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu dễ dàng và hiệu quả hơn.
Internet đã giúp chuyển tiền nhanh chóng dễ dàng, thu thập thông tin về thị trường
nước ngoài và liên lạc với các nhà đầu tư và doanh nghiệp khác trên khắp thế giới.
- Tự do hóa thương mại: Việc tự do hóa các chính sách thương mại đầu tư, thông qua
việc thiết lập các hiệp định thương mại tự do cắt giảm các rào cản thương mại, đã
tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn xuyên biên giới. Điều này tiếp tục thúc đẩy các
doanh nghiệp tiếp cận các thị trường và cơ hội đầu tư mới, đồng thời tạo ra những con
đường mới cho sự tăng trưởng và lợi nhuận.
- Sự phát triển của thị trường tài chính: Sự phát triển của thị trường tài chính toàn cầu,
bao gồm sự phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu thị trường
phái sinh đã tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư.
- Toàn cầu hóa sản xuất: Toàn cầu hóa sản xuất, trong đó các doanh nghiệp tìm cách
tiếp cận đầu vào và lao động chi phí thấp ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đã dẫn
đến sự gia tăng các dòng vốn đầu tư xuyên biên giới. Khi các doanh nghiệp đầu tư vào
thị trường nước ngoài để tiếp cận các nguồn đầu vào mới hoặc tiếp cận thị trường tiêu
dùng mới, họ cũng tạo ra các cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư.
2. Hình thức của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:
lOMoARcPSD| 58702377
3. Tác động của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:
a. Tác động tích cực:
Với nước đi đầu tư ra quc tế:
- Tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp: Các nước nhận đầu thường là các
nước kém phát triển hơn nên có giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu thấp,
Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư trực tiếp (FDI)
Khái
niệm
Đầu tư gián tiếp là một loại hình di
chuyển vốn giữa các quốc gia, trong
đó người sở hữu vốn không trực tiếp
dụng vốn.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một
loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó
người chủ sở hữu vốn đồng thời là người
trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động
sử dụng vốn.
Bản
cht
Chủ đầu tư không chịu trách nhiệm
trực tiếp về hoạt động đầu tư, mà
hưởng lãi vay hoặc lợi tức cổ phần.
Nhà đầu tư đem vốn (tiền và tài sản
khác) sang nước khác để tiến hành hoạt
động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản
lý cơ sở kinh doanh tại nước đó.
Hình
thức
Đầu tư phiếu khoán (cổ phiếu, trái
phiếu) và hỗ trợ phát triển chính thức
).
(
ODA
Được thực hiện bằng nguồn vốn tư nhân
với mục đích chủ yếu là thu được lợi
nhuận cao hơn thông qua hoạt động sản
xuất kinh doanh ở nước ngoài.
lOMoARcPSD| 58702377
…Từ đó, các nước đầu thể hạ giá thành sản phẩm đầu vào, giảm chi phí vận
chuyển, … nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
- thể kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm mới được tạo ra trong nước: Thông
qua đầu trực tiếp, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần các sản
phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống của chúng sang các nước nhận đầu
tư để tiếp tục sử dụng như sản phẩm mới ở các nước này.
- Tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định: Các nước nhận đầu
các nước đang phát triển thường tài nguyên phong phú, nhưng do hạn chế về
vốn và công nghệ nên chưa được khai thác, tiềm năng còn lớn.
- Bành trướng được sức mạnh về kinh tế nhờ mở rộng được thị trường
- Giải quyết được khó khăn trong quá trình phát triển KTXH: các nước giàu không chỉ
cạnh tranh mà còn liên kết với nhau, dựa vào nhau để phát huy vị thế của mình.
Với nước nhận đầu tư:
- Giải quyết được tình trạng thiếu vốn: Các nước này nhận được 1 nguồn vốn lớn từ các
nước khác đầu tư sang, do vậy có thể phát triển kinh tế xã hội, gia tăng quy mô đầu tư,
đổi mới kỹ thuật.
- Tiếp cận với các công nghệ mới: Nhờ có các quá trình chuyển giao công nghệ từ các
nước đi đầu tư, các quốc gia nhận đầu đã nhận được các kỹ thuật tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý, đội ngũ lao động được đào tạo,….
- Các hoạt động đầu trong nước phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh: Nhờ
đầu nước ngoài, các quốc gia được tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch
cấu kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ,… theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn
các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
b. Tác động tiêu cực:
lOMoARcPSD| 58702377
- Bất ổn kinh tế: Toàn cầu hóa đầu tư có thể dẫn đến bất ổn kinh tế vì các nhà đầu tư có
thể nhanh chóng chuyển khoản đầu của họ từ quốc gia này sang quốc gia khác, tạo
ra sự biến động trên thị trường khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những
sốc bất ngờ.
- Phân phối lợi ích không đồng đều: Lợi ích của toàn cầu hóa đầu tư không được phân
bổ đồng đều. Các nhà đầu tập đoàn giàu xu hướng hưởng lợi nhiều nhất,
trong khi các doanh nghiệp nhỏ hơn và người lao động có thể bị cạnh tranh và mất việc
làm.
- Suy thoái môi trường: Toàn cầu hóa đầu thể dẫn đến suy thoái môi trường khi
các nhà đầu tìm đến các quốc gia quy định môi trường lỏng lẻo chi plao
động thấp hơn, điều này có thể dẫn đến ô nhiễm và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Khủng hoảng tài chính: Toàn cầu hóa đầu tư có thể làm tăng nguy cơ khủng hoảng tài
chính, do các tổ chức tài chính và nhà đầu tư trở nên liên kết với nhau xuyên biên giới,
khiến khủng hoảng ở một quốc gia dễ dàng lan sang các quốc gia khác.
- Cạnh tranh trở nên gay gắt hơn: Nếu một nước lợi thế so sánh tiềm năng trong một
ngành cụ thể sẽ thu hút FDI vào ngành đó à các ngành khác có thể không bao giờ có
hội phát triển.
- Toàn cầu hoá đầu đi cùng với mất đi phần nào đó sự độc lập kinh tế: Các quyết
định chủ yếu có thể ảnh đến nền kinh tế nước chủ nhà sẽ được đưa ra bởi một công ty
mẹ nước ngoài công ty này không cam kết thực tế đối với ớc nhận đầu tư,
và chính phủ nước nhận đầu tư thực tế không kiểm soát được công ty mẹ này.
Vì vậy, các doanh nghiệp trong nước cần phải có những biện pháp thích hợp, đầu tư
đúng đắn để đạt được những lợi ích mà toàn cầu hoá đầu tư mang lại, cũng như hạn chế
được các tác động tiêu cực mà nó gây nên. Tuy nhiên, bản thân các nhà đầu tư và doanh
nghiệp nếu tự mình sẽ khó đạt được các kết quả tốt, vì vậy cần có những sự bảo hộ cần
lOMoARcPSD| 58702377
thiết để giúp các DN và các nhà đầu tư tránh được các rủi ro khi tham gia đầu tư quốc
tế.
4. Bảo hộ doanh nghiệp đa phương
Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài
được xem một vấn đề đầy tranh cãi trong nh vực kinh tế thương mại quốc tế. Một
số người cho rằng việc bảo hộ sẽ giúp bảo vệ các doanh nghiệp địa phương khỏi sự cạnh
tranh không lành mạnh từ các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi những người khác cho
rằng việc này có thể làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương
gây ra mất cân bằng thị trường.
Tuy nhiên, cần thiết đưa ra một số do hỗ trợ cho việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương
trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm:
- Bảo vệ các doanh nghiệp địa phương: Một số ngành công nghiệp và doanh nghiệp địa
phương có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự cạnh tranh không nh mạnh từ các doanh
nghiệp nước ngoài. Trong trường hợp này, việc bảo hộ sẽ giúp bảo vệ các doanh nghiệp
địa phương khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh và giúp họ tăng cường cạnh tranh trên
thị trường.
- Tăng cường sự đồng thuận xã hội: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể giúp
tăng cường sự đồng thuận hội giúp tạo ra sự ổn định cho các doanh nghiệp địa
phương.
- Tạo ra hội phát triển kinh tế: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng thể tạo
ra hội phát triển kinh tế cho các quốc gia đang phát triển bằng cách bảo vệ các doanh
nghiệp địa phương và giúp họ tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Dưới đây là một số lập luận về tính cần thiết của việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương:
- Tạo điều kiện cân bằng trong cạnh tranh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương giúp
tạo ra một sân chơi cạnh tranh cân bằng hơn giữa các doanh nghiệp địa phương
doanh nghiệp ớc ngoài. Trong trường hợp không sự bảo hộ, các doanh nghiệp
nước ngoài thể sử dụng các ưu thế về quy mô, công nghvốn để đánh bại các
lOMoARcPSD| 58702377
doanh nghiệp địa phương, dẫn đến mất cân bằng gây ra sự thiệt hại cho các doanh
nghiệp địa phương.
- Bảo vệ quyền lợi của người lao động: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng giúp
bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp
nước ngoài áp dụng các tiêu chuẩn lao động thấp hơn so với các doanh nghiệp địa
phương.
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng có thể thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, bằng cách bảo vệ hỗ trợ cho các doanh
nghiệp địa phương phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng cần được đưa ra một cách hợp
lý và công bằng để tránh tạo ra sự mất cân bằng trên thị trường và giảm thiểu tác động tiêu
cực đến các doanh nghiệp ớc ngoài. Sau đây những hạn chế tác động tiêu cực của
việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương:
- Giảm sự cạnh tranh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương thể làm giảm sự cạnh
tranh trong thị trường, khiến cho các doanh nghiệp không còn cần phải cạnh tranh với
nhau để nắm giữ thị phần. Điều này có thể làm giảm sự đổi mới và tạo sự khác biệt giữa
các sản phẩm và dịch vụ.
- Giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương thể
làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp
không cần phải cạnh tranh để nắm giữ thị phần. Điều này thể dẫn đến việc các doanh
nghiệp không còn cần thiết phải cải tiến sản phẩm dịch vụ để nâng cao chất lượng
và hiệu suất.
- Tăng giá sản phẩm: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể dẫn đến tăng giá sản
phẩm, khi các doanh nghiệp không còn phải cạnh tranh với nhau để giữ giá cạnh tranh.
Điều này thể làm tăng chi phí cho người tiêu dùng làm suy giảm năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp trên thị trường.
lOMoARcPSD| 58702377
- Gây phản đối và tranh cãi: Bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể gây ra phản đối và
tranh cãi trong cộng đồng kinh tế thương mại quốc tế. Các quốc gia các nhóm
thương mại thể đối đầu với nhau trong các thương thảo đàm phán, dẫn đến sự
căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia.
vậy, việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cần được xem xét kỹ lưỡng để tránh
những tác động tiêu cực này. Các chính sách bảo hộ cần được thiết kế sao cho vừa bảo vệ
quyền lợi các doanh nghiệp địa phương, vừa bảo đảm sự cạnh tranh cân bằng trên thị
trường.
lOMoARcPSD| 58702377
CHƯƠNG II: VÍ DỤ VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC
CÂN BẰNG VỐN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
TRONG NƯỚC
I. Các lĩnh vực nổi bật trong toàn cầu hoá của Singapore
Trong những năm vừa qua, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Châu Á đã làm cuộc đua
kinh tế toàn cầu trở n thú vị hơn. Với thế mạnh vdân số trẻ, tốc độ đô thị hóa nhanh
chóng, thu nhập và chi tiêu của người dân tăng lên qua từng năm, châu Á được tiếp tục dự
đoán trở thành một trong những khu vực trọng điểm trong sự phát triển. Một trong những
dụ thành công và điển hình nhất thể nhắc tới Singapore. Từng một quốc gia
thu nhập và tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản khi giành được độc
lập vào năm 1965, tuy nhiên, giờ đây, Singapore đã thể tự hào gọi mình con rồng châu
Á. Các lĩnh vực nổi bật có thể nhắc đến như:
Công nghệ thông tin:
- Nhà xuất khẩu công nghệ thông tin: Singapore một nhà xuất khẩu công nghệ thông
tin đáng chú ý, với các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin được xuất khẩu sang
nhiều quốc gia trên thế giới.
- Thu hút đầu quốc tế: Thị trường công nghệ tại Singapore luôn cực kỳ sôi động với
sự “góp mặt” của các công ty công nghệ hàng đầu thế giới như: Google, Apple, Amazon
và các công ty startup có trụ sở chính tại Singapore như: Grab, Traveloka, Shopee, …
- Hợp tác quốc tế: Singapore tham gia nhiều hiệp định thương mại và kinh tế quốc tế,
đặc biệt các hiệp định về tự do thương mại. Điều này giúp cho các doanh nghiệp công
nghệ thông tin Singapore thể truy cập vào các thị trường toàn cầu tăng cường
khả năng cạnh tranh của họ.
lOMoARcPSD| 58702377
- Sản phẩm dịch vụ công nghệ thông tin chất lượng cao: Các sản phẩm dịch vụ
công nghệ thông tin của Singapore được đánh giá là chất lượng cao cạnh tranh với
các sản phẩm của các quốc gia khác trên thế giới.
Singapore một môi trường kinh doanh thuận lợi hỗ trợ phát triển công nghệ thông
tin, bao gồm chính sách thu hút đầu tư và các quy định về bảo vệ dữ liệu.
Logistics
- Kết nối toàn cầu. Vị trí địa lý nằm ngay “xích đạo”, ít chịu ảnh hưởng của thời tiết xấu
hay giông bão. Đó cũng chính do sao bến cảng sân bay của Singapore hầu
như hoạt động suốt năm, thuận lợi cho xếp dhàng hóa. Kết hợp với kết cấu hạ tầng
hiện đại, Singapore là điểm trung chuyển “nhộn nhịp” của tàu biển năm châu về hội tụ.
Singapore một mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng lớn với hơn 30 đối
tác thương mại để tăng cường khả năng tiếp cận các thị trường lớn của mình. Điều này
khuyến khích các công ty trong chuỗi Logistics hoạt động tại Singapore, vì họ biết họ
thể tin tưởng vào các kết nối thường xuyên đáng tin cậy để tiếp cận thị trường
toàn cầu một cách nhanh chóng.
- Cơ sở hạ tầng và quy trình sáng tạo.
+ Phát triển sở hạ tầng: Sau khi hoàn thành kế hoạch phát triển thế hệ cảng biển
tiếp theo vào năm 2030, hệ thống cảng Singapore sẽ có khả năng xử lý hơn 65 triệu
container tiêu chuẩn, đồng thời trở thành cơ sở hạ tầng tích hợp lớn nhất thế giới.
+ Supply Chain City Ứng dụng công nghệ tự động: Quốc đảo tử cũng đang tập
trung vào phát triển tiềm lực về công nghệ và cải tiến trong Logistics. Nổi bật nhất
là khu phức hợp trình diễn công nghệ Supply Chain City trị giá hơn 200 triệu Đô la
Singapore. Được mệnh danh là “Thung lũng Silicon mini”, Supply Chain City là tổ
hợp của hệ thống kho hàng 5 tầng với thiết kế Ramp-up tiên tiến, trung tâm phân
phối cao 45 mét ứng dụng công nghệ Fusionaris – Hệ thống lưu kho & truy hồi tự
động (ASRS) đầu tiên trên thế giới, cùng hệ thống văn phòng, trung tâm nghiên cứu
& giảng dạy.
lOMoARcPSD| 58702377
- Phát triển và thu hút nguồn nhân lực
+ Đào tạo nhân lực chất lượng cao: Dẫn đầu thế giới về chính sách giáo dục (theo
Bảng xếp hạng năm 2017, Economist Intelligence Unit), nguồn nhân lực Singapore
luôn được đánh giá cao. Lợi thế của giáo dục nước này đến từ chất ợng đội ngũ
giáo viên. Họ tập trung vào việc cung cấp cho học sinh, sinh viên những kỹ năng
cần thiết để thành công trong sự nghiệp tương lai.
+ Khuyến khích sự tham gia khu vực tư nhân: Chính phủ cũng đã thu hút các nhà đầu
tư đến Singapore bằng cách đảm bảo một môi trường đầu tư thuận lợi và phát triển
các ưu đãi phù hợp cho sự tham gia của khu vực nhân. 20 trong số 25 công ty
Logistics hàng đầu thế giới quản hoạt động toàn cầu hoặc khu vực của họ từ
Singapore. Với sự xuất hiện của các “ông lớn” trong ngành góp phần thúc đẩy các
công ty địa phương cạnh tranh với các tiêu chuẩn quốc tế.
Thị trường tài chính
- Đầu tiên chính sách, với quy địnhsự giám sát chặt chẽ đã mang lại niềm tin cho
nhà đầu tư. Điều này giúp Singapore ổn định tài chính, ngay cả trong thời khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008. Sự hỗ trợ từ chính phủ được cho rất dồi dào, với
các biện pháp khuyến khích nhằm thu hút nhiều người chơi hơn vào lĩnh vực tài chính
khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực này. dụ gần đây, để giúp giảm bớt tác
động tiêu cực từ Covid-19 đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính bảo hiểm, MAS đã công
bố gói hỗ trợ 125 triệu USD cho các công ty trong lĩnh vực này.
- Thứ hai, Singapore một lượng lớn các chuyên gia tài chính. Để đảm bảo nguồn lao
động kỹ năng, Viện Ngân hàng Tài chính Singapore (IBF) Lực ợng Lao động
Singapore (WSG) đã tham gia đào tạo cho c chuyên gia những bộ kỹ năng cần thiết
giúp họ phát triển trong ngành.
- Thứ ba, là xây dựng hạ tầng “mềm”
+ Xây dựng hạ tầng “mềm”. Điểm chú ý chính phủ Singapore ngay từ đầu đã coi
ngành dịch vụ tài chính không chỉ đơn giản là một phương tiện hỗ trợ sự phát triển
của các ngành khác, một trụ cột tăng trưởng. Ngay trong năm 1968, Singapore
quyết định thành lập Thị trường Đôla châu Á (Asian Dollar Market ADM). Cùng
lOMoARcPSD| 58702377
với Đơn vị tiền tệ châu Á (Asian Currency Unit - ACU) được thành lập song song,
ADM đã cho phép các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài tham gia vào lĩnh
vực dịch vụ tài chính của Singapore.Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SES) sau
đó được thành lập vào năm 1973. SES tiếp tục được hợp nhất với Sở giao dịch tiền
tệ quốc tế Singapore để tạo thành Sở giao dịch Singapore (SGX), nhằm đáp ứng sự
đa dạng ngày càng tăng của thị trường vốn Singapore. Việc nh thành MAS
SGX là một phản ứng thể chế với sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực dịch vụ
tài chính của Singapore trong thời kỳ này. Cùng với đó, đảo quốc còn lập ra một số
quan liên quan đến tài chính khác, đưa nước này trải qua một thời kỳ quốc tế hóa
và đa dạng hóa hơn nữa trong những năm 1980 và 1990.
+ Cùng với việc phát triển hạ tầng "mềm", Singapore cũng liên tục đầu phát triển
hạ tầng cứng trong nhiều thập niên nhằm đáp ứng nhu cầu không gian của hàng
nghìn tổ chức tài chính quy tụ về. Cuối những năm 1970, đề án xây dựng khu vực
vịnh Marina rộng 360 ha ra đời để thay thế vai trò đã quá tải của Khu Thương mại
Trung tâm (CBD) hiện hữu.Nhờ khu Marina, Singapore kịp thời đáp ứng được
sự thay đổi trong ngành tài chính toàn cầu vào cuối những năm 1990. Khi ấy, các tổ
chức lớn hơn yêu cầu các tấm sàn lớn hơn có không gian tiếp giáp và không có cột
phải từ 1.400 m2 trở lên để đáp ng các hoạt động của họ không bị dàn trải
nhiều tầng. Ngoài ra, do một khu trung tâm đa tiện tích, những người làm việc
trong lĩnh vực tài chính cũng đánh giá cao sự phát triển tích hợp có thể kết hợp văn
phòng với các lựa chọn về lối sống nhà chất lượng cao Vịnh Marina. Đến
2014, Singapore trung tâm ngoại hối lớn thứ tư trên thế giới khả năng cấp
vốn bằng USD rất cao. Ngoài hàng trăm tập đoàn đa quốc gia sử dụng Singapore
làm trụ sở khu vực, nơi đây còn có khoảng 4.000 công ty Trung Quốc chọn làm bệ
phóng khi thâm nhập Đông Nam Á.
Năng lượng
lOMoARcPSD| 58702377
- Tập trung vào năng lượng tái tạo: Singapore đã đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng năng
lượng tái tạo lên 4,0% trong tổng sản lượng điện năng vào năm 2025. Để đạt được mục
tiêu này, đất nước này đã đưa ra các chính ch hỗ trợ để thúc đẩy việc sử dụng các
nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sinh
học.
- Phát triển công nghệ: Singapore đang đầu nhiều vào nghiên cứu và phát triển công
nghệ ng lượng tái tạo để sản xuất các sản phẩm dịch vụ mới liên quan đến năng
lượng tái tạo. Đất ớc này cũng đang thúc đẩy việc hợp tác quốc tế để chia sẻ công
nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
- Đầu vào năng lượng xanh nước ngoài: Singapore đã đầu vào các dự án năng
lượng tái tạo các quốc gia khác, bao gồm cả các dự án điện mặt trời Malaysia,
Indonesia Australia. Điều này giúp Singapore đóng góp vào việc phát triển năng
lượng tái tạo ở khu vực và cũng mang lại lợi nhuận cho các công ty Singapore.
- Tham gia vào các tổ chức quốc tế về năng lượng: Singapore là thành viên của Cơ quan
Năng lượng Quốc tế (IEA), Tổ chức Năng lượng nguyên tử (IAEA) Liên minh Energi
(IPEEC), giúp quốc gia này được các thông tin tài nguyên vnăng ợng bền
vững.
Bất động sản:
Singapore là một quốc gia có diện tích rất nhỏ, do đó, lĩnh vực bất động sản là rất quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước này:
- Đầu tư vào bất động sản ở nước ngoài: Với sự giới hạn về quỹ đất, các nhà đầu tư
Singapore đã chuyển hướng đầu tư vào bất động sản ở các quốc gia khác. Singapore
cũng đã đầu tư vào các dự án bất động sản tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
chẳng hạn như ở Indonesia và Việt Nam.
lOMoARcPSD| 58702377
- Phát triển dự án bất động sản kết hợp: Singapore đã phát triển các dự án bất động sản
kết hợp, bao gồm cả các khu thương mại, giải trí và nghỉ dưỡng. Điều này mang lại sự
đa dạng cho bất động sản của Singapore và thu hút được nhiều khách du lịch.
- Tập trung vào các dự án cao cấp: Singapore đã tập trung vào phát triển các dự án bất
động sản cao cấp, bao gồm cả các căn hộ, nhà phố và biệt thự. Điều này đáp ứng nhu
cầu của giới giàu có trong và ngoài Singapore và đóng góp vào việc phát triển kinh tế
của đất nước.
- Tham gia vào các sự kiện và triển lãm bất động sản: Singapore tổ chức nhiều sự kiện
và triển lãm bất động sản để thu hút các nhà đầu tư và khách hàng quốc tế. Điều này
giúp quảng bá hình ảnh và tăng cường mối quan hệ với các đối tác quốc tế.
II. Singapore đưc xem quc gia thành công nht trong khu vực ASEAN v thu ht
FDI ổn đnh và bn vng qua các năm
Đại dịch COVID 19 xảy ra từ cuối tháng 12 năm 2019 và lan ra hơn 220 quốc gia và
vùng lãnh, khiến cho cả thế giới rơi vào cuôc khủng hoảng. Sự cạnh tranh trong việ
c thụ hút FDI trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trước bối cảnh phức tạp
của đại dịch COVID 19, Singapore vẫn chứng tỏ là điểm đến FDI đầy hấp dẫn.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ VÀ
TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI. VÍ DỤ
VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC CÂN BẰNG VỐN

ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Giảng viên hướng dẫn : ThS Đào Minh Hoàng Lớp : DTKT1154(222)_02
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 4 1.
Quách Thị Thanh Dung – 11211468 2.
Nguyễn Thị Châu Anh – 11216503 3.
Lưu Thị Ngọc Trâm – 11216619 4.
Nguyễn Thái Hà – 11216536 5.
Nguyễn Tài Hiệp – 11216541 6. Lê Khang Minh – 11216574 7.
Tô Khánh Duy – 11216526 HÀ NỘI, 03/2023 LỜI CAM ĐOAN
Nhóm chúng em xin cam đoan bài tập này hoàn toàn do chúng em thực hiện. Các
phần trích dẫn và tài liệu sử dụng trong bài tập hoàn toàn trung thực, được trích nguồn và
đảm bảo độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của chúng em. Nếu không đúng
như đã nêu trên, chúng em xin chịu trách nhiệm về bài tập của mình.
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Nhóm sinh viên thực hiện LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép chúng em xin được cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên trường
Đại học Kinh tế Quốc dân nói chung và các giảng viên thuộc Khoa Đầu tư nói riêng đã tận
tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn đến ThS Đào Minh Hoàng, người đã trực tiếp
hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thực hiện bài tập. Trong khoảng thời gian được
làm việc với cô, chúng em đã không ngừng học tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình
mà còn được học tập được tinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất
cần thiết cho chúng em trong quá trình học tập và công tác sau này.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên,
đóng góp ý kiến và giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bài tập này.
Hà Nội, tháng 03 năm 2023
Nhóm sinh viên thực hiện lOMoAR cPSD| 58702377 MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................................1
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
NỘI DUNG.......................................................................................................................6
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ VÀ
TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI.........................6
I. Các khái niệm............................................................................................................6
1. Toàn cầu hóa.............................................................................................................6
2. Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư...........................................................................6
3. Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế.....................................................6
II. Nội dung của toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:..................................................6
1. Các yếu tố dẫn đến toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:...........................................7
2. Hình thức của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:...................................................7
3. Tác động của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:....................................................8
4. Bảo hộ doanh nghiệp địa phương...........................................................................10
CHƯƠNG II: VÍ DỤ VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC CÂN
BẰNG VỐN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG
NƯỚC.............................................................................................................................14
I. Các lĩnh vực nổi bật trong toàn cầu hoá của Singapore.......................................14 II.
Singapore được xem là quốc gia thành công nhất trong khu vực ASEAN về thu hút
FDI ổn định và bền vững qua các năm..................................................................19 III.
Chính sách thu hút FDI cho mục tiêu phát triển bền vững của Singapore.........20 IV.
Một số lý do quan trọng mà các nước đã chọn Singapore để đầu tư và phát triển kinh
tế:............................................................................................................................22 V. Chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước của
Singapore.........................23 lOMoAR cPSD| 58702377 VI.
Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao của Singapore....................25
VII. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam........................................................27
KẾT LUẬN.....................................................................................................................29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................30 lOMoAR cPSD| 58702377 MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Tuy nhiên, diễn biến của quá trình
toàn cầu hóa thì rất khó lường. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, số lượng người tham
gia vào nền kinh tế thế giới đã tăng từ khoảng 1 tỷ lên đến 4 – 5 tỷ người – số lượng này
đã làm tăng mạnh lực lượng sản xuất, thiết lập nên các trung tâm sản xuất và dịch vụ mới
ở các nước đang phát triển, đẩy mạnh nhu cầu về năng lượng và hàng hóa, tạo ra các cơ
hội to lớn để thúc đẩy tiêu dùng. Nhiều quỹ tiết kiệm mới đang cùng các luồng vốn toàn
cầu đổ vào các cơ hội đầu tư tại cả các thị trường mới nổi và các nền kinh tế phát triển đang
chuyển đổi. Việc chuyển giao kỹ năng, công nghệ, thông tin và các kinh nghiệm thực tiễn
đang được xúc tiến mạnh mẽ.
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết
trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ
kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường…) giữa các quốc gia. Theo nghĩa hẹp,
toàn cầu hóa chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Đối với các quốc gia, toàn cầu hóa có tác
động tích cực là tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội; thúc đẩy
mở cửa thị trường; thúc đẩy tự do hóa thương mại đầu tư dịch vụ… Tuy nhiên, mặt tiêu
cực là toàn cầu hóa khiến các quốc gia có nguy cơ suy giảm độc lập, tự chủ về kinh tế, suy
giảm về quyền lực quốc gia; các ngành kinh tế trong nước bị cạnh tranh khốc liệt khi mở
cửa thị trường nội địa.
Còn đối với toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư nói riêng, là quá trình liên kết và tăng
cường các hoạt động đầu tư giữa các quốc gia trên thế giới. Điều này cho phép các nhà đầu
tư tiếp cận các thị trường tài chính và tiềm năng đầu tư ở các nước khác nhau, tạo điều kiện
cho sự phát triển kinh tế toàn cầu. Toàn cầu hóa trong đầu tư đã đóng góp quan trọng vào
sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới, tạo cơ hội cho tăng trưởng kinh tế,
tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhưng bên cạnh đó, nó cũng
mang lại khá nhiều thách thức và rủi ro, bao gồm sự không ổn định của thị trường tài chính,
cũng như việc các doanh nghiệp địa phương bị tụt hậu khi các doanh nghiệp nước ngoài lOMoAR cPSD| 58702377
ngày càng đẩy mạnh phát triển đầu tư, từ đó đòi hỏi các quốc gia phải có các biện pháp phù hợp.
Nhận thức rõ tính đúng đắn và cấp thiết của vấn đề này, nhóm chúng em đã quyết định
lựa chọn đề tài: “Quan điểm toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư và tính cần thiết của
việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài.
Ví dụ về thành công của 1 quốc gia trong việc cân bằng vốn đầu tư quốc tế và phát triển
doanh nghiệp trong nước”. Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, do nguồn tài liệu tiếp
cận có thể còn nhiều hạn chế nên chúng em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng
em kính mong cô sẽ nhận xét và góp ý thêm những điều chưa đạt để chúng em có thể hoàn
thiện bài nghiên cứu tốt hơn, cũng như có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề mình
đang nghiên cứu. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô ạ! lOMoAR cPSD| 58702377 NỘI DUNG
CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TOÀN CẦU HOÁ TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
VÀ TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO HỘ DOANH NGHIỆP ĐỊA
PHƯƠNG TRƯỚC SỰ CẠNH TRANH TỪ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI
I. Các khái niệm 1. Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là: một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc
tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, an
ninh, văn hóa, môi trường,… giữa các quốc gia.
2. Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư
Toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư là: sự hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng
tăng của các thị trường tài chính và đầu tư trên toàn thế giới. Nó liên quan đến việc tăng
cường liên kết giữa các quốc gia thông qua đầu tư và giao dịch tài chính, nơi các doanh
nghiệp và nhà đầu tư có thể đầu tư vào các công ty, tài sản và thị trường tài chính ở các quốc gia khác nhau.
3. Mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế
Toàn cầu hóa và đầu tư quốc tế gắn liền với nhau và tác động qua lại lẫn nhau:
- Đầu tư quốc tế là động lực cho các công ty thực hiện toàn cầu hóa quốc tế để duy
trì lợi ích và nhu cầu duy trì tính cạnh tranh quốc tế.
- Toàn cầu hóa lại buộc các nền kinh tế được kết nối tiếp tục đầu tư vào nhau để bảo
vệ nền kinh tế của họ và thu được lợi nhuận mới.
- Đầu tư quốc tế tăng lên do kết quả trực tiếp của toàn cầu hóa - điều này kéo thêm
nhiều nền kinh tế tham gia toàn cầu hóa - Tiếp tục làm tăng thêm đầu tư quốc tế và
cứ tiếp tục như vậy….
II. Nội dung của toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư:
1. Các yếu tố dẫn đến toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư: lOMoAR cPSD| 58702377
- Tiến bộ công nghệ: Những tiến bộ trong công nghệ thông tin và truyền thông đã thúc
đẩy các nhà đầu tư tiếp có cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu dễ dàng và hiệu quả hơn.
Internet đã giúp chuyển tiền nhanh chóng và dễ dàng, thu thập thông tin về thị trường
nước ngoài và liên lạc với các nhà đầu tư và doanh nghiệp khác trên khắp thế giới.
- Tự do hóa thương mại: Việc tự do hóa các chính sách thương mại và đầu tư, thông qua
việc thiết lập các hiệp định thương mại tự do và cắt giảm các rào cản thương mại, đã
tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn xuyên biên giới. Điều này tiếp tục thúc đẩy các
doanh nghiệp tiếp cận các thị trường và cơ hội đầu tư mới, đồng thời tạo ra những con
đường mới cho sự tăng trưởng và lợi nhuận.
- Sự phát triển của thị trường tài chính: Sự phát triển của thị trường tài chính toàn cầu,
bao gồm sự phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và thị trường
phái sinh đã tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư.
- Toàn cầu hóa sản xuất: Toàn cầu hóa sản xuất, trong đó các doanh nghiệp tìm cách
tiếp cận đầu vào và lao động chi phí thấp ở các khu vực khác nhau trên thế giới, đã dẫn
đến sự gia tăng các dòng vốn đầu tư xuyên biên giới. Khi các doanh nghiệp đầu tư vào
thị trường nước ngoài để tiếp cận các nguồn đầu vào mới hoặc tiếp cận thị trường tiêu
dùng mới, họ cũng tạo ra các cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư.
2. Hình thức của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư: lOMoAR cPSD| 58702377
Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư trực tiếp (FDI)
Đầu tư gián tiếp là một loại hình di
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một
chuyển vốn giữa các quốc gia, trong loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó Khái
đó người sở hữu vốn không trực tiếp người chủ sở hữu vốn đồng thời là người
niệm quản lý và điều hành các hoạt động sử trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động dụng vốn. sử dụng vốn.
Nhà đầu tư đem vốn (tiền và tài sản
Chủ đầu tư không chịu trách nhiệm
khác) sang nước khác để tiến hành hoạt Bản
trực tiếp về hoạt động đầu tư, mà
động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản chất
hưởng lãi vay hoặc lợi tức cổ phần.
lý cơ sở kinh doanh tại nước đó.
Được thực hiện bằng nguồn vốn tư nhân
Đầu tư phiếu khoán (cổ phiếu, trái
với mục đích chủ yếu là thu được lợi
Hình phiếu) và hỗ trợ phát triển chính thức nhuận cao hơn thông qua hoạt động sản thức ( ODA).
xuất kinh doanh ở nước ngoài.
3. Tác động của toàn cầu hóa trong lĩnh vực đầu tư:
a. Tác động tích cực:
Với nước đi đầu tư ra quốc tế:
- Tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp: Các nước nhận đầu tư thường là các
nước kém phát triển hơn nên có giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu thấp, lOMoAR cPSD| 58702377
…Từ đó, các nước đầu tư có thể hạ giá thành sản phẩm đầu vào, giảm chi phí vận
chuyển, … nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
- Có thể kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm mới được tạo ra trong nước: Thông
qua đầu tư trực tiếp, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần các sản
phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống của chúng sang các nước nhận đầu
tư để tiếp tục sử dụng như sản phẩm mới ở các nước này.
- Tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định: Các nước nhận đầu
tư là các nước đang phát triển thường có tài nguyên phong phú, nhưng do hạn chế về
vốn và công nghệ nên chưa được khai thác, tiềm năng còn lớn.
- Bành trướng được sức mạnh về kinh tế nhờ mở rộng được thị trường
- Giải quyết được khó khăn trong quá trình phát triển KTXH: các nước giàu không chỉ
cạnh tranh mà còn liên kết với nhau, dựa vào nhau để phát huy vị thế của mình.
Với nước nhận đầu tư:
- Giải quyết được tình trạng thiếu vốn: Các nước này nhận được 1 nguồn vốn lớn từ các
nước khác đầu tư sang, do vậy có thể phát triển kinh tế xã hội, gia tăng quy mô đầu tư, đổi mới kỹ thuật.
- Tiếp cận với các công nghệ mới: Nhờ có các quá trình chuyển giao công nghệ từ các
nước đi đầu tư, các quốc gia nhận đầu tư đã nhận được các kỹ thuật tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý, đội ngũ lao động được đào tạo,….
- Các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh: Nhờ có
đầu tư nước ngoài, các quốc gia được tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ,… theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn
các nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
b. Tác động tiêu cực: lOMoAR cPSD| 58702377
- Bất ổn kinh tế: Toàn cầu hóa đầu tư có thể dẫn đến bất ổn kinh tế vì các nhà đầu tư có
thể nhanh chóng chuyển khoản đầu tư của họ từ quốc gia này sang quốc gia khác, tạo
ra sự biến động trên thị trường và khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những cú sốc bất ngờ.
- Phân phối lợi ích không đồng đều: Lợi ích của toàn cầu hóa đầu tư không được phân
bổ đồng đều. Các nhà đầu tư và tập đoàn giàu có có xu hướng hưởng lợi nhiều nhất,
trong khi các doanh nghiệp nhỏ hơn và người lao động có thể bị cạnh tranh và mất việc làm.
- Suy thoái môi trường: Toàn cầu hóa đầu tư có thể dẫn đến suy thoái môi trường khi
các nhà đầu tư tìm đến các quốc gia có quy định môi trường lỏng lẻo và chi phí lao
động thấp hơn, điều này có thể dẫn đến ô nhiễm và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Khủng hoảng tài chính: Toàn cầu hóa đầu tư có thể làm tăng nguy cơ khủng hoảng tài
chính, do các tổ chức tài chính và nhà đầu tư trở nên liên kết với nhau xuyên biên giới,
khiến khủng hoảng ở một quốc gia dễ dàng lan sang các quốc gia khác.
- Cạnh tranh trở nên gay gắt hơn: Nếu một nước có lợi thế so sánh tiềm năng trong một
ngành cụ thể sẽ thu hút FDI vào ngành đó à các ngành khác có thể không bao giờ có cơ hội phát triển.
- Toàn cầu hoá đầu tư đi cùng với mất đi phần nào đó sự độc lập kinh tế: Các quyết
định chủ yếu có thể ảnh đến nền kinh tế nước chủ nhà sẽ được đưa ra bởi một công ty
mẹ ở nước ngoài mà công ty này không có cam kết thực tế đối với nước nhận đầu tư,
và chính phủ nước nhận đầu tư thực tế không kiểm soát được công ty mẹ này.
Vì vậy, các doanh nghiệp trong nước cần phải có những biện pháp thích hợp, đầu tư
đúng đắn để đạt được những lợi ích mà toàn cầu hoá đầu tư mang lại, cũng như hạn chế
được các tác động tiêu cực mà nó gây nên. Tuy nhiên, bản thân các nhà đầu tư và doanh
nghiệp nếu tự mình sẽ khó đạt được các kết quả tốt, vì vậy cần có những sự bảo hộ cần lOMoAR cPSD| 58702377
thiết để giúp các DN và các nhà đầu tư tránh được các rủi ro khi tham gia đầu tư quốc tế.
4. Bảo hộ doanh nghiệp địa phương
Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài
được xem là một vấn đề đầy tranh cãi trong lĩnh vực kinh tế và thương mại quốc tế. Một
số người cho rằng việc bảo hộ sẽ giúp bảo vệ các doanh nghiệp địa phương khỏi sự cạnh
tranh không lành mạnh từ các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi những người khác cho
rằng việc này có thể làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương và
gây ra mất cân bằng thị trường.
Tuy nhiên, cần thiết đưa ra một số lý do hỗ trợ cho việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương
trước sự cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm:
- Bảo vệ các doanh nghiệp địa phương: Một số ngành công nghiệp và doanh nghiệp địa
phương có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự cạnh tranh không lành mạnh từ các doanh
nghiệp nước ngoài. Trong trường hợp này, việc bảo hộ sẽ giúp bảo vệ các doanh nghiệp
địa phương khỏi sự cạnh tranh không lành mạnh và giúp họ tăng cường cạnh tranh trên thị trường.
- Tăng cường sự đồng thuận xã hội: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể giúp
tăng cường sự đồng thuận xã hội và giúp tạo ra sự ổn định cho các doanh nghiệp địa phương.
- Tạo ra cơ hội phát triển kinh tế: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng có thể tạo
ra cơ hội phát triển kinh tế cho các quốc gia đang phát triển bằng cách bảo vệ các doanh
nghiệp địa phương và giúp họ tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Dưới đây là một số lập luận về tính cần thiết của việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương:
- Tạo điều kiện cân bằng trong cạnh tranh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương giúp
tạo ra một sân chơi cạnh tranh cân bằng hơn giữa các doanh nghiệp địa phương và
doanh nghiệp nước ngoài. Trong trường hợp không có sự bảo hộ, các doanh nghiệp
nước ngoài có thể sử dụng các ưu thế về quy mô, công nghệ và vốn để đánh bại các lOMoAR cPSD| 58702377
doanh nghiệp địa phương, dẫn đến mất cân bằng và gây ra sự thiệt hại cho các doanh nghiệp địa phương.
- Bảo vệ quyền lợi của người lao động: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng giúp
bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là trong trường hợp các doanh nghiệp
nước ngoài áp dụng các tiêu chuẩn lao động thấp hơn so với các doanh nghiệp địa phương.
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng có thể thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, bằng cách bảo vệ và hỗ trợ cho các doanh
nghiệp địa phương phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cũng cần được đưa ra một cách hợp
lý và công bằng để tránh tạo ra sự mất cân bằng trên thị trường và giảm thiểu tác động tiêu
cực đến các doanh nghiệp nước ngoài. Sau đây là những hạn chế và tác động tiêu cực của
việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương:
- Giảm sự cạnh tranh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể làm giảm sự cạnh
tranh trong thị trường, khiến cho các doanh nghiệp không còn cần phải cạnh tranh với
nhau để nắm giữ thị phần. Điều này có thể làm giảm sự đổi mới và tạo sự khác biệt giữa
các sản phẩm và dịch vụ.
- Giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể
làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp
không cần phải cạnh tranh để nắm giữ thị phần. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh
nghiệp không còn cần thiết phải cải tiến sản phẩm và dịch vụ để nâng cao chất lượng và hiệu suất.
- Tăng giá sản phẩm: Việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể dẫn đến tăng giá sản
phẩm, khi các doanh nghiệp không còn phải cạnh tranh với nhau để giữ giá cạnh tranh.
Điều này có thể làm tăng chi phí cho người tiêu dùng và làm suy giảm năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. lOMoAR cPSD| 58702377
- Gây phản đối và tranh cãi: Bảo hộ doanh nghiệp địa phương có thể gây ra phản đối và
tranh cãi trong cộng đồng kinh tế và thương mại quốc tế. Các quốc gia và các nhóm
thương mại có thể đối đầu với nhau trong các thương thảo và đàm phán, dẫn đến sự
căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia.
Vì vậy, việc bảo hộ doanh nghiệp địa phương cần được xem xét kỹ lưỡng để tránh
những tác động tiêu cực này. Các chính sách bảo hộ cần được thiết kế sao cho vừa bảo vệ
quyền lợi các doanh nghiệp địa phương, vừa bảo đảm sự cạnh tranh cân bằng trên thị trường. lOMoAR cPSD| 58702377
CHƯƠNG II: VÍ DỤ VỀ THÀNH CÔNG CỦA 1 QUỐC GIA TRONG VIỆC
CÂN BẰNG VỐN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC
I. Các lĩnh vực nổi bật trong toàn cầu hoá của Singapore
Trong những năm vừa qua, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Châu Á đã làm cuộc đua
kinh tế toàn cầu trở nên thú vị hơn. Với thế mạnh về dân số trẻ, tốc độ đô thị hóa nhanh
chóng, thu nhập và chi tiêu của người dân tăng lên qua từng năm, châu Á được tiếp tục dự
đoán trở thành một trong những khu vực trọng điểm trong sự phát triển. Một trong những
ví dụ thành công và điển hình nhất có thể nhắc tới là Singapore. Từng là một quốc gia có
thu nhập và tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản khi giành được độc
lập vào năm 1965, tuy nhiên, giờ đây, Singapore đã có thể tự hào gọi mình là con rồng châu
Á. Các lĩnh vực nổi bật có thể nhắc đến như:
Công nghệ thông tin:
- Nhà xuất khẩu công nghệ thông tin: Singapore là một nhà xuất khẩu công nghệ thông
tin đáng chú ý, với các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin được xuất khẩu sang
nhiều quốc gia trên thế giới.
- Thu hút đầu tư quốc tế: Thị trường công nghệ tại Singapore luôn cực kỳ sôi động với
sự “góp mặt” của các công ty công nghệ hàng đầu thế giới như: Google, Apple, Amazon
và các công ty startup có trụ sở chính tại Singapore như: Grab, Traveloka, Shopee, …
- Hợp tác quốc tế: Singapore tham gia nhiều hiệp định thương mại và kinh tế quốc tế,
đặc biệt là các hiệp định về tự do thương mại. Điều này giúp cho các doanh nghiệp công
nghệ thông tin ở Singapore có thể truy cập vào các thị trường toàn cầu và tăng cường
khả năng cạnh tranh của họ. lOMoAR cPSD| 58702377
- Sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin chất lượng cao: Các sản phẩm và dịch vụ
công nghệ thông tin của Singapore được đánh giá là chất lượng cao và cạnh tranh với
các sản phẩm của các quốc gia khác trên thế giới.
Singapore có một môi trường kinh doanh thuận lợi và hỗ trợ phát triển công nghệ thông
tin, bao gồm chính sách thu hút đầu tư và các quy định về bảo vệ dữ liệu.  Logistics
- Kết nối toàn cầu. Vị trí địa lý nằm ngay “xích đạo”, ít chịu ảnh hưởng của thời tiết xấu
hay giông bão. Đó cũng chính là lí do vì sao bến cảng và sân bay của Singapore hầu
như hoạt động suốt năm, thuận lợi cho xếp dỡ hàng hóa. Kết hợp với kết cấu hạ tầng
hiện đại, Singapore là điểm trung chuyển “nhộn nhịp” của tàu biển năm châu về hội tụ.
Singapore có một mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng lớn với hơn 30 đối
tác thương mại để tăng cường khả năng tiếp cận các thị trường lớn của mình. Điều này
khuyến khích các công ty trong chuỗi Logistics hoạt động tại Singapore, vì họ biết họ
có thể tin tưởng vào các kết nối thường xuyên và đáng tin cậy để tiếp cận thị trường
toàn cầu một cách nhanh chóng.
- Cơ sở hạ tầng và quy trình sáng tạo.
+ Phát triển cơ sở hạ tầng: Sau khi hoàn thành kế hoạch phát triển thế hệ cảng biển
tiếp theo vào năm 2030, hệ thống cảng Singapore sẽ có khả năng xử lý hơn 65 triệu
container tiêu chuẩn, đồng thời trở thành cơ sở hạ tầng tích hợp lớn nhất thế giới.
+ Supply Chain City – Ứng dụng công nghệ tự động: Quốc đảo sư tử cũng đang tập
trung vào phát triển tiềm lực về công nghệ và cải tiến trong Logistics. Nổi bật nhất
là khu phức hợp trình diễn công nghệ Supply Chain City trị giá hơn 200 triệu Đô la
Singapore. Được mệnh danh là “Thung lũng Silicon mini”, Supply Chain City là tổ
hợp của hệ thống kho hàng 5 tầng với thiết kế Ramp-up tiên tiến, trung tâm phân
phối cao 45 mét ứng dụng công nghệ Fusionaris – Hệ thống lưu kho & truy hồi tự
động (ASRS) đầu tiên trên thế giới, cùng hệ thống văn phòng, trung tâm nghiên cứu & giảng dạy. lOMoAR cPSD| 58702377
- Phát triển và thu hút nguồn nhân lực
+ Đào tạo nhân lực chất lượng cao: Dẫn đầu thế giới về chính sách giáo dục (theo
Bảng xếp hạng năm 2017, Economist Intelligence Unit), nguồn nhân lực Singapore
luôn được đánh giá cao. Lợi thế của giáo dục nước này đến từ chất lượng đội ngũ
giáo viên. Họ tập trung vào việc cung cấp cho học sinh, sinh viên những kỹ năng
cần thiết để thành công trong sự nghiệp tương lai.
+ Khuyến khích sự tham gia khu vực tư nhân: Chính phủ cũng đã thu hút các nhà đầu
tư đến Singapore bằng cách đảm bảo một môi trường đầu tư thuận lợi và phát triển
các ưu đãi phù hợp cho sự tham gia của khu vực tư nhân. 20 trong số 25 công ty
Logistics hàng đầu thế giới quản lý hoạt động toàn cầu hoặc khu vực của họ từ
Singapore. Với sự xuất hiện của các “ông lớn” trong ngành góp phần thúc đẩy các
công ty địa phương cạnh tranh với các tiêu chuẩn quốc tế.
Thị trường tài chính
- Đầu tiên là chính sách, với quy định và sự giám sát chặt chẽ đã mang lại niềm tin cho
nhà đầu tư. Điều này giúp Singapore ổn định tài chính, ngay cả trong thời kì khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008. Sự hỗ trợ từ chính phủ được cho là rất dồi dào, với
các biện pháp khuyến khích nhằm thu hút nhiều người chơi hơn vào lĩnh vực tài chính
và khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực này. Ví dụ gần đây, để giúp giảm bớt tác
động tiêu cực từ Covid-19 đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính và bảo hiểm, MAS đã công
bố gói hỗ trợ 125 triệu USD cho các công ty trong lĩnh vực này.
- Thứ hai, Singapore có một lượng lớn các chuyên gia tài chính. Để đảm bảo nguồn lao
động có kỹ năng, Viện Ngân hàng và Tài chính Singapore (IBF) và Lực lượng Lao động
Singapore (WSG) đã tham gia đào tạo cho các chuyên gia những bộ kỹ năng cần thiết
giúp họ phát triển trong ngành.
- Thứ ba, là xây dựng hạ tầng “mềm”
+ Xây dựng hạ tầng “mềm”. Điểm chú ý là chính phủ Singapore ngay từ đầu đã coi
ngành dịch vụ tài chính không chỉ đơn giản là một phương tiện hỗ trợ sự phát triển
của các ngành khác, mà là một trụ cột tăng trưởng. Ngay trong năm 1968, Singapore
quyết định thành lập Thị trường Đôla châu Á (Asian Dollar Market ADM). Cùng lOMoAR cPSD| 58702377
với Đơn vị tiền tệ châu Á (Asian Currency Unit - ACU) được thành lập song song,
ADM đã cho phép các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài tham gia vào lĩnh
vực dịch vụ tài chính của Singapore.Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SES) sau
đó được thành lập vào năm 1973. SES tiếp tục được hợp nhất với Sở giao dịch tiền
tệ quốc tế Singapore để tạo thành Sở giao dịch Singapore (SGX), nhằm đáp ứng sự
đa dạng ngày càng tăng của thị trường vốn Singapore. Việc hình thành MAS và
SGX là một phản ứng thể chế với sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực dịch vụ
tài chính của Singapore trong thời kỳ này. Cùng với đó, đảo quốc còn lập ra một số
cơ quan liên quan đến tài chính khác, đưa nước này trải qua một thời kỳ quốc tế hóa
và đa dạng hóa hơn nữa trong những năm 1980 và 1990.
+ Cùng với việc phát triển hạ tầng "mềm", Singapore cũng liên tục đầu tư phát triển
hạ tầng cứng trong nhiều thập niên nhằm đáp ứng nhu cầu không gian của hàng
nghìn tổ chức tài chính quy tụ về. Cuối những năm 1970, đề án xây dựng khu vực
vịnh Marina rộng 360 ha ra đời để thay thế vai trò đã quá tải của Khu Thương mại
Trung tâm (CBD) hiện hữu.Nhờ có khu Marina, Singapore kịp thời đáp ứng được
sự thay đổi trong ngành tài chính toàn cầu vào cuối những năm 1990. Khi ấy, các tổ
chức lớn hơn yêu cầu các tấm sàn lớn hơn có không gian tiếp giáp và không có cột
phải từ 1.400 m2 trở lên để đáp ứng các hoạt động của họ mà không bị dàn trải
nhiều tầng. Ngoài ra, do là một khu trung tâm đa tiện tích, những người làm việc
trong lĩnh vực tài chính cũng đánh giá cao sự phát triển tích hợp có thể kết hợp văn
phòng với các lựa chọn về lối sống và nhà ở chất lượng cao ở Vịnh Marina. Đến
2014, Singapore là trung tâm ngoại hối lớn thứ tư trên thế giới và có khả năng cấp
vốn bằng USD rất cao. Ngoài hàng trăm tập đoàn đa quốc gia sử dụng Singapore
làm trụ sở khu vực, nơi đây còn có khoảng 4.000 công ty Trung Quốc chọn làm bệ
phóng khi thâm nhập Đông Nam Á.
Năng lượng lOMoAR cPSD| 58702377
- Tập trung vào năng lượng tái tạo: Singapore đã đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng năng
lượng tái tạo lên 4,0% trong tổng sản lượng điện năng vào năm 2025. Để đạt được mục
tiêu này, đất nước này đã đưa ra các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy việc sử dụng các
nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sinh học.
- Phát triển công nghệ: Singapore đang đầu tư nhiều vào nghiên cứu và phát triển công
nghệ năng lượng tái tạo để sản xuất các sản phẩm và dịch vụ mới liên quan đến năng
lượng tái tạo. Đất nước này cũng đang thúc đẩy việc hợp tác quốc tế để chia sẻ công
nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
- Đầu tư vào năng lượng xanh ở nước ngoài: Singapore đã đầu tư vào các dự án năng
lượng tái tạo ở các quốc gia khác, bao gồm cả các dự án điện mặt trời ở Malaysia,
Indonesia và Australia. Điều này giúp Singapore đóng góp vào việc phát triển năng
lượng tái tạo ở khu vực và cũng mang lại lợi nhuận cho các công ty Singapore.
- Tham gia vào các tổ chức quốc tế về năng lượng: Singapore là thành viên của Cơ quan
Năng lượng Quốc tế (IEA), Tổ chức Năng lượng nguyên tử (IAEA) và Liên minh Energi
(IPEEC), giúp quốc gia này có được các thông tin và tài nguyên về năng lượng bền vững.
Bất động sản:
Singapore là một quốc gia có diện tích rất nhỏ, do đó, lĩnh vực bất động sản là rất quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước này:
- Đầu tư vào bất động sản ở nước ngoài: Với sự giới hạn về quỹ đất, các nhà đầu tư
Singapore đã chuyển hướng đầu tư vào bất động sản ở các quốc gia khác. Singapore
cũng đã đầu tư vào các dự án bất động sản tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
chẳng hạn như ở Indonesia và Việt Nam. lOMoAR cPSD| 58702377
- Phát triển dự án bất động sản kết hợp: Singapore đã phát triển các dự án bất động sản
kết hợp, bao gồm cả các khu thương mại, giải trí và nghỉ dưỡng. Điều này mang lại sự
đa dạng cho bất động sản của Singapore và thu hút được nhiều khách du lịch.
- Tập trung vào các dự án cao cấp: Singapore đã tập trung vào phát triển các dự án bất
động sản cao cấp, bao gồm cả các căn hộ, nhà phố và biệt thự. Điều này đáp ứng nhu
cầu của giới giàu có trong và ngoài Singapore và đóng góp vào việc phát triển kinh tế của đất nước.
- Tham gia vào các sự kiện và triển lãm bất động sản: Singapore tổ chức nhiều sự kiện
và triển lãm bất động sản để thu hút các nhà đầu tư và khách hàng quốc tế. Điều này
giúp quảng bá hình ảnh và tăng cường mối quan hệ với các đối tác quốc tế.
II. Singapore được xem là quốc gia thành công nhất trong khu vực ASEAN về thu hút
FDI ổn định và bền vững qua các năm
Đại dịch COVID 19 xảy ra từ cuối tháng 12 năm 2019 và lan ra hơn 220 quốc gia và
vùng lãnh, khiến cho cả thế giới rơi vào cuôc khủng hoảng. Sự cạnh tranh trong việ
c thụ hút FDI trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trước bối cảnh phức tạp
của đại dịch COVID 19, Singapore vẫn chứng tỏ là điểm đến FDI đầy hấp dẫn.