




Preview text:
2.1.1. Thành tựu
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong 35 năm qua nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng, phát trển đất nước và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc; trong đó có thành tựu quan trọng về nhận thức và vận dụng quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Càng ngày chúng ta càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn quan hệ biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, sự phù hợp và mâu thuẫn giữa chúng trong từng giai đoạn phát
triển. Về đặc trưng kinh tế trong xã hội xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đã chuyển từ “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” (Cương lĩnh
năm 1991) sang “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Không ngừng hoàn thiện chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và
hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp
thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác,
cạnh tranh lành mạnh cùng thắng.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu ra
quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ
nghĩa xã hội, với nhiều chế độ sở hữu. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư
duy lý luận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
thể hiện sự nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất; đồng thời, đã đặt cơ sở, nền tảng quan trọng để các nhân tố mới ra đời, tạo tiền
đề để từng bước phát triển nền kinh tế của đất nước. Quá trình vận dụng quy luật và xuất
phát từ thực tiễn đất nước, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), Đảng ta đã khẳng
định: “Thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, coi đây là chính
sách có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội;
trong đó mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật; các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc
các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau
trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật”. (4)
Nhìn tổng thể trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước đã đạt được những thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng, phát triển đất nước. Trong đó, có
thành tựu về nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập quốc tế, việc nhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với từng bước hoàn
thiện quan hệ sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế
đang là một yêu cầu cấp thiết. 2.1.2. Hạn chế
Trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong thời gian qua bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng phải thấy rằng, cũng
còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, xuất hiện những mâu thuẫn mới, sự không phù hợp mới
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, làm cản trở sự phát triển của cả lực lượng sản
xuất và cả quan hệ sản xuất. Mặc dù đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước
vào nước có thu nhập trung bình thấp, song thực chất vẫn là nước nghèo, kinh tế còn lạc
hậu, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với thế giới và khu vực ngày càng lớn. Mục tiêu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa thể
đạt được. Hiện nay các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo, chế tác, phụ trợ... còn kém phát
triển, chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong GDP. Năng suất lao động, hiệu quả, chất lượng, sức cạnh
tranh thấp, yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) thấp. Lực lượng sản xuất yếu kém sẽ tác động
tới quy định trình độ, chất lượng của quan hệ sản xuất. Chúng ta chưa chú ý toàn diện, đồng
bộ trong xây dựng, hoàn thiện các mặt của quan hệ sản xuất. Vẫn còn xu hướng nặng về
thay đổi chế độ sở hữu hơn là cải tiến, đổi mới quan hệ quản lý và quan hệ phân phối sản
phẩm. Chúng ta phải thấy rằng, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đang
thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa có lực lượng sản xuất
công nghiệp hiện đại làm cơ sở cho quan hệ sản xuất mới. Cho nên, không thể nóng vội
trong xây dựng quan hệ sản xuất, song cũng không được coi nhẹ việc xây dựng, hoàn
thiện quan hệ sản xuất từng bước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) và trong Hiến pháp năm 2013 đều xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước. Nhưng, trong thực tế hiện nay kinh tế nhà nước chưa thực sự giữ vai trò chủ
đạo, bởi vì nhìn chung năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, chưa làm gương để dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác, nhiều doanh nghiệp nhà nước rơi vào tình
trạng sản xuất, kinh doanh thua lỗ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm thất thoát tài sản nhà
nước, gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.
2.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế
* Nguyên nhân của thành tựu
Đảng và Nhà nước ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đồng
thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất
nước; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và chủ động hội nhập quốc tế; có sự quản
lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Xác
lập nền kinh tế Việt nam “có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế;
các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp
luật”(5); thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực
phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được
phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước
đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà
nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi
trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và phát triển bền vững đất nước.
Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, biện pháp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo “cốt vật chất” cho quan hệ sản xuất mới. Tiếp
tục thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để
phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học và công
nghệ hiện đại trong điều của cuộc cách mạng 4.0. Xây dựng, hoàn thiện luật pháp và
chính sách kinh tế để kiến tạo sự phát triển bền vững. Đào tạo nguồn nhân lực, trọng dụng
nhân tài, nhất là trong bộ máy quản lý, quản trị nhà nước. Đổi mới thể chế nhằm tăng cường
hiệu lực thực thi pháp luật và chính sách; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội.
* Nguyên nhân của hạn chế
Quản lý doanh nghiệp nhà nước còn nhiều lỏng lẻo, phân định không rõ thẩm quyền và trách
nhiệm của chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu, nhất là trong quản lý vốn, do đó thời gian
trước năm 2016 có nhiều doanh nghiệp đầu tư tràn lan, ngoài ngành nhiều, bị “lợi ích nhóm”
chi phối, vi phạm pháp luật, nợ xấu tang lên làm khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, nhiệm kỳ 2016- 2021 đang tích cực xử lý giải quyết hậu quả.
Khu vực kinh tế tập thể còn nhỏ bé, nhiều hợp tác xã trong nông nghiệp mang tính hình
thức, chỉ làm khâu dịch vụ đầu vào và đầu ra của sản xuất, quỹ không chia trong hợp tác xã
rất thấp, trình độ khoa học - công nghệ, quy mô và trình độ quản lý kinh tế yếu kém.
Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm đổi mới;
nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể còn thiếu thống nhất, thiếu tính hệ thống; khâu tổ chức
thực hiện còn thiếu kiên quyết, quyết liệt, vẫn còn tình trạng dễ làm khó bỏ; quản lý, quản trị
nhà nước còn nhiều yếu kém; chưa thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng
thành các chính sách, biện pháp có tính khả thi, hiệu quả. Đồng thời, có một số chủ
trương chưa đủ rõ hoặc chưa phù hợp, chưa có sự thống nhất và thông suốt ở các cấp, các
ngành, còn “ trên nóng, dưới lạnh”. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí là cán bộ cao cấp rơi
vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”,
năng lực, phẩm chất và uy tín không đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới phát
triển bền vững đất nước.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc vận dụng quy luật biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Đảng ta hiện nay -
Cần xác định rõ phương hướng phát triển lượng sản xuất song song hoàn
thiện quan hệ sản xuất. -
Thực hiện hiệu quả quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất thông qua việc nâng cao trình độ học vấn, đào tạo tay nghề cho
người lao động , đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị kĩ thuật, trang bị máy móc hiện đại theo
kịp sự phát triển của khoa học kĩ thuật. -
Phát triển nền kinh kế đa dạng thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền kinh tế tri thức hội nhập với nền kinh tế quốc tế đa phương. Phát huy
tích cực vai trò quản lí, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta trong mọi vấn đề xã hội cũng như
trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế thị trường, đổi mới về chính trị xã hội, ổn
định đời sống của nhân dân. -
Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào
tạo đặc biệt là đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo nghề, nhằm đẩy
mạnh phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng. -
Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để
hoàn thiện quan hệ sản xuất. -
Tăng cường những bước cơ bản về cơ sở vật chất cho khoa học – công
nghệ, tập trung xây dựng một số phòng thí nghiệm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực trên
các lĩnh vực công nghệ trọng điểm như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, hóa dầu…. Tài liệu tham khảo
https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/ve-moi-quan-he-giua-phat-trien- luc-luong-
san-xuat-va-xay-dung-hoan-thien-tung-buoc-quan-he-san-xuat- trong-dieu-kien-hien- nay-o-viet-nam.html
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-ngan-hang-thanh- pho-ho-chi-
minh/triet/chu-de-quy-luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-voi- trinh-do-phat-trien-cua-luc-
luong-san-xuat-va-su-van-dung-quy-luat-nay-
trong-cong-cuoc-doi-moi-o-viet- nam/23043203