TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Phạm Đức Tuấn - 26A4010222 - K26CLCTCA
Nguyễn Song - 26A4011935 - K26CLCTCA
Trần Thị Minh Thư - 26A4010203 - K26CLCTCA
Hồ Quỳnh Hương - 26A4012398 - K26CLCTCA
Trần Khánh Ngọc - 26A4013258 - K26CLCTCA
Tóm tắt
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, chuyển đổi số (Digital transformation) đã trở
thành xu hướng tất yếu, đặc biệt trong ngành ngân hàng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
khả năng cạnh tranh. Nghiên cứu này phân tích tác động của mức độ sẵn sàng phát triển
ứng dụng công nghệ thông tin (ICT) đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Sử dụng dữ liệu từ 23 ngân hàng thương mại các báo cáo
ICT Index, nhóm tác giả áp dụng phương pháp hồi quy định lượng (Pooled OLS, FEM, REM)
phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục các khuyết tật hình.
Kết quả cho thấy, các yếu tố như tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR), vốn chủ sở hữu trên tổng
tài sản (ETA), thu nhập phi tín dụng (NFI), tăng trưởng tài sản (GROW), quy ngân
hàng (SIZE) tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh (đo bằng ROA ROE). Ngược
lại, chỉ số chi phí trên thu nhập (CIR) chỉ số ICT tác động ngược chiều, cho thấy chi phí
đầu công nghệ ban đầu thể làm giảm lợi nhuận ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn,
chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí vận hành nâng cao hiệu quả. Nghiên
cứu đề xuất các giải pháp như củng cố khung pháp lý, đầu hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân
sự, tăng cường bảo mật để thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả trong ngành ngân hàng Việt
Nam, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế số.
Từ khoá: Chỉ số mức độ sẵn sàng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (ICT), Hiệu
quả kinh doanh, Ngân hàng thương mại, Việt Nam
THE IMPACT OF TRANSFORMATION ON THE OPERATIONAL EFFICIENCY
OF LISTED COMMERCIAL BANKS ON THE VIETNAMESE STOCK EXCHANGE
Abstract
In the context of the Fourth Industrial Revolution, digital transformation has become an
inevitable trend, particularly in the banking sector, to enhance operational efficiency and
competitiveness. This study analyzes the impact of the readiness level for information and
communication technology (ICT) development and application on the business performance
of Vietnamese commercial banks during the 2015–2020 period. Using data from 23
commercial banks and ICT Index reports, the authors employ quantitative regression methods
1
(Pooled OLS, FEM, REM) and the Generalized Least Squares (GLS) method to address
model deficiencies. The results indicate that factors such as the loan-to-deposit ratio (LDR),
equity-to-total assets ratio (ETA), non-interest income (NFI), asset growth (GROW), and
bank size (SIZE) positively influence business performance (measured by ROA and ROE).
Conversely, the cost-to-income ratio (CIR) and ICT Index have a negative impact, suggesting
that initial technology investment costs may reduce short-term profitability. However, in the
long run, digital transformation optimizes processes, reduces operating costs, and improves
efficiency. The study proposes solutions such as strengthening the legal framework, investing
in technology infrastructure, training human resources, and enhancing cybersecurity to
promote effective digital transformation in Vietnam’s banking sector, contributing to the
sustainable development of the digital economy.
Keywords: ICT readiness index, Business performance, Commercial banks, Vietnam.
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của TS. Cấn Văn Lực
nhóm chuyên gia (2023) cho thấy chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu toàn cầu,
đặc biệt tăng tốc sau đại dịch COVID-19 khi doanh nghiệp nhận thức hơn về tầm quan
trọng của công nghệ số trong phát triển sinh tồn. Theo nghiên cứu của Microsoft, tại khu
vực châu Á - Thái Bình Dương, đóng góp của chuyển đổi số vào GDP tăng t 25% năm 2019 lên
60% năm 2021.
Việt Nam, chuyển đổi số cũng diễn ra cùng mạnh mẽ, đặc biệt đối với các ngành: du
lịch, giao thông, tài chính,… Theo PwC, việc chuyển đổi số nhanh chóng của Việt Nam đang
dần định hình lại nền kinh tế của mình, dự kiến nền kinh tế kỹ thuật số năm 2025 của nước ta
sẽ đạt 43 tỷ đô la gần gấp đôi so 21 tỷ đô la với năm 2021. Chính phủ Việt Nam cũng đang nỗ
lực đưa ra những phương án phù hợp với mục tiêu ứng dụng ICT (Information and
Communication Technology) trong chiến lược phát triển chung của đất nước, cũng như trong
tầm nhìn trung dài hạn.
Theo Lei Xia cộng sự (2023), nền kinh tế số ứng dụng công nghệ truyền thông điện
tử để thúc đẩy kinh doanh trực tuyến trong nhiều lĩnh vực, cải thiện trải nghiệm người dùng,
tăng tốc xử giúp tiếp cận sản phẩm, dịch vụ dễ dàng hơn. Song với đó, xu hướng phát
triển của trí tuệ nhân tạo giúp ngân hàng mở rộng dịch vụ nhanh chóng với chi phí thấp hơn
so với phương thức truyền thống. Đầu vào công nghệ hiện đại, đặc biệt ICT, giúp ngân
hàng thương mại tiếp cận khách hàng hiệu quả hơn, giảm chi phí quản lý, nâng cao hiệu suất,
mở rộng thị phần gia tăng lợi nhuận (Nguyễn Hữu Mạnh & Vương Thị Hương Giang,
2022). Tại Việt Nam, tuỳ thuộc vào quy cũng như khả năng tài chính nguồn lực
mỗi ngân hàng sẽ mức độ chuyển đổi số khác nhau. Các dịch vụ tài chính trực tuyến các
ứng dụng ngân hàng di động như: VCB Digibank, VietinBank iPay, BIDV SmartBanking,
VPBank Online,... được ra đời cho phép khách hàng thể sử dụng qua các thiết bị di động
2
máy tính. Tính đến cuối năm 2024, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đạt 17 tỷ
giao dịch, với tổng giá trị khoảng 280 triệu tỷ đồng, tăng hơn 120% so với cùng kỳ năm trước
các giao dịch điện tử này phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ sang nền tảng thanh toán số
(Đào Kiểu Oanh, and Tấn Phát, 2025). Ngoài ra, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt nghị định số 749/QĐ-TTg về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030 đặc biệt nhấn mạnh chuyển đổi số ngành ngân hàng.
Sự xuất hiện của ICT đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong hoạt động của ngành ngân
hàng (Gupta cộng sự, 2018). Do đó, nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của mức độ sẵn
sàng phát triển ứng dụng CNTT đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
Việt Nam giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những đánh giá
tổng quan một số khuyến nghị để các ngân hàng thể đưa ra chiến lược kinh doanh một
cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bài nghiên cứu của nhóm được bố cục thành năm phần chính: Phần 1, giới thiệu về bối
cảnh, mục tiêu đối tượng nghiên cứu; phần 2, nhóm tác giả thực hiện tổng quan nghiên
cứu, đưa ra sở thuyết những nghiên cứu trước; phần 3, phương pháp nghiên cứu;
nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra một số kết luận, khuyến nghị thông qua kết quả nghiên cứu thu
được phần 4 phần 5.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. sở thuyết
2.1.1. Một số khái niệm bản
2.1.1.1. Khái niệm chuyển đổi số
Chuyển đổi số (Digital Transformation) đang trở thành xu hướng tất yếu hiện nay nhưng
tới bây giờ vẫn chưa một khái niệm nào thống nhất cho thuật ngữ này. Theo Cục tin học
hóa - Bộ Thông tin Truyền thông (2023), chuyển đổi số quá trình thay đổi tổng thể
toàn diện của nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc phương thức sản xuất dựa trên
các công nghệ số.
The Enterprisers Project (2023) cho rằng chuyển đổi số việc tích hợp công nghệ số vào
tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp, thay đổi một cách bản cách thức hoạt động cung
cấp giá trị cho khách hàng. Đây cũng một sự thay đổi văn hóa, yêu cầu các tổ chức phải
liên tục thách thức hiện trạng, thử nghiệm chấp nhận thất bại.
Theo một nghiên cứu trên Whatfix, chuyển đổi số quá trình sử dụng công nghệ số để
chuyển đổi các quy trình dịch vụ kinh doanh truyền thống, không phải số hóa, hoặc tạo ra
các quy trình dịch vụ mới, nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi của thị trường kỳ vọng của
khách hàng, từ đó hoàn toàn thay đổi cách thức quản vận hành doanh nghiệp, cũng như
cách thức cung cấp giá trị cho khách hàng.
Song với đó, Siebel định nghĩa chuyển đổi số phát sinh từ sự giao thoa của điện toán đám
mây, dữ liệu lớn, IoT AI, hiện nay rất quan trọng đối với các ngành công nghiệp trên
toàn thị trường. Một số người tả sức mạnh của công nghệ số được áp dụng vào mọi
khía cạnh của tổ chức. Ngoài ra, Nguyễn Đình Quyết (2021) đã nhận xét rằng chuyển đổi số
3
trong doanh nghiệp thể hiểu quá trình thay đổi hình cũ, hình truyền thống sang
dạng doanh nghiệp số, dựa trên những ứng dụng công nghệ mới, như: Big data, IoT, điện toán
đám mây,… nhằm thay đổi phương thức điều hành, quy trình làm việc văn hóa lao động
trong doanh nghiệp. Qua những định nghĩa trên, chúng ta thể hiểu chuyển đổi số quá
trình ứng dụng công nghệ số bao gồm: Big data, IoT, điện toán đám mây,… vào tất cả các
khía cạnh của một tổ chức, doanh nghiệp nhằm thay đổi cách thức hoạt động, hình kinh
doanh, cách thức quản doanh nghiệp, cách thức vận hành doanh nghiệp mang lại giá trị
mới.
2.1.1.2. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được cho tỷ lệ giữa các nguồn lực một tổ chức tiêu thụ với khối
lượng sản xuất hàng hóa, dịch vụ doanh thu. Nói một cách đơn giản hơn, đó việc đạt
được nhiều đầu ra hơn từ cùng một đầu vào hoặc đạt được cùng một đầu ra với ít nguồn lực
hơn (Impact, 2023). Theo investopedia, hiệu quả kinh doanh lại thước đo chủ quan về
mức độ hiệu quả một công ty thể sử dụng tài sản từ phương thức kinh doanh chính
tạo ra doanh thu. Thuật ngữ này cũng được sử dụng như một thước đo chung về sức khỏe tài
chính tổng thể của một công ty trong một khoảng thời gian nhất định (Will Kenton, 2023).
Hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả tài chính của một công ty được phân tích bởi các công thức
tỷ lệ tài chính cụ thể. Khi so sánh với các số liệu lịch sử ngành, các chỉ số sẽ cung cấp
cái nhìn sâu sắc về tình trạng hiệu suất tài chính của công ty. Để đo lường hiệu quả hoạt
động của một công ty, bảy tỷ lệ quan trọng được sử dụng rộng rãi trong thế giới kinh
doanh để hỗ trợ đánh giá hiệu quả hoạt động tổng thể của công ty bao gồm: Biên lợi nhuận
gộp; Vốn lưu động ròng; Tỷ số thanh toán nhanh; Số vòng quay hàng tồn kho, Đòn bẩy tài
chính; ROA; ROE (CFI team, 2022). Tuy nhiên, để tìm ra một chỉ số đo lường HQKD tốt
nhất vẫn đang một vấn đề gây tranh cãi. Trong khi Sumaya Safitri (2021), Onaolapo
Kajola (2010) chỉ sử dụng một chỉ số duy nhất để đo lường HQKD lần lượt ROA ROE,
nghiên cứu của Panagiotis Liargovas Konstantinos Skandalis lại s dụng cả ba tỷ số ROA,
ROE ROS để đánh giả HQKD của một công ty(Panagiotis Liargovas Konstantinos
Skandalis, 2010).
2.1.2. Các học thuyết về mối quan hệ giữa chuyển đổi số hiệu quả hoạt động của
ngân hàng thương mại
2.1.2.1. thuyết nguồn lực
thuyết nguồn lực (Resource-Based View) một thuyết trong quản chiến lược
kinh tế học. Trong đó, nguồn lực tất cả các tài sản, khả năng, yếu tố sẵn doanh
nghiệp sử dụng để hoạt động phát triển. Theo Edith Penrose (1959), việc sử dụng quản
nguồn lực ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh sự phát triển của công ty. Để khả năng
tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, một nguồn lực cần đáp ứng được những tiêu chí sau, gồm:
giá trị, hiếm, khó sao chép không thể thay thế (Barney, 1991). Trong bối cảnh hiện nay,
chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các nguồn lực mới, giúp doanh nghiệp
nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển bền vững mở rộng hội tăng trưởng. Việc áp
4
dụng thuyết nguồn lực giúp các ngân hàng thương mại đánh giá tận dụng những nguồn
lực mới một cách tối ưu nhất.
2.1.2.2. thuyết cân bằng động
Năng lực động một khái niệm quan trọng trong thuyết chiến lược doanh nghiệp, tả
khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp, xây dựng tái cấu trúc nguồn lực năng
lực của mình để đáp ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh. Teece các cộng
sự (1997) định nghĩa năng lực động "khả năng tích hợp, xây dựng định dạng lại những
tiềm năng bên trong bên ngoài của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường".
Đây yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh cải thiện hiệu
quả kinh doanh. Chuyển đổi số không chỉ việc ứng dụng công nghệ còn quá trình tái
cấu trúc doanh nghiệp, thay đổi cách thức tổ chức điều hành thông qua công nghệ số. Quá
trình này giúp doanh nghiệp xây dựng củng cố năng lực động, cho phép họ tái cấu trúc
nguồn lực quy trình để thích ứng với thay đổi môi trường. Đặc biệt đối với các ngân hàng
thương mại, chuyển đổi số yếu tố quan trọng không chỉ để tối ưu hóa hoạt động còn để
duy trì lợi thế cạnh tranh nâng cao hiệu quả hoạt động trong một thị trường đầy biến động.
2.1.2.3. thuyết năng lực cốt lõi
thuyết năng lực cốt lõi của Prahalad Hamel (1990) cho rằng, năng lực cốt lõi sự
học hỏi tập thể trong doanh nghiệp, đặc biệt làm thế nào kết hợp các kỹ năng sản xuất khác
nhau tích hợp nhiều dòng công nghệ với nhau. Năng lực cốt lõi biến tầm nhìn thành năng
lực để phát triển làm tăng giá trị doanh nghiệp. Chuyển đổi số trên quan điểm của thuyết
năng lực cốt lõi cho rằng, doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cốt lõi cần sử dụng hiệu quả
các nguồn lực chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp phát huy các nguồn lực trong công ty từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
2.2. Tổng quan về mối quan hệ giữa chuyển đổi số hiệu quả hoạt động kinh do
Trong bối cảnh kinh doanh đang phát triển nhanh chóng hiện nay, việc phân tích mối quan
hệ phức tạp giữa chuyển đổi kỹ thuật số hiệu quả tài chính tối quan trọng. Các công ty
ngày càng đầu vào công nghệ kỹ thuật số để hợp hóa hoạt động, nâng cao trải nghiệm
khách hàng mở ra các nguồn doanh thu mới. Việc hiểu được những sáng kiến kỹ thuật số
này chuyển thành lợi ích tài chính hữu hình như thế nào, chẳng hạn như tăng khả năng sinh
lời, cải thiện hiệu quả tăng cường thị phần, rất quan trọng đối với việc ra quyết định
chiến lược. Tuy nhiên, những bằng chứng trái chiều về việc chuyển đổi số ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của các công ty. Nghiên cứu của Yaying Zhou đồng nghiệp (2023) sử
dụng khung thuyết “Quan điểm dựa trên nguồn lực - RBV” để làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa chuyển đổi kỹ thuật số hiệu quả tài chính của các công ty. Kết quả của nghiên cứu cho
thấy rằng số hóa không chỉ giới hạn các ứng dụng internet, phần mềm hoặc phần cứng
còn một nguồn lực chiến lược quan trọng trong quá trình chuyển đổi của các công ty, củng
cố lập luận về số hóa như một nguồn lực chiến lược. Mặc chi phí đầu ban đầu cho
chuyển đổi kỹ thuật số thể cao, nhưng mối tương quan giữa chuyển đổi số HQKD
tích cực. Nghiên cứu của MF.Mubarak cộng sự (2019) tại Pakistan đã phân tích tác động
5
của công nghệ công nghiệp 4.0 (Big Data, CPS, IoT, khả năng tương tác) đến hiệu suất của
doanh nghiệp vừa nhỏ (SMEs) tại Pakistan. Kết quả cho thấy các công nghệ này giúp nâng
cao hiệu quả hoạt động, thay đổi hình kinh doanh cần được ứng dụng rộng rãi. Nghiên
cứu đề xuất rằng, chính phủ nên hỗ trợ SMEs tiếp cận công nghệ để giảm chi phí, tăng năng
suất tạo giá trị gia tăng. Đồng thời, cần đào tạo nguồn nhân lực với kỹ năng phù hợp để
thích ứng với sự chuyển đổi này. Nghiên cứu của Zheng Ye Yongjia Tong (2022) kết luận
rằng, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp ngoại thương, ngay cả khi sự điều chỉnh các biến kiểm soát thông số
thống kê. Ngoài ra, chuyển đổi số giúp cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời thúc
đẩy khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Những yếu tố này kết hợp lại góp phần đáng kể vào
việc nâng cao hiệu suất hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu về tác động của ICT đến hiệu quả lợi nhuận của các doanh nghiệp tại
các nước phát triển đã được thực hiện cho đến nay. Theo McCarthy & cộng sự (2014), các bài
học kinh nghiệm thu được từ các nước lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu đã đem đến nhiều bài học
kinh nghiệm cho các quốc gia nền kinh tế mới nổi khác. Tuy nhiên, không phải công ty
nào cũng thành công nếu thiếu chiến lược xây dựng để tận dụng tối đa mọi hội từ việc đổi
mới áp dụng công nghệ (Prud’homme, 2015). Nghiên cứu tại nhiều công ty các nước
mới nổi cho thấy việc áp dụng ICT đã tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của họ
(Worldbank, 2021). Trong lĩnh vực ngân hàng, các thay đổi về công nghệ đã đang diễn ra
nhanh chóng ảnh hưởng trực tiếp đến các chiến lược phát triển kinh doanh. Trong đó, ICT
đang dần trở thành công cụ quan trong, giúp các ngân hàng s dụng công nghệ hiện đại tận
dụng tối đa lợi ích của mạng internet để gia tăng hiệu quả hoạt động của mình. Theo nghiên
cứu của Zhu & Andersen, 2021, việc áp dụng ICT không chỉ giúp mở rộng thị trường còn
tạo lợi thế cạnh tranh nhờ tăng cường khả năng tương tác, giảm chi phí giao dịch cải thiện
kết nối với khách hàng. Đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ những thay đổi trong
môi trường kinh doanh hiện đại, ngân hàng thương mại cần phải dựa vào ICT đ đạt được
duy trì khả năng cạnh tranh, cải thiện năng suất. Tuy nhiên, mặc các tổ chức trong các lĩnh
vực khác nhau đang áp dụng rộng rãi ICT, một số báo cáo khảo sát đã phát hiện ra rằng nhiều
doanh nghiệp không tiến bộ trong các giai đoạn của vòng đời kinh doanh (Amankwah-
Amoah, 2019).
Theo nghiên cứu của Ky cộng sự (2019), việc ứng dụng công nghệ ICT phát triển
các sản phẩm Fintech trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ nâng cao lợi nhuận hiệu suất
hoạt động còn cải thiện tương tác với khách hàng, đồng thời mở rộng các phân khúc khách
hàng tiềm năng. Việc tích hợp ICT vào ngân hàng giúp thúc đẩy khả năng chấp nhận rủi ro
giúp thu hút, giữ chân khách hàng thông qua các dịch vụ chất lượng cao, kịp thời; ngoài ra
còn tối ưu hóa chi phí vận hành gia tăng lợi nhuận (Wang & cộng sự, 2020). Bên cạnh đó,
nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc ứng dụng ICT trong lĩnh vực tài chính, đặc
biệt ngân hàng, tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động lợi nhuận của các ngân
hàng tại Ấn Độ (Gupta & cộng sự, 2018), Châu Âu (Del Gaudio & cộng sự, 2021) Hoa Kỳ
6
(Pierri & Timmer, 2022). Tuy nhiên, theo Alt & cộng sự (2018), bên cạnh những lợi ích đáng
kể, việc đầu vào ICT cũng đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn để đào tạo nhân viên, bảo trì,
nâng cấp hệ thống công nghệ, đồng thời nguy thất bại, ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân
hàng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của chỉ số ICT đối với tỷ suất lợi
nhuận của ngân hàng thương mại còn khá hạn chế. Đặc biệt, chưa nghiên cứu nào phân
tích sâu về ảnh hưởng của từng chỉ số thành phần trong chỉ số ICT tổng hợp đến lợi nhuận
ngân hàng. vậy, nghiên cứu này nhằm bổ sung vào khoảng trống đó cung cấp cái nhìn
chi tiết hơn về thị trường ngân hàng Việt Nam.
Nghiên cứu N Van Thuy (2021) về mối quan hệ giữa ICT kết quả hoạt động của ngân
hàng thương mại kết luận rằng việc đầu vào công nghệ thông tin giúp làm thay đổi hình
kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt đối với các ngân hàng tiềm lực tài chính
mạnh. Tuy nhiên, quy ngân hàng lớn thể làm giảm hiệu quả do bộ máy cồng kềnh cản
trở sự phát triển của ngân hàng số. Ngoài ra, tỷ lệ tiền gửi trên cho vay tác động tiêu cực
đến hiệu quả hoạt động, Điều đó cũng chỉ ra xu hướng phát triển của các ngân hàng thương
mại Việt Nam các ngân hàng đang xu hướng chuyển nhanh sang các dịch vụ ngân hàng
bán lẻ, dịch vụ thanh toán dựa trên nền tảng số. Tương tự, nghiên cứu của J Omwenga
cộng sự đã cho thấy việc sử dụng các chiến lược ICT tác động tích cực đến hiệu suất của
các ngân hàng thương mại Kenya như đã thấy trong trường hợp của Ngân hàng Equity. Bài
nghiên cứu đã chứng minh rằng, sự giống nhau về tác động tích cực của các chiến lược
ICT đối với lợi nhuận, tiền gửi của khách hàng hiệu suất chung của các ngân hàng thương
mại Kenya.
Tuy nhiên, trái lại với những nghiên cứu trên, bài viết của Muhammad cộng sự (2023)
đã đi đến kết đầu vào ICT không cải thiện hiệu suất của ngân hàng thương mại tại Nigeria.
Điều này đúng với thực tế rằng hầu hết các ngân hàng thương mại của Nigeria đang gặp khó
khăn về tài chính kể từ khi hợp nhất. Ngoài ra, lợi nhuận đóng vai trò yếu tố thúc đẩy hiệu
suất của ngân hàng thương mại tại Nigeria, tuy nhiên, thước đo hiệu suất tốt nhất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu lợi nhuận trên tài sản. Đối với nghiên cứu tại Việt Nam của Trang
Doan Do cộng sự (2022), kết quả cho thấy chuyển đổi số tác động tích cực đến hiệu
suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức ý nghĩa 1%. Tuy nhiên, quy ngân
hàng không ảnh hưởng đáng kể, nhưng khi kết hợp với chuyển đổi số, quy lớn giúp
ngân hàng tận dụng công nghệ hiệu quả hơn. Ngoài ra, nghiên cứu đề xuất các giải pháp cho
ngân hàng quan quản lý, nhấn mạnh rằng ngân hàng nhỏ gặp khó khăn về tài chính
nhân lực công nghệ so với ngân hàng lớn. Do đó, họ cần cân đối ngân sách để đầu vào
công nghệ phát triển nhân sự. Bên cạnh đó, nghiên cứu của X Cao cộng sự (2022) về tác
động của chuyển đổi số đối với tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng lớn nhỏ giai đoạn 2011-
2018 đã cho thấy chỉ chuyển đổi số ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu (NPL), trong khi thay đổi
về tổ chức nhận thức chỉ tác động gián tiếp.
Mặc nhiều nghiên cứu trước đây đã phân tích tác động của chuyển đổi số đối với
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng chưa nghiên cứu nào về ảnh hưởng của
7
chuyển đổi số tới các ngân hàng thương mại lớn được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt
Nam. Điều này tạo ra một khoảng trống lớn trong tài liệu hiện có, đặc biệt khi đây nhóm
ngân hàng chịu tác động mạnh mẽ từ sự đổi mới công nghệ. Nhóm tác giả cho rằng nghiên
cứu tác động của chuyển đổi số đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
thương mại lớn trên thị trường sẽ không chỉ giúp làm những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển của nhóm doanh nghiệp này còn cung cấp thông tin giá trị cho các nhà quản
nhà đầu trong việc đưa ra các quyết định chiến lược. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này
không chỉ mang tính thuyết còn ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc góp phần
thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
3. hình phương pháp nghiên cứu
3.1. hình nghiên cứu
Trên sở các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại đã
được đề xuất trên, nhóm tác giả đề xuất hình nghiên cứu như sau:
hình 1:
ROA LDRit = 1 + 2 it + + + + + 3CIRit+ 4ETAit 5ICTit 6GROWit 7 NFI SIZEit + 8 it + it
hình 2:
ROE LDRit = 1 + 2 it it+ it it it 7 + 3CIR + 4ETA + 5ICT + 6GROW + NFI SIZEit + 8 it + it
Trong đó, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các nhà nghiên
cứu như Berger & DeYoung (2002), Pratomo & Ismail (2006), Awunyo & Badu (2012),
Saeed (2013) đã sử dụng các chỉ tiêu sau: ROA ROE hai chỉ số quan trọng trong việc
đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. ROA phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ tổng
tài sản, bao gồm cả vốn huy động vốn chủ sở hữu, cho thấy mức độ hiệu quả trong việc sử
dụng nguồn lực của ngân hàng. Trong khi đó, ROE đo lường lợi nhuận thu được trên mỗi
đồng vốn chủ sở hữu, thể hiện khả năng sinh lời cho các cổ đông. mục tiêu quan trọng nhất
của ngân hàng tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu, ROE được xem chỉ số then chốt trong
việc đánh giá hiệu quả kinh doanh.
ICT phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ vào các hoạt động tài chính. Trong tổ chức nói
chung ngân hàng thương mại nói riêng các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ số khả năng
số hóa (Enabling Digitalization Index EDI) với biến đại diện mức độ đầu cho công
nghệ (Huỳnh Thị Tuyết Ngân & cộng sự, 2021; Do, T.D & cộng sự, 2022). Tuy nhiên việc
đầu công nghệ thông tin tăng lên không phải lúc nào cũng dẫn đến tăng lợi nhuận ngân
hàng (Beccalli, 2007; Xin & Choudhary, 2019). Theo Siebel (2019) thì chuyển đổi số trong tổ
chức không phải chỉ đầu cho công nghệ... hiệu quả cho mang lại cho tổ chức gì.
Trong các ngân hàng thương mại, các chiến lược chuyển đổi số đều gắn với mục tiêu chuyển
dịch phương thức giao dịch truyền thống sang giao dịch qua ngân hàng số sự chuyển dịch
này thể hiện qua số lượng giao dịch thu nhập từ kênh ngân hàng số. vậy trong bài viết
này tác giả sử dụng biến ICT Index để đại diện cho mức độ chuyển đổi số của các ngân hàng
thương mại.
8
Ngoài ra, đối với các biến còn lại trong hình: LDR phản ánh mức độ sử dụng nguồn
vốn huy động để cho vay của ngân hàng. CIR phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng
bằng cách đo lường tỷ lệ giữa chi phí hoạt động thu nhập hoạt động. ETA phản ánh tỷ lệ
vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của ngân hàng. GROW phản ánh tăng trưởng của ngân
hàng, được đo bằng tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng hàng năm. NFI phản ánh
mức độ đóng góp của các hoạt động phi tín dụng vào tổng thu nhập của ngân hàng. SIZE đo
lường tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu được nhóm nghiên cứu lựa chọn từ 23 ngân hàng đầy
đủ thông tin, báo cáo tài chính hợp nhất (từ năm 2015 đến năm 2020, công bố bởi các ngân
hàng), báo cáo thường niên về chỉ s sẵn sàng cho phát triển ứng dụng công nghệ thông tin
được thu thập từ số liệu của Hội tin học Việt Nam (từ năm 2015 đến năm 2020, công bố tại
http://vaip.org.vn/). Báo cáo ICT Index báo cáo đánh giá xếp hạng mức độ ứng dụng
phát triển công nghệ thông tin truyền thông (ICT) của các quốc gia, tổ chức hoặc địa
phương dựa trên một hệ thống chỉ số.
3.2.2. Phương pháp xử dữ liệu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: hình hồi quy bình
phương nhất dạng gộp (Pooled OLS) được sử dụng để hồi quy dữ liệu bảng, đồng thời kết
hợp đánh giá so sánh với hình hồi quy tác động cố định (FEM) hình hồi quy tác
động ngẫu nhiên (REM). Sau đó, phân tích xem xét các yếu tố ảnh hưởng lựa chọn
hình phù hợp nhất.
Để lựa chọn hình phù hợp giữa Pooled OLS, FEM REM, nhóm nghiên cứu thực
hiện ba kiểm định: kiểm định F, kiểm định Breusch Pagan, kiểm định Hausman. Đầu
tiên, kiểm định F dùng để so sánh Pooled OLS FEM, với giả thuyết H Pooled OLS phù0
hợp, nếu p-value < 0,05 thì bác bỏ H lựa chọn hình FEM. Tiếp theo, tiến hành kiểm0
định Breusch Pagan để so sánh Pooled OLS REM, nếu p-value < 0,05 thì bác bỏ H 0
lựa chọn hình REM với giả thuyết H Pooled OLS phù hợp. Cuối cùng, nếu cả hai kiểm0
định trên bác bỏ Pooled OLS, kiểm định Hausman được sử dụng để so sánh FEM REM,
nếu p-value < 0,05 thì hình FEM tối ưu hơn với giả thuyết H REM phù hợp. Sau khi0
chọn được hình tối ưu nhóm tác giả sẽ kiểm định lại hiện tượng tự tương quan phương
sai thay đổi, nếu phát hiện các giả định hồi quy bị vi phạm thì khắc phục bằng cách sử dụng
phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục hình khuyết tật.
4. Kết quả nghiên cứu thảo luận
4.1. Thống tả
Bảng 1. Thống tả
Giá trị trung
bình
Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Số
quan
sát
9
ROA 0,261 0,0528 0,0001 0,2544 138
ROE 0,0956 0,0804 0,0008 0,2957 138
LDR 0,8959 0,1308 0,6423 13,442 138
CIR 0,5153 0,132 0,2908 0,8806 138
ETA 0,0836 0,0305 0,0406 0,1911 138
NFI 0,2648 0,1638 -0,206 0,8429 138
ICT
index
0,4903 0,1218 0,2247 0,8114 138
GROW 0,1561 0,1039 -0,255 0,4807 138
SIZE 32,6744 1,1287 30,5073 34,0553 138
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Bảng 1 trình bày thống tả mẫu nghiên cứu gồm 138 quan sát. Biến ROA giá trị
trung bình 0,261, độ lệch chuẩn 0,0528, giá trị nhỏ nhất giá trị lớn nhất lần lượt
0,0001 0,2544. Giá trị lớn nhất của biến ROA 0,2544 nghĩa Ngân hàng Thương mại
cổ phần Phương Đông (OCB), năm 2019 đạt lợi nhuận cao nhất trong số các ngân hàng
thương mại được nghiên cứu. Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại Bản Việt (BVB) giá
trị thấp nhất (0,0001) vào năm 2016. Bên cạnh đó, Biến ROE giá trị trung bình 0,0956,
độ lệch chuẩn 0,0804, giá trị nhỏ nhất 0,0008 giá trị lớn nhất 0,2957. Giá trị lớn
nhất của biến ROE 0,2957 nghĩa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
(VIB), năm 2020 đạt lợi nhuận cao nhất trong số các ngân hàng thương mại được nghiên cứu.
Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại Bản Việt (BVB) giá trị thấp nhất (0,0008) vào năm
2016.
4.2. Phân tích tương quan
Bảng 2. Ma trận hệ số tương quan
Variables (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)
(1) ROE 1,000
(2) ROA -0,239 1,000
(3) LDR 0,428 -0,112 1,000
(4) CIR -0,562 -0,258 -0,295 1,000
(5) ETA -0,172 0,070 0,023 -0,017 1,000
(6) NFI 0,249 0,167 -0,066 -0,257 0,057 1,000
(7)
ICTIndex
0,173 0,009 0,031 -0,318 -0,180 0,113 1,000
(8) GROW 0,170 0,252 0,100 -0,092 -0,298 -0,076 0,092 1,00
0
(9) SIZE 0,569 0,056 0,097 -0,532 -0,482 0,326 0,405 0,07
7
1,000
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên ma trận tương quan, thể thấy rằng ROA, ROE chịu ảnh hưởng mức độ khác
nhau từ các biến số trong hình. Đáng chú ý, ROA ROE mối quan hệ chặt chẽ nhất
với CIR. Cụ thể, CIR tương quan âm với các biến đo lường hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại, cho thấy chi phí hoạt động tăng thể làm giảm hiệu quả hoạt động.
10
Các biến còn lại mức tương quan thấp hơn. Trong khi đó, ICT Index một số điểm đáng
chú ý. Trước hết, biến này tương quan dương với ROA (0.091) ROE (0.173) , nhưng
mức độ không cao, cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ thông tin thể tác động tích cực
đến hiệu quả sinh lời, nhưng không quá mạnh mẽ. Đáng chú ý hơn, ICT Index tương quan
âm với CIR (0.318), cho thấy rằng khi mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tăng lên, chi phí
hoạt động xu hướng giảm. Điều này thể gợi ý rằng đầu vào công nghệ giúp cải thiện
hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa quy trình giảm chi phí vận hành. Ngoài ra, ICT Index cũng
tương quan dương với SIZE (0.405), cho thấy các ngân hàng quy lớn thường
mức độ ứng dụng công nghệ cao hơn.
4.3. Kết quả nghiên cứu biến ROA
Bảng 3. Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp
Kiểm định F Breusch and Pagan
Test
Hausman Test
Lựa chọn OLS & FEM OLS & REM FEM & REM
Giá trị thống F(22,108) = 26,4 chibar2(01) = 152,23 chi2(7) = 17,99
p-value Prob > F = 0,0000 Prob > chibar2 = 0,0000 Prob > chi2 = 0,0120
Kết luận Bác bỏ H Bác bỏ H Bác bỏ H0 0 0
Chọn FEM REM FEM
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Bảng 3 trình bày kết quả của ba kiểm định để lựa chọn hình phù hợp, trong đó, kiểm
định F (so sánh OLS & FEM) kiểm định Breusch and Pagan (so sánh OLS & REM) đều
p-value (= 0,0000) <0,05 nên giả thuyết H của cả hai kiểm định bị bác bỏ. Do đó, kiểm định0
Hausman được thực hiện để so sánh FEM REM, với p-value (=0,0120) <0,05, bác bỏ giả
thuyết H REM phù hợp hình FEM được xác định hình phù hợp nhất. 0
Bảng 4. Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định Modified Wald
Giả thuyết H0
σ
(
i
)22i
Giá trị thống chi2(23) = 3952,46
p-value Prob > chi2 =0,0000
Kết luận Bác bỏ H0
Kiểm định Modified Wald được thực hiện để xác định sự tồn tại của hiện tượng phương sai
sai số thay đổi trong hình FEM. Kết quả kiểm định được trình bày trong bảng 4 cho thấy,
giá trị thống chi2(23) = 3952,46 p-value (=0,0000) nhỏ hơn 5% nên giả thuyết H bị bác0
bỏ. Do đó, hiện tượng phương sai sai số thay đổi vẫn tồn tại trong hình FEM. Ngoài ra, sử
dụng kiểm định Wooldridge cũng cho giá trị p-value = 0,0000 < 0,05 cho thấy hình
hiện hiện tượng tự tương quan.
11
hình FEM vẫn tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi hiện tượng tự tương
quan. Trên sở đó, sử dụng phương pháp Bình Phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc
phục các khuyết tật của hình.
Bảng 5. Kết quả hình GLS
ROA Coef. St.Err. t-value p-value [95% Conf Interval] Sig
LDR .01 .01 1.08 .279 -.008 .029
CIR -.022 .012 -1.83 .067 -.045 .002 *
ETA .101 .067 1.52 .128 -.029 .232
NFI .004 .008 0.51 .613 -.011 .019
ICTIndex -.003 .01 -0.29 .775 -.022 .017
GROW .01 .01 0.97 .33 -.01 .03
SIZE .002 .002 0.72 .472 -.003 .006
Constant -.048 .075 -0.64 .524 -.194 .099
Mean dependent var 0.026 SD dependent var 0.053
Number of obs 138 Chi-square 19.073
*** p<.01, ** p<.05, * p<.1
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Thứ nhất, LDR, hệ số hồi quy bằng 0,0103, dương nên yếu tố này tác động cùng chiều
mang ý nghĩa thống đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi, khi LDR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng
0,0103 đơn vị.
Thứ hai, CIR, hệ số hồi quy âm (- 0,0216) nên yếu tố này tác động ngược chiều
mang ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi CIR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM s gim 0,0216
đơn v.
Thứ ba, ETA, hệ số hồi quy bằng 0,101, dương nên yếu tố này tác động cùng chiều
mang ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi ETA tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng 0,101
đơn vị.
Thứ tư, NFI, hệ số hồi quy dương bằng 0,00395, điều này cho thấy NFI tác động cùng
chiều mang ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi, khi NFI tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng
0,00395 đơn vị.
Thứ năm, ICT Index, hệ số hồi quy âm (- 0,00286), cho thấy rằng yếu tố này tác động
ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM giảm 0,00286 đơn
vị.
Thứ sáu, GROW, hệ số hồi quy dương (0,0101), cho thấy rằng yếu tố này tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi GROW tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,0101 đơn vị.
12
Thứ bảy, SIZE, hệ số hồi quy dương bằng 0,00152, cho thấy rằng yếu tố này tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi size tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,00152 đơn vị.
Đối với hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROA, ETA tác động lớn nhất tới hiệu quả
kinh doanh của NHTM trong khi yếu tố size lại ít ảnh hưởng nhất. Ngoài ra, ICT Index
CIR hai nhân tố duy nhất tác động ngược chiều tới hiệu quả kinh doanh của NHTM.
4.4. Kết quả nghiên cứu biến ROE
Bảng 6. Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp
Kiểm định F Breusch and Pagan Test Hausman Test
Lựa chọn OLS & FEM OLS & REM FEM & REM
Giá trị thống F(22,108) = 15,30 chibar2(01) = 158,47 chi2(7) = 1,90
p-value Prob > F = 0,0000 Prob > chibar2 = 0,0000 Prob > chi2 = 0,9653
Kết luận Bác bỏ H Bác bỏ H Chấp nhận H0 0 0
Chọn FEM REM REM
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Kết quả của ba kiểm định để lựa chọn hình phù hợp (bảng 5) cho thấy, kiểm định F (so
sánh OLS & FEM) kiểm định Breusch and Pagan (so sánh OLS & REM) đều p-value (=
0,0000) <0,05 nên giả thuyết H của cả hai kiểm định bị bác bỏ. Do đó, kiểm định Hausman0
được thực hiện để so sánh FEM REM, với p-value (=0,9653) lớn hơn mức ý nghĩa 5%,
chấp nhận giả thuyết H hình REM được xác định hình tối ưu nhất. 0
Kiểm định Breusch and Pagan cũng được sử dụng với hình REM để xác định sự tồn tại
của hiện tượng phương sai sai số thay đổi: giá trị kiểm định chibar2 (= 158,47) của hình
REM p-value (= 0,0000) < 0,05 cho thấy hình REM hiện tượng phương sai sai số
thay đổi. Ngoài ra, kiểm định Wooldridge được tiến hành cũng cho giá trị p-value = 0,0000 <
0,05 cho thấy hình hiện hiện tượng tự tương quan.
Do hình REM vẫn tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi hiện tượng tự tương
quan. Trên sở đó, sử dụng phương pháp Bình Phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc
phục các khuyết tật của hình:
Bảng 7. Kết quả hình GLS
ROE Coef. St.Err. t-value p-value [95% Conf Interval] Sig
LDR .097 .029 3.33 .001 .04 .155 ***
CIR -.144 .025 -5.65 0 -.194 -.094 ***
ETA .099 .18 0.55 .582 -.254 .453
NFI .012 .015 0.78 .436 -.018 .042
ICTIndex -.023 .022 -1.04 .3 -.067 .021
GROW .003 .021 0.17 .869 -.038 .044
SIZE .025 .006 4.27 0 .013 .036 ***
Constant -.737 .201 -3.67 0 -1.13 -.344 ***
Mean dependent var 0.096 SD dependent var 0.080
Number of obs 138 Chi-square 114.492
*** p<.01, ** p<.05, * p<.1
13
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Thứ nhất, LDR, hệ số hồi quy bằng 0,0975, dương nên yếu tố này tác động cùng chiều
mang ý nghĩa thống đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi, khi LDR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng
0,0975 đơn vị.
Thứ hai, CIR, hệ số hồi quy âm (- 0,144) nên yếu tố này tác động ngược chiều mang
ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, khi CIR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ giảm 0,144 đơn v.
Thứ ba, ETA, hệ số hồi quy bằng 0,0994, dương nên yếu tố này tác động cùng chiều
mang ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi ETA tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng
0,0994 đơn vị.
Thứ tư, NFI, hệ số hồi quy dương bằng 0,0119, điều này cho thấy NFI tác động cùng
chiều mang ý nghĩa thống tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi, khi NFI tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng
0,0119 đơn vị.
Thứ năm, ICT Index, hệ số hồi quy âm (- 0,023), cho thấy rằng yếu tố này tác động
ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM giảm 0,023 đơn vị.
Thứ sáu, GROW, hệ số hồi quy dương (0,00345), cho thấy rằng yếu tố này tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi GROW tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,00345 đơn vị.
Thứ bảy, SIZE, hệ số hồi quy dương bằng 0,0247, cho thấy rằng yếu tố này tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,0247 đơn vị.
Đối với hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROE, CIR yếu tố tác động lớn nhất tới
hiệu quả kinh doanh của NHTM trong khi GROW lại không ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra,
CIR ICT Index 2 biến tác động ngược chiều với hiệu quả kinh doanh của NHTM.
4.5. Thảo luận về kết quả nghiên cứu
cả hai hình nghiên cứu tác động đến biến ROA ROE, kết quả đều chỉ rathứ nhất,
rằng LDR tác động tích cực tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. phải giảm dự trữ
để đảm bảo thanh khoản nhằm tăng nợ cho vay, một ngân hàng thương mại sử dụng quá
nhiều vốn huy động cho việc cho vay sẽ ngân quỹ nhỏ hơn. Một trong những điều kiện để
ngân hàng tăng thu nhập từ lãi nợ cho vay, nhưng ngân quỹ nhỏ hơn khiến ngân hàng
đối mặt với các vấn đề thanh khoản lớn hơn. Kết quả này phù hợp với thực về kết quả
nghiên cứu của Kosmidou (2008) Thanh Phương Lan Phương (2022). , CIR Thứ hai
tác động ngược chiều tới hiệu quả kinh doanh. Khi CIR tăng, nghĩa chi phí vận hành chiếm
tỷ lệ lớn hơn trong tổng thu nhập, dẫn đến lợi nhuận giảm hiệu quả kinh doanh suy yếu.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu đi trước của Elouali Jaouad Oubdi Lahsen (2018)
14
vàThanh Bình đồng nghiệp (2021). , ETA tác động cùng chiều tới hiệu quả kinhThứ ba
doanh. Điều này cho thấy rằng lợi nhuận của ngân hàng tăng lên khi vốn chủ sở hữu tăng.
vốn chủ sở hữu kiểm soát quy hoạt động của ngân hàng, điều này phù hợp với cách các
ngân hàng thực tế vận hành. Ngân hàng thể tăng nợ cho vay, tăng lượng vốn huy động
cải thiện các hoạt động đầu để gia tăng doanh thu khi vốn chủ sở hữu tăng. Kết quả này
phù hợp với kết quả nghiên cứu của Paolo (2011) Athanasoglou đồng nghiệp (2008).
Thứ tư, NFI tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh của
NHTM tỷ lệ NFI mối quan hệ cùng chiều khi NFI tăng, ngân hàng gia tăng nguồn
thu từ các hoạt động phi tín dụng như dịch vụ, đầu tư, hoặc phí, giúp đa dạng hóa doanh thu
giảm phụ thuộc vào lãi vay. Điều này cải thiện khả năng sinh lời tổng thể, từ đó nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu đi trước của Tuấn Linh (2023).
Thứ năm, ICT Index tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh
của NHTM chỉ số ICT mối quan hệ ngược chiều việc đẩy mạnh ICT đòi hỏi ngân
hàng chi nhiều vào công nghệ, làm tăng chi phí giảm lợi nhuận. Kết quả này cũng phù hợp
với nghiên cứu của Hữu Mạnh Hương Giang (2022). , GROW tác động cùngThứ sáu
chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh của NHTM tỷ lệ tăng trưởng tài sản
mối quan hệ cùng chiều bởi khi tài sản tăng, nhất tài sản sinh lời như cho vay, ngân hàng
tạo thêm thu nhập từ lãi, nâng cao lợi nhuận. Ngược lại, hiệu quả kinh doanh tốt giúp ngân
hàng mở rộng tài sản qua huy động vốn đầu tư, củng cố mối liên kết tích cực giữa hai yếu
tố này. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu đi trước của Hữu Mạnh Hương Giang (2022).
Thứ bảy, SIZE tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Khi tài sản tăng cho phép
ngân hàng mở rộng cho vay, đầu huy động vốn, dẫn đến thu nhập tăng, khả năng quản
nguồn lực hiệu quả cũng được cải thiện, giúp tối ưu hóa lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu của
Alper Anbar (2011) cũng chỉ ra yếu tố này tác động cùng chiều tới hiệu quả hoạt động
của NHTM. Tuy nhiên, bảng hình GLS của nhóm tác giả, đối với hình nghiên cứu
biến ROA, chỉ duy nhất biến CIR cho ra kết quả ý nghĩa thông mức 10%, các biến
còn lại đều không ý nghĩa thống kê, do đó không đủ sở để kết luận các yếu tố này tác
động đến HQKD của các NHTM. Đối với hình nghiên cứu ROE, kết quả cho ra tích cực
hơn khi các biến lần lượt LDR, CIR SIZE đều ý nghĩa thông mức 10%, các
biến còn lại đều không ý nghĩa thống kê. Đặc biệt, nhóm tác giả nghiên cứu về mối quan
hệ giữa CĐS HQKD của các NHTM thì kết quả cả 2 hình nghiên cứu biến ROA
ROE đều không ý nghĩa thống kê, do đó ta chưa đủ sở để kết luận về mối quan hệ giữa
CĐS HQKD của các NHTM
5. Kết luận kiến nghị
Nghiên cứu này điều tra thực nghiệm về ảnh hưởng của CĐS tác động như thế nào đến
HQKD của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020. Ngoài việc sử
dụng chỉ số ICT Index, nghiên cứu của chúng tôi còn sử dụng 6 biến khác chỉ số tỷ lệ cho
vay trên tiền gửi (LDR), chỉ số chi phí trên thu thập (CIR), vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản
(ETA) tỷ lệ tăng trưởng (GROW) đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt
15
Nam, thu nhập ngoài lãi (NFI), quy của ngân hàng (SIZE) đo lường tổng tài sản hoặc vốn
chủ sở hữu. Tác động của ICT Index đến HQKD không ràng do nhiều yếu tố. Đầu vào
công nghệ thông tin, mang lại tiềm năng cải thiện hiệu quả hoạt động, thường đi kèm với
chi phí ban đầu lớn, từ việc mua sắm phần cứng, phát triển phần mềm, đến đào tạo nhân viên
bảo trì hệ thống. Những khoản chi này thể làm giảm lợi nhuận trong ngắn hạn, đặc biệt
nếu các NHTM chưa tối ưu hóa được việc ứng dụng công nghệ để tạo ra giá trị thực sự, như
tăng trưởng doanh thu từ giao dịch trực tuyến hay cải thiện trải nghiệm khách hàng. Hơn nữa,
lợi ích từ ICT thường cần thời gian dài để hiện thực hóa, thể vài năm để một hệ thống
mới thực sự giúp giảm chi phí vận hành hoặc mở rộng thị phần. Đáng chú ý, không phải
NHTM nào cũng tận dụng được công nghệ một cách hiệu quả. Một số ngân hàng thể đầu
mạnh vào ICT nhưng lại gặp khó khăn trong triển khai, như hệ thống không phù hợp với
nhu cầu thực tế, hoặc nhân viên chưa được đào tạo để khai thác tối đa công nghệ. Ngược lại,
những ngân hàng đã đầu từ lâu sử dụng công nghệ thành thạo thể đã đạt được lợi ích
đáng kể, nhưng sự khác biệt này giữa các NHTM làm cho tác động tổng thể của ICT Index trở
nên không đồng nhất khó đo lường. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu hơn về tác động của
ICT đến hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời gợi ý chiến lược đầu công nghệ để
bắt kịp xu hướng số hóa đến năm 2045. Ngoài ra, phát hiện này còn thể mở rộng sang các
doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng các quốc gia khác, cũng như ngành chứng khoán, tiêu
dùng bán lẻ, những lĩnh vực chịu tác động mạnh từ đổi mới công nghệ.
Hiện nay, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình vận
hành, giảm thiểu chi phí còn nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
số phát triển. Do đó, để hoạt động hiệu quả, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần tập
trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhất, củng cố khung pháp chính sách. Việc xây dựng hệ thống quy định minh
bạch, phù hợp với xu hướng số hóa điều kiện tiên quyết để thúc đẩy đổi mới công nghệ
trong lĩnh vực tài chính. Các ngân hàng cần soát điều chỉnh các quy định liên quan đến
ngân hàng số, thanh toán điện tử, bảo vệ dữ liệu hoạt động của fintech nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho sự phát triển.
Thứ hai, các ngân hàng thương mại cần được đầu mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ. Để
đáp ứng nhu cầu số hóa, ngân hàng cần nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, phát triển nền
tảng thanh toán trực tuyến, sở dữ liệu tín dụng các hệ thống giao dịch bảo mật. Việc xây
dựng hệ thống kết nối giữa ngân hàng các tổ chức tài chính khác cũng giúp tối ưu hóa hoạt
động cung cấp dịch vụ tiện lợi hơn cho khách hàng.
Thứ ba, nâng cao nhận thức đào tạo nguồn nhân lực. Chuyển đổi số không chỉ thay
đổi về công nghệ còn đòi hỏi sự thích nghi từ con người. Các ngân hàng cần tổ chức đào
tạo chuyên sâu về công nghệ tài chính, an ninh mạng ngân hàng số để đảm bảo đội ngũ
nhân sự đủ năng lực đáp ứng nhu cầu mới.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo hợp tác công nghệ. Việc hợp tác với các công ty
fintech tập đoàn công nghệ lớn giúp ngân hàng nhanh chóng ứng dụng các công nghệ tiên
16
tiến như AI, dữ liệu lớn điện toán đám mây. Đồng thời, ngân hàng cần tập trung phát triển
hình ngân hàng số thế hệ mới, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Thứ năm, tăng cường bảo mật an toàn thông tin. An ninh mạng yếu tố cốt lõi trong
quá trình số hóa. Các ngân hàng cần đầu vào công nghệ bảo vệ dữ liệu, tăng cường giám
sát giao dịch trực tuyến nâng cao nhận thức về rủi ro an ninh cho nhân viên lẫn khách
hàng.
Thứ sáu, mở rộng dịch vụ tài chính số nâng cao trải nghiệm khách hàng. Các ngân hàng
cần số hóa toàn diện các dịch vụ như mở tài khoản, thanh toán, tín dụng nhằm giúp khách
hàng tiếp cận dễ dàng nhanh chóng hơn. Đồng thời, việc nhân hóa trải nghiệm người
dùng sẽ giúp tăng cường sự hài lòng gắn kết với thương hiệu ngân hàng.
Thứ bảy, phát triển hệ sinh thái ngân hàng số. Ngành ngân hàng cần xây dựng hệ sinh thái
tài chính số liên kết với các ngành khác như thương mại điện tử, bảo hiểm, công nghệ để
mang lại dịch vụ tích hợp, linh hoạt, giúp khách hàng tiếp cận tài chính dễ dàng hơn trong
môi trường số hóa.
17
Tài liệu tham khảo
Admin OD. “XÂY DỰNG NĂNG LỰC ĐỘNG TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH - Công Ty
TNHH Vấn Quản OD Click.” , 29Công Ty TNHH Vấn Quản OD Click
Nov. 2019, odclick.com/thu-vien/insight/phat-trien-lanh-dao/xay-dung-nang-luc-
dong-tao-loi-the-canh-tranh/. Accessed 22 Mar. 2025.
Alper, Deger, and Adem Anbar. Bank Specific and Macroeconomic Determinants of
Commercial Bank Profitability: Empirical Evidence from Turkey. Vol. 2, no. 2, 20
Apr. 2011, p. 139,
www.researchgate.net/publication/227489043_Bank_Specific_and_Macroeconomic_
Determinants_of_Commercial_Bank_Profitability_Empirical_Evidence_from_Turkey
.
Athanasoglou, Panayiotis P., et al. “Bank-Specific, Industry-Specific and Macroeconomic
Determinants of Bank Profitability.” Journal of International Financial Markets,
Institutions and Money, vol. 18, no. 2, Apr. 2008, pp. 121–136.
Barney, Jay. “Firm Resources and Sustained Competitive Advantage.” Journal of
Management, vol. 17, no. 1, Mar. 1991, pp. 99–120,
journals.sagepub.com/doi/10.1177/014920639101700108,
https://doi.org/10.1177/014920639101700108.
Bộ Pháp. . 21 Dec. 2023,8 Yếu Tố Đặc Trưng Của Hội Số Việt Nam
dx.moj.gov.vn/cam-nang-chuyen-doi-so-6.htm. Accessed 22 Mar. 2025.
Cấn, Văn Lực. “Chuyển Đổi Số Ngành Ngân Hàng Việt Nam: Hội, Thực Trạng Giải
Pháp.” Thitruongtaichinhtiente.vn, 12 Nov. 2023, thitruongtaichinhtiente.vn/chuyen-
doi-so-nganh-ngan-hang-viet-nam-co-hoi-thuc-trang-va-giai-phap-52299.html.
CFI . “Financial Performance.” , 5 Dec. 2022,Corporate Finance Institute
corporatefinanceinstitute.com/resources/accounting/financial-performance/.
Đào, Kiểu Oanh, and Tấn Phát Lê. “Chuyển Đổi Số - Xu Hướng Phát Triển Bền Vững
Của Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam.” , 26 Feb.Tạp Chí Ngân Hàng
2025, tapchinganhang.gov.vn/chuyen-doi-so-xu-huong-phat-trien-ben-vung-cua-he-
thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-15571.html.
18
Hữu Mạnh, Nguyễn, and Vương Thị Hương Giang. ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ MỨC ĐỘ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG ĐẾN LỢI NHUẬN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Tóm Tắt. 2022.
Impact. “What Is Business Efficiency? A Comprehensive Overview.” ,Www.impactmybiz.com
25 Oct. 2023, www.impactmybiz.com/blog/what-is-business-efficiency/.
Jaouad, Elouali, and Oubdi Lahsen. “Factors Affecting Bank Performance: Empirical
Evidence from Morocco.” , vol. 14, no. 34, 31 Dec.European Scientific Journal ESJ
2018, https://doi.org/10.19044/esj.2018.v14n34p255. Accessed 8 May 2019.
Kenton, Will. “Financial Performance: Definition, How It Works, and
Example.” , 30 Apr. 2023,Investopedia
www.investopedia.com/terms/f/financialperformance.asp.
Kosmidou, Kyriaki. “The Determinants of Banks’ Profits in Greece during the Period of EU
Financial Integration.” , vol. 34, no. 3, 15 Feb. 2008, pp. 146–Managerial Finance
159, https://doi.org/10.1108/03074350810848036. Accessed 1 Sept. 2019.
Mubarak, Muhammad Faraz, et al. “The Impact of Digital Transformation on Business
Performance: A Study of Pakistani SMEs.” Engineering Technology & Applied
Science Research, vol. 9, no. 6, 2019, pp. 5056–5061,
epubl.ktu.edu/object/elaba:46768105/.
Nguyễn, Đình Quyết. “Chuyển Đổi Số Trong Doanh Nghiệp Việt Nam Hiện Nay: Những
Khó Khăn Cần Tháo Gỡ.” , 2023,Tapchicongsan.org.vn
www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-
cua-dang/-/2018/824511/view_content.
Nguyễn, Thanh Bình, et al. “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2017-
2020.” , 22 Nov. 2021,Hueuni.edu.vn
csdlkhoahoc.hueuni.edu.vn/data/2021/12/NGUYEN_THI_THANH_BINH. Accessed
17 Mar. 2025.
Panagiotis Liargovas, and Konstantinos Skandalis. Factors Affecting Firms' Financial
Performance: The Case of Greece. Vol. 2, no. 2&3, 1 Jan. 2010, pp. 184–197,
19
www.researchgate.net/profile/Panagiotis-Liargovas/publication/23694580_Factors_Af
fecting_Firms.
Penrose, E. T. (1959). The theory of the growth of the firm. Oxford, UK: Oxford University
Press.
Saona, Paolo. “(PDF) Determinants of the Profitability of the US Banking
Industry.” , June 2011,ResearchGate
www.researchgate.net/publication/256010271_Determinants_of_the_Profitability_of_
the_US_Banking_Industry. Accessed 6 Apr. 2022.
The Enterprisers Project. “What Is Digital Transformation?” , 2016,The Enterprisers Project
enterprisersproject.com/what-is-digital-transformation.
Tuấn Linh, Trịnh Đoàn. “Xem Tác Động Của Chuyển Đổi Số Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của
Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam.” , 2024,Ktpt.edu.vn
js.ktpt.edu.vn/index.php/jed/article/view/1284/593.
WHATFIX. “What Is Digital Transformation? Overview, Why and How.” , 2022,Whatfix
whatfix.com/digital-transformation/.
Xia, Lei, et al. “The Digital Economy: Challenges and Opportunities in the New Era of
Technology and Electronic Communications.” , vol.Ain Shams Engineering Journal
15, no. 2, 8 Aug. 2023, p. 102411,
www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2090447923003003#:~:text=As%20a
%20result%2C%20the%20Digital, https://doi.org/10.1016/j.asej.2023.102411.
Ye, Zheng, and Yongjia Tong. “The Influence of Digital Transformation of Foreign Trade
Enterprises on Their Business Performance.” Discrete Dynamics in Nature and
Society, vol. 2022, 16 Aug. 2022, pp. 1–9, https://doi.org/10.1155/2022/2177689.
Zhou, Yaying, et al. “What Aspects Explain the Relationship between Digital Transformation
and Financial Performance of Firms?” ,Journal of Risk and Financial Management
vol. 16, no. 11, 1 Nov. 2023, p. 479, www.mdpi.com/1911-8074/16/11/479,
https://doi.org/10.3390/jrfm16110479.
Gupta, Sangita Dutta, et al. “Information Technology and Profitability: Evidence from Indian
Banking Sector.” , vol. 13, no. 5, 29 Nov.International Journal of Emerging Markets
20

Preview text:

TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Phạm Đức Tuấn - 26A4010222 - K26CLCTCA
Nguyễn Song - 26A4011935 - K26CLCTCA
Trần Thị Minh Thư - 26A4010203 - K26CLCTCA
Hồ Quỳnh Hương - 26A4012398 - K26CLCTCA
Trần Khánh Ngọc - 26A4013258 - K26CLCTCA Tóm tắt
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, chuyển đổi số (Digital transformation) đã trở
thành xu hướng tất yếu, đặc biệt trong ngành ngân hàng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
và khả năng cạnh tranh. Nghiên cứu này phân tích tác động của mức độ sẵn sàng phát triển và
ứng dụng công nghệ thông tin (ICT) đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Sử dụng dữ liệu từ 23 ngân hàng thương mại và các báo cáo
ICT Index, nhóm tác giả áp dụng phương pháp hồi quy định lượng (Pooled OLS, FEM, REM)
và phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục các khuyết tật mô hình.
Kết quả cho thấy, các yếu tố như tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR), vốn chủ sở hữu trên tổng
tài sản (ETA), thu nhập phi tín dụng (NFI), tăng trưởng tài sản (GROW), và quy mô ngân
hàng (SIZE) có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh (đo bằng ROA và ROE). Ngược
lại, chỉ số chi phí trên thu nhập (CIR) và chỉ số ICT có tác động ngược chiều, cho thấy chi phí
đầu tư công nghệ ban đầu có thể làm giảm lợi nhuận ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn,
chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí vận hành và nâng cao hiệu quả. Nghiên
cứu đề xuất các giải pháp như củng cố khung pháp lý, đầu tư hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân
sự, và tăng cường bảo mật để thúc đẩy chuyển đổi số hiệu quả trong ngành ngân hàng Việt
Nam, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế số.
Từ khoá: Chỉ số mức độ sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (ICT), Hiệu
quả kinh doanh, Ngân hàng thương mại, Việt Nam
THE IMPACT OF TRANSFORMATION ON THE OPERATIONAL EFFICIENCY
OF LISTED COMMERCIAL BANKS ON THE VIETNAMESE STOCK EXCHANGE Abstract
In the context of the Fourth Industrial Revolution, digital transformation has become an
inevitable trend, particularly in the banking sector, to enhance operational efficiency and
competitiveness. This study analyzes the impact of the readiness level for information and
communication technology (ICT) development and application on the business performance
of Vietnamese commercial banks during the 2015–2020 period. Using data from 23
commercial banks and ICT Index reports, the authors employ quantitative regression methods 1
(Pooled OLS, FEM, REM) and the Generalized Least Squares (GLS) method to address
model deficiencies. The results indicate that factors such as the loan-to-deposit ratio (LDR),
equity-to-total assets ratio (ETA), non-interest income (NFI), asset growth (GROW), and
bank size (SIZE) positively influence business performance (measured by ROA and ROE).
Conversely, the cost-to-income ratio (CIR) and ICT Index have a negative impact, suggesting
that initial technology investment costs may reduce short-term profitability. However, in the
long run, digital transformation optimizes processes, reduces operating costs, and improves
efficiency. The study proposes solutions such as strengthening the legal framework, investing
in technology infrastructure, training human resources, and enhancing cybersecurity to
promote effective digital transformation in Vietnam’s banking sector, contributing to the
sustainable development of the digital economy.
Keywords: ICT readiness index, Business performance, Commercial banks, Vietnam. 1. Giới thiệu
Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của TS. Cấn Văn Lực và
nhóm chuyên gia (2023) cho thấy chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu toàn cầu,
đặc biệt tăng tốc sau đại dịch COVID-19 khi doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về tầm quan
trọng của công nghệ số trong phát triển và sinh tồn. Theo nghiên cứu của Microsoft, tại khu
vực châu Á - Thái Bình Dương, đóng góp của chuyển đổi số vào GDP tăng từ 25% năm 2019 lên 60% năm 2021.
Ở Việt Nam, chuyển đổi số cũng diễn ra vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt đối với các ngành: du
lịch, giao thông, tài chính,… Theo PwC, việc chuyển đổi số nhanh chóng của Việt Nam đang
dần định hình lại nền kinh tế của mình, dự kiến nền kinh tế kỹ thuật số năm 2025 của nước ta
sẽ đạt 43 tỷ đô la gần gấp đôi so 21 tỷ đô la với năm 2021. Chính phủ Việt Nam cũng đang nỗ
lực đưa ra những phương án phù hợp với mục tiêu ứng dụng ICT (Information and
Communication Technology) trong chiến lược phát triển chung của đất nước, cũng như trong
tầm nhìn trung và dài hạn.
Theo Lei Xia và cộng sự (2023), nền kinh tế số ứng dụng công nghệ và truyền thông điện
tử để thúc đẩy kinh doanh trực tuyến trong nhiều lĩnh vực, cải thiện trải nghiệm người dùng,
tăng tốc xử lý và giúp tiếp cận sản phẩm, dịch vụ dễ dàng hơn. Song với đó, xu hướng phát
triển của trí tuệ nhân tạo giúp ngân hàng mở rộng dịch vụ nhanh chóng với chi phí thấp hơn
so với phương thức truyền thống. Đầu tư vào công nghệ hiện đại, đặc biệt là ICT, giúp ngân
hàng thương mại tiếp cận khách hàng hiệu quả hơn, giảm chi phí quản lý, nâng cao hiệu suất,
mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận (Nguyễn Hữu Mạnh & Vương Thị Hương Giang,
2022). Tại Việt Nam, tuỳ thuộc vào quy mô cũng như khả năng tài chính và nguồn lực mà
mỗi ngân hàng sẽ có mức độ chuyển đổi số khác nhau. Các dịch vụ tài chính trực tuyến và các
ứng dụng ngân hàng di động như: VCB Digibank, VietinBank iPay, BIDV SmartBanking,
VPBank Online,... được ra đời cho phép khách hàng có thể sử dụng qua các thiết bị di động 2
và máy tính. Tính đến cuối năm 2024, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đạt 17 tỷ
giao dịch, với tổng giá trị khoảng 280 triệu tỷ đồng, tăng hơn 120% so với cùng kỳ năm trước
và các giao dịch điện tử này phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ sang nền tảng thanh toán số
(Đào Lê Kiểu Oanh, and Lê Tấn Phát, 2025). Ngoài ra, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt nghị định số 749/QĐ-TTg về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030 và đặc biệt nhấn mạnh chuyển đổi số ngành ngân hàng.
Sự xuất hiện của ICT đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong hoạt động của ngành ngân
hàng (Gupta và cộng sự, 2018). Do đó, nghiên cứu này sẽ phân tích tác động của mức độ sẵn
sàng phát triển và ứng dụng CNTT đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại
Việt Nam giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những đánh giá
tổng quan và một số khuyến nghị để các ngân hàng có thể đưa ra chiến lược kinh doanh một
cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bài nghiên cứu của nhóm được bố cục thành năm phần chính: Phần 1, giới thiệu về bối
cảnh, mục tiêu và đối tượng nghiên cứu; phần 2, nhóm tác giả thực hiện tổng quan nghiên
cứu, đưa ra cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước; phần 3, phương pháp nghiên cứu; và
nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra một số kết luận, khuyến nghị thông qua kết quả nghiên cứu thu
được ở phần 4 và phần 5.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. sở thuyết
2.1.1. Một số khái niệm bản
2.1.1.1. Khái niệm chuyển đổi số
Chuyển đổi số (Digital Transformation) đang trở thành xu hướng tất yếu hiện nay nhưng
tới bây giờ vẫn chưa có một khái niệm nào thống nhất cho thuật ngữ này. Theo Cục tin học
hóa - Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và
toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.
The Enterprisers Project (2023) cho rằng chuyển đổi số là việc tích hợp công nghệ số vào
tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp, thay đổi một cách cơ bản cách thức hoạt động và cung
cấp giá trị cho khách hàng. Đây cũng là một sự thay đổi văn hóa, yêu cầu các tổ chức phải
liên tục thách thức hiện trạng, thử nghiệm và chấp nhận thất bại.
Theo một nghiên cứu trên Whatfix, chuyển đổi số là quá trình sử dụng công nghệ số để
chuyển đổi các quy trình và dịch vụ kinh doanh truyền thống, không phải số hóa, hoặc tạo ra
các quy trình và dịch vụ mới, nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi của thị trường và kỳ vọng của
khách hàng, từ đó hoàn toàn thay đổi cách thức quản lý và vận hành doanh nghiệp, cũng như
cách thức cung cấp giá trị cho khách hàng.
Song với đó, Siebel định nghĩa chuyển đổi số phát sinh từ sự giao thoa của điện toán đám
mây, dữ liệu lớn, IoT và AI, và hiện nay nó rất quan trọng đối với các ngành công nghiệp trên
toàn thị trường. Một số người mô tả nó là sức mạnh của công nghệ số được áp dụng vào mọi
khía cạnh của tổ chức. Ngoài ra, Nguyễn Đình Quyết (2021) đã nhận xét rằng chuyển đổi số 3
trong doanh nghiệp có thể hiểu là quá trình thay đổi mô hình cũ, mô hình truyền thống sang
dạng doanh nghiệp số, dựa trên những ứng dụng công nghệ mới, như: Big data, IoT, điện toán
đám mây,… nhằm thay đổi phương thức điều hành, quy trình làm việc và văn hóa lao động
trong doanh nghiệp. Qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu chuyển đổi số là quá
trình ứng dụng công nghệ số bao gồm: Big data, IoT, điện toán đám mây,… vào tất cả các
khía cạnh của một tổ chức, doanh nghiệp nhằm thay đổi cách thức hoạt động, mô hình kinh
doanh, cách thức quản lý doanh nghiệp, cách thức vận hành doanh nghiệp và mang lại giá trị mới.
2.1.1.2. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được cho là tỷ lệ giữa các nguồn lực mà một tổ chức tiêu thụ với khối
lượng sản xuất hàng hóa, dịch vụ và doanh thu. Nói một cách đơn giản hơn, đó là việc đạt
được nhiều đầu ra hơn từ cùng một đầu vào hoặc đạt được cùng một đầu ra với ít nguồn lực
hơn (Impact, 2023). Theo investopedia, hiệu quả kinh doanh lại là là thước đo chủ quan về
mức độ hiệu quả mà một công ty có thể sử dụng tài sản từ phương thức kinh doanh chính và
tạo ra doanh thu. Thuật ngữ này cũng được sử dụng như một thước đo chung về sức khỏe tài
chính tổng thể của một công ty trong một khoảng thời gian nhất định (Will Kenton, 2023).
Hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả tài chính của một công ty được phân tích bởi các công thức
và tỷ lệ tài chính cụ thể. Khi so sánh với các số liệu lịch sử và ngành, các chỉ số sẽ cung cấp
cái nhìn sâu sắc về tình trạng và hiệu suất tài chính của công ty. Để đo lường hiệu quả hoạt
động của một công ty, có bảy tỷ lệ quan trọng được sử dụng rộng rãi trong thế giới kinh
doanh để hỗ trợ và đánh giá hiệu quả hoạt động tổng thể của công ty bao gồm: Biên lợi nhuận
gộp; Vốn lưu động ròng; Tỷ số thanh toán nhanh; Số vòng quay hàng tồn kho, Đòn bẩy tài
chính; ROA; ROE (CFI team, 2022). Tuy nhiên, để tìm ra một chỉ số đo lường HQKD tốt
nhất vẫn đang là một vấn đề gây tranh cãi. Trong khi Sumaya và Safitri (2021), Onaolapo và
Kajola (2010) chỉ sử dụng một chỉ số duy nhất để đo lường HQKD lần lượt là ROA và ROE,
nghiên cứu của Panagiotis Liargovas và Konstantinos Skandalis lại sử dụng cả ba tỷ số ROA,
ROE và ROS để đánh giả HQKD của một công ty(Panagiotis Liargovas và Konstantinos Skandalis, 2010).
2.1.2. Các học thuyết về mối quan hệ giữa chuyển đổi số hiệu quả hoạt động của
ngân hàng thương mại
2.1.2.1. thuyết nguồn lực
Lý thuyết nguồn lực (Resource-Based View) là một lý thuyết trong quản lý chiến lược và
kinh tế học. Trong đó, nguồn lực là tất cả các tài sản, khả năng, và yếu tố có sẵn mà doanh
nghiệp sử dụng để hoạt động và phát triển. Theo Edith Penrose (1959), việc sử dụng và quản
lý nguồn lực có ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh và sự phát triển của công ty. Để có khả năng
tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, một nguồn lực cần đáp ứng được những tiêu chí sau, gồm:
Có giá trị, hiếm, khó sao chép và không thể thay thế (Barney, 1991). Trong bối cảnh hiện nay,
chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các nguồn lực mới, giúp doanh nghiệp
nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển bền vững và mở rộng cơ hội tăng trưởng. Việc áp 4
dụng lý thuyết nguồn lực giúp các ngân hàng thương mại đánh giá và tận dụng những nguồn
lực mới một cách tối ưu nhất.
2.1.2.2. thuyết cân bằng động
Năng lực động là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết chiến lược doanh nghiệp, mô tả
khả năng của doanh nghiệp trong việc tích hợp, xây dựng và tái cấu trúc nguồn lực và năng
lực của mình để đáp ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh. Teece và các cộng
sự (1997) định nghĩa năng lực động là "khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những
tiềm năng bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường".
Đây là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh và cải thiện hiệu
quả kinh doanh. Chuyển đổi số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình tái
cấu trúc doanh nghiệp, thay đổi cách thức tổ chức và điều hành thông qua công nghệ số. Quá
trình này giúp doanh nghiệp xây dựng và củng cố năng lực động, cho phép họ tái cấu trúc
nguồn lực và quy trình để thích ứng với thay đổi môi trường. Đặc biệt đối với các ngân hàng
thương mại, chuyển đổi số là yếu tố quan trọng không chỉ để tối ưu hóa hoạt động mà còn để
duy trì lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động trong một thị trường đầy biến động.
2.1.2.3. thuyết năng lực cốt lõi
Lý thuyết năng lực cốt lõi của Prahalad và Hamel (1990) cho rằng, năng lực cốt lõi là sự
học hỏi tập thể trong doanh nghiệp, đặc biệt là làm thế nào kết hợp các kỹ năng sản xuất khác
nhau và tích hợp nhiều dòng công nghệ với nhau. Năng lực cốt lõi biến tầm nhìn thành năng
lực để phát triển và làm tăng giá trị doanh nghiệp. Chuyển đổi số trên quan điểm của lý thuyết
năng lực cốt lõi cho rằng, doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cốt lõi cần sử dụng hiệu quả
các nguồn lực và chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp phát huy các nguồn lực trong công ty từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
2.2. Tổng quan về mối quan hệ giữa chuyển đổi số hiệu quả hoạt động kinh do
Trong bối cảnh kinh doanh đang phát triển nhanh chóng hiện nay, việc phân tích mối quan
hệ phức tạp giữa chuyển đổi kỹ thuật số và hiệu quả tài chính là tối quan trọng. Các công ty
ngày càng đầu tư vào công nghệ kỹ thuật số để hợp lý hóa hoạt động, nâng cao trải nghiệm
khách hàng và mở ra các nguồn doanh thu mới. Việc hiểu được những sáng kiến kỹ thuật số
này chuyển thành lợi ích tài chính hữu hình như thế nào, chẳng hạn như tăng khả năng sinh
lời, cải thiện hiệu quả và tăng cường thị phần, là rất quan trọng đối với việc ra quyết định
chiến lược. Tuy nhiên, có những bằng chứng trái chiều về việc chuyển đổi số ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của các công ty. Nghiên cứu của Yaying Zhou và đồng nghiệp (2023) sử
dụng khung lý thuyết “Quan điểm dựa trên nguồn lực - RBV” để làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa chuyển đổi kỹ thuật số và hiệu quả tài chính của các công ty. Kết quả của nghiên cứu cho
thấy rằng số hóa không chỉ giới hạn ở các ứng dụng internet, phần mềm hoặc phần cứng mà
còn là một nguồn lực chiến lược quan trọng trong quá trình chuyển đổi của các công ty, củng
cố lập luận về số hóa như một nguồn lực chiến lược. Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu cho
chuyển đổi kỹ thuật số có thể cao, nhưng mối tương quan giữa chuyển đổi số và HQKD là
tích cực. Nghiên cứu của MF.Mubarak và cộng sự (2019) tại Pakistan đã phân tích tác động 5
của công nghệ công nghiệp 4.0 (Big Data, CPS, IoT, khả năng tương tác) đến hiệu suất của
doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tại Pakistan. Kết quả cho thấy các công nghệ này giúp nâng
cao hiệu quả hoạt động, thay đổi mô hình kinh doanh và cần được ứng dụng rộng rãi. Nghiên
cứu đề xuất rằng, chính phủ nên hỗ trợ SMEs tiếp cận công nghệ để giảm chi phí, tăng năng
suất và tạo giá trị gia tăng. Đồng thời, cần đào tạo nguồn nhân lực với kỹ năng phù hợp để
thích ứng với sự chuyển đổi này. Nghiên cứu của Zheng Ye và Yongjia Tong (2022) kết luận
rằng, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp ngoại thương, ngay cả khi có sự điều chỉnh các biến kiểm soát và thông số
thống kê. Ngoài ra, chuyển đổi số giúp cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, đồng thời thúc
đẩy khả năng đổi mới của doanh nghiệp. Những yếu tố này kết hợp lại góp phần đáng kể vào
việc nâng cao hiệu suất hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu về tác động của ICT đến hiệu quả và lợi nhuận của các doanh nghiệp tại
các nước phát triển đã được thực hiện cho đến nay. Theo McCarthy & cộng sự (2014), các bài
học kinh nghiệm thu được từ các nước lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu đã đem đến nhiều bài học
kinh nghiệm cho các quốc gia có nền kinh tế mới nổi khác. Tuy nhiên, không phải công ty
nào cũng thành công nếu thiếu chiến lược xây dựng để tận dụng tối đa mọi cơ hội từ việc đổi
mới và áp dụng công nghệ (Prud’homme, 2015). Nghiên cứu tại nhiều công ty ở các nước
mới nổi cho thấy việc áp dụng ICT đã có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của họ
(Worldbank, 2021). Trong lĩnh vực ngân hàng, các thay đổi về công nghệ đã và đang diễn ra
nhanh chóng và ảnh hưởng trực tiếp đến các chiến lược phát triển kinh doanh. Trong đó, ICT
đang dần trở thành công cụ quan trong, giúp các ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại và tận
dụng tối đa lợi ích của mạng internet để gia tăng hiệu quả hoạt động của mình. Theo nghiên
cứu của Zhu & Andersen, 2021, việc áp dụng ICT không chỉ giúp mở rộng thị trường mà còn
tạo lợi thế cạnh tranh nhờ tăng cường khả năng tương tác, giảm chi phí giao dịch và cải thiện
kết nối với khách hàng. Đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ những thay đổi trong
môi trường kinh doanh hiện đại, ngân hàng thương mại cần phải dựa vào ICT để đạt được và
duy trì khả năng cạnh tranh, cải thiện năng suất. Tuy nhiên, mặc dù các tổ chức trong các lĩnh
vực khác nhau đang áp dụng rộng rãi ICT, một số báo cáo khảo sát đã phát hiện ra rằng nhiều
doanh nghiệp không tiến bộ trong các giai đoạn của vòng đời kinh doanh (Amankwah- Amoah, 2019).
Theo nghiên cứu của Ky và cộng sự (2019), việc ứng dụng công nghệ ICT và phát triển
các sản phẩm Fintech trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ nâng cao lợi nhuận và hiệu suất
hoạt động mà còn cải thiện tương tác với khách hàng, đồng thời mở rộng các phân khúc khách
hàng tiềm năng. Việc tích hợp ICT vào ngân hàng giúp thúc đẩy khả năng chấp nhận rủi ro và
giúp thu hút, giữ chân khách hàng thông qua các dịch vụ chất lượng cao, kịp thời; ngoài ra
còn tối ưu hóa chi phí vận hành và gia tăng lợi nhuận (Wang & cộng sự, 2020). Bên cạnh đó,
nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc ứng dụng ICT trong lĩnh vực tài chính, đặc
biệt là ngân hàng, có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của các ngân
hàng tại Ấn Độ (Gupta & cộng sự, 2018), Châu Âu (Del Gaudio & cộng sự, 2021) và Hoa Kỳ 6
(Pierri & Timmer, 2022). Tuy nhiên, theo Alt & cộng sự (2018), bên cạnh những lợi ích đáng
kể, việc đầu tư vào ICT cũng đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn để đào tạo nhân viên, bảo trì,
nâng cấp hệ thống công nghệ, đồng thời có nguy cơ thất bại, ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân
hàng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của chỉ số ICT đối với tỷ suất lợi
nhuận của ngân hàng thương mại còn khá hạn chế. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào phân
tích sâu về ảnh hưởng của từng chỉ số thành phần trong chỉ số ICT tổng hợp đến lợi nhuận
ngân hàng. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm bổ sung vào khoảng trống đó và cung cấp cái nhìn
chi tiết hơn về thị trường ngân hàng Việt Nam.
Nghiên cứu N Van Thuy (2021) về mối quan hệ giữa ICT và kết quả hoạt động của ngân
hàng thương mại kết luận rằng việc đầu tư vào công nghệ thông tin giúp làm thay đổi mô hình
kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt đối với các ngân hàng có tiềm lực tài chính
mạnh. Tuy nhiên, quy mô ngân hàng lớn có thể làm giảm hiệu quả do bộ máy cồng kềnh cản
trở sự phát triển của ngân hàng số. Ngoài ra, tỷ lệ tiền gửi trên cho vay có tác động tiêu cực
đến hiệu quả hoạt động, Điều đó cũng chỉ ra xu hướng phát triển của các ngân hàng thương
mại Việt Nam là các ngân hàng đang có xu hướng chuyển nhanh sang các dịch vụ ngân hàng
bán lẻ, dịch vụ thanh toán dựa trên nền tảng số. Tương tự, nghiên cứu của J Omwenga và
cộng sự đã cho thấy việc sử dụng các chiến lược ICT có tác động tích cực đến hiệu suất của
các ngân hàng thương mại ở Kenya như đã thấy trong trường hợp của Ngân hàng Equity. Bài
nghiên cứu đã chứng minh rằng, có sự giống nhau về tác động tích cực của các chiến lược
ICT đối với lợi nhuận, tiền gửi của khách hàng và hiệu suất chung của các ngân hàng thương mại ở Kenya.
Tuy nhiên, trái lại với những nghiên cứu trên, bài viết của Muhammad và cộng sự (2023)
đã đi đến kết đầu tư vào ICT không cải thiện hiệu suất của ngân hàng thương mại tại Nigeria.
Điều này đúng với thực tế rằng hầu hết các ngân hàng thương mại của Nigeria đang gặp khó
khăn về tài chính kể từ khi hợp nhất. Ngoài ra, lợi nhuận đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy hiệu
suất của ngân hàng thương mại tại Nigeria, tuy nhiên, thước đo hiệu suất tốt nhất là lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tài sản. Đối với nghiên cứu tại Việt Nam của Trang
Doan Do và cộng sự (2022), kết quả cho thấy chuyển đổi số có tác động tích cực đến hiệu
suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức ý nghĩa 1%. Tuy nhiên, quy mô ngân
hàng không có ảnh hưởng đáng kể, nhưng khi kết hợp với chuyển đổi số, quy mô lớn giúp
ngân hàng tận dụng công nghệ hiệu quả hơn. Ngoài ra, nghiên cứu đề xuất các giải pháp cho
ngân hàng và cơ quan quản lý, nhấn mạnh rằng ngân hàng nhỏ gặp khó khăn về tài chính và
nhân lực công nghệ so với ngân hàng lớn. Do đó, họ cần cân đối ngân sách để đầu tư vào
công nghệ và phát triển nhân sự. Bên cạnh đó, nghiên cứu của X Cao và cộng sự (2022) về tác
động của chuyển đổi số đối với tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng lớn và nhỏ giai đoạn 2011-
2018 đã cho thấy chỉ có chuyển đổi số ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu (NPL), trong khi thay đổi
về tổ chức và nhận thức chỉ có tác động gián tiếp.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu trước đây đã phân tích tác động của chuyển đổi số đối với
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của 7
chuyển đổi số tới các ngân hàng thương mại lớn được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt
Nam. Điều này tạo ra một khoảng trống lớn trong tài liệu hiện có, đặc biệt khi đây là nhóm
ngân hàng chịu tác động mạnh mẽ từ sự đổi mới công nghệ. Nhóm tác giả cho rằng nghiên
cứu tác động của chuyển đổi số đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
thương mại lớn trên thị trường sẽ không chỉ giúp làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển của nhóm doanh nghiệp này mà còn cung cấp thông tin giá trị cho các nhà quản lý và
nhà đầu tư trong việc đưa ra các quyết định chiến lược. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này
không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc góp phần
thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
3. hình phương pháp nghiên cứu
3.1. hình nghiên cứu
Trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại đã
được đề xuất ở trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau: Mô hình 1: ROAit = 1 + LDR 2
it + 3CIRit+ + 4ETAit + 5ICTit + 6GROWit + 7 NFIit + 8 SIZEit + ∈it Mô hình 2: ROEit = 1 + LDR 2
it + 3CIRit+ + 4ETAit + 5ICTit + 6GROWit + 7 NFIit + 8 SIZEit + ∈it
Trong đó, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các nhà nghiên
cứu như Berger & DeYoung (2002), Pratomo & Ismail (2006), Awunyo & Badu (2012),
Saeed (2013) đã sử dụng các chỉ tiêu sau: ROA và ROE là hai chỉ số quan trọng trong việc
đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. ROA phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ tổng
tài sản, bao gồm cả vốn huy động và vốn chủ sở hữu, cho thấy mức độ hiệu quả trong việc sử
dụng nguồn lực của ngân hàng. Trong khi đó, ROE đo lường lợi nhuận thu được trên mỗi
đồng vốn chủ sở hữu, thể hiện khả năng sinh lời cho các cổ đông. Vì mục tiêu quan trọng nhất
của ngân hàng là tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu, ROE được xem là chỉ số then chốt trong
việc đánh giá hiệu quả kinh doanh.
ICT phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ vào các hoạt động tài chính. Trong tổ chức nói
chung và ngân hàng thương mại nói riêng các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ số khả năng
số hóa (Enabling Digitalization Index – EDI) với biến đại diện là mức độ đầu tư cho công
nghệ (Huỳnh Thị Tuyết Ngân & cộng sự, 2021; Do, T.D & cộng sự, 2022). Tuy nhiên việc
đầu tư công nghệ thông tin tăng lên không phải lúc nào cũng dẫn đến tăng lợi nhuận ngân
hàng (Beccalli, 2007; Xin & Choudhary, 2019). Theo Siebel (2019) thì chuyển đổi số trong tổ
chức không phải chỉ là đầu tư cho công nghệ... mà hiệu quả cho nó mang lại cho tổ chức là gì.
Trong các ngân hàng thương mại, các chiến lược chuyển đổi số đều gắn với mục tiêu chuyển
dịch phương thức giao dịch truyền thống sang giao dịch qua ngân hàng số và sự chuyển dịch
này thể hiện qua số lượng giao dịch và thu nhập từ kênh ngân hàng số. Vì vậy trong bài viết
này tác giả sử dụng biến ICT Index để đại diện cho mức độ chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại. 8
Ngoài ra, đối với các biến còn lại trong mô hình: LDR phản ánh mức độ sử dụng nguồn
vốn huy động để cho vay của ngân hàng. CIR phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng
bằng cách đo lường tỷ lệ giữa chi phí hoạt động và thu nhập hoạt động. ETA phản ánh tỷ lệ
vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của ngân hàng. GROW phản ánh tăng trưởng của ngân
hàng, được đo bằng tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của ngân hàng hàng năm. NFI phản ánh
mức độ đóng góp của các hoạt động phi tín dụng vào tổng thu nhập của ngân hàng. SIZE đo
lường tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu được nhóm nghiên cứu lựa chọn từ 23 ngân hàng có đầy
đủ thông tin, báo cáo tài chính hợp nhất (từ năm 2015 đến năm 2020, công bố bởi các ngân
hàng), báo cáo thường niên về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin
được thu thập từ số liệu của Hội tin học Việt Nam (từ năm 2015 đến năm 2020, công bố tại
http://vaip.org.vn/). Báo cáo ICT Index là báo cáo đánh giá và xếp hạng mức độ ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) của các quốc gia, tổ chức hoặc địa
phương dựa trên một hệ thống chỉ số.
3.2.2. Phương pháp xử dữ liệu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: Mô hình hồi quy bình
phương bé nhất dạng gộp (Pooled OLS) được sử dụng để hồi quy dữ liệu bảng, đồng thời kết
hợp đánh giá và so sánh với mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác
động ngẫu nhiên (REM). Sau đó, phân tích và xem xét các yếu tố ảnh hưởng và lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
Để lựa chọn mô hình phù hợp giữa Pooled OLS, FEM và REM, nhóm nghiên cứu thực
hiện ba kiểm định: kiểm định F, kiểm định Breusch và Pagan, và kiểm định Hausman. Đầu
tiên, kiểm định F dùng để so sánh Pooled OLS và FEM, với giả thuyết H 0 là Pooled OLS phù
hợp, nếu p-value < 0,05 thì bác bỏ H
0 và lựa chọn mô hình FEM. Tiếp theo, tiến hành kiểm
định Breusch và Pagan để so sánh Pooled OLS và REM, nếu p-value < 0,05 thì bác bỏ H 0 và
lựa chọn mô hình REM với giả thuyết H
0 là Pooled OLS phù hợp. Cuối cùng, nếu cả hai kiểm
định trên bác bỏ Pooled OLS, kiểm định Hausman được sử dụng để so sánh FEM và REM,
nếu p-value < 0,05 thì mô hình FEM tối ưu hơn với giả thuyết H0 là REM phù hợp. Sau khi
chọn được mô hình tối ưu nhóm tác giả sẽ kiểm định lại hiện tượng tự tương quan và phương
sai thay đổi, nếu phát hiện các giả định hồi quy bị vi phạm thì khắc phục bằng cách sử dụng
phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục mô hình khuyết tật.
4. Kết quả nghiên cứu thảo luận
4.1. Thống tả
Bảng 1. Thống tả
Giá trị trung Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Số bình quan sát 9 ROA 0,261 0,0528 0,0001 0,2544 138 ROE 0,0956 0,0804 0,0008 0,2957 138 LDR 0,8959 0,1308 0,6423 13,442 138 CIR 0,5153 0,132 0,2908 0,8806 138 ETA 0,0836 0,0305 0,0406 0,1911 138 NFI 0,2648 0,1638 -0,206 0,8429 138 ICT 0,4903 0,1218 0,2247 0,8114 138 index GROW 0,1561 0,1039 -0,255 0,4807 138 SIZE 32,6744 1,1287 30,5073 34,0553 138
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Bảng 1 trình bày thống kê mô tả mẫu nghiên cứu gồm 138 quan sát. Biến ROA có giá trị
trung bình là 0,261, độ lệch chuẩn là 0,0528, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất lần lượt là
0,0001 và 0,2544. Giá trị lớn nhất của biến ROA là 0,2544 nghĩa là Ngân hàng Thương mại
cổ phần Phương Đông (OCB), năm 2019 đạt lợi nhuận cao nhất trong số các ngân hàng
thương mại được nghiên cứu. Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại Bản Việt (BVB) có giá
trị thấp nhất (0,0001) vào năm 2016. Bên cạnh đó, Biến ROE có giá trị trung bình là 0,0956,
độ lệch chuẩn là 0,0804, giá trị nhỏ nhất là 0,0008 và giá trị lớn nhất là 0,2957. Giá trị lớn
nhất của biến ROE là 0,2957 nghĩa là Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
(VIB), năm 2020 đạt lợi nhuận cao nhất trong số các ngân hàng thương mại được nghiên cứu.
Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại Bản Việt (BVB) có giá trị thấp nhất (0,0008) vào năm 2016.
4.2. Phân tích tương quan
Bảng 2. Ma trận hệ số tương quan
Variables (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (1) ROE 1,000 (2) ROA -0,239 1,000 (3) LDR 0,428 -0,112 1,000 (4) CIR -0,562 -0,258 -0,295 1,000 (5) ETA -0,172 0,070 0,023 -0,017 1,000 (6) NFI 0,249 0,167 -0,066 -0,257 0,057 1,000 (7)
0,173 0,009 0,031 -0,318 -0,180 0,113 1,000 ICTIndex (8) GROW 0,170 0,252
0,100 -0,092 -0,298 -0,076 0,092 1,00 0 (9) SIZE 0,569 0,056 0,097 -0,532 -0,482 0,326 0,405 0,07 1,000 7
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên ma trận tương quan, có thể thấy rằng ROA, ROE chịu ảnh hưởng ở mức độ khác
nhau từ các biến số trong mô hình. Đáng chú ý, ROA và ROE có mối quan hệ chặt chẽ nhất
với CIR. Cụ thể, CIR có tương quan âm với các biến đo lường hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại, cho thấy chi phí hoạt động tăng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động. 10
Các biến còn lại có mức tương quan thấp hơn. Trong khi đó, ICT Index có một số điểm đáng
chú ý. Trước hết, biến này có tương quan dương với ROA (0.091) và ROE (0.173) , nhưng
mức độ không cao, cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ thông tin có thể có tác động tích cực
đến hiệu quả sinh lời, nhưng không quá mạnh mẽ. Đáng chú ý hơn, ICT Index có tương quan
âm với CIR (0.318), cho thấy rằng khi mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tăng lên, chi phí
hoạt động có xu hướng giảm. Điều này có thể gợi ý rằng đầu tư vào công nghệ giúp cải thiện
hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa quy trình và giảm chi phí vận hành. Ngoài ra, ICT Index cũng
có tương quan dương với SIZE (0.405), cho thấy các ngân hàng có quy mô lớn thường có
mức độ ứng dụng công nghệ cao hơn.
4.3. Kết quả nghiên cứu biến ROA
Bảng 3. Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp Kiểm định F
Breusch and Pagan Hausman Test Test Lựa chọn OLS & FEM OLS & REM FEM & REM
Giá trị thống kê F(22,108) = 26,4 chibar2(01) = 152,23 chi2(7) = 17,99
p-value Prob > F = 0,0000 Prob > chibar2 = 0,0000 Prob > chi2 = 0,0120 Kết luận Bác bỏ H Bác 0 bỏ H Bác 0 bỏ H0 Chọn FEM REM FEM
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Bảng 3 trình bày kết quả của ba kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp, trong đó, kiểm
định F (so sánh OLS & FEM) và kiểm định Breusch and Pagan (so sánh OLS & REM) đều có
p-value (= 0,0000) <0,05 nên giả thuyết H0 của cả hai kiểm định bị bác bỏ. Do đó, kiểm định
Hausman được thực hiện để so sánh FEM và REM, với p-value (=0,0120) <0,05, bác bỏ giả thuyết H
0 REM phù hợp và mô hình FEM được xác định là mô hình phù hợp nhất.
Bảng 4. Kiểm định phương sai thay đổi Kiểm định Modified Wald Giả thuyết H0 σ (i)2=σ2∀i
Giá trị thống kê chi2(23) = 3952,46 p-value Prob > chi2 =0,0000 Kết luận Bác bỏ H0
Kiểm định Modified Wald được thực hiện để xác định sự tồn tại của hiện tượng phương sai
sai số thay đổi trong mô hình FEM. Kết quả kiểm định được trình bày trong bảng 4 cho thấy,
giá trị thống kê chi2(23) = 3952,46 và p-value (=0,0000) nhỏ hơn 5% nên giả thuyết H0 bị bác
bỏ. Do đó, hiện tượng phương sai sai số thay đổi vẫn tồn tại trong mô hình FEM. Ngoài ra, sử
dụng kiểm định Wooldridge cũng cho giá trị p-value = 0,0000 < 0,05 cho thấy mô hình có
hiện hiện tượng tự tương quan. 11
Vì mô hình FEM vẫn tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương
quan. Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp Bình Phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc
phục các khuyết tật của mô hình.
Bảng 5. Kết quả hình GLS ROA
Coef. St.Err. t-value p-value [95% Conf Interval] Sig LDR .01 .01 1.08 .279 -.008 .029 CIR -.022 .012 -1.83 .067 -.045 .002 * ETA .101 .067 1.52 .128 -.029 .232 NFI .004 .008 0.51 .613 -.011 .019 ICTIndex -.003 .01 -0.29 .775 -.022 .017 GROW .01 .01 0.97 .33 -.01 .03 SIZE .002 .002 0.72 .472 -.003 .006 Constant -.048 .075 -0.64 .524 -.194 .099 Mean dependent var 0.026 SD dependent var 0.053 Number of obs 138 Chi-square 19.073
*** p<.01, ** p<.05, * p<.1
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Thứ nhất, LDR, hệ số hồi quy bằng 0,0103, dương nên yếu tố này có tác động cùng chiều
và mang ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi, khi LDR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng 0,0103 đơn vị.
Thứ hai, CIR, hệ số hồi quy âm (- 0,0216) nên yếu tố này có tác động ngược chiều và
mang ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi CIR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ giảm 0,0216 đơn vị.
Thứ ba, ETA, hệ số hồi quy bằng 0,101, dương nên yếu tố này có tác động cùng chiều và
mang ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi ETA tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng 0,101 đơn vị.
Thứ tư, NFI, hệ số hồi quy dương bằng 0,00395, điều này cho thấy NFI có tác động cùng
chiều và mang ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi, khi NFI tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,00395 đơn vị.
Thứ năm, ICT Index, hệ số hồi quy âm (- 0,00286), cho thấy rằng yếu tố này có tác động
ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM giảm 0,00286 đơn vị.
Thứ sáu, GROW, hệ số hồi quy dương (0,0101), cho thấy rằng yếu tố này có tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi GROW tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,0101 đơn vị. 12
Thứ bảy, SIZE, hệ số hồi quy dương bằng 0,00152, cho thấy rằng yếu tố này có tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi size tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,00152 đơn vị.
Đối với mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROA, ETA có tác động lớn nhất tới hiệu quả
kinh doanh của NHTM trong khi yếu tố size lại ít có ảnh hưởng nhất. Ngoài ra, ICT Index và
CIR là hai nhân tố duy nhất có tác động ngược chiều tới hiệu quả kinh doanh của NHTM.
4.4. Kết quả nghiên cứu biến ROE
Bảng 6. Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp Kiểm định F
Breusch and Pagan Test Hausman Test Lựa chọn OLS & FEM OLS & REM FEM & REM
Giá trị thống kê F(22,108) = 15,30 chibar2(01) = 158,47 chi2(7) = 1,90 p-value
Prob > F = 0,0000 Prob > chibar2 = 0,0000 Prob > chi2 = 0,9653 Kết luận Bác bỏ H Bác 0 bỏ H Chấp 0 nhận H0 Chọn FEM REM REM
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Kết quả của ba kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp (bảng 5) cho thấy, kiểm định F (so
sánh OLS & FEM) và kiểm định Breusch and Pagan (so sánh OLS & REM) đều có p-value (=
0,0000) <0,05 nên giả thuyết H0 của cả hai kiểm định bị bác bỏ. Do đó, kiểm định Hausman
được thực hiện để so sánh FEM và REM, với p-value (=0,9653) lớn hơn mức ý nghĩa 5%,
chấp nhận giả thuyết H
0 và mô hình REM được xác định là mô hình tối ưu nhất.
Kiểm định Breusch and Pagan cũng được sử dụng với mô hình REM để xác định sự tồn tại
của hiện tượng phương sai sai số thay đổi: giá trị kiểm định chibar2 (= 158,47) của mô hình
REM có p-value (= 0,0000) < 0,05 cho thấy mô hình REM có hiện tượng phương sai sai số
thay đổi. Ngoài ra, kiểm định Wooldridge được tiến hành cũng cho giá trị p-value = 0,0000 <
0,05 cho thấy mô hình có hiện hiện tượng tự tương quan.
Do mô hình REM vẫn tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương
quan. Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp Bình Phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc
phục các khuyết tật của mô hình:
Bảng 7. Kết quả hình GLS ROE Coef. St.Err. t-value p-value [95% Conf Interval] Sig LDR .097 .029 3.33 .001 .04 .155 *** CIR -.144 .025 -5.65 0 -.194 -.094 *** ETA .099 .18 0.55 .582 -.254 .453 NFI .012 .015 0.78 .436 -.018 .042 ICTIndex -.023 .022 -1.04 .3 -.067 .021 GROW .003 .021 0.17 .869 -.038 .044 SIZE .025 .006 4.27 0 .013 .036 *** Constant -.737 .201 -3.67 0 -1.13 -.344 *** Mean dependent var 0.096 SD dependent var 0.080 Number of obs 138 Chi-square 114.492
*** p<.01, ** p<.05, * p<.1 13
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Thứ nhất, LDR, hệ số hồi quy bằng 0,0975, dương nên yếu tố này có tác động cùng chiều
và mang ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi, khi LDR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng 0,0975 đơn vị.
Thứ hai, CIR, hệ số hồi quy âm (- 0,144) nên yếu tố này có tác động ngược chiều và mang
ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, khi CIR tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ giảm 0,144 đơn vị.
Thứ ba, ETA, hệ số hồi quy bằng 0,0994, dương nên yếu tố này có tác động cùng chiều và
mang ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, khi ETA tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ tăng 0,0994 đơn vị.
Thứ tư, NFI, hệ số hồi quy dương bằng 0,0119, điều này cho thấy NFI có tác động cùng
chiều và mang ý nghĩa thống kê tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi, khi NFI tăng 1 đơn vị thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,0119 đơn vị.
Thứ năm, ICT Index, hệ số hồi quy âm (- 0,023), cho thấy rằng yếu tố này có tác động
ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM giảm 0,023 đơn vị.
Thứ sáu, GROW, hệ số hồi quy dương (0,00345), cho thấy rằng yếu tố này có tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi GROW tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,00345 đơn vị.
Thứ bảy, SIZE, hệ số hồi quy dương bằng 0,0247, cho thấy rằng yếu tố này có tác động
cùng chiều tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện các yếu tố khác không
đổi, khi ICT Index tăng 1 đơn vị, thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM tăng 0,0247 đơn vị.
Đối với mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROE, CIR là yếu tố có tác động lớn nhất tới
hiệu quả kinh doanh của NHTM trong khi GROW lại không ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra,
CIR và ICT Index là 2 biến có tác động ngược chiều với hiệu quả kinh doanh của NHTM.
4.5. Thảo luận về kết quả nghiên cứu
Ở cả hai mô hình nghiên cứu tác động đến biến ROA và ROE, thứ nhất, kết quả đều chỉ ra
rằng LDR có tác động tích cực tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Vì phải giảm dự trữ
để đảm bảo thanh khoản nhằm tăng dư nợ cho vay, một ngân hàng thương mại sử dụng quá
nhiều vốn huy động cho việc cho vay sẽ có ngân quỹ nhỏ hơn. Một trong những điều kiện để
ngân hàng tăng thu nhập từ lãi là dư nợ cho vay, nhưng ngân quỹ nhỏ hơn khiến ngân hàng
đối mặt với các vấn đề thanh khoản lớn hơn. Kết quả này phù hợp với thực về và kết quả
nghiên cứu của Kosmidou (2008) và Thanh Phương và Lan Phương (2022). Thứ hai, CIR có
tác động ngược chiều tới hiệu quả kinh doanh. Khi CIR tăng, nghĩa là chi phí vận hành chiếm
tỷ lệ lớn hơn trong tổng thu nhập, dẫn đến lợi nhuận giảm và hiệu quả kinh doanh suy yếu.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu đi trước của Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018) 14
vàThanh Bình và đồng nghiệp (2021). Thứ ba, ETA có tác động cùng chiều tới hiệu quả kinh
doanh. Điều này cho thấy rằng lợi nhuận của ngân hàng tăng lên khi vốn chủ sở hữu tăng. Vì
vốn chủ sở hữu kiểm soát quy mô hoạt động của ngân hàng, điều này phù hợp với cách các
ngân hàng thực tế vận hành. Ngân hàng có thể tăng dư nợ cho vay, tăng lượng vốn huy động
và cải thiện các hoạt động đầu tư để gia tăng doanh thu khi vốn chủ sở hữu tăng. Kết quả này
phù hợp với kết quả nghiên cứu của Paolo (2011) và Athanasoglou và đồng nghiệp (2008).
Thứ tư, NFI có tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh của
NHTM và tỷ lệ NFI có mối quan hệ cùng chiều vì khi NFI tăng, ngân hàng gia tăng nguồn
thu từ các hoạt động phi tín dụng như dịch vụ, đầu tư, hoặc phí, giúp đa dạng hóa doanh thu
và giảm phụ thuộc vào lãi vay. Điều này cải thiện khả năng sinh lời tổng thể, từ đó nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu đi trước của Tuấn Linh (2023).
Thứ năm, ICT Index có tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh
của NHTM và chỉ số ICT có mối quan hệ ngược chiều vì việc đẩy mạnh ICT đòi hỏi ngân
hàng chi nhiều vào công nghệ, làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Kết quả này cũng phù hợp
với nghiên cứu của Hữu Mạnh và Hương Giang (2022). Thứ sáu, GROW có tác động cùng
chiều với hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh của NHTM và tỷ lệ tăng trưởng tài sản
có mối quan hệ cùng chiều bởi khi tài sản tăng, nhất là tài sản sinh lời như cho vay, ngân hàng
tạo thêm thu nhập từ lãi, nâng cao lợi nhuận. Ngược lại, hiệu quả kinh doanh tốt giúp ngân
hàng mở rộng tài sản qua huy động vốn và đầu tư, củng cố mối liên kết tích cực giữa hai yếu
tố này. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu đi trước của Hữu Mạnh và Hương Giang (2022).
Thứ bảy, SIZE có tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh. Khi tài sản tăng cho phép
ngân hàng mở rộng cho vay, đầu tư và huy động vốn, dẫn đến thu nhập tăng, khả năng quản
lý nguồn lực hiệu quả cũng được cải thiện, giúp tối ưu hóa lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu của
Alper và Anbar (2011) cũng chỉ ra yếu tố này có tác động cùng chiều tới hiệu quả hoạt động
của NHTM. Tuy nhiên, ở bảng mô hình GLS của nhóm tác giả, đối với mô hình nghiên cứu
biến ROA, chỉ duy nhất biến CIR cho ra kết quả có ý nghĩa thông kê ở mức 10%, và các biến
còn lại đều không có ý nghĩa thống kê, do đó không đủ cơ sở để kết luận các yếu tố này có tác
động đến HQKD của các NHTM. Đối với mô hình nghiên cứu ROE, kết quả cho ra tích cực
hơn khi các biến lần lượt là LDR, CIR và SIZE đều có ý nghĩa thông kê ở mức 10%, và các
biến còn lại đều không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt, nhóm tác giả nghiên cứu về mối quan
hệ giữa CĐS và HQKD của các NHTM thì kết quả ở cả 2 mô hình nghiên cứu biến ROA và
ROE đều không có ý nghĩa thống kê, do đó ta chưa đủ cơ sở để kết luận về mối quan hệ giữa CĐS và HQKD của các NHTM
5. Kết luận kiến nghị
Nghiên cứu này điều tra thực nghiệm về ảnh hưởng của CĐS có tác động như thế nào đến
HQKD của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020. Ngoài việc sử
dụng chỉ số ICT Index, nghiên cứu của chúng tôi còn sử dụng 6 biến khác là chỉ số tỷ lệ cho
vay trên tiền gửi (LDR), chỉ số chi phí trên thu thập (CIR), vốn chủ sở hữu chia tổng tài sản
(ETA) và tỷ lệ tăng trưởng (GROW) đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt 15
Nam, thu nhập ngoài lãi (NFI), quy mô của ngân hàng (SIZE) đo lường tổng tài sản hoặc vốn
chủ sở hữu. Tác động của ICT Index đến HQKD không rõ ràng do nhiều yếu tố. Đầu tư vào
công nghệ thông tin, dù mang lại tiềm năng cải thiện hiệu quả hoạt động, thường đi kèm với
chi phí ban đầu lớn, từ việc mua sắm phần cứng, phát triển phần mềm, đến đào tạo nhân viên
và bảo trì hệ thống. Những khoản chi này có thể làm giảm lợi nhuận trong ngắn hạn, đặc biệt
nếu các NHTM chưa tối ưu hóa được việc ứng dụng công nghệ để tạo ra giá trị thực sự, như
tăng trưởng doanh thu từ giao dịch trực tuyến hay cải thiện trải nghiệm khách hàng. Hơn nữa,
lợi ích từ ICT thường cần thời gian dài để hiện thực hóa, có thể là vài năm để một hệ thống
mới thực sự giúp giảm chi phí vận hành hoặc mở rộng thị phần. Đáng chú ý, không phải
NHTM nào cũng tận dụng được công nghệ một cách hiệu quả. Một số ngân hàng có thể đầu
tư mạnh vào ICT nhưng lại gặp khó khăn trong triển khai, như hệ thống không phù hợp với
nhu cầu thực tế, hoặc nhân viên chưa được đào tạo để khai thác tối đa công nghệ. Ngược lại,
những ngân hàng đã đầu tư từ lâu và sử dụng công nghệ thành thạo có thể đã đạt được lợi ích
đáng kể, nhưng sự khác biệt này giữa các NHTM làm cho tác động tổng thể của ICT Index trở
nên không đồng nhất và khó đo lường. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu hơn về tác động của
ICT đến hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời gợi ý chiến lược đầu tư công nghệ để
bắt kịp xu hướng số hóa đến năm 2045. Ngoài ra, phát hiện này còn có thể mở rộng sang các
doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng ở các quốc gia khác, cũng như ngành chứng khoán, tiêu
dùng và bán lẻ, những lĩnh vực chịu tác động mạnh từ đổi mới công nghệ.
Hiện nay, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình vận
hành, giảm thiểu chi phí mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
số phát triển. Do đó, để hoạt động hiệu quả, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần tập
trung vào các giải pháp sau:
Thứ nhất, củng cố khung pháp lý và chính sách. Việc xây dựng hệ thống quy định minh
bạch, phù hợp với xu hướng số hóa là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy đổi mới công nghệ
trong lĩnh vực tài chính. Các ngân hàng cần rà soát và điều chỉnh các quy định liên quan đến
ngân hàng số, thanh toán điện tử, bảo vệ dữ liệu và hoạt động của fintech nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho sự phát triển.
Thứ hai, các ngân hàng thương mại cần được đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ. Để
đáp ứng nhu cầu số hóa, ngân hàng cần nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, phát triển nền
tảng thanh toán trực tuyến, cơ sở dữ liệu tín dụng và các hệ thống giao dịch bảo mật. Việc xây
dựng hệ thống kết nối giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác cũng giúp tối ưu hóa hoạt
động và cung cấp dịch vụ tiện lợi hơn cho khách hàng.
Thứ ba, là nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực. Chuyển đổi số không chỉ là thay
đổi về công nghệ mà còn đòi hỏi sự thích nghi từ con người. Các ngân hàng cần tổ chức đào
tạo chuyên sâu về công nghệ tài chính, an ninh mạng và ngân hàng số để đảm bảo đội ngũ
nhân sự có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu mới.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hợp tác công nghệ. Việc hợp tác với các công ty
fintech và tập đoàn công nghệ lớn giúp ngân hàng nhanh chóng ứng dụng các công nghệ tiên 16
tiến như AI, dữ liệu lớn và điện toán đám mây. Đồng thời, ngân hàng cần tập trung phát triển
mô hình ngân hàng số thế hệ mới, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Thứ năm, tăng cường bảo mật và an toàn thông tin. An ninh mạng là yếu tố cốt lõi trong
quá trình số hóa. Các ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ bảo vệ dữ liệu, tăng cường giám
sát giao dịch trực tuyến và nâng cao nhận thức về rủi ro an ninh cho nhân viên lẫn khách hàng.
Thứ sáu, mở rộng dịch vụ tài chính số và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Các ngân hàng
cần số hóa toàn diện các dịch vụ như mở tài khoản, thanh toán, tín dụng nhằm giúp khách
hàng tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng hơn. Đồng thời, việc cá nhân hóa trải nghiệm người
dùng sẽ giúp tăng cường sự hài lòng và gắn kết với thương hiệu ngân hàng.
Thứ bảy, phát triển hệ sinh thái ngân hàng số. Ngành ngân hàng cần xây dựng hệ sinh thái
tài chính số liên kết với các ngành khác như thương mại điện tử, bảo hiểm, công nghệ để
mang lại dịch vụ tích hợp, linh hoạt, giúp khách hàng tiếp cận tài chính dễ dàng hơn trong môi trường số hóa. 17
Tài liệu tham khảo
Admin OD. “XÂY DỰNG NĂNG LỰC ĐỘNG TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH - Công Ty
TNHH Tư Vấn Quản Lý OD Click.” Công Ty TNHH Vấn Quản OD Click, 29
Nov. 2019, odclick.com/thu-vien/insight/phat-trien-lanh-dao/xay-dung-nang-luc-
dong-tao-loi-the-canh-tranh/. Accessed 22 Mar. 2025.
Alper, Deger, and Adem Anbar. Bank Specific and Macroeconomic Determinants of
Commercial Bank Profitability: Empirical Evidence from Turkey. Vol. 2, no. 2, 20 Apr. 2011, p. 139,
www.researchgate.net/publication/227489043_Bank_Specific_and_Macroeconomic_
Determinants_of_Commercial_Bank_Profitability_Empirical_Evidence_from_Turkey .
Athanasoglou, Panayiotis P., et al. “Bank-Specific, Industry-Specific and Macroeconomic
Determinants of Bank Profitability.” Journal of International Financial Markets,
Institutions and Money, vol. 18, no. 2, Apr. 2008, pp. 121–136.
Barney, Jay. “Firm Resources and Sustained Competitive Advantage.” Journal of
Management, vol. 17, no. 1, Mar. 1991, pp. 99–120,
journals.sagepub.com/doi/10.1177/014920639101700108,
https://doi.org/10.1177/014920639101700108.
Bộ Tư Pháp. 8 Yếu Tố Đặc Trưng Của Hội Số Việt Nam. 21 Dec. 2023,
dx.moj.gov.vn/cam-nang-chuyen-doi-so-6.htm. Accessed 22 Mar. 2025.
Cấn, Văn Lực. “Chuyển Đổi Số Ngành Ngân Hàng Việt Nam: Cơ Hội, Thực Trạng và Giải
Pháp.” Thitruongtaichinhtiente.vn, 12 Nov. 2023, thitruongtaichinhtiente.vn/chuyen-
doi-so-nganh-ngan-hang-viet-nam-co-hoi-thuc-trang-va-giai-phap-52299.html.
CFI . “Financial Performance.” Corporate Finance Institute, 5 Dec. 2022,
corporatefinanceinstitute.com/resources/accounting/financial-performance/.
Đào, Lê Kiểu Oanh, and Tấn Phát Lê. “Chuyển Đổi Số - Xu Hướng Phát Triển Bền Vững
Của Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam.” Tạp Chí Ngân Hàng, 26 Feb.
2025, tapchinganhang.gov.vn/chuyen-doi-so-xu-huong-phat-trien-ben-vung-cua-he-
thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-15571.html. 18
Hữu Mạnh, Nguyễn, and Vương Thị Hương Giang. ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ MỨC ĐỘ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG ĐẾN LỢI NHUẬN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Tóm Tắt. 2022.
Impact. “What Is Business Efficiency? A Comprehensive Overview.” Www.impactmybiz.com,
25 Oct. 2023, www.impactmybiz.com/blog/what-is-business-efficiency/.
Jaouad, Elouali, and Oubdi Lahsen. “Factors Affecting Bank Performance: Empirical
Evidence from Morocco.” European Scientific Journal ESJ, vol. 14, no. 34, 31 Dec.
2018, https://doi.org/10.19044/esj.2018.v14n34p255. Accessed 8 May 2019.
Kenton, Will. “Financial Performance: Definition, How It Works, and Example.” , Investopedia 30 Apr. 2023,
www.investopedia.com/terms/f/financialperformance.asp.
Kosmidou, Kyriaki. “The Determinants of Banks’ Profits in Greece during the Period of EU
Financial Integration.” Managerial Finance, vol. 34, no. 3, 15 Feb. 2008, pp. 146–
159, https://doi.org/10.1108/03074350810848036. Accessed 1 Sept. 2019.
Mubarak, Muhammad Faraz, et al. “The Impact of Digital Transformation on Business
Performance: A Study of Pakistani SMEs.” Engineering Technology & Applied
Science Research, vol. 9, no. 6, 2019, pp. 5056–5061,
epubl.ktu.edu/object/elaba:46768105/.
Nguyễn, Đình Quyết. “Chuyển Đổi Số Trong Doanh Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Những Khó Khăn Cần Tháo Gỡ.” Tapchicongsan.org.vn, 2023,
www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-
cua-dang/-/2018/824511/view_content.
Nguyễn, Thanh Bình, et al. “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2017- 2020.” Hueuni.edu.vn, 22 Nov. 2021,
csdlkhoahoc.hueuni.edu.vn/data/2021/12/NGUYEN_THI_THANH_BINH. Accessed 17 Mar. 2025.
Panagiotis Liargovas, and Konstantinos Skandalis. Factors Affecting Firms' Financial
Performance: The Case of Greece. Vol. 2, no. 2&3, 1 Jan. 2010, pp. 184–197, 19
www.researchgate.net/profile/Panagiotis-Liargovas/publication/23694580_Factors_Af fecting_Firms.
Penrose, E. T. (1959). The theory of the growth of the firm. Oxford, UK: Oxford University Press.
Saona, Paolo. “(PDF) Determinants of the Profitability of the US Banking Industry.” ResearchGate, June 2011,
www.researchgate.net/publication/256010271_Determinants_of_the_Profitability_of_
the_US_Banking_Industry. Accessed 6 Apr. 2022.
The Enterprisers Project. “What Is Digital Transformation?” The Enterprisers Project, 2016,
enterprisersproject.com/what-is-digital-transformation.
Tuấn Linh, Trịnh Đoàn. “Xem Tác Động Của Chuyển Đổi Số Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của
Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam.” Ktpt.edu.vn, 2024,
js.ktpt.edu.vn/index.php/jed/article/view/1284/593.
WHATFIX. “What Is Digital Transformation? Overview, Why and How.” Whatfix, 2022,
whatfix.com/digital-transformation/.
Xia, Lei, et al. “The Digital Economy: Challenges and Opportunities in the New Era of
Technology and Electronic Communications.” Ain Shams Engineering Journal, vol. 15, no. 2, 8 Aug. 2023, p. 102411,
www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2090447923003003#:~:text=As%20a
%20result%2C%20the%20Digital, https://doi.org/10.1016/j.asej.2023.102411.
Ye, Zheng, and Yongjia Tong. “The Influence of Digital Transformation of Foreign Trade
Enterprises on Their Business Performance.” Discrete Dynamics in Nature and
Society, vol. 2022, 16 Aug. 2022, pp. 1–9, https://doi.org/10.1155/2022/2177689.
Zhou, Yaying, et al. “What Aspects Explain the Relationship between Digital Transformation
and Financial Performance of Firms?” Journal of Risk and Financial Management,
vol. 16, no. 11, 1 Nov. 2023, p. 479, www.mdpi.com/1911-8074/16/11/479,
https://doi.org/10.3390/jrfm16110479.
Gupta, Sangita Dutta, et al. “Information Technology and Profitability: Evidence from Indian
Banking Sector.” International Journal of Emerging Markets, vol. 13, no. 5, 29 Nov. 20