







Preview text:
CHƯƠNG 4 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
1. Thực hiện pháp luật
+ Khái niệm
Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình hiện thực hóa những quy định của pháp luật.
+ Các hình thức thực hiện pháp luật
- Tuân theo pháp luật: chủ thể kiềm chế mình không thực hiện điều pháp luật cấm.
- Hành vi tuân theo pháp luật được thực hiện dưới dạng không hành động.
- Là hình thức thực hiện pháp luật mang tính thụ động, thể hiện ở dạng không hành động. Quy phạm tương ứng là các loại quy phạm cấm.
- Chủ thể: mọi chủ thể
- Thi hành pháp luật: Chủ thể bằng hành vi tích cực của mình thực hiện điều pháp luật yêu cầu.
- Hành vi thi hành pháp luật được thực hiện dưới dạng hành động.
- Là hành vi hợp pháp của chủ thể
- Thể hiện thông qua các quy phạm bắt buộc (thường là quy phạm quy định nghĩa vụ)
- Chủ thể: mọi chủ thể
- Sử dụng pháp luật: Chủ thể thực hiện cách thức xử sự mà pháp luật cho phép.
- Hành vi sử dụng pháp luật được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.
- Thể hiện thông qua các quy phạm trao quyền
- Chủ thể: mọi chủ thể
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó Nhà nước, thông qua cơ quan cán bộ Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ do pháp luật quy định, thay đổi, đình chỉ, chấm dứt quan hệ pháp luật.
- Thể hiện qua hành vi mang tính hành động.
- Là hoạt động có tổ chức của nhà nước để thực hiện pháp luật.
- Chủ thể: cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được nhà nước trao quyền.
1.2. Áp dụng pháp luật - hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt
a, Các trường hợp cần áp dụng pháp luật
- Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thể mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước;
- Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã phát sinh nhưng có sự tranh chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu Nhà nước can thiệp;
- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật;
- Trong một số quan hệ pháp luật quan trọng, Nhà nước thấy cần phải tham gia để kiểm tra, giám sát các bên tham gia quan hệ pháp luật hoặc để xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một sự kiện thực tế nào đó;
- Khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội;
- Khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật.
b, Đặc điểm của áp dụng pháp luật
- Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính giai cấp và chính trị;
- Áp dụng pháp luật chỉ có ở cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc các tổ chức được Nhà nước trao quyền;
- Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước: được thực hiện bởi nhà nước, chủ yếu dựa trên ý chí đơn phương của Nhà nước, có tính bắt buộc đối với các chủ thể có liên quan;
- Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức chặt chẽ được tiến hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định;
- Áp dụng pháp luật có tính cá biệt, cụ thể về chủ thể và về quy tắc xử sự;
- Áp dụng pháp luật có tính sáng tạo, thể hiện rõ nét qua các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật tương tự.
c, Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật
Giai đoạn 1: Phân tích, đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc cần giải quyết như thực tế nó đã xảy ra, thu thập đủ chứng cứ làm căn cứ cho hoạt động áp dụng pháp luật.
Yêu cầu đặt ra đối với giai đoạn này:
- Nghiên cứu một cách khách quan toàn diện và đầy đủ những tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc;
- Xác định những đặc trưng pháp lý của vụ việc. Pháp luật không thể được áp dụng đối với những vụ việc không có đặc trưng pháp lý;
- Xác định chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật đối với trường hợp đó
- Tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với một loại vụ việc.
Giai đoạn 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật cần áp dụng và làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đó.
Giai đoạn này yêu cầu:
- Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật được dự liệu cho trường hợp cần áp dụng: xác định ngành luật nào? Lĩnh vực pháp luật nào điều chỉnh vụ việc này? Lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc;
- Xác định quy phạm pháp luật được lựa chọn là đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó;
- Xác định tính chính xác của quy phạm pháp luật đã lựa chọn.
Giai đoạn 3: Ban hành văn bản áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc.
Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật phải căn cứ vào quy định của pháp luật và dựa trên các tình tiết thực tế, có khả năng thi hành trong thực tế.
Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở quy phạm pháp luật nhằm xác định các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật.
Giai đoạn 4: Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật đã có hiệu lực trên thực tế.
2. Vi phạm pháp luật
2.1 Khái niệm và các dấu hiệu của vi phạm pháp luật
+ Khái niệm
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
+ Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật
- Dấu hiệu thứ nhất: là hành vi xác định và có tính nguy hiểm cho xã hội
- Dấu hiệu thứ hai: Có tính trái pháp luật của hành vi đang xem xét
- Dấu hiệu thứ ba: chứa đựng lỗi của người thực hiện hành vi
- Dấu hiệu thứ tư: Có năng lực trách nhiệm pháp lý của người thực hiện hành vi trái pháp luật
2.2 Cấu thành vi phạm pháp luật
Cấu thành vi phạm pháp luật là tổng thể các yếu tố cơ bản, đặc trưng cho một loại vi phạm pháp luật cụ thể, được Nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành.
2.2.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Khái niệm
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là phương diện thể hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật, bao gồm những biểu hiện của vi phạm pháp luật diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.
+Các yếu tố thuộc mặt khách quan của vi phạm pháp luật
- Hành vi trái pháp luật;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội).Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau:
- Về vật chất
- Về thể chất
- Về tinh thần
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội (đối với những cấu thành vi phạm pháp luật bắt buộc phải có hậu quả xảy ra):
Điều kiện xác định mối quan hệ nhân quả:
- Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước về mặt thời gian;
- Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả cho xã hội;
- Thiệt hại cho xã hội đã xảy ra là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật.
Ngoài ra, trong mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn xác định công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh vi phạm pháp luật.
2.2.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
+ Khái niệm
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là hoạt động tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật.
+ Các yếu tố thuộc mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
- Lỗi: Là thái độ tâm lý tiêu cực của người thực hiện hành vi trái pháp luật đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đã thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà mình đã gây ra.
Căn cứ vào yếu tố lý trí và yếu tố ý chí, lỗi được được chia thành 2 loại là lỗi cố ý và vô ý. Cũng trên cơ sở yếu tố lý trí và ý chí của chủ thể vi phạm pháp luật mà nhà làm luật đã phân biệt lỗi cố ý gồm hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý cũng có hai hình thức là vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả.
- Lỗi cố ý trực tiếp: Người vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
- Lỗi cố ý gián tiếp: Người vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quảxảy ra;
- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người vi phạm pháp luật tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
- Lỗi vô ý do cẩu thả: Người vi phạm pháp luật không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
- Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
- Mục đích của vi phạm pháp luật là kết quả trong ý thức chủ quan mà chủ thể vi phạm pháp luật đặt ra phải đạt được khi thực hiện vi phạm pháp luật.
2.2.3 Chủ thể vi phạm pháp luật
Chủ thể vi phạm pháp luật là các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật, có lỗi, có năng lực trách nhiệm pháp lý
2.2.4 Khách thể vi phạm pháp luật
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được Nhà nước xác lập và bảo vệ bị hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
3. Phân loại vi phạm pháp luật
- Vi phạm hình sự (còn gọi là tội phạm): là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
- Vi phạm hành chính: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định.
- Vi phạm kỷ luật: là những hành vi có lỗi, trái pháp luật, kỷ luật của đơn vị, cơ quan nhà nước, tổ chức nơi con người làm việc, học tập.
- Vi phạm dân sự: là hành vi xâm hại tới quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được Bộ luật Dân sự bảo vệ.
3. Trách nhiệm pháp lý
3.1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là việc nhà nước bằng ý chí đơn phương của mình, buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật do ngành luật tương ứng xác định.
Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý
- Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật
- Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật có hiệu lực pháp luật.
- Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế nhà nước
3.2 Truy cứu trách nhiệm pháp lý
a. Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý
Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật phải được dựa trên cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế
- Cơ sở thực tế là vi phạm pháp luật, trong đó việc xác định các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
- Cơ sở pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật quy định khả năng áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật;
- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý là thời hạn do pháp luật quy định, khi thời hạn đó kết thúc thì chủ thể vi phạm pháp luật sẽ không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý.
b. Nguyên tắc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đó là những biện pháp cưỡng chế của nhà nước nên có sự ảnh hưởng và tác động lớn lao đối với chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý và đối với xã hội. Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệm phải dựa trên những nguyên tắc hết sức chặt chẽ:
- Đảm bảo nguyên tắc pháp chế
- Đảm bảo tính công bằng và nhân đạo
- Đảm bảo tính phù hợp khi truy cứu trách nhiệm pháp lý;
- Tính nhanh chóng, kịp thời, công minh, chính xác và hiệu quả cao trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lý.
3.3. Phân loại trách nhiệm pháp lý
Căn cứ vào việc phân loại vi phạm pháp luật, có bốn loại trách nhiệm pháp lý:
a. Trách nhiệm hình sự
- Là quan hệ pháp luật đặc biệt giữa tòa án với người phạm tội theo đó tòa án áp dụng chế tài hình sự đối với chủ thể phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đây là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất.
- Cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là hành vi vi phạm của chủ thể có đủ yếu tố cấu thành tội phạm và trách nhiệm hình sự được thực hiện trên cơ sở bản án của tòa án và hình phạt thích hợp.
b. Trách nhiệm hành chính
- Là quan hệ pháp luật đặc biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật hành chính. Trong đó cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm.
- Trách nhiệm hành chính được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, môi trường, xây dựng, thuế, bảo vệ tài nguyên, khoáng sản…
c. Trách nhiệm dân sự
- Là loại trách nhiệm pháp lý do tòa án hoặc trọng tài thương mại áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự.
- Các chế tài dân sự chủ yếu mang tính chất bồi thường, bồi hoàn thiệt hại và khôi phục lại quyền bị xâm hại.
d. Trách nhiệm kỷ luật
- Là loại trách nhiệm do thủ trưởng cơ quan, đơn vị, trường học,… áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, sinh viên... của mình khi họ vi phạm kỷ luật.
- Các hình thức xử lý kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc…