


















Preview text:
KHO TS. LÊ NGỌC TUẤN ÏC A O H H O ÏI ÏC A Ñ T Ö
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH G Ï N NØ H Ô I Ö E
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN R N Â T TP.HOÀ CHÍ MINH
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG NXB ĐHQG HCM
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN TS. LÊ NGỌC TUẤN
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG NHÀ XUẤT BẢN
ĐẠI HỌC QUỐC TP HỒ CHÍ MINH
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯƠNG LÊ NGỌC TUẤN .
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN – ĐHQG TP HCM, NXB ĐHQG-HCM và TÁC GIẢ.
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật Xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm
cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Nhà xuất bản.
ĐỂ CÓ SÁCH HAY, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, bên cạnh những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế
xã hội là tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, hệ sinh thái… cũng như
mục tiêu phát triển bền vững, đòi hỏi hệ thống quản lý môi trường
tương thích và hiệu quả.
Môi trường có thể được bảo vệ bằng nhiều hình thức với nhiều
mức độ khác nhau: biện pháp tổ chức-chính trị, giáo dục, công nghệ,
kinh tế và pháp lý. Trong đó, hệ thống pháp lý về môi trường được
xem là biện pháp tiên quyết, đảm bảo phần lớn sự thành công của
các biện pháp khác có liên quan. Chính sách, pháp luật - với tư cách
là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi của con người- có vai
trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung.
Giáo trình Luật và chính sách môi trường được biên soạn nhằm
trang bị cho người học, đặc biệt là sinh viên, học viên cao học ngành
môi trường kiến thức cơ bản về luật và chính sách môi trường, tăng
cường khả năng tra cứu, phân tích và áp dụng.
Giáo trình gồm 7 chương, trình bày các nội dung chính sau đây
• Những vấn đề chung về luật và chính sách môi trường
• Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại Việt Nam
• Luật và chính sách môi trường Việt Nam
• Pháp luật Việt Nam trong (1) Khai thác và sử dụng tài nguyên
thiên nhiên; (2) Bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, biển, hải
đảo; và (3) Bảo vệ môi trường trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh, đô thị và khu dân cư.
• Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường
Hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho người học.
Tác giả gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Trương Thanh
Cảnh, PGS.TS Lê Văn Khoa, PGS.TS Võ Lê Phú và TS. Tô Thị Hiền
đã đóng góp những ý kiến chuyên môn quý báu. Bên cạnh đó, tác
giả mong nhận được những ý kiến phản hồi của bạn đọc để giáo
trình được hoàn thiện hơn. - 3 - Địa chỉ liên hệ: TS. Lê Ngọc Tuấn
Khoa Môi Trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG Tp.HCM
227 Nguyễn Văn Cừ, Phường 4, Quận 5, TpHCM Email: lntuan@hcmus.edu.vn - 4 -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐKH Biến đổi khí hậu BVMT Bảo vệ môi trường BVTV Bảo vệ thực vật CCN Cụm công nghiệp CQNN Cơ quan nhà nước CQQLNN
Cơ quan quản lý nhà nước CSSX - KD – DV
Cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ CSSX – KD
Cơ sở sản xuất – kinh doanh CSSX Cơ sở sản xuất CT – XH Chính trị - Xã hội CTCN Chất thải công nghiệp CTNN Chất thải nông nghiệp CTNH Chất thải nguy hại CTSH Chất thải sinh hoạt CTR Chất thải rắn ĐDSH Đa dạng sinh học ĐMC
Đánh giá môi trường chiến lược ĐTM
Đánh giá tác động môi trường ĐTVHD
Động thực vật hoang dã GTVT Giao thông vận tải HTXLNT
Hệ thống xử lý nước thải KCN Khu công nghiệp KCNC Khu công nghệ cao KCX Khu chế xuất KTXH Kinh tế xã hội - 5 - KHBVMT
Kế hoạch bảo vệ môi trường KHCN Khoa học công nghệ LHQ Liên Hợp Quốc
Luật TNMTB&HĐ Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo LVS Lưu vực sông MTTQ Mặt trận Tổ quốc MTTQVN
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam NTTS Nuôi trồng thủy sản ONMT Ô nhiễm môi trường PPP
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền PTBV Phát triển bền vững QCĐP
Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường QCKT Quy chuẩn kỹ thuật QCKTMT
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường QLNN Quản lý nhà nước QLTH Quản lý tổng hợp SCMT Sự cố môi trường TCMT Tiêu chuẩn môi trường TN&MT
Tài nguyên và môi trường TNN Tài nguyên nước TNTN Tài nguyên thiên nhiên UBND Ủy ban nhân dân VH – TT – DL
Văn hóa – Thể thao – Du lịch - 6 - CHƯƠNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT
VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG 1
1.1. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN
1.1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của môi trường
Theo Khoản 1, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 (Luật
BVMT 2014) "Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân
tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Môi trường sống và môi trường sống của con người là một phạm trù hẹp
hơn của khái niệm môi trường. Theo chức năng, môi trường sống được chia
làm 03 loại (Nguyễn Thế Chinh, 2003):
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách
quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh
sáng mặt trời, động thực vật,... Bên cạnh việc cung cấp các nguồn tài
nguyên tự nhiên, môi trường tự nhiên còn là nơi chứ đựng, đồng hóa các
chất thải, cung cấp cho con người cảnh đẹp giải trí tăng khả năng sinh lý của con người.
- Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định,... ở các cấp khác nhau như: Liên
Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trường xã hội
định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên
sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư.
- Môi trường nhân tạo: là các nhân tố do con người tạo nên và chịu sự
chi phối của con người, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống như: nhà
ở, môi trường khu đô thị, khu công nghiệp, môi trường nông thôn,….
- Chức năng (tầm quan trọng) của môi trường:
Môi trường là không gian sống của con người - 7 -
Mỗi người đều có nhu cầu về số lượng không gian cần thiết cho các hoạt
động sống như: nhà ở, đất dùng cho sản xuất lương thực, thực phẩm, tái tạo
chất lượng môi trường sống (rừng, biển…). Nói cách khác, môi trường là
không gian sống của con người.
Diện tích không gian sống bình quân trên Trái đất đang bị thu hẹp - là
kết quả của việc dân số ngày một gia tăng trong khi diện tích đất có thể sinh
sống hầu như không đổi. Điều này được minh chứng bằng các số liệu về
diện tích đất bình quân đầu người đang có chiều hướng suy giảm. Nhu cầu
về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ kỹ thuật và công
nghệ sản xuất, như nhu cầu về không gian sản xuất càng giảm khi trình độ
phát triển của loài người càng được nâng cao. Con người luôn cần một
không gian riêng cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo chất lượng môi
trường…, có thể gia tăng không gian sống bằng cách khai thác và chuyển
đổi chức năng sử dụng như khai hoang, cải tạo các vùng đất và vùng nước
mới… Tuy nhiên, việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài
nguyên thiên nhiên có thể dẫn đến chất lượng không gian sống trên Trái đất
không thể phục hồi được.
- Môi trường là nguồn tài nguyên của con người
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần
thiết cho hoạt động sinh sống và sản xuất như: đất, nước, không khí, khoáng
sản, các dạng năng lượng như nắng, gió, thủy triều…. Mọi sản phẩm công,
nông, lâm, ngư nghiệp, văn hóa, du lịch của con người đều bắt nguồn từ các
dạng vật chất tồn tại trên Trái đất và không gian bao quanh Trái đất. Với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các
dạng tài nguyên mới cũng gia tăng số lượng khai thác, qua đó tác động mạnh
mẽ tới chất lượng môi trường, trong đó có nguy cơ cạn kiệt tài nguyên.
- Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
Chất thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng
thường được đưa trở lại môi trường. Tại đây, nhờ hoạt động của vi sinh vật
và các thành phần môi trường khác, chất thải sẽ biến đổi trở thành các dạng
ban đầu trong một chu trình sinh địa hóa phức tạp. Khả năng tiếp nhận và
phân hủy chất thải của môi trường được gọi là khả năng nền của môi trường.
Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng nền, chất lượng môi trường sẽ suy
giảm và có thể bị ô nhiễm. - 8 -
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới
con người và sinh vật trên Trái đất
Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ tập
hợp các điều kiện môi trường đặc biệt: nhiệt độ không khí không quá cao,
nồng độ oxy và các khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước ở các đại
dương và trong đất liền…. Sự phát sinh và phát triển sự sống xảy ra trên
Trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần môi trường như khí
quyển, thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin
Ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh
vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người. Cung cấp các chỉ
thị không gian và báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinh
vật như: các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến
thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất,… Lưu trữ
và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực
vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có gia trị
thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác.
1.1.2. Hiện trạng môi trường
Môi trường hiện đang có những diễn biến bất lợi cho con người với
nhiều cấp độ khác nhau, đặc biệt là những yếu tố tự nhiên như đất, nước,
không khí, hệ động thực vật… trên phạm vi toàn cầu cũng như trong phạm vi mỗi quốc gia.
Một số biểu hiện chủ yếu trên phạm vi toàn cầu:
- Biến đổi khí hậu (BĐKH) dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau
như: rừng bị tàn phá, đặc biệt là các khu vực rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ và
châu Á; gia tăng phát thải khí nhà kính; gia tăng dân số và tác động có liên
quan đến các thành phần môi trường... góp phần làm không khí nóng lên,
dẫn đến những thay đổi bất thường của khí hậu, băng tan (Hình 1.1), nước biển dâng… - 9 -
Hình 1.1. Hiện tượng băng tan do biến đổi khí hậu toàn cầu
- Sự suy giảm của tầng ôzôn dẫn đến những biến đổi xấu của môi trường trái đất.
- Thảm họa thiên nhiên trong cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI: động đất,
sạt lở, địa chấn gây sóng thần (Tsunami ở Đông Nam Á và Đông Á) Hình
1.2… đã để lại hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Núi lửa trào phun ở lòng
đại dương có thể lan truyền độc tố trong nước biển, gây nguy cơ hủy hoại hoặc
nhiễm độc các loại hải sản. Dịch bệnh do những thảm họa thiên nhiên cũng
chứa đựng các nguy cơ lớn đối với động thực vật trên cạn...
Hình 1.2. Trận sóng thần Tsunami ở Nhật Bản 2011
- Chất thải: Sự gia tăng dân số, gia tăng nhu cầu sản xuất - tiêu dùng dẫn
đến sự gia tăng chất thải. Vấn nạn xuất khẩu chất thải từ một số quốc gia
phát triển sang các quốc gia nghèo, đặc biệt là chất thải rắn - trong đó có chất thải nguy hại. - 10 -
- Suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH): Môi trường là tổng hợp các hệ
sinh thái có mối liên hệ mật thiết với nhau. Sự tồn tại của hệ sinh thái này là
điều kiện tồn tại của hệ sinh thái khác. Tuy nhiên, nhiều loài động thực vật
đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do sự khai thác quá mức của con
người: đàn voi châu Phi đã giảm đến mức báo động; tê giác còn không đáng
kể ở Việt Nam; nguy cơ tuyệt chủng của loài hổ ở Ấn Độ...
Hiện trạng môi trường Việt Nam có những nét chung của môi trường thế
giới cũng như những nét riêng do hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển của đất
nước - đang đối mặt với mâu thuẫn giữa phát triển và bảo vệ môi trường
(BVMT). Mỗi thành tố của môi trường chịu sự tác động của một (vài) yếu tố
cũng như tác động trực tiếp lẫn nhau. Trong đó, cần phải kể đến việc gây ô
nhiễm, đô thị hóa, công nghiệp hóa, phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi…
Hiện trạng môi trường tại Việt Nam trong những năm gần đây được ghi nhận như sau:
(1) Biến đổi khí hậu (BĐKH), sự cố môi trường
Diễn biến thời tiết, khí hậu ở nước ta trong những năm qua cho thấy sự
biến đổi rất phức tạp và thất thường. Nhiệt độ đang có xu thế tăng lên, giá trị
phân hoá mạnh theo cả không gian và thời gian. Trong 50 năm qua, nhiệt độ
trung bình năm tăng khoảng 0,5oC. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so
với mùa hè; nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với vùng
ven biển và hải đảo. Dự báo vào cuối thế kỷ 21, với kịch bản phát thải trung
bình, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng từ 2 – 3oC trên phạm vi cả nước
(nơi có dấu hiệu tăng nhiều nhất là phía Đông Bắc Bộ và Nam Tây
Nguyên). Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu -
nhất là trong những năm gần đây; xu thế diễn biến lượng mưa năm cũng dao
động tương ứng - giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí
hậu phía Nam. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa
và lượng mưa năm tăng mạnh nhất, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua.
Lượng mưa mùa khô (tháng 11 - 4) tăng ít hoặc thay đổi không đáng kể ở
các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh ở phía Nam. Lượng mưa mùa mưa
(tháng 5 - 10) giảm từ 5 - 10% trên đa phần diện tích phía Bắc và tăng từ 5 -
20% ở phía Nam. Theo đó, khí hậu ở Việt Nam có xu hướng biến đổi ngày
càng tiêu cực (Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam, 2012). - 11 -
(2) Môi trường không khí
Không khí chịu tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá và đô
thị hoá. Tại Việt Nam, ô nhiễm bụi tiếp tục là vấn đề nổi cộm nhất, chưa
được cải thiện so với giai đoạn 2003 – 2007. Đối với các chất khí khác như
NOx, SO2, CO… hầu hết các giá trị vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho
phép. Ngoại trừ một số khu vực như ven các trục giao thông chính, khu vực
sản xuất công nghiệp..., nồng độ các chất này có xu hướng tăng lên. Ô
nhiễm tiếng ồn tại các đô thị và khu vực sản xuất cũng là vấn đề tồn tại từ
nhiều năm nay chưa được khắc phục. Ngoài ra, ô nhiễm mùi cũng là một
trong những vấn đề bức xúc (mặc dù chỉ mang tính chất cục bộ). Trong thời
gian gần đây, một số nghiên cứu cho thấy Việt Nam có nhiều nguy cơ bị tác
động bởi một số nguồn ô nhiễm không khí xuyên biên giới (ô nhiễm bụi
mịn, thủy ngân, lắng đọng axit và khói mù quang hóa..). Môi trường không
khí tại các đô thị chịu ảnh hưởng tổng hợp từ nhiều nguồn thải. Trong
khoảng 5 năm trở lại đây, chất lượng không khí đô thị chưa có nhiều cải
thiện. Chỉ số chất lượng không khí AQI vẫn duy trì ở mức tương đối cao:
điển hình tại Hà Nội, số ngày có AQI ở mức kém (AQI = 101 ÷ 200) giai
đoạn 2010 - 2013 chiếm tới 40 - 60% tổng số ngày quan trắc trong năm, có
những ngày chất lượng không khí suy giảm đến ngưỡng xấu (AQI = 201 ÷
300) và nguy hại (AQI > 300). Nhìn chung, nồng độ bụi cao vẫn là vấn đề
đáng lo ngại nhất, đặc biệt là đối với môi trường không khí tại các đô thị.
Tại các điểm quan trắc cạnh đường giao thông, số ngày có giá trị AQI
không đảm bảo ngưỡng khuyến cáo an toàn với sức khỏe cộng đồng do
nồng độ bụi PM10 vượt ngưỡng QCVN 05:2013/BTNMT vẫn chiếm tỷ lệ
lớn. Bên cạnh đó, nồng độ NOx trong không khí cao vượt mức cho phép
QCVN cũng góp phần đáng kể trong những ngày giá trị AQI vượt ngưỡng
100 (Báo cáo Môi trường quốc gia 2013 – Môi trường không khí).
(3) Môi trường đất
Mặc dù công tác bảo vệ môi trường (BVMT) đã được lồng ghép trong
các văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
(KTXH), song việc triển khai thực hiện còn hạn chế nên môi trường ở Việt
Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể, trong đó môi trường đất đang có xu
hướng bị ô nhiễm và suy thoái ngày càng nghiêm trọng.
Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) thiếu bền vững. Hàng năm ước tính
tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng - 12 -
2,5 - 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 - 70% không được cây trồng sử dụng
thải ra môi trường. Ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề,
môi trường đất cũng bị ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh
hoạt. Hiện chỉ có 60% khu công nghiệp có có hệ thống xử lý nước thải. Hầu
hết nước thải sinh hoạt đô thị đều không được xử lý mà xả thẳng ra môi
trường nên hàm lượng kim loại nặng trong đất ở một số làng nghề đã xấp xỉ
hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép.
Đặc biệt, môi trường đất ở một số nơi đang bị ô nhiễm do chất độc hóa
học tồn lưu sau chiến tranh. Cụ thể như tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa
(Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định) vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn
m3 đất và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng dioxin gấp hàng
trăm, thậm chí hàng nghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động
xấu đến sức khỏe con người và môi trường tại các khu vực lân cận. Ngoài ra
còn có 335 điểm tồn lưu thuốc BVTV trên cả nước đã được xác định, nhưng
chưa giải quyết dứt điểm. Bên cạnh đó, đất canh tác nông nghiệp nhiều nơi
đang bị suy thoái do sạt lở, rửa trôi, xói mòn, hoang mạc hóa, mặn hóa và phèn hóa.
Riêng các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên với lượng đất bị xói
mòn hàng năm lên tới 33,8 - 150,5 tấn/ha. Đồng thời còn có khoảng 9,3
triệu ha đất, chiếm 28% diện tích tự nhiên có liên quan đến hoang mạc hóa,
trong đó 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóa nặng và 2 triệu ha khác đang
có nguy cơ thoái hóa cao. Thêm vào đó là dải hoang mạc cát ven biển từ
Quảng Bình đến Bình Thuận lên đến 419.000 ha; hiện tượng mặn hóa, phèn
hóa, xâm thực mặn ở các cửa sông và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) đang trở lên gay gắt trong những năm gần đây do ảnh hưởng của
BĐKH (Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, 2012).
(4) Môi trường nước mặt
Chất lượng nước mặt của Việt Nam đang có chiều hướng ngày càng bị
suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó, sự gia tăng
dân số, gia tăng nhu cầu về nước do gia tăng chất lượng cuộc sống, đô thị
hoá cũng như quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước kém hiệu
quả, thiếu bền vững đang là mối đe doa an ninh nguồn nước và có nguy cơ
sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ khó lường. Nhiều sông, hồ, kênh, rạch ở các thành
phố lớn, các khu dân cư tập trung đang dần biến thành nơi chứa các chất
thải đô thị, chất thải công nghiệp chưa qua xử lý. Ở khu vực nông thôn, tình
trạng ô nhiễm môi trường nước mặt từ nguồn nước thải sinh hoạt, sản xuất - 13 -
nông nghiệp, chăn nuôi và sản xuất của các làng nghề cũng đang cần sự
quan tâm kịp thời. Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang
là vấn đề cấp bách, không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các cấp quản lý, các
doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
(Báo cáo quốc gia 2012 – Môi trường nước mặt).
(5) Môi trường nông thôn
Nhìn chung, chất lượng các thành phần môi trường vẫn còn khá tốt với
hầu hết giá trị của các thông số nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép. Tuy
nhiên, ô nhiễm cục bộ môi trường không khí, nước mặt, nước dưới đất, môi
trường đất đã xuất hiện tại một số nơi. Đối với môi trường không khí, đáng
chú ý nhất là vấn đề ô nhiễm bụi. Bên cạnh đó, ô nhiễm do khí thải NH3,
SO2, NO2 và ô nhiễm mùi cũng đã được ghi nhận tại một số khu sản xuất
công nghiệp, làng nghề. Đối với môi trường nước mặt, vấn đề phổ biến là ô
nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh. Đối với nước dưới đất, ô nhiễm
cục bộ vi sinh, kim loại nặng và ô nhiễm chất hữu cơ cũng đã được ghi
nhận. Đối với môi trường đất, quá trình thoái hóa đang ảnh hưởng đến nhiều
diện tích đất nông nghiệp. Tình trạng sử dụng bất hợp lý phân bón, hóa chất
BVTV cũng như ô nhiễm đất do các chất độc hóa học tồn lưu đang trở thành
vấn đề đáng báo động ở một số tỉnh thành. Vấn đề phát sinh, thu gom và xử
lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) nông thôn, chất thải rắn làng nghề và
chất thải trồng trọt, chăn nuôi cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Nguyên
nhân chủ yếu là do các hoạt động sản xuất ở các vùng nông thôn còn mang
tính tự phát, nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên/nhiên liệu
thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế cùng với nhận thức của người dân về bảo
vệ môi trường chưa thực sự được phát huy. Trong những năm gần đây, các
cụm công nghiệp có xu hướng chuyển dần về khu vực nông thôn. Thực chất
đây chỉ là xu hướng dịch chuyển ô nhiễm từ vùng này sang vùng khác. Các
yếu tố này đã tạo sức ép lên môi trường và là nguyên nhân trực tiếp gây ô
nhiễm môi trường (ONMT) ở một số vùng nông thôn (Báo cáo đánh giá môi
trường quốc gia 2014 – Môi trường nông thôn).
(6) Chất thải rắn (CTR)
Trong những năm qua, tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển KTXH của đất nước.
Kèm theo đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt vấn đề CTR phát sinh từ sinh
hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, xây dựng, đặc biệt là chất thải nguy hại (CTNH)… - 14 -
Lượng CTR phát sinh tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm. Theo nguồn
gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh từ đô thị, 17% CTR từ hoạt động
sản xuất công nghiệp, CTR nông thôn, làng nghề và y tế chiếm phần còn lại.
Dự báo đến năm 2025, tỷ trọng này cho CTR đô thị và CTR công nghiệp sẽ
còn tiếp tục tăng lên tương ứng 51% và 22%. Theo mức độ độc hại, lượng
CTNH chiếm từ 18-25% lượng CTR phát sinh của mỗi lĩnh vực.
Việc quản lý CTR đã được triển khai ở các cấp, các ngành, nhiều biện
pháp, giải pháp đã được xây dựng, đề xuất nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm môi
trường do CTR. Tỷ lệ thu gom CTR tăng lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt, công nghiệp và dịch
vụ các khu đô thị, các KCN, KCX khoảng 80-82% (tỷ lệ này là 83-85% ở
khu vực đô thị và khoảng 40-55% ở khu vực nông thôn) (Báo cáo môi
trường quốc gia 2011 – Chất thải rắn).
(7) Môi trường khu công nghiệp (KCN)
Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt
Nam đề cập đến 3 vấn đề chủ yếu:
- Nước thải từ các KCN có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ
lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và một số kim loại nặng. Khoảng 70% trong số
hơn 1 triệu m3 nước thải/ ngày từ các KCN được xả thẳng ra các nguồn tiếp
nhận không qua xử lý đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt. Chất lượng
nước mặt tại những khu vực chịu tác động của nguồn thải từ các KCN đã
suy thoái, đặc biệt tại các lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy.
- Ô nhiễm không khí ở các KCN mang tính cục bộ, tập trung nhiều ở
các KCN cũ bởi công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải.
- Lượng CTR từ các KCN có chiều hướng gia tăng, tập trung nhiều nhất tại
các KCN trọng điểm Bắc Bộ và phía Nam. Trong đó thành phần CTR nguy hại
chiếm khoảng 20%, tỷ lệ CTR có thể tái chế hoặc tái sử dụng khá cao....
- So với nhiều nước khác, vấn đề môi trường ở Việt Nam cấp bách hơn -
điều này được lý giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Hậu quả của chiến tranh - từ những cuộc ném bom hủy diệt hay việc
rải chất độc màu da cam do Mỹ thực hiện trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam… - 15 -
- Xu hướng xuất khẩu tài nguyên để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa
hoặc trả các món nợ nước ngoài. Tuy nhiên, việc thiếu quy hoạch cũng như
xem xét khả năng tái sinh trong khai thác đã dẫn đến những hủy hoại
nghiêm trọng về môi trường.
- Sự hạn chế về tài chính và công nghệ kéo theo những hạn chế trong xử
lý chất thải (CTCN, CTSH …), dẫn đến những tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
- Ý thức bảo vệ môi trường của phần lớn các tầng lớp dân cư còn thấp.
Những khó khăn kinh tế, nhu cầu sinh hoạt trước mắt đã hạn chế nhận thức
và hành vi vì môi trường.
- Cho đến cuối thế kỉ XX, hệ thống pháp luật của Nhà nước chưa thực
sự chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường. Đến nay, tuy Nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật về môi trường song việc triển khai thực hiện
chưa triệt để và còn nhiều hạn chế.
- Sự gia tăng và bùng nổ dân số: Vào những năm 1970s, dân số nước ta
có hơn 30 triệu người, song đã tăng hơn 3 lần - 90 triệu người vào cuối
2013, tạo nên những mâu thuẫn với diện tích đất và tài nguyên thiên nhiên
có hạn; cùng với sự thiếu định hướng và kiểm soát cần thiết đối với hoạt
động của con người, dẫn đến sự gia tăng các yếu tố gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.
- Vấn đề BVMT nói riêng và phát triển bền vững (PTBV) nói chung
đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong Chiến lược PTBV
Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tháng
4/2012, vấn đề môi trường được nhấn mạnh: “PTBV là yêu cầu xuyên suốt
trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa
giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi
trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. PTBV là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành và địa
phương, các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư
và mỗi người dân”.
1.1.3. Quản lý môi trường trong phát triển
Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu
thiết yếu (vật chất và phi vật chất) thông qua việc tích lũy vốn cộng đồng và
đầu tư hiệu quả trong sự tiến bộ của một nền kinh tế, bao hàm việc nâng cao
chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Bên cạnh đó, phát triển còn bao - 16 -
gồm khía cạnh bảo vệ môi trường, yêu cầu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,
tài nguyên con người và tài nguyên văn hóa (Nguyễn Thế Chinh, 2003).
Giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ rất chặt chẽ: Môi trường
là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân dẫn
đến các biến đổi môi trường. Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hóa được
di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân
chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm và phế thải. Các thành phần
trên luôn ở trong trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội
của hệ thống môi trường đang tồn tại trong cùng địa bàn. Khu vực giao nhau
giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.
Tác động qua lại giữa môi trường và phát triển biểu hiện cho mối quan
hệ hai chiều giữa hệ thống KTXH và hệ thống môi trường. Tác động của
hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo
môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng
có thể gây ra ONMT tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên
đồng thời cũng tác động đến sự phát triển KTXH thông qua sự suy thoái
nguồn tài nguyên – đang là đối tượng của hoạt động phát triển, hoặc các thảm họa, thiên tai…
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển.
Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến
hoá và ngừng sự phát triển của mình. Con đường để giải quyết mâu thuẫn
giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển nhưng giữ sao
cho phát triển không tác động tiêu cực tới môi trường.
Quản lý môi trường (QLMT) là một trong những công tác quan trọng
phục vụ mục tiêu phát triển bền vững (PTBV), giữ được sự cân bằng giữa
phát triển KT, XH và BVMT. Nói cách khác, phát triển KTXH tạo ra tiềm
lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội
mới cho công cuộc phát triển KTXH trong tương lai. Tùy thuộc vào điều
kiện tự nhiên, KTXH, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng
quốc gia, mục tiêu QLMT có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên
riêng đối với mỗi quốc gia.
Ðể đáp ứng cao hơn đòi hỏi khách quan của sự nghiệp BVMT và PTBV,
cần tăng cường năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước (CQQLNN) về
BVMT (tổ chức, bộ máy, nhân lực và các nguồn lực khác) nhằm điều phối
hiệu quả các mối quan hệ giữa phát triển KTXH và môi trường. Hội nghị - 17 -
Rio cũng như các hội nghị khác đã chỉ ra rằng các tổ chức phi chính phủ
đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực BVMT và PTBV. Các tổ chức phi
chính phủ ở Việt Nam đã được thành lập và cũng đóng góp tiếng nói trong
sự nghiệp PTBV của đất nước như Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam.
1.2. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ TRONG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.2.1. Vai trò của pháp luật và chính sách trong quá trình phát triển KTXH
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ, sự
phát triển của mỗi quốc gia không thể chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên
nhiên, vị trí địa lý… mà còn xuất phát từ các chủ trương, chính sách đúng
đắn và những định hướng phát triển mang tính chiến lược. Bên cạnh đó là
sự phụ thuộc vào tầm nhìn, tư duy, năng lực của các nhà lãnh đạo, nhà quản
lý, nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ chuyên gia giỏi cũng như trình
độ của nền khoa học và công nghệ… Trong lịch sử nhân loại, hoạt động
quản lý từng được hình thành sớm. Cùng với sự phát triển của các tổ chức
xã hội, nhà nước…, yêu cầu về tổ chức, quản lý cũng được đặt ra như một
vấn đề thiết yếu. Quản lý và chính sách có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ.
Chính sách có thể được coi là công cụ để thực thi hoạt động quản lý - là
phương tiện hữu hiệu của quản lý. Mặt khác, nhà quản lý thực hiện mục tiêu
của mình bằng các chính sách và thông qua việc hoạch định, ban hành chính
sách để đạt được kế hoạch đề ra. Hiện nay, khi khoa học đã trở thành một
thiết chế, chuẩn mực xã hội, mọi quyết định, đặc biệt là các quyết định
chính sách càng phải dựa trên những luận cứ khoa học khách quan, chính
xác. Yêu cầu đặt ra là việc hoạch định, ban hành chính sách phải gắn với
thực tiễn đồng thời tạo dựng được niềm tin, có vai trò định hướng, phá bỏ
rào cản, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển.
Chính sách có vai trò định hướng cho các chủ thể khác nhau trong xã
hội cùng hành động vì mục tiêu chung và thể hiện thái độ chính trị của Nhà
nước với các biến cố kinh tế - xã hội nảy sinh trong từng giai đoạn phát
triển. Vai trò của chính sách được thể hiện như:
- Định hướng cho các hoạt động kinh tế - xã hội thông qua mục tiêu và cách thức hành động; - 18 -
- Khuyến khích các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng như:
Thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động đầu tư phát triển, khuyến khích tăng
cường trang thiết bị kỹ thuật trong các đơn vị kinh tế để tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động;
- Phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường;
- Tạo lập và cân đối trong phát triển bằng cách khuyến khích các tiềm
năng trong tương lai của những ngành, lĩnh vực và vùng kém phát triển để nhanh chóng cân bằng;
- Kiểm soát và phân phối nguồn lực cho quá trình phát triển;
- Tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội, giúp
các thực thể vận động và phát triển theo đúng quy luật;
- Dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần, các bộ phận trong xã hội vận động
phát triển theo định hướng;
- Phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành để tạo nên tính đồng bộ,
hệ thống chặt chẽ trong quá trình vận động của nền kinh tế.
Cùng với đó, pháp luật cũng có vai trò vô cùng quan trọng -là một trong
những công cụ không thể thiếu của nhà nước để tổ chức và quản lý xã hội,
duy trì và bảo vệ trật tự xã hội, tạo điều kiện và định hướng cho sự phát
triển xã hội. Đặc biệt, pháp luật luôn tác động và ảnh hưởng rất lớn tới sự
phát triển của các quan hệ xã hội – trong đó có quan hệ kinh tế - xã hội.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc ứng xử do nhà nước ban hành và đảm bảo
thực thi, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
Vai trò của pháp luật đối với kinh tế: Kinh tế là tổng thể các mối quan
hệ tương tác lẫn nhau của con người -liên quan trực tiếp đến việc sản xuất,
trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu ngày càng cao của con người với một nguồn lực có giới hạn. Pháp
luật và kinh tế tương ứng với kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của xã
hội, theo đó, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, quy định của pháp luật không
được cao hơn hoặc thấp hơn trình độ của nền kinh tế sinh ra nó. Thông qua
việc điều tiết nền kinh tế, pháp luật có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển khi
những quy định của nó phù hợp, phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh
tế. Ngược lại, pháp luật cũng có thể kìm hãm sự phát triển của kinh tế khi - 19 -
