



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---o0o--- TIỂU LUẬN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Sự biến đổi trong các mối quan hệ gia đình Việt Nam
hiện nay. Liên hệ trách nhiệm của sinh viên trong việc
xây dựng mối quan hệ gia đình.
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Kiều Tiên Nhóm: 30 - Tổ: 08
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thanh Tiến 42200352 Ngọ Thùy Trang 22200042
Nguyễn Ngọc Bảo Trâm 22200054 Võ Thị Bích Trâm C2200102 Nguyễn Huyền Trâm 62200104
Huỳnh Ngọc Bảo Trân 22200024 Lê Huỳnh Hà Trân 92200057 Trương Tú Trân 62200377
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2024
MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC CỦA THÀNH VIÊN NHÓM STT MSSV Họ và tên Nhiệm vụ Mức độ Chữ hoàn thành ký 1 42200352 Nguyễn Thanh Tiến Mục 2.2 100% 2 22200042 Ngọ Thùy Trang Mục 1.2 100% 3 22200052 Nguyễn Ngọc Bảo Trâm Lời mở đầu và kết luận 100% 4 C2200102 Võ Thị Bích Trâm Mục 3 100% 5 62200104 Nguyễn Huyền Trâm Tổng hợp báo cáo 100% 6 22200024 Huỳnh Ngọc Bảo Trân Mục 2.3 100% 7 92200057 Lê Huỳnh Hà Trân Mục 1.1 100% 8 62200377 Trương Tú Trân Mục 2.1 100% MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................1 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT............................................................................3
1.1. Gia đình.........................................................................................................3
1.1.1. Cơ sở hình thành gia đình................................................................................
1.1.2. Vị trí của gia đình trong xã hội........................................................................
1.1.3. Các chức năng của gia đình.............................................................................
1.2. Mối quan hệ trong gia đình............................................................................6
CHƯƠNG 2: SỰ BIẾN ĐỔI TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ GIA VIỆT NAM HIỆN
NAY..................................................................................................................8
2.1. Biến đổi về cấu trúc gia đình.........................................................................8
2.1.1. Quy mô gia đình..............................................................................................
2.1.2. Vai trò của từng thành viên trong gia đình....................................................10
2.2. Biến đổi về văn hóa gia đình.......................................................................11
2.2.1. Quan hệ giữa vợ và chồng.............................................................................11
2.2.2. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái....................................................................12
2.2.3. Quan hệ giữa người lớn tuổi và con cháu......................................................13
2.3.Ảnh hưởng của những biến đổi.....................................................................14
2.3.1. Ảnh hưởng tích cực.......................................................................................14
2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực.......................................................................................14
2.3.3. Một số giải pháp khắc phục...........................................................................15
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC XÂY
DỰNG MỐI QUAN HỆ TRONG GIA ĐÌNH.................................................16
KẾT LUẬN...............................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................20 3 LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại của sự tiến bộ khoa học và công nghệ, xã hội Việt Nam đang trải
qua những biến đổi sâu sắc, và một trong những lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất
là mối quan hệ gia đình. Các gia đình Việt Nam hiện nay đang trải qua những thay đổi
đáng kể trong cấu trúc, chức năng và giá trị của mình. Việc hiểu và nhận thức đúng về
những biến đổi này không chỉ là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu mới của xã hội, mà
còn là nhiệm vụ trọng yếu của sinh viên trong việc xây dựng mối quan hệ gia đình
đúng nghĩa và có trách nhiệm.
Dưới góc nhìn của chủ nghĩa xã hội khoa học, gia đình Việt Nam hiện đại đang
chịu nhiều tác động sâu sắc từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế của đất nước. Trong qua trình phát triển của xã hội, gia đình đã trải qua nhiều
biến đổi lịch sử, nhưng giá trị tốt đẹp của nó vẫn tồn tại và không bao giờ mất đi.
Quan hệ vợ chồng dần được xây dựng trên cơ sở tình yêu, sự lựa chọn tự nguyện và
xu hướng bình đẳng hơn. Phụ nữ ngày càng có nhiều quyền tự chủ về kinh tế, tiếp cận
giáo dục và tham gia hoạt động xã hội. Song song với những thuận lợi, gia đình Việt
Nam hiện đại cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như tình trạng ly hôn, bạo lực
gia đình gia tăng, xung đột thế hệ, mâu thuẫn giữa công việc và gia đình. Nguyên
nhân một phần do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa quá nhanh, của
nền kinh tế thị trường, sự phổ biến của lối sống hiện đại, quan niệm sống tự do cá
nhân hóa và sự suy giảm dần ý thức đạo đức truyền thống.
Đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ sự biến đổi trong các mối quan hệ gia
đình Việt Nam hiện nay và tìm hiểu trách nhiệm của sinh viên trong việc xây dựng
mối quan hệ gia đình. Khi nghiên cứu sâu hơn về đề tài này, ta nhận thấy xây dựng
một gia đình không hề dễ dàng. Trong quá trình xây dựng một gia đình trong thời kỳ
này, chúng ta đối mặt với nhiều mối quan hệ trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thông qua
đề tài này, chúng ta cũng có thể nhận thấy ưu điểm và nhược điểm của việc xây dựng
gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là hình ảnh gia đình Việt
Nam đang ngày càng phát triển và tiến bộ trong thời kỳ này. Đối tượng nghiên cứu 4
của chúng ta là các mối quan hệ gia đình hiện nay, vai trò của sinh viên và trách
nhiệm của họ trong việc xây dựng và duy trì mối quan hệ gia đình.
Để nghiên cứu đề tài "Sự biến đổi trong các mối quan hệ gia đình Việt Nam
hiện nay. Liên hệ trách nhiệm của sinh viên trong việc xây dựng mối quan hệ gia
đình", chúng tôi đã chọn áp dụng phương pháp phân tích tài liệu, khát quát hóa thông
tin, thu thập và xử lý dữ liệu. Phương pháp này giúp tìm kiếm thông tin từ cơ bản đến
nâng cao từ các nguồn đã và đang nghiên cứu về sự biến đổi trong các mối quan hệ
gia đình Việt Nam hiện nay. Sử dụng phương pháp thứ cấp để thu thập thông tin từ
các nguồn như báo chí, giáo trình có liên quan đến nội dung đề tài. Đồng thời, sử dụng
các phương pháp logic khác để đối chiếu và nghiên cứu những vấn đề cần tìm hiểu.
Bài tiểu luận nhóm chúng em bao gồm những nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết 1.1 Gia đình
1.2 Mối quan hệ trong gia đình
Chương 2: Sự biến đổi trong các mối quan hệ gia Việt Nam hiện nay
2.1 Biến đổi về cấu trúc gia đình
2.2 Biến đổi về văn hoá gia đình
2.3 Ảnh hưởng của những biến đổi
Chương 3: Liên hệ trách nhiệm của sinh viên 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1. Gia đình
1.1.1. Cơ sở hình thành gia đình
Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của xã hội.
Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ hôn nhân (vợ và
chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ và con cái...). Tồn tại trong sự gắn bó, liên
kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, bởi nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi
người, được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý.
Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành,
duy trì và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ
nuôi dưỡng, cùng với những quy định về quyền với nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
1.1.2. Vị trí của gia đình trong xã hội
a) Gia đình là tế bào của xã hội
Có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Với
việc sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, tái sản xuất ra con người, gia đình
như một tế bào tự nhiên, là một đơn vị cơ sở để tạo nên cơ thể - xã hội. Không có gia
đình để tái tạo ra con người thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy,
muốn có một xã hội phát triển lành mạnh thì phải quan tâm xây dựng tế bào gia đình tốt.
b) Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên
Gia đình là môi trường tốt nhất để được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc,
trưởng thành, phát triển. 6
Sự yên ổn, hạnh phúc của mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự
hình thành, phát triển nhân cách, thể lực, trí lực để trở thành công dân tốt cho xã hội.
c) Gia đình là cầu nối giữa cá nhân với xã hội
Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng
rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của từng người.
Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại không chỉ sống trong quan hệ gia đình, mà còn có
nhu cầu quan hệ xã hội, với những người khác. Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên
của gia đình mà còn là thành viên của xã hội. Ngược lại, gia đình cũng là một trong
những cộng đồng để xã hội tác động đến cá nhân. Nhiều thông tin, hiện tượng của xã
hội thông qua lăng kính gia đình mà tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển
của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách.
1.1.3. Các chức năng của gia đình
a) Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng đặc thù của gia đình, không một cộng đồng nào có thể thay thế.
- Đáp ứng nhu cầu tâm, sinh lý tự nhiên của con người.
- Là chức năng duy trì nòi giống cho gia đình.
- Đáp ứng nhu cầu về sức lao động, sự tồn tại của xã hội.
Và là vấn đề của xã hội vì nó thực hiện chức năng quyết định đến mật độ dân
cư và nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế, một yếu tố cấu thành của tồn tại xã hội.
Chức năng này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển xã hội vì ảnh hưởng đến
trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động.
b) Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục 7
Gia đình còn có trách nhiệm nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái trờ thành người có ích
cho gia đình, cộng đồng và xã hội. Chức năng này thể hiện tình cảm thiêng liêng,
trách nhiệm của cha mẹ với con cái, đồng thời thể hiện trách nhiệm của gia đình với
xã hội. Và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người.
Giáo dục có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đến cuộc đời của mỗi thành viên.
Mỗi thành viên trong gia đình đều có vị trí, vai trò nhất định, vừa là chủ thể vừa là
khách thể trong việc nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình.
Thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, đòi hỏi mỗi người làm cha, làm
mẹ phải có kiến thức cơ bản, tương đối toàn diện về mọi mặt, văn hóa, học vấn, đặc
biệt là phương pháp giáo dục.
c) Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và tái sản sản xuất ra tư liệu
sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Tuy nhiên, đặc thù của gia đình là đơn vị duy nhất tham
gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội.
Gia đình còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội, thực hiện chức năng tổ chức
tiêu dùng hàng hóa để duy trì đời sống của gia đình về lao động sản xuất cũng như các sinh hoạt trong gia đình.
Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bào nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu
vật chất, tinh thần của các thành viên trong gia đình. Đồng thời, gia đình đóng góp vào
quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải, sự giàu có của xã hội.
d) Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình
Đây là chức năng thường xuyên của gia đình.
Thỏa mãn nhu cầu tình cảm, văn hóa, tinh thần cho các thành viên. 8
Đảm bảo sự cân bằng tâm lý, bảo vệ chăm sóc sức khỏe người ốm, người già, trẻ em.
Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình vừa là nhu
cầu tình cảm vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người.
e) Ngoài những chức năng trên, gia đình còn có chức năng văn hóa, chức năng chính trị...
Với chức năng văn hóa, gia đình là nơi lưu giữ truyền thống văn hóa của dân
tộc. Những phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng được thực hiện trong gia đình.
Với chức năng chính trị, gia đình là một tổ chức chính trị của xã hội, là nơi tổ
chức thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước và quy chế (hương ước) của làng
xã và hưởng lợi từ hệ thống pháp luật, chính sách và quy chế đó. Gia đình là cầu nối
của mối quan hệ giữa nhà nước với công dân.
1.2. Mối quan hệ trong gia đình
Gia đình được hình thành trên cơ sở của hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ hôn
nhân (vợ và chồng) và mối quan hệ huyết thống (cha mẹ và con cái…). Những mối
quan hệ này luôn tồn tại trong sự gắn bó liên kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, bởi
nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý.
- Quan hệ hôn nhân là cơ sở, nền tảng hình thành nên các mối quan hệ khác
trong gia đình, là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của mỗi gia đình.
- Quan hệ huyết thống là quan hệ của những người cùng một dòng máu nảy
sinh từ quan hệ hôn nhân. Đây là mối quan hệ tự nhiên, là yếu tố mạnh mẽ
nhất gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau. 9
Trong gia đình ngoài hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ vợ và chồng, quan hệ
giữa cha mẹ với con cái, còn có các mối quan hệ khác, quan hệ giữa ông bà với cháu
chắt, giữa anh chị em với nhau…
Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung còn thừa nhận quan hệ
cha mẹ nuôi với con nuôi được công nhận bằng thủ tục pháp lý trong mối quan hệ gia đình.
Dù là hình thức nào trong gia đình tất yếu nảy sinh mối quan hệ nuôi dưỡng,
quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình về cả vật chất và tinh thần. Nó
là trách nhiện, nghĩa vụ và là quyền lợi thiêng liêng giữa các thành viên trong gia
đình. Các mối quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, biến đổi và phát triển phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị - xã hội. 10
CHƯƠNG 2: SỰ BIẾN ĐỔI TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ GIA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Biến đổi về cấu trúc gia đình
2.1.1. Quy mô gia đình
Ngày xưa, gia đình Việt Nam thường là “Tam đại đồng đường, tứ đại đồng
đường”, có nghĩa là gồm ba hay bốn thế hệ ở cùng một nhà.
Dưới mái nhà của gia đình Việt Nam từ ngàn xưa luôn tồn tại ba, bốn thế hệ
cùng chung sống “tứ đại đồng đường”, tạo ra những giá trị đạo đức, gia phong. Một
đứa trẻ lớn lên “Trẻ cậy cha, già cậy con”, là một vòng khép kín trong sự bảo bọc của
gia đình. Dù có khiếm khuyết vì lý do nào đó thì “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”.
Ngược lại, con cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ khi tuổi già.
Qua thời gian, ngày nay các tiêu chí trên tưởng như sẽ bất di bất dịch đó đến
nay đã khác. Đơn cử như ông bà bỗng nhiên không muốn sống chung với con cháu,
bố mẹ cũng không nhất thiết phải “quan trọng” lo nhà cửa cho con cháu.
Quy mô gia đình ngày nay tồn tại xu hướng thu nhỏ hơn so với trước kia, số
thành viên trong gia đình trở nên ítt đi. Nếu như gia đình truyền thống xưa có thể tồn
tại đến ba bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà thì hiện nay, quy mô gia đình
hiện đại đã ngày càng được thu nhỏ lại. Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ
cùng sống chung: cha mẹ - con cái, số con trong gia đình cũng không nhiều như trước,
cá biệt còn có số ít gia đình đơn thân, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân.
Gia đình hạt nhân là hình thái gia đình gồm có bố, mẹ và con cái còn nhỏ tuổi.
Trong gia đình hạt nhân, chế độ gia trưởng đã phải nhường bước dần cho sự bình đẳng
ngày càng phát triển hơn giữa nam và nữ, vợ và chồng. Công việc nội trợ không còn là
bổn phận duy nhất của người phụ nữ, cũng như công việc kiếm tiền, nuôi sống gia
đình không còn là nhiệm vụ duy nhất của nam giới.
Trong xu thế phát triển hiện nay, cùng với những vận động và biến đổi của xã
hội, gia đình Việt Nam chịu những tác động không nhỏ mà ở đó gia đình hạt nhân là 11
xu hướng lựa chọn phổ biến không chỉ với giới trẻ. Gia đình hạt nhân tồn tại như một
đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã
hội. Gia đình hạt nhân mô hình nhỏ gọn cũng giúp cho mỗi thành viên trong gia đình
có không gian riêng, được trải nghiệm, được thỏa mãn những nhu cầu riêng tư, tôn
trọng quyền tự do, bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Mỗi thành viên trong
gia đình hạt nhân đều có cơ hội phát triển sự nghiệp. Trong gia đình hạt nhân, người
chồng, người vợ là hình mẫu của mối quan hệ yêu thương, quan tâm chăm sóc và hỗ
trợ lẫn nhau để con cái noi theo. Họ có thể dạy con cái tự biết tìm những mối quan hệ
tích cực, tương tác tốt với người khác, để trẻ thành công hơn trong tương lai. Những
trẻ sống trong gia đình nhỏ còn học được cách giải quyết vấn đề, ủy thác những trách
nhiệm, biết giúp đỡ nhau.
Đặc biệt, những gia đình nhỏ có kinh tế ổn định, sẽ dễ dàng đáp ứng những nhu
cầu và cơ hội của con cái, giúp trẻ có điều kiện phát triển về mặt xã hội, học hành và
tự tin hơn. Ngoài tính ổn định, gia đình nhỏ còn đem lại sự kiên định. Nhờ đó mà con
trẻ biết cư xử theo chiều hướng tích cực, học tập tốt hơn và tỏ ra linh hoạt hơn trong
các hoạt động cộng đồng, ngoại khóa.
Cạnh đó, việc ra riêng sẽ giúp mỗi thành viên có điều kiện phát huy bản thân,
trong khi đó, khi sống trong gia đình nhiều thế hệ thì sẽ chênh lệch về tuổi tác dẫn đến
khác nhau về tâm lý, tư tưởng, quan điểm sống dễ dẫn đến việc các thành viên trong
gia đình khó hiểu nhau và gây xung đột. Ở gia đình hạt nhân việc bình đẳng giới cũng
đặc biệt được chú trọng.
Nếu như trước đây, mỗi thành viên trong gia đình “tôn ti trật tự” phải tuân theo
rất nhiều quy định hà khắc thì ngày nay, mỗi người được sống tự do hơn trong không gian riêng tư của mình.
Tất nhiên, quá trình biến đổi đó cũng gây những phản chức năng như tạo ra sự
ngăn cách không gian giữa các thành viên trong gia đình, tạo khó khăn, trở ngại trong
việc gìn giữ tình cảm cũng như các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình. Xã hội
ngày càng phát triển, mỗi người đều bị cuốn theo công việc của riêng mình với mục
đích kiếm thêm thu nhập, thời gian dành cho gia đình cũng vì vậy mà ngày càng ít đi. 12
Con người dường như rơi vào vòng xoáy của đồng tiền và vị thế xã hội mà vô tình
đánh mất đi tình cảm gia đình. Các thành viên ít quan tâm lo lắng đến nhau và giao
tiếp với nhau hơn, làm cho mối quan hệ gia đình trở nên rời rạc, lỏng lẻo.
2.1.2. Vai trò của từng thành viên trong gia đình.
Đối với các gia đình xưa, chồng thường là chủ gia đình, có quyền quyết định
mọi hoạt động lớn nhỏ trong gia đình. Giữ vị trí là người chủ trong gia đình
Vợ là người phụ nữ thường bị phụ thuộc vào chồng. Không có vị trí nếu không
sinh được con trai. Người vợ phải có trách nhiệm sinh con trai, làm mọi công việc
nhà. Tuy nhiên, người phụ nữ đã có vai trò quan trọng sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận
các nguồn lực phát triển, các quyết định sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng phúc lợi xã hội, gia đình.
Con cái nếu là con trai thì được coi trọng hơn nhiều, còn nếu là con gái thì ít
được coi trọng, thâm chí miệt thị. Thường con cái phải tuân theo lời của bố mẹ. “Cha
mẹ đặt đau con ngồi đấy”. Ngày nay đã giảm phân biệt giữa nam và nữ. Con cái có
quyền lựa chọn bạn đời cho mình, có quyền quyết định cuộc sống của mình khi đến tuổi công dân.
Gia đình trong những xã hội trước chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo.
Cha mẹ, con cái có một giới hạn khoảng cách nhất định. Con cái phải tuyệt đối nghe
lời cha mẹ từ nhỏ đến lớn, những việc trọng đại như kết hôn, cha mẹ cũng sắp đặt theo
kiểu “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Nếu con cái không nghe lời, hoặc có tư tưởng
khác với ý của cha mẹ thì sẽ bị cho là bất hiếu. Những trường hợp vợ chồng sống
không hạnh phúc cũng tuyệt nhiên không có chuyện li hôn. Xã hội rất khắt khe và
nặng nề với những vấn đề như vậy. Do đó, mà mọi người, đặc biệt là phụ nữ, không
bao giờ có tư tưởng đứng lên đấu tranh cho mình.
Nhưng xã hội dần trở nên tiến bộ, cha mẹ tôn trọng quyết định của con, từ việc
học gì, làm việc thế nào đến những chuyện trọng đại như kết hôn. Mặc dù không phải
tất cả gia đình đều như vậy, nhưng tư tưởng này đang ngày càng phổ biến. Vợ chồng
cũng dần bình đẳng, chuyện chung sống không hạnh phúc và chia tay cũng không có
gì lạ. Nhưng những chuẩn mực đạo đức thì không thay đổi. Con cái vẫn phải hiếu kính 13
với cha mẹ, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, mọi người trong gia đình vẫn
phải yêu thương, đùm bọc nhau.
2.2. Biến đổi về văn hóa gia đình
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mà các gia đình Việt Nam chịu
nhiều biến đổi. Cũng vì thế mà văn hóa gia đình Việt Nam phải đối mặt với những
thách thức cũng như hạn chế và hệ quả của toàn cầu hóa. Mối quan hệ trong gia đình
trở nên lỏng lẻo, thiếu gắn kết giữa các thành viên trong gia đình. Các vợ, chồng dần
thiếu đi sự yêu thương ban đầu dẫn đến gia đình không đồng thuận, đồng thời sự phát
triển văn hóa gia đình giảm sút tất yếu mà ly hôn. Con cái cũng vì thế mà thiếu đi sự
quan tâm của cha, mẹ hoặc chịu nhiều tổn thương về thể xác lẫn tinh thần do rạn nứt
tình cảm gia đình. Ngoài ra, do sự tiếp xúc các khoa học công nghệ hiện đại, những tư
tưởng trên các mạng xã hội mà nhiều trẻ em trở nên lệch lạc, sống ích kỷ, không còn
mối quan tâm gia đình như yêu cha, mẹ; ông, bà; anh, chị, em; các thành viên trong gia đình.
Sự biến đổi truyền thống về gia đình Việt Nam từ gia đình nhiều thế hệ kiểu
“ngũ đại, “tứ đại”, “tam đại” đường đồng hiện chỉ còn đa phần là gia đình có hai thế
hệ cha, mẹ; con cái. Vì công việc mà đi làm ăn xa hay các cặp vợ, chồng muốn ở riêng
mà nhiều người già cô đơn, thui thủi một mình…
2.2.1. Quan hệ giữa vợ và chồng
Mối quan hệ vợ chồng trong chế độ phong kiến và tư bản chủ nghĩa đều mang
nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, các quyền lợi hay tiếng nói của phụ nữ (người
vợ) rất hạn chế. Người chồng có tính gia trưởng, kết hôn với đa thê, nhiều thiếp, coi
phụ nữ là món hàng hay phương thức giải trí nên cuộc sống của người phụ nữ ở thời
kỳ này rất hà khắc, đen tối. Nguồn gốc cho sự khốn khổ của người phụ nữ là do chế
độ sở hữu tư liệu sản xuất. Để giải phóng phụ nữ, V.I. Lênin đã viết: “thủ tiêu chế độ
tư hữu về ruộng đất, công xưởng, nhà máy. Chính như thế và chỉ có như thế mới mở
được con đường giải phóng hoàn toàn và thật sự cho phụ nữ, mới thủ tiêu được “chế
độ nô lệ gia đình” nhờ có việc thay thế nền kinh tế gia đình cá thể bằng nền kinh tế xã hội hóa quy mô lớn”1. 14
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà nước thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một
chồng, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển như bình đẳng giới, vị trí của người phụ nữ
được tôn trọng, xã hội hóa tư liệu sản xuất nên phụ nữ được tham gia hoạt động kinh
tế. Do đó, người phụ nữ có quyền lựa chọn người mình yêu, người để kết hôn, không
còn sự sắp đặt hay ép buộc mà mang tinh thần hôn nhân tự nguyện. Cuộc sống hôn
nhân trong chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ hạnh phúc hơn, tự do hơn; phụ nữ có thể làm
chủ gia đình hoặc cùng với chồng làm chủ gia đình.
Song do tư tưởng “nữ quyền” quá mức hiện nay dẫn đến nhiều phụ nữ hiểu sai
và lạm dụng “nữ quyền” mang nhiều hệ lụy. Cùng với khả năng độc lập kinh tế, thăng
tiến trong công việc mà người chồng thường bị coi thường bởi chính người vợ, gây ra
nhiều xích mích trong gia đình hôn nhân. Tỷ lệ ly hôn một phần do đó mà tăng cao tại
Việt Nam, tỷ lệ nữ đệ đơn chiếm đến 70% (theo báo cáo của tòa án).
Tuy “nữ quyền”, bình đẳng giới được xã hội tiếp nhận và phát huy để xây dựng
xã hội chủ nghĩa nhưng cần xóa bỏ “nữ quyền” “độc hại”, xây dựng mối quan hệ vợ
chồng bền chặt, không còn bất đẳng giới dựa trên cơ sở tình yêu. Thêm vào đó, phát
triển tình cảm vợ, chồng, cần hiểu rõ và tôn trọng đối phương, quan tâm và chia sẻ tình yêu cho nhau.
2.2.2. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Trẻ em hiện nay được tiếp xúc với khoa học công nghệ hiện đại và các trang
mạng truyền thông đôi phần đã chịu ảnh hưởng lớn. Ngoài mặt phát triển về trí tuệ, trẻ
em học hỏi nhiều đều trên không gian mạng và các hoạt động thiên về kiến thức
nhưng về mặt tình cảm của trẻ không mấy được chú trọng. Nhiều bậc phụ huynh có
mong muốn con cái đạt nhiều thành tích mà cho con mình học đủ mọi thứ, tại mọi cơ
sở giảng dạy bất kể chiếm hết thời gian trong ngày của con. Con bị áp lực học tập và
thiếu đi khoảng thời gian phát triển tinh thần.
Ngoài ra, áp lực cuộc sống, áp lực đồng tiền hay là theo đuổi ham muốn cá
nhân mà các cha mẹ thiếu đi những thời gian ở bên và chăm sóc cho con. Nhiều gia
đinh hiện nay thuê các ô sin, bảo mẫu để chăm sóc con hay phó mặc con cho các trung
tâm học tập và nhà trường. 15
Những điều trên đã tác động rất nhiều đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái,
làm suy giảm và rạn nứt tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Cha mẹ dần thờ
ơ con, thiếu quan tâm tình cảm của con, thậm trí phớt lờ hay thiếu tôn trọng những ý
kiến, suy nghĩ của con. Còn về sự phát triển tinh thần của trẻ thì trở nên thiếu thốn,
“chậm phát triển”. Cùng với sự tiếp xúc khoa học công nghệ hiện nay đặc biệt là
thông tin mạng không kiểm soát phần nào đã khiến suy nghĩ của trẻ lệch lạc đi, trẻ trở
nên ích kỷ, đua đòi, hư hỏng, đặc biệt là trẻ trong tuổi vị thành niên có phần nổi loạn,
dễ mắc nhiều sai trái, thậm chí là phạm tội. Khoảng cách giữa cha mẹ và con cái dần
dần lớn do thiếu đi cầu nối tình cảm của nhau và cần thời gian để xây dựng nó.
2.2.3. Quan hệ giữa người lớn tuổi và con cháu
Ở những gia đình truyền thống Việt Nam, các thành viên trong gia đình gắn
kết, yêu thương và chung sống với nhau với nhiều thế hệ. Lợi ích chung của đại gia
đình luôn ưu tiên hàng đầu, đề cao lòng thiếu thảo của con cháu đối với người lớn, lấy
chữ “tròn chữ hiếu” để một lòng nghe theo mong muốn của ông bà, cha mẹ. Con cái
trong gia đình chịu sự sắp đặt của cha mẹ, ông bà, ngay cả việc yêu, cưới hỏi cũng
phải “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”.
Trong thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, nhiều kiểu gia
đình tiến bộ được xây dựng và phát triển. Các thành viên trong gia bình đẳng về địa
vị, có tiếng nói, không còn chịu sự sắp đặt “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” của thành
viên trẻ. Mặt khác, gia đình tiến bộ không còn nhiều thành viên hay nhiều thế hệ cùng
chung sống, các thành viên trong độ tuổi lao động đi làm xa quê, đi tìm một cuộc sống
mới. Phần lớn gia đình tiến bộ chỉ hai thế hệ là con cái và cha mẹ, chỉ có những dịp lễ
hay có nhiều ngày nghỉ mới đi thăm quê, thăm ông bà, thăm người thân, dòng họ. Tuy
khoảng cách giữa người thân với nhau, nhưng các gia đình nhỏ - gia đình tiến bộ vẫn
còn giữ tình cảm: con cháu giành thời gian để về thăm ông bà, cha mẹ; các cô chú, cậu
dì tặng quà, thăm các cháu của mình;... 16
2.3.Ảnh hưởng của những biến đổi
Những ảnh hưởng của sự biến đổi trong các mối quan hệ gia đình Việt Nam
hiện nay đều có cả mặt tích cực và tiêu cực. Đồng thời, mong muốn hướng tới một gia
đình hạnh phúc, thấu hiểu và bền vững cũng cần có những giải pháp phù hợp góp
phần xây dựng, hoàn thiện thêm thông qua ảnh hưởng của những biến đổi này.
2.3.1. Ảnh hưởng tích cực
-Cải thiện giao tiếp: Các thành viên trong gia đình ngày nay có thể dễ dàng chia sẻ,
gắn kết với nhau nhờ sự cởi mở, thoải mái.
-Bình đẳng giới: Người phụ nữ đã được nâng cao vị trí, vai trò trong gia đình. Họ
có tiếng nói và vị trí quan trọng trong việc giải quyết và đưa ra các quyết định cho gia đình.
-Nâng cao tính tự lập: Được giáo dục tự lập, tự chủ từ khi còn rất sớm, rèn luyện
được việc giải quyết tình huống khi không có người lớn trong gia đình, đặc biệt là trẻ em.
-Giảm bớt gánh nặng: Người đàn ông và người phụ nữ trong gia đình có thể cùng
nhau san sẻ công việc như cả hai đều có thể tự chủ tài chính, làm công việc nhà, chăm sóc con cái,...
-Thúc đẩy tự do cá nhân: Các thành viên đều có quyền chọn lựa những nghề
nghiệp, lối sống, học tập theo nhu cầu và sở thích của bản thân mà không bị gò bó.
2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực
-Gây tổn thương tâm lý: Những tác động biến đổi trong mối quan hệ gia đình ngày
nay có thể ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý của các thành viên trong gia đình, nhất là
trẻ em. Có thể gây ra trầm cảm, stress, lo âu,...
-Giảm đi giá trị truyền thống: Các truyền thống lâu đời như hiếu thảo, lễ phép, tôn
ti trật tự,... có thể mất dần trong xã hội hiện đại.
-Tỷ lệ ly hôn cao: Những áp lực như kinh tế gia đình, ngoại tình, không còn tiếng
nói chung ngày càng trở nên phổ biến, dẫn đến tỷ lệ ly hôn cao. 17
-Khó khăn trong việc chăm sóc con cái: Cha mẹ ngày càng trở nên bận bịu với cuộc
sống bên ngoài dẫn đến không có thời gian để quan tâm, nuôi dạy con cái. Khiến
chúng dễ sa vào những tệ nạn vì tổn thương tâm lý.
2.3.3. Một số giải pháp khắc phục
-Dành nhiều thời gian cho nhau: Thường xuyên tham gia các hoạt động chung
nhằm gắn kết các thành viên bằng việc trò chuyện, chia sẻ để hiểu nhau hơn.
-Tôn trọng và yêu thương lẫn nhau: Tôn trọng sở thích cá nhân của mỗi người, bên
cạnh đó luôn dành tình yêu thương và hành động quan tâm đến các thành viên trong gia đình.
-Tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết: Khi xảy ra những mâu thuẫn, khó khăn trong việc
giải quyết các vấn đề về gia đình, hãy tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội và
chuyên gia tâm lý để giải đáp. 18
CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC XÂY
DỰNG MỐI QUAN HỆ TRONG GIA ĐÌNH
Từ lâu, trong ý thức hệ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam gia đình bao giờ
cũng được coi là tổ ấm, là môi trường cho sự phát triển về thể chất, nuôi dưỡng trí tuệ,
trí lực và các mối quan hệ tình cảm tích cực. Gia đình là yếu tố quan trọng nhất, là nơi
mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách
của từng người. Gia đình có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát
triển của xã hội. Vì vậy, sinh viên cần có thái độ và hành vi đúng đắng trong nhận
thức và có trách nhiệm của việc xây dựng gia đình. Mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình rất quan trọng, sinh viên có trách nhiệm tạo mối quan hệ lành mạnh với
gia đình, và tôn trọng các thành viên khác trong gia đình, giữ hòa thuận trong gia đình,
biết cách giải quyết mẫu thuẫn, tranh cãi một cách tôn trọng lẫn nhau trách dẫn đến
tình trạng quan hệ trở nên tiêu cực. Sinh viên phải có nhận thức gắn kết, yêu thương,
chăm lo các thành viên trong gia đình. Đối với ông bà, cha mẹ, sinh viên cần dành
thời gian trò chuyện, tâm sự, quan tâm đến sức khỏe, tinh thần của họ, hiếu thảo, tôn
trọng ý kiến, quan điểm của ông bà, cha mẹ đồng thời cởi mở chia sẽ suy nghĩ, cảm
xúc của bản thân. Tham gia các công việc nhà, hỗ trợ ông bà, cha mẹ, trong những lúc
bận rộn. Đối với anh chị, em, cháu trong gia đình, cùng nhau phát triển, hỗ trợ, động
viên hướng đến mục tiêu tốt đẹp, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, sinh hoạt, chia sẽ những
niềm vui, nỗi buồn. Tích cực tham gia thực hiện các quyền trẻ em, sự hiện diện của trẻ
em trong gia đình không còn là một thứ “tài sản” của riêng gia đình mà là nguồn lực
tương lai của xã hội. Trẻ em được toàn xã hội chăm sóc và bảo vệ, có được các quyền
cơ bản mà trong gia đình và ngoài xã hội cha mẹ chúng cũng như cộng đồng xã hội
phải có trách nhiệm thực hiện.
Sinh viên cần hiểu biết và tôn vinh những giá trị của gia đình truyền thống,
thực hành trong đời sống để hình thành thói quen ứng xử theo quy tắc đúng mực. Tích
cực tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức, giá trị gia đình, giữ gìn nét đẹp truyền
thống, văn hóa gia đình. Lan tỏa những giá trị, truyền thống tốt đẹp nhằm xây dựng
gia đình văn minh. Song song kết hợp truyền thống với văn hóa hiện đại, cách sống 19
hiện đại, Tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ, tiên tiến của nhân loại về gia
đình như: “Bình đằng giới” trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay. Phụ nữ bình
đẳng với nam giới trong việc quyết định vấn đề quan trọng của gia đình, mạnh dạn
bước ra khỏi cánh cửa gia đình để tham gia và đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động toàn dân thực hiện nếp sống văn minh, văn
hóa ứng xử trong gia đình. Bản thân sinh viên phải rèn luyện, phát triển bản thân: rèn
luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp, sống trung thực, nghĩa tình, biết ơn, chăm chỉ học
tập, trau dồi, kiến thức, kỹ năng sống, rèn luyện sức khỏe để trở thành người có ít cho
gia đình và xã hội. Bằng cách thực hiện những trách nhiệm này, sinh viên có thể đóng
góp vào việc xây dựng mối quan hệ gia đình lành mạnh và bền vững. 20