HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN
BÀI LÀM:
Câu 1:
Anh/ Chị hãy phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
(2 điểm). Thông qua việc nghiên cứu quy luật này, anh (chị) hãy vận dụng phân tích một vấn đề
thực tiễn đang đặt ra địa phương (Quận/huyện hoặc tương đương) anh/chị đang trú? (3
điểm).
Trả lời
Phần 1: Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập: trong triết học Mác Lênin,
phép biện chứng duy vật giữ một vị thế rất quan trọng, giúp con người duy, nhìn nhận
được bản thân thế giới. một trong ba quy luật bản của phép biện chứng duy vật, quy
luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) được đánh giá cao “hạt
nhân”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu quy luật này, trước khi vào nội dung quy luật cần hiểu một
số khái niệm cơ bản:
Mặt đối lập:
những mặt,
những thuộc tính, những tính quy định
khuynh hướng trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong hiện thực.
Thống nhất giữa các mặt đối lập: sự cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đtồn tại
cho nhau giữa các mặt đối lập, nếu không mặt đối lập này sẽ không mặt đối lập kia. Sự
thống nhất còn cho thấy giữa chúng có điểm giống nhau: khi có mâu thuẫn tác động ở điều kiện
phù hợp, các mặt đối lập có thể chuyển hóa vào nhau.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau và sự
tác động đó cũng không tách rời sự khác nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một
mâu thuẫn.
Mâu thuẫn: dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa thống nhất, vừa đấu tranh, vừa đòi
hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập, mâu thuẫn nguồn gốc của sự
phát triển. Mâu thuẫn 3 tính chất:
Tính khách quan: mâu thuẫn là cái vốn trong sự vật, hiện tượng, bản chất của sự vật hiện
tượng.
Tính phổ biến: mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy, ở mọi sự vật,
mọi thời điểm.
1
Tính đa dạng, phong phú: mỗi một sự vật, hiện tượng đều có
những mâu thuẫn khác nhau; các mâu thuẫn có vị trí, vai trò, biểu hiện khác nhau trong sự tồn
tại, vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
*
Quy luật thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập: đcập tới vấn
đề cơ bản quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật vấn đề nguyên nhân, động lực của
sự vận động, phát triển. Theo V.I. Lênin, “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng học
thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện
chứng…”
*
Ý nghĩa phương pháp luận:
Thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ đó giải quyết mâu thuẫn
phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan. Muốn phát hiện mâu thuẫn cần tìm ra thể thống
nhất của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng; từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp đúng
cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Phân ch u thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng loại
mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí mối quan hệ giữa các mâu thuẫn điều kiện chuyển hóa
giữa chúng. Phải biết phân tích cụ thể một u thuẫn cụ thể đề ra được phương pháp giải
quyết mâu thuẫn đó.
Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập, không
điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu thuẫn còn phụ thuộc
vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa.
Phần 2: Vận dụng phân tích một vấn đề thực tiễn đang đặt ra địa phương (Quận/huyện hoặc
tương đương)
Mâu thuẫn luôn tồn tại xung quanh chúng ta như: khi làm bài tập nhóm, một nhân không
chấp nhận phương pháp cả nhóm đã thống nhất... Thậm chí, với tôi, mâu thuẫn còn xảy ra nơi
tôi trú. Nơi đây đang một vấn đề mọi người đặc biệt quan tâm, đó dự án xây dựng
các khu công nghiệp. đã gây ra mối mâu thuẫn giữa lợi ích khi xây dựng khu công nghiệp
rủi ro, khó khăn phải. Việc xây dựng các khu công nghiệp thì mục đích cuối cùng lợi ích. Lợi
ích khi xây dựng khu công nghiệp và rủi ro, khó khăn là một mâu thuẫn biện chứng, hai mặt của
một vấn đề, không thể xây dựng khu công nghiệp không rủi ro cũng giống như việc
không thể tồn tại rủi ro, khó khăn không xây dựng khu công nghiệp. Quê tôi thể nhận
được rất nhiều lợi ích khi xây dựng
2
khu công nghiệp đồng thời cũng phải đối mặt với những rủi ro khó khăn to lớn. Trước hết,
những lợi ích thể đạt được: tạo ra lượng lớn công việc cho người dân, giảm tỉ lệ thất nghiệp,
thu hút được nhà đầu tư khiến cho nền kinh tế phát triển, kéo theo sự phát triển của toàn thể các
ngành… Bên cạnh đó cũng gặp phải những rủi ro, khó khăn: chế chính sách hỗ trợ phát triển
chưa đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư; kinh phí hỗ trợ, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng,
thu hồi đất, tái định còn vướng mắc làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án của các chủ
đầu hạ tầng. Quê tôi đã sử dụng nhiều cách để khắc phục rủi ro, khó khăn để mang đến lợi
ích cao nhất chẳng hạn: việc góp đủ vốn chủ sở hữu và huy động vốn đúng tiến độ của nhà đầu
tư để thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đất đai pháp luật liên quan phối hợp
với nhà đầu triển khai phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định theo quy
định pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, không để xảy ra khiếu nại, khiếu kiện; phương án
xây dựng nhà ở; hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất; thực hiện thu hồi đất
phù hợp với tiến độ thực hiện dự án thu hút đầu tư… Để giảm rủi ro, khó khăn, không phải
bắt ép người dân thu hồi đất, bồi thường ít hơn hay nhận nguồn đầu lớn từ những nhà đầu
không ng, rủi ro lớn. Thay vào đó, tự đổi mới chính sách, phát triển, làm tốt công tác
lãnh đạo… Nvậy, thđã giải quyết được mâu thuẫn; rủi ro, kkhăn chuyển hóa thành
lợi ích; mặt này cho ta thấy được sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. sự biến mất
của mâu thuẫn này sẽ dẫn đến sự xuất hiện của mâu thuẫn khác từ đó tạo ra động lực. Nhờ mâu
thuẫn, quê tôi ngày càng phát triển.
Câu 2:
Anh/Chị hãy phân tích quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất (2 điểm). Qua đó, anh/chị cho biết Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng
sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này để xác định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa
như thế nào? (3 điểm)
Trả lời
Phần 1: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Việt
Nam đang trong quá trình đổi mới phát triển đất nước. Trong quá trình này, Việt Nam đã
đang gặp phải nhiều khó khăn, thử thách đặc biệt lĩnh vực kinh tế. Việc vận dụng sáng tạo
tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin, cụ thể quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất đã giúp cho Việt Nam rất nhiều. Để hiểu hơn về quy luật, ta
cùng điểm qua một vài khái niệm:
3
Lực lượng sản xuất một khái niệm giữ vai trò rất quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử,
nội dung của quá trình sản xuất tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và
phát triển.
Quan hệ sản xuất hình thức xã hội của quá trình sản xuất, tính ổn định tương đối.
Phương thức sản xuất phạm trù duy vật, đây cách thức con người thực hiện quá
trình sản xuất vật chất những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại phát triển của hội
loài người. đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế hội.
Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất một trình độ nhất đnh
quan hệ sản xuất tương ứng.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất quy định sự vận
động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất tác động biện chứng, trong
đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với
lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất: trong sự vận động của mâu
thuẫn biện chứng đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. sở khách quan quy
định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất do biện chng giữa sản xuất
nhu cầu con người; do tính năng động cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do
vai trò của người lao động chủ thể sáng tạo, lực lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử hội loài
người lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ phương thức sản xuất cộng sản
nguyên thủy qua phương thức sản xuất chiếm
hữu lệ, phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất bản chủ nghĩa đang
phát triển đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
*
Ý nghĩa phương pháp luận: trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế
phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động công
cụ lao động. Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn
cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải kết quả của mệnh lệnh hành
chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của
quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí.
Phần 2: Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này để
xác định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy luật
bản nhất chi phối đến sự phát triển của loài người. tác động trực tiếp đến sự phát triển của
nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Đòi hỏi Việt Nam phải những chính sách, đường lối
phát triển phù hợp. Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam nắm trong tay
toàn bộ tương lai và vận mệnh đất nước, đã c định được đường lối công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước dựa trên quy luật này. Đại hội XIII thống nhất nhận thức về vai trò, vị trí tầm
quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển kinh tế hội của đất nước, coi
"công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế hội
đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng,
phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng hội
chủ nghĩa". Gắn quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xây dựng nền kinh tế,
quốc gia độc lập tự chủ, dựa trên nội lực của đất nước, coi nội lực quyết định. công nghiệp
hóa, hiện đại hóa phương thức để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh bền vững đất nước.
Việc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
tất yếu khách quan trong tình hình mới. Đại hội nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Ðảng
luôn lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể, mục tiêu, động lực, nguồn lực cho sự phát
triển, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, cụ thể là: "Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sự nghiệp của toàn dân
cả hệ thống chính trị, lấy con người trung tâm, doanh nghiệp chủ thể". đây, Đảng
xác định lực
5
lượng sản xuất, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ lực lượng sản xuất. Luôn đặt công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong tổng thế chiến lược phát triển đất nước để cách tiếp cận toàn diện;
gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển bền vững chú trọng giải quyết hài hòa các
mối quan hệ lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: "Bảo đảm hài hòa giữa
phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng hội, bảo vệ môi trường; gắn kết
chặt chẽ đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới hình tăng
trưởng, cấu lại nền kinh tế chuyển dịch cấu lao động". Trên sở đó, Đại hội đã xác
định nội dung yêu cầu then chốt trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trên sở không đồng nhất công nghiệp hóa con đường duy nhất để xây dựng nước công
nghiệp không đồng nhất công nghiệp hóa với phát triển công nghiệp. duy luận của
Ðảng đã thể hiện sự nhất quán, vận dụng sáng tạo tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin về mục tiêu
xuyên suốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm không ngừng phát triển, nâng cao
trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động hội, xây dựng cơ sở vật chất từ
đó cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng, củng cố thế lực của đất nước,
phát triển nhanh bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng hội
chủ nghĩa. Ðây cũng chính là quá trình từng bước thực hiện hình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trần Tuấn Anh (2022), Chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa,
2.Nguyễn Văn Dương (2022), Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất,
3.Giáo trình triết học Mác Lênin, NXB quốc gia sự thật, Nội.
4.Quy
luật thống nhất
đấu
tranh
giữa
các
mặt
đối
lập,
6
7

Preview text:

HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN BÀI LÀM:
Câu 1: Anh/ Chị hãy phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
(2 điểm). Thông qua việc nghiên cứu quy luật này, anh (chị) hãy vận dụng phân tích một vấn đề
thực tiễn đang đặt ra địa phương (Quận/huyện hoặc tương đương) anh/chị đang cư trú? (3 điểm). Trả lời
Phần 1: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: trong triết học Mác – Lênin,
phép biện chứng duy vật giữ một vị thế rất quan trọng, vì nó giúp con người tư duy, nhìn nhận
được bản thân và thế giới. Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy
luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) được đánh giá cao là “hạt
nhân”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu quy luật này, trước khi vào nội dung quy luật cần hiểu một số khái niệm cơ bản:
Mặt đối lập: là những mặt, những thuộc tính, những tính quy định có
khuynh hướng trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong hiện thực.
Thống nhất giữa các mặt đối lập: là sự cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại
cho nhau giữa các mặt đối lập, nếu không có mặt đối lập này sẽ không có mặt đối lập kia. Sự
thống nhất còn cho thấy giữa chúng có điểm giống nhau: khi có mâu thuẫn tác động ở điều kiện
phù hợp, các mặt đối lập có thể chuyển hóa vào nhau.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau và sự
tác động đó cũng không tách rời sự khác nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn.
Mâu thuẫn: dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa thống nhất, vừa đấu tranh, vừa đòi
hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự
phát triển. Mâu thuẫn có 3 tính chất:
Tính khách quan: mâu thuẫn là cái vốn có trong sự vật, hiện tượng, là bản chất của sự vật hiện tượng.
Tính phổ biến: mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy, ở mọi sự vật, mọi thời điểm. 1 •
Tính đa dạng, phong phú: mỗi một sự vật, hiện tượng đều có
những mâu thuẫn khác nhau; các mâu thuẫn có vị trí, vai trò, biểu hiện khác nhau trong sự tồn
tại, vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. *
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: đề cập tới vấn
đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật – vấn đề nguyên nhân, động lực của
sự vận động, phát triển. Theo V.I. Lênin, “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học
thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng…” *
Ý nghĩa phương pháp luận:
Thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ đó giải quyết mâu thuẫn
phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan. Muốn phát hiện mâu thuẫn cần tìm ra thể thống
nhất của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng; từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp đúng
cho hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Phân tích mâu thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng loại
mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều kiện chuyển hóa
giữa chúng. Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và đề ra được phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó.
Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập, không
điều hòa mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu thuẫn còn phụ thuộc
vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa.
Phần 2: Vận dụng phân tích một vấn đề thực tiễn đang đặt ra địa phương (Quận/huyện hoặc tương đương)
Mâu thuẫn luôn tồn tại xung quanh chúng ta như: khi làm bài tập nhóm, một cá nhân không
chấp nhận phương pháp cả nhóm đã thống nhất... Thậm chí, với tôi, mâu thuẫn còn xảy ra ở nơi
mà tôi cư trú. Nơi đây đang có một vấn đề mọi người đặc biệt quan tâm, đó là dự án xây dựng
các khu công nghiệp. Nó đã gây ra mối mâu thuẫn giữa lợi ích khi xây dựng khu công nghiệp và
rủi ro, khó khăn phải. Việc xây dựng các khu công nghiệp thì mục đích cuối cùng là lợi ích. Lợi
ích khi xây dựng khu công nghiệp và rủi ro, khó khăn là một mâu thuẫn biện chứng, hai mặt của
một vấn đề, không thể xây dựng khu công nghiệp mà không có rủi ro cũng giống như việc
không thể tồn tại rủi ro, khó khăn mà không xây dựng khu công nghiệp. Quê tôi có thể nhận
được rất nhiều lợi ích khi xây dựng 2
khu công nghiệp đồng thời cũng phải đối mặt với những rủi ro khó khăn to lớn. Trước hết,
những lợi ích có thể đạt được: tạo ra lượng lớn công việc cho người dân, giảm tỉ lệ thất nghiệp,
thu hút được nhà đầu tư khiến cho nền kinh tế phát triển, kéo theo sự phát triển của toàn thể các
ngành… Bên cạnh đó cũng gặp phải những rủi ro, khó khăn: cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển
chưa đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư; kinh phí hỗ trợ, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng,
thu hồi đất, tái định cư còn vướng mắc làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án của các chủ
đầu tư hạ tầng. Quê tôi đã sử dụng nhiều cách để khắc phục rủi ro, khó khăn để mang đến lợi
ích cao nhất chẳng hạn: việc góp đủ vốn chủ sở hữu và huy động vốn đúng tiến độ của nhà đầu
tư để thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan phối hợp
với nhà đầu tư triển khai phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư theo quy
định pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, không để xảy ra khiếu nại, khiếu kiện; phương án
xây dựng nhà ở; hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất; thực hiện thu hồi đất
phù hợp với tiến độ thực hiện dự án và thu hút đầu tư… Để giảm rủi ro, khó khăn, không phải
bắt ép người dân thu hồi đất, bồi thường ít hơn hay nhận nguồn đầu tư lớn từ những nhà đầu tư
không rõ ràng, có rủi ro lớn. Thay vào đó, tự đổi mới chính sách, phát triển, làm tốt công tác
lãnh đạo… Như vậy, thị xã đã giải quyết được mâu thuẫn; rủi ro, khó khăn chuyển hóa thành
lợi ích; mặt này cho ta thấy được sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Và sự biến mất
của mâu thuẫn này sẽ dẫn đến sự xuất hiện của mâu thuẫn khác từ đó tạo ra động lực. Nhờ mâu
thuẫn, quê tôi ngày càng phát triển.
Câu 2: Anh/Chị hãy phân tích quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất (2 điểm). Qua đó, anh/chị cho biết Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng
sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này để xác định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa như thế nào? (3 điểm) Trả lời
Phần 1: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Việt
Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Trong quá trình này, Việt Nam đã và
đang gặp phải nhiều khó khăn, thử thách đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Việc vận dụng sáng tạo
tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin, cụ thể là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất đã giúp cho Việt Nam rất nhiều. Để hiểu rõ hơn về quy luật, ta
cùng điểm qua một vài khái niệm: 3
Lực lượng sản xuất là một khái niệm giữ vai trò rất quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử,
là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, có tính ổn định tương đối.
Phương thức sản xuất là phạm trù duy vật, đây là cách thức con người thực hiện quá
trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội
loài người. Nó đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội.
Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và
quan hệ sản xuất tương ứng.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định sự vận
động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng, trong
đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với
lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất: trong sự vận động của mâu
thuẫn biện chứng đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cơ sở khách quan quy
định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là do biện chứng giữa sản xuất
và nhu cầu con người; do tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do
vai trò của người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử xã hội loài
người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ phương thức sản xuất cộng sản
nguyên thủy qua phương thức sản xuất chiếm
hữu nô lệ, phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang
phát triển đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. *
Ý nghĩa phương pháp luận: trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế
phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công
cụ lao động. Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn
cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành
chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của
quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí.
Phần 2: Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này để
xác định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ
bản nhất chi phối đến sự phát triển của loài người. Nó tác động trực tiếp đến sự phát triển của
nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách, đường lối
phát triển phù hợp. Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam nắm trong tay
toàn bộ tương lai và vận mệnh đất nước, đã xác định được đường lối công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước dựa trên quy luật này. Đại hội XIII thống nhất nhận thức về vai trò, vị trí và tầm
quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, coi
"công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng,
phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội
chủ nghĩa". Gắn quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xây dựng nền kinh tế,
quốc gia độc lập tự chủ, dựa trên nội lực của đất nước, coi nội lực là quyết định. công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là phương thức để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Việc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
là tất yếu khách quan trong tình hình mới. Đại hội nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Ðảng
luôn lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể, là mục tiêu, là động lực, nguồn lực cho sự phát
triển, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, cụ thể là: "Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân
và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể". Ở đây, Đảng xác định rõ lực 5
lượng sản xuất, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ lực lượng sản xuất. Luôn đặt công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong tổng thế chiến lược phát triển đất nước để có cách tiếp cận toàn diện;
gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển bền vững và chú trọng giải quyết hài hòa các
mối quan hệ lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: "Bảo đảm hài hòa giữa
phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; gắn kết
chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng
trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động". Trên cơ sở đó, Đại hội đã xác
định rõ nội dung và yêu cầu then chốt trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trên cơ sở không đồng nhất công nghiệp hóa là con đường duy nhất để xây dựng nước công
nghiệp và không đồng nhất công nghiệp hóa với phát triển công nghiệp. Tư duy lý luận của
Ðảng đã thể hiện sự nhất quán, vận dụng sáng tạo tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin về mục tiêu
xuyên suốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm không ngừng phát triển, nâng cao
trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội, xây dựng cơ sở vật chất từ
đó cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng, củng cố thế lực của đất nước,
phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Ðây cũng chính là quá trình từng bước thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trần Tuấn Anh (2022), Chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
,
2.Nguyễn Văn Dương (2022), Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
3.Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB quốc gia sự thật, Hà Nội.
4.Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, 6 7