1
BÀI 3: CHI TIÊU CÔNG
Giảng viên: TS. Nguyễn Thanh Huyền
DẪN NHẬP NỘI DUNG
Chi tiêu công tổng hợp các khoản chi của chính quyền, doanh nghiệp người dân khi trang trải kinh
phí cho các hoạt động do Chính phủ quản ;
Chi tiêu công phản ánh lựa chọn của Chính phủ. Mỗi khi Chính phủ quyết định một hàng hóa hay dịch vụ
nào đó, chi tiêu công sẽ xuất hiện để phản ánh chi phí của quyết định đó;
Chi tiêu công một công cụ chủ yếu trong chính sách tài khóa của Chính phủ để điều tiết nền kinh tế
mô, được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, kích
thích các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
Nghiên cứu về chi tiêu công cần nắm khái niệm, đặc điểm, phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến chi
tiêu công các nội dung về phân ch, đánh giá chi tiêu công.
2
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Trình bày được khái niệm, đặc điểm các cách phân loại chi tiêu công;
Chỉ ra phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công;
Khái quát hoá được khái niệm, mục đích của đánh giá chi tiêu công; Vận dụng sở thuyết đã học để
phân ch được nội dung đánh giá chi tiêu công.
3
CẤU TRÚC NỘI DUNG
4
3.1
Khái niệm, đặc điểmphân loại chi tiêu công
3.2
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công
3.3
Phân tích và đánh giá chi tiêu công
3.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG
5
3.1.1. Khái niệm
chi tiêu công
3.1.2. Đặc điểm
chi tiêu công
3.1.3. Phân loại
chi tiêu công
3.1.1. KHÁI NIỆM CHI TIÊU CÔNG
Về hiện tượng: Chi tiêu công các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các quan Nhà nước, các
đơn vị sự nghiệp được kiểm soát tài trợ bởi Chính phủ.
Khái niệm trên cho thấy chi tiêu công về bản các khoản chi từ ngân sách nhà nước (NSNN) hằng
năm được Quốc hội thông qua. Đây quá trình Nhà nước sử dụng nguồn lực để mua c yếu tố đầu vào,
cung cấp hàng hóa dịch vụ công, nhằm thực hiện các chức năng của mình.
Về bản chất: Chi tiêu công các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối sử dụng các quỹ
tài chính công nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Chi tiêu công quá trình phân phối sử dụng các quỹ công gồm: quỹ NSNN các quỹ tài chính
công ngoài NSNN đảm bảo cho các chủ thể công thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
6
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG
Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân các
vùng hay phạm vi quốc gia: Đặc điểm này xuất phát từ chức năng quản toàn diện nền kinh tế - hội
(KT XH) của Nhà nước; chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, Nhà nước cung cấp cho nền
kinh tế một lượng hàng hóa, dịch vụ công khổng lồ.
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, hội
Nhà nước thực hiện:
Các khoản chi tiêu công (CTC) do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận, căn cứ theo quy định
trong phân cấp quản NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng quản phát triển KT XH của
các cấp chính quyền.
Mặt kc, c cấp của quan quyn lực Nớc ch thể duy nhất quyết định cấu, nội dung, mức
độ của c khoản CTC nhằm thực hin c mục tiêu, nhim vụ kinh tế, chính trị, hội của quốc gia.
7
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Các khoản CTC hoàn toàn mang tính công cộng:
CTC tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước;
Đồng thời, đó ng c khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi ơng cho viên chức bộ
y Nhà nước; chi hàng hóa, dch vụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cng của c tầng lớp dân ,
Các khoản CTC không mang nh hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp:
Không phải mọi khoản thu với mức độ số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình
thức các khoản CTC;
Đặc điểm này được quy định bởi các chức năng tổng hợp về KT XH của Nhà nước.
dụ: Nhà nước chi cấp phát kinh phí hoạt động cho các quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, nhưng
bản thân các quan, đơn vị y không nghĩa vụ phải hoàn trả lại khoản kinh phí cho Nhà nước một
cách trực tiếp.
8
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
CTC khó kiểm soát đánh giá hiệu quả:
Phần lớn chi tiêu của Nhà nước tạo ra hàng hóa, dịch vụ công những sản phẩm được tiêu dùng công
cộng, nên không người thụ hưởng cụ thể để kiểm soát quá trình chi tiêu.
Nhà nước không phải doanh nghiệp nên không thể lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quả, phần lớn
khoản chi của Chính phủ mang tính công cộng, không thu phí trực tiếp từ người thụ hưởng.
9
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG
Việc phân loại CTC nhằm các mục đích sau:
Giúp cho Chính phủ thiết lập được các chương trình hành động;
Tăng cường tính hiệu quả trong việc thi hành NSNN nói chung CTC nói riêng;
Quy định tính trách nhiệm trong việc phân phối sử dụng nguồn lực tài chính Nhà nước;
Cho phép phân tích ảnh hưởng của những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền kinh tế.
10
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo chức năng của Nhà nước:
Xây dựng sở hạ tầng;
Tánviện kiểm sát;
Hệ thống quân đội an ninh hội;
Hệ thống giáo dục;
Hệ thống an sinh hội;
Hỗ trợ cho các doanh nghiệp;
Hệ thống quản hành chính Nhà nước;
Chi cho các chính sách đặc biệt (viện trợ nước ngoài, ngoại giao);
Chi khác.
11
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo chức năng của Nhà nước: (tiếp theo)
Ý nghĩa: Cách phân loại này giúp cho Chính phủ thiết lập những chương trình hành động một cách hợp lý,
theo những mục đích hay lợi ích muốn đạt đến.
Mặt khác, cách phân loại này cho phép đo lường những biến chuyển về bản chất của những chương trình
những biến đổi trong việc phân phối nguồn lực tài chính của Chính phủ, giữa các chương trình các
khu vực công quyền.
12
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo tính chất kinh tế:
Chi thường xuyên: Nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết cho hoạt động của các đơn vị khu vực
công, bao gồm các khoản chi:
Chi hoạt động sự nghiệp: Sự nghiệp kinh tế, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, y
tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao.
Chi hành chính: Gồm các khoản chi ơng cho đội ngũ công chức Nhà nước, các khoản chi mua hàng
hóa để đáp ứng nhu cầu hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Chi chuyển giao: Bao gồm c khoản chi cứu tế hội, an sinh hội, bảo hiểm hội, các khon tr cấp.
Chi an ninh quốc phòng.
13
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo tính chất kinh tế: (tiếp theo)
Chi đầu phát triển: Nhóm chi gắn liền với chức năng kinh tế của Nhà nước, bao gồm:
Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT XH, ưu tiên cho những công trình không khả
năng thu hồi vốn.
Đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết sự tham gia quản điều tiết của
Nhà nước.
Chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tài chính của Chính phủ.
Chi dự trữ Nhà nước.
Ý nghĩa: Cách phân loại này cung cấp những thông tin hữu ích về sự ảnh hưởng của chính sách CTC đối
với mọi hoạt động của nền KT XH.
Cách phân loại này điều kiện tất yếu giúp cho Chính phủ thiết lập các chương trình chi tiêu kết hợp
hài hoà giữa các nhóm chi đầu phát triển chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả CTC.
14
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo quy trình lập dự toán NSNN:
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: Căn cứ vào nhu cầu mua sắm, trang bị các phương tiện cần thiết
cho hoạt động của các quan, đơn vị, Chính phủ xác định mức kinh phí tài trợ. Thông thường, các
khoản mục bản như chi mua tài sản ngắn hạn, chi mua tài sản cố định, chi tiền lương các khoản phụ
cấp, chi bằng tiền khác.
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra: Mức kinh phí phân bổ cho một quan, đơn vị không căn cứ vào
các yếu tố đầu vào dựa vào khối lượng công việc đầu ra kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động
của đơn vị.
15
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
Câu 1: Khoản chi nào sau đây KHÔNG phải khoản chi thường xuyên của ngân sách nhà nước khi
căn cứ vào tính chất kinh tế?
A. Chi hành chính
B. Chi dự trữ Nhà nước
C. Chi chuyển giao
D. Chi an ninh, quốc phòng
Đáp án: B. Chi dự trữ Nhà nước
: Căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản chi, chi dự trữ Nhà nước khoản chi thuộc các khoản chi
đầu phát triển của NSNN.
16
3.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CÔNG
17
3.2.1. Sự phát triển về vai trò của
Chính phủ trong nền kinh tế
thị trường hiện đại
3.2.2. Sự phát triển của
lực lượng sản xuất
3.2.3. hình tổ chứ bộ máy
Nhà nướcnhững nhiệm vụ
kinh tế hội Nhà nước
đảm nhận trong từng thời kỳ
3.2.4. Các nhân tố khác
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HIỆN ĐẠI
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò của Chính phủ được mở rộng kéo theo sự thay đổi quan niệm
về tài chính công nói chung chi tiêu công nói riêng.
Theo các nhà kinh tế học cổ điển, mục tiêu bản nhất của tài chính công cung cấp đủ nguồn lực
cho Chính phủ duy trì sự hoạt động quản hành chính, an ninh quốc phòng. Cần đặt một giới
hạn tối đa cho chi tiêu công, bởi bất kỳ một khoản công p nào cũng gánh nặng cho quốc gia
người dân sẽ phải gánh chịu.
Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng, trong kinh tế thị trường, Chính phủ không chỉ tạo nguồn lực để
duy trì bộ máy nhà nước còn cần can thiệp vào quá trình sản xuất hội.
Sự phát triển về vai trò của Chính phủ đòi hỏi CTC phải mở rộng. CTC không chỉ tài trợ các hoạt động hành
chính Nhà nước n hỗ trợ phát triển KT XH, đảm bảo cân bằng kinh tế ổn định hội.
18
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HIỆN ĐẠI (tiếp theo)
Thông qua CTC, người dân được thụ hưởng nhiều lợi ích như giáo dục, chăm sóc y tế, bảo hiểm hội
(BHXH), các tiện ích từ sở hạ tầng,... Chưa kể đến c khoản thu nhập Chính phủ chuyển giao cho
người nghèo.
thể nói rằng, sự gia tăng CTC của Chính phủ đã hội hoá các rủi ro” đáng ra mỗi nhân trong
hội phải tự mình đối phó, nhưng do họ không đủ khả năng hoặc không nhận thức được trách nhiệm nên
dần dần đã chuyển sang vai của Nhà nước.
Tài chính công còn công cụ để Chính phủ quản kinh tế, khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Sự gia tăng CTC thể một giải pháp hữu hiệu để vực dậy một nền kinh tế đang suy thoái.
19
Sự gia tăng CTC ảnh hưởng đến sự tái phân phối nguồn lực giữa khu vực công khu vực Vấn
đề đặt ra nên giới hạn quy CTC không?
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì sự giới hạn CTC thường dựa trên các khía cạnh: Trong CTC
một vài khoản chi cần phải tiết kiệm hạn chế như chi phí hành chính; hoặc những hoạt động của khu
vực công sự quản không hiệu quả so với hoạt động của khu vực tương đương, thì những hoạt
động này nên chuyển sang khu vực . ( dụ: dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế,)
Bên cạnh đó, các nhà kinh tế cho rằng, sự giới hạn CTC cần sự linh hoạt theo chu kỳ kinh tế: Khi nền
kinh tế bị suy thoái, cần tăng CTC để thúc đẩy nền kinh tế phát triển; ngược lại, khi nền kinh tế trong giai
đoạn hưng thịnh cần cắt giảm quy CTC.
20
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HIỆN ĐẠI (tiếp theo)

Preview text:

BÀI 3: CHI TIÊU CÔNG
Giảng viên: TS. Nguyễn Thanh Huyền 1 DẪN NHẬP NỘI DUNG
• Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền, doanh nghiệp và người dân khi trang trải kinh
phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý;
• Chi tiêu công phản ánh lựa chọn của Chính phủ. Mỗi khi Chính phủ quyết định một hàng hóa hay dịch vụ
nào đó, chi tiêu công sẽ xuất hiện để phản ánh chi phí của quyết định đó;
• Chi tiêu công là một công cụ chủ yếu trong chính sách tài khóa của Chính phủ để điều tiết nền kinh tế vĩ
mô, được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, kích
thích các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
• Nghiên cứu về chi tiêu công cần nắm rõ khái niệm, đặc điểm, phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến chi
tiêu công và các nội dung về phân tích, đánh giá chi tiêu công. 2 MỤC TIÊU BÀI HỌC
• Trình bày được khái niệm, đặc điểm và các cách phân loại chi tiêu công;
• Chỉ ra và phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công;
• Khái quát hoá được khái niệm, mục đích của đánh giá chi tiêu công; Vận dụng cơ sở lý thuyết đã học để
phân tích được nội dung đánh giá chi tiêu công. 3 CẤU TRÚC NỘI DUNG 3.1
Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi tiêu công 3.2
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công 3.3
Phân tích và đánh giá chi tiêu công 4
3.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG 3.1.1. Khái niệm 3.1.2. Đặc điểm 3.1.3. Phân loại chi tiêu công chi tiêu công chi tiêu công 5
3.1.1. KHÁI NIỆM CHI TIÊU CÔNG
Về hiện tượng: Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các cơ quan Nhà nước, các
đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ.
→ Khái niệm trên cho thấy chi tiêu công về cơ bản là các khoản chi từ ngân sách nhà nước (NSNN) hằng
năm được Quốc hội thông qua. Đây là quá trình Nhà nước sử dụng nguồn lực để mua các yếu tố đầu vào,
cung cấp hàng hóa và dịch vụ công, nhằm thực hiện các chức năng của mình.
Về bản chất: Chi tiêu công là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng các quỹ
tài chính công nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
→ Chi tiêu công là quá trình phân phối và sử dụng các quỹ công gồm: quỹ NSNN và các quỹ tài chính
công ngoài NSNN đảm bảo cho các chủ thể công thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. 6
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG
Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các
vùng hay phạm vi quốc gia: Đặc điểm này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội
(KT – XH) của Nhà nước; và chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, Nhà nước cung cấp cho nền
kinh tế một lượng hàng hóa, dịch vụ công khổng lồ.
Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà
Nhà nước thực hiện:
▪ Các khoản chi tiêu công (CTC) do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận, căn cứ theo quy định
trong phân cấp quản lý NSNN và nhằm đảm bảo thực hiện chức năng quản lý phát triển KT – XH của các cấp chính quyền.
▪ Mặt khác, các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức
độ của các khoản CTC nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. 7
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Các khoản CTC hoàn toàn mang tính công cộng:
▪ CTC tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện chức
năng và nhiệm vụ của Nhà nước;
▪ Đồng thời, đó cũng là các khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ
máy Nhà nước; chi hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư,…
Các khoản CTC không mang tính hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp:
▪ Không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản CTC;
▪ Đặc điểm này được quy định bởi các chức năng tổng hợp về KT – XH của Nhà nước.
Ví dụ: Nhà nước chi cấp phát kinh phí hoạt động cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, nhưng
bản thân các cơ quan, đơn vị này không có nghĩa vụ phải hoàn trả lại khoản kinh phí cho Nhà nước một cách trực tiếp. 8
3.1.2. ĐẶC ĐIỂM CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
CTC khó kiểm soát và đánh giá hiệu quả:
▪ Phần lớn chi tiêu của Nhà nước tạo ra hàng hóa, dịch vụ công là những sản phẩm được tiêu dùng công
cộng, nên không có người thụ hưởng cụ thể để kiểm soát quá trình chi tiêu.
▪ Nhà nước không phải doanh nghiệp nên không thể lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quả, vì phần lớn
khoản chi của Chính phủ mang tính công cộng, không thu phí trực tiếp từ người thụ hưởng. 9
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG
• Việc phân loại CTC nhằm các mục đích sau:
▪ Giúp cho Chính phủ thiết lập được các chương trình hành động;
▪ Tăng cường tính hiệu quả trong việc thi hành NSNN nói chung và CTC nói riêng;
▪ Quy định tính trách nhiệm trong việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính Nhà nước;
▪ Cho phép phân tích ảnh hưởng của những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền kinh tế. 10
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo chức năng của Nhà nước:
• Xây dựng cơ sở hạ tầng;
• Toà án và viện kiểm sát;
• Hệ thống quân đội và an ninh xã hội; • Hệ thống giáo dục;
• Hệ thống an sinh xã hội;
• Hỗ trợ cho các doanh nghiệp;
• Hệ thống quản lý hành chính Nhà nước;
• Chi cho các chính sách đặc biệt (viện trợ nước ngoài, ngoại giao); • Chi khác. 11
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo chức năng của Nhà nước: (tiếp theo)
Ý nghĩa: Cách phân loại này giúp cho Chính phủ thiết lập những chương trình hành động một cách hợp lý,
theo những mục đích hay lợi ích muốn đạt đến.
• Mặt khác, cách phân loại này cho phép đo lường những biến chuyển về bản chất của những chương trình
và những biến đổi trong việc phân phối nguồn lực tài chính của Chính phủ, giữa các chương trình và các khu vực công quyền. 12
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo tính chất kinh tế:
Chi thường xuyên: Nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết cho hoạt động của các đơn vị khu vực
công, bao gồm các khoản chi:
▪ Chi hoạt động sự nghiệp: Sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, y
tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao.
▪ Chi hành chính: Gồm các khoản chi lương cho đội ngũ công chức Nhà nước, các khoản chi mua hàng
hóa để đáp ứng nhu cầu hoạt động của bộ máy Nhà nước.
▪ Chi chuyển giao: Bao gồm các khoản chi cứu tế xã hội, an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, các khoản trợ cấp. ▪ Chi an ninh quốc phòng. 13
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo tính chất kinh tế: (tiếp theo)
Chi đầu tư phát triển: Nhóm chi gắn liền với chức năng kinh tế của Nhà nước, bao gồm:
▪ Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT – XH, ưu tiên cho những công trình không có khả năng thu hồi vốn.
▪ Đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia quản lý và điều tiết của Nhà nước.
▪ Chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tài chính của Chính phủ.
▪ Chi dự trữ Nhà nước.
Ý nghĩa: Cách phân loại này cung cấp những thông tin hữu ích về sự ảnh hưởng của chính sách CTC đối
với mọi hoạt động của nền KT – XH.
• Cách phân loại này là điều kiện tất yếu giúp cho Chính phủ thiết lập các chương trình chi tiêu và kết hợp
hài hoà giữa các nhóm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả CTC. 14
3.1.3. PHÂN LOẠI CHI TIÊU CÔNG (tiếp theo)
Căn cứ theo quy trình lập dự toán NSNN:
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: Căn cứ vào nhu cầu mua sắm, trang bị các phương tiện cần thiết
cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị, Chính phủ xác định mức kinh phí tài trợ. Thông thường, có các
khoản mục cơ bản như chi mua tài sản ngắn hạn, chi mua tài sản cố định, chi tiền lương và các khoản phụ
cấp, chi bằng tiền khác.
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra: Mức kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn vị không căn cứ vào
các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị. 15
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
Câu 1: Khoản chi nào sau đây KHÔNG phải là khoản chi thường xuyên của ngân sách nhà nước khi
căn cứ vào tính chất kinh tế?
A. Chi hành chính B. Chi dự trữ Nhà nước C. Chi chuyển giao D. Chi an ninh, quốc phòng
Đáp án: B. Chi dự trữ Nhà nước
Vì: Căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản chi, chi dự trữ Nhà nước là khoản chi thuộc các khoản chi
đầu tư phát triển của NSNN. 16
3.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CÔNG
3.2.1. Sự phát triển về vai trò của
3.2.2. Sự phát triển của
Chính phủ trong nền kinh tế lực lượng sản xuất thị trường hiện đại
3.2.3. Mô hình tổ chứ bộ máy
Nhà nước và những nhiệm vụ 3.2.4. Các nhân tố khác
kinh tế – xã hội mà Nhà nước
đảm nhận trong từng thời kỳ 17
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
• Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò của Chính phủ được mở rộng kéo theo sự thay đổi quan niệm
về tài chính công nói chung và chi tiêu công nói riêng.
▪ Theo các nhà kinh tế học cổ điển, mục tiêu cơ bản nhất của tài chính công là cung cấp đủ nguồn lực
cho Chính phủ duy trì sự hoạt động quản lý hành chính, an ninh và quốc phòng. → Cần đặt một giới
hạn tối đa cho chi tiêu công, bởi bất kỳ một khoản công phí nào cũng là gánh nặng cho quốc gia mà
người dân sẽ phải gánh chịu.
▪ Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng, trong kinh tế thị trường, Chính phủ không chỉ tạo nguồn lực để
duy trì bộ máy nhà nước mà còn cần can thiệp vào quá trình sản xuất xã hội.
• Sự phát triển về vai trò của Chính phủ đòi hỏi CTC phải mở rộng. CTC không chỉ tài trợ các hoạt động hành
chính Nhà nước mà còn hỗ trợ phát triển KT – XH, đảm bảo cân bằng kinh tế vĩ mô và ổn định xã hội. 18
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HIỆN ĐẠI (tiếp theo)

• Thông qua CTC, người dân được thụ hưởng nhiều lợi ích như giáo dục, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội
(BHXH), các tiện ích từ cơ sở hạ tầng,... Chưa kể đến các khoản thu nhập mà Chính phủ chuyển giao cho người nghèo.
• Có thể nói rằng, sự gia tăng CTC của Chính phủ đã “xã hội hoá các rủi ro” mà đáng lý ra mỗi cá nhân trong
xã hội phải tự mình đối phó, nhưng do họ không đủ khả năng hoặc không nhận thức được trách nhiệm nên
dần dần đã chuyển sang vai của Nhà nước.
• Tài chính công còn là công cụ để Chính phủ quản lý kinh tế, khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Sự gia tăng CTC có thể là một giải pháp hữu hiệu để vực dậy một nền kinh tế đang suy thoái. 19
3.2.1. SỰ PHÁT TRIỂN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
HIỆN ĐẠI (tiếp theo)

• Sự gia tăng CTC có ảnh hưởng đến sự tái phân phối nguồn lực giữa khu vực công và khu vực tư → Vấn
đề đặt ra là có nên giới hạn quy mô CTC không?
• Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì sự giới hạn CTC thường dựa trên các khía cạnh: Trong CTC có
một vài khoản chi cần phải tiết kiệm và hạn chế như chi phí hành chính; hoặc những hoạt động của khu
vực công mà sự quản lý không hiệu quả so với hoạt động của khu vực tư tương đương, thì những hoạt
động này nên chuyển sang khu vực tư. (Ví dụ: dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế,…)
• Bên cạnh đó, các nhà kinh tế cho rằng, sự giới hạn CTC cần có sự linh hoạt theo chu kỳ kinh tế: Khi nền
kinh tế bị suy thoái, cần tăng CTC để thúc đẩy nền kinh tế phát triển; ngược lại, khi nền kinh tế trong giai
đoạn hưng thịnh cần cắt giảm quy mô CTC. 20