Tài liệu ôn tập cuối học phần môn nhân học đại cương | Đại học Sư Phạm Hà Nội

Tài liệu về nhân học đại cương | Đại học Sư Phạm Hà Nội với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng, ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống

Trường:

Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.1 K tài liệu

Thông tin:
6 trang 11 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tài liệu ôn tập cuối học phần môn nhân học đại cương | Đại học Sư Phạm Hà Nội

Tài liệu về nhân học đại cương | Đại học Sư Phạm Hà Nội với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp sinh viên tham khảo, ôn luyện và phục vụ nhu cầu học tập của mình cụ thể là có định hướng, ôn tập, nắm vững kiến thức môn học và làm bài tốt trong những bài kiểm tra, bài tiểu luận, bài tập kết thúc học phần, từ đó học tập tốt và có kết quả cao cũng như có thể vận dụng tốt những kiến thức mình đã học vào thực tiễn cuộc sống

57 29 lượt tải Tải xuống
Như các bạn cũng biết, chuyện hôn nhân dựng vợ gả chồng là một chuyện
trọng đại của đời người. Ai cũng mong muốn lấy được người mình yêu và cùng
xây dựng hạnh phúc gia đình. Tùy từng dân tộc, từng vùng, từng giai đoạn lịch sử
mà lễ cưới diễn ra có khác nhau. Tìm hiểu lễ cưới giúp chúng ta nhận ra nếp sống
của con người trong xã hội ấy. Ở Hòa Bình, nơi mà người Mường chiếm đa số thì
phong tục cưới hỏi cũng khá là phong phú và đa dạng. Có một câu thơ như thế này:
“ nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”. Đây là bốn Mường nổi tiếng nhất của
tỉnh Hòa Bình với đời sống văn hóa thú vị và phong phú. Hôm nay, em sẽ dẫn thầy
và các bạn đến với đám cưới của một trong tứ Mường nổi tiếng nhất đó chính là
Mường Bi. Ngày xưa theo phong tục của Mường thì sẽ không được lấy người
ngoại tộc tức là sẽ không được lấy người của dân tộc khác và phải đặt chữ môn
đăng hộ đối lên trên và còn một cái nữa là phải nghe theo sự sắp xếp của cha mẹ.
Vì vậy trước đây có rất nhiều gia đình nhà trai vì nghèo, không lo được các khoản
chi phí mà nhà gái yêu cầu nên không thể lấy được vợ. Nhưng bây giờ xã hội đang
ngày càng hiện đại, con người ngày càng tiến bộ. Những hủ tục và những định kiến
đang dần biến mất nhưng lễ cưới ở Mường Bi vẫn còn giữ lại những nghi lễ truyền
thống từ ngày xưa. Một lễ cưới truyền thống được diễn ra như sau:
Trước khi cưới: khi trai gái hai bên đã tìm hiểu nhau kĩ càng và có mong
muốn đi tới hôn nhân thì nhà trai sẽ mời một ông mối, người Mường gọi là ông mò
đi đến nhà gái để ngỏ ý rằng nhà trai có mong muốn làm thông gia. Đây là lễ đi
thăm dòm ướm hỏi ( lễ dạm hỏi). Ở nghi lễ này, điều đặc biệt là ông mối sẽ đi
vào giờ chiều tối vì theo lịch của người Mường Bi thì giờ đó là giờ tốt, có thể
thuận lợi trong mọi việc. ông mối sẽ không mang bất cứ thứ gì đến mà chỉ sang đó
nói chuyện đặt vấn đề với nhà gái. Về phía nhà gái cũng sẽ không đồng ý ngay mà
sẽ nói khéo để khoảng vài ba ngày mới có thể quyết định và sẽ hẹn ông mối vào
ngày gần nhất để trả lời. Đến ngày hẹn, ông mối sẽ lại sang nhà gái để hỏi chuyện
và nếu nhà gái đồng ý thì ông mối sẽ về nói chuyện lại với nhà trai nhà trai chuẩn
bị lễ vật sang xin cưới.
Sau khi đã dò hỏi thành công thì nhà trai sẽ đi chọn ngày lành tháng tốt sang nhà
gái làm lễ , (lễ ăn hỏi) Ông mối là người dẫn đầu đoàn nhà trai sang nhà Bỏ trầu
gái để ăn hỏi. Đồ lễ mang theo gồm một con lợn chừng 20-25kg, hai gánh gạo
chừng 40-50kg, một gánh bánh chưng độ 120 cái, bốn, năm chai rượu, cau 1
buồng, trầu trăm lá. Tất cả cho vào sọt đan đẹp, mường Bi gọi là đan khác. Chín
hoặc mười nội ngoại nhà trai, người gánh, người khiêng đưa các thứ đó sang nhà
gái. Hôm này chàng rể chưa đi mà chỉ có họ hàng nhà trai đến nhà gái.
Sau khi ăn uống vui vẻ, đại diện nhà trai thưa chuyện trước. Người đại diện cho
nhà gái mới thưa chuyện theo. Sau khi dạm hỏi về, nhà trai ít nhiều có sự chuẩn bị
để lo ngày cưới chính thức cho con. Trước hôm cưới ít ngày nhà trai sắm một lễ
gồm rượu hoặc trầu cau cho ông mờ sang nhà gái xin cưới. Mường Bi gọi là nòm
khảu. Buổi này nhà gái thông báo chính thức cho nhà trai biết ngày tháng nào sẽ
cho cưới.
Ở lễ ăn hỏi thì nhà gái cũng sẽ đưa ra yêu cầu thách cưới. Tùy vào từng nhà mà độ
thách cưới sẽ khác nhau. có nhà thách cưới ít, có nhà thách cưới nhiều. Thường thì
khi nghe nhà gái thách cưới xong, nhà trai sẽ đồng ý ngay. Nhưng nếu nhà trai cảm
thấy nhà gái đang thách cưới quá cao thì sẽ nói lại với ông mối để ông mối nói
chuyện đàm phán lại với bên nhà gái để được giảm hoặc xin rút.
Muốn ngày cưới của con mình được chu đáo, trước hết nhà trai mời mấy ông nội
ngoại gần nhất đến bàn ngày họp họ xin tiền, xin gạo. Sau khi lên danh sách nội
ngoại xa gần, nhà trai chuẩn bị quà, có thể là những gói bánh, có thể là những gói
chè đến từng nhà xin quyên góp. Thường anh em chú bác thân thuộc giúp nhau
một chón cơm và một đồng bạc cổ (một chón cơm tương đương 10 đấu gạo nếp),
còn anh em họ mạc, bạn bè thân thích, làng xóm xa gần thì tùy khả năng mà giúp
đỡ.
Khi đã họp bàn xong xuôi thì lễ cưới chính thức được bắt đầu, mường Bi gọi
là “ nhà trai sang nhà gái li cháu”. Lễ ra mắt chàng rể mới Lễ cưới lần thứ nhất
gồm có: gạo 120 đấu (khoảng 100kg), lợn từ 40-50kg trở lên và một con lợn bé
người ta gọi đó là lơn vào trồ, rượu độ hai chục chai, cau một buồng, trầu trăm lá,
từ 2-4 cây mía. Số người theo sang tùy, miễn là có đủ nội, ngoại, bạn bè chừng độ
3-4 chục người do ông mối dẫn đầu. Chàng rể mặc quần áo đẹp, chít khăn trắng,
gùi một chón cơm (độ 10 đấu gạo) đã đồ chín, trên miệng chón để hai con gà sống
thiến đã luộc chín. Còn hai chàng trai khác có thể bên nội một, bên ngoại một cũng
gùi hai chón cơm đã đồ chín, không có gà để trên, mường Bi gọi là piềng. Dù nhà
gái xa hay gần ở mường Bi có tục: “li cháu đắp trâu, li du vàng mặt”, nghĩa là: nhà
trai đi cưới rể đến nhà gái lúc trâu về chuồng (khoảng 5 giờ chiều), còn phải đợi
lúc tối mặt người mới đón dâu vào nhà (khoảng 7 giờ tối). Nếu đến sớm hơn lệ tục
đã định, có khi đoàn nhà trai phải đợi hàng giờ mới được lên thang. Lúc đoàn
khách nhà trai rửa chân chuẩn bị vào nhà những cô con gái tinh nghịch bên nhà gái
thường đợi khách vào để giật dây để tổ kiến đỏ, kiến đen treo trên cành cây, bờ rào
đổ xuống bám vào đốt các vị khách. Riêng chàng rể và hai phù rể còn phải ở lại
nhà gái tiếp khách. Đến tối thứ ba nhà gái làm một tiệc nho nhỏ gọi là “chụ cháu”
để tiếp rể. Sáng hôm sau, nhà gái chuẩn bị đầy đủ quà cáp cho rể lại nhà. Mọi cuộc
sinh hoạt của ngày cưới ti cháu diễn ra đến đây mới kết thúc.
Vài năm tiếp theo, cứ sau ngày tết chàng rể lại phải sắm lễ mang đến cho bố mẹ
nhà gái gọi là “đi cơm nom”. Đồ lễ mang theo tùy khả năng kinh tế của mỗi gia
đình. Người khá giả thường mang gánh bánh, gánh rượu, gánh gạo, gánh cá ốt (tức
là cá túm lại đồ chín với măng chua hoặc là moi) và một con lợn chừng 10-20kg.
Nhận lễ xong nhà gái mời họ hàng lân cận đến cùng chia vui. Hai gia đình bên trai
bên gái chúc nhau nhân dịp xuân năm mới mong muốn quan hệ thông gia ngày
càng thêm bền chặt.
Hôn nhân của người Mường ở mường Bi gần như quy định một hoặc vài năm mới
được đón dâu. Trong thời gian ấy nhà gái có việc gì sai gọi chàng rể đến làm giúp,
tối lại ngủ ở gian ngoài chưa được gần người vợ của mình.
Thời gian này cũng là dịp để cô dâu chú rể thử thách nhau và nhận biết tính nết của
nhau, hiểu đầy đủ người chồng, người vợ tương lai của mình. Nếu trong thời gian
đó bên trai hoặc bên gái có sơ suất điều gì một trong hai bên có thể khước từ hôn lễ
trả lại của cải cho nhau.
- Lễ đón dâu (Li du)
Theo diễn trình của Lễ cưới truyền thống Mường thì Lễ đón dâu (xước du) thường
được tổ chức sau Lễ ra mắt chàng rể khoảng từ 1 đến 3 năm. Nếu nhà trai ở xa nhà
gái thì mang lễ vật đón dâu từ ngày hôm trước, sau đó ở lại ăn cơm cùng nhà gái.
Lễ vật nhà trai mang sang đón dâu phải đủ để cho nhà gái chia cho họ hàng và tổ
chức cho họ hàng nhà gái ăn uống tại nhà cô dâu trước khi đón dâu. Khi lễ vật sang
đến nhà gái, đại diện nhà gái sẽ tiến hành kiểm tra số lượng, trọng lượng lễ vật. Và
chỉ sau khi đó, các thủ tục tiếp theo của diễn trình Lễ đón dâu mới bắt đầu. Suốt
đêm hai họ cùng hát thường rang, bọ mệng kể về công lao sinh thành nuôi dưỡng
của cha mẹ, răn dạy cô gái phận làm dâu, lời gửi gắm con gái cho nhà trai...
Cô dâu và phù dâu khi về nhà chồng bao giờ mỗi người cũng phải cầm theo một
con dao nhỏ khi đi đường. Con dao nhỏ này có cán bằng sừng hoãng hoặc bằng
nanh hổ. Con dao này được người Mường quan niệm như bùa hộ mệnh để khi đi
đường luôn gặp mọi sự may mắn, chống lại mọi thú dữ và ma quỉ trên đường đi.
Phù dâu thường phải là người chưa lập gia đình, biết ăn nói giỏi và nhan sắc
thường kém cô dâu để làm nổi bật vẻ đẹp của cô dâu trong ngày cưới..
Dân gian Mường có câu “Chẩu buông klu, du lại mặt” có nghĩa là “Làm rể vào
buổi trưa, làm dâu vào buổi tối”. Do đó hai họ sẽ phải tính toán thời gian đi đường
sao cho khi đón dâu về đến nhà vào lúc trời chạng vạng tối.
Đoàn đưa dâu về nhà chồng ngoài bà mối cũng còn có hai bố: bố khà (tức là bố già
trên 60 tuổi) và bố non (tức là bố trẻ dưới 60 tuổi), hai mẹ: mẹ già và mẹ non. Bố
mẹ cô dâu không đưa con gái sang nhà chồng. Bố già và bố non bao giờ cũng là
những người rất giỏi đối đáp và có khả năng hát đối đáp.
Người Mường rất coi trọng lời ăn, tiếng nói, do đó cũng rất coi trọng người
biết ăn nói có duyên. Người Mường thường nói: “Thiếu gì nước trong giếng, thiếu
gì tiếng trong mồm mà không nói ra cho vừa lòng nhau”.Lễ đón dâu, mọi chi phí
do nhà trai phải chịu. Đón dâu vào ngày nào, họ hàng bên nhà trai mang đồ vật đến
mừng, chủ yếu là tiền, ngoài ra là vải tự dệt hay váy áo đã may sẵn. Ngày này nhà
gái cho mời độ năm ba chục người đủ mặt bên họ nội, họ ngoại đi đưa dâu. Ngày
về nhà chồng dù không mưa không nắng cô dâu cũng phải đội nón, mặc váy áo
đẹp, ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt hai vạt ở phía trước. Có hai người một
bên nội, một bên ngoại cùng đi gọi là “piêng du”. Cô dâu mang về nhà chồng, nhà
khó khăn lắm cũng phải có hai cái gối, còn thường là hai cái chăn, hai cái lot, hai
quả gối to để biếu bố mẹ chồng và hàng chục cái gối con để nhà trai biếu chú bác,
cô dì thân thuộc. Dẫn đầu đoàn nhà gái là ông mối và hai cô gái trẻ bên nhà trai
sang đón dâu. Một nghi thức đặc trưng chỉ có ở lễ cưới người mường.Sau ngày
cưới nhà trai đến "xin" cô dâu về. Khi dâu mới về đến cửa nhà chồng thì sẽ được
bà mụ giúp gột rửa sạch sẽ trước khi bước vào nhà chồng. Lúc đó trước của để sẵn
một lu nước lớn, bà mụ dùng nước đó rửa chân cho cô dâu rồi đưa vào làm lễ ở bàn
thờ ông thần bếp. Đoàn người về nhà vào lúc sâm sẩm tối. Nhà trai đã chuẩn bị
rượu cần, ông mờ khấn rượu, khấn cơm, khấn bàn thờ tổ tiên, đưa cô dâu ra trình
diện trước bàn thờ ma nhà. Cuộc vui văn nghệ kéo dài thâu đêm, suốt sáng.
Cuối Lễ đón dâu, nhà trai bao giờ cũng phải có quà tặng cho bà/ông mối và các bậc
cha chú đã tham gia đưa, đón dâu. Nếu nhà gái cách xa nhà trai thì những người
đưa dâu thường ngủ qua đêm ở nhà trai và ra về vào sáng hôm sau. Lúc này nhà
trai sẽ làm một mâm cơm để tiễn họ hàng nhà gái và chuẩn bị thức ăn đi đường cho
họ.
Đối với cô phù dâu (“piêng”), nhà trai cũng phải lo quà tặng. Vào cuối ngày lễ
cưới, nhà trai sẽ kiểm số tiền mừng cưới và trừ đi số tiền chi phí cho đám cưới, số
còn lại dược chia ba, họ giữ lại một phần, còn hai phần được gói vào miếng vải thổ
cẩm để vào gánh bánh chưng là quà của cô phù dâu. Trong phong tục Mường, cô
phù dâu bao giờ cũng được nhiều quà hơn tất cả mọi người, vì họ quan niệm, hai
cô gái (cô dâu và phù dâu) trong một lễ cưới mà một cô thì “được“ chồng, một cô
thì không “được” gì (!) do vậy phải an ủi “piêng”...
Theo truyền thống, sau Lễ đón dâu, cô dâu chưa ở ngay nhà chồng, mà trở về nhà
mình. Đón dâu về trai gái chưa được chung chăn, chung gối ngay mà còn phải đi
lại một thời gian, đôi khi phải hàng năm nữa. Khi cô dâu đã quen nếp ăn ở nhà
chồng thì nhà trai chọ lấy một bà nào đấy phúc hậu, dễ nuôi con, đợi ngày lành
tháng tốt đến trải chiếu, căng màn cho đôi vợ chồng mới. Lúc này chàng rể mới
không còn phải “bù ma ruộng” (theo quan niệm ở mường Bi là chấm dứt thời gian
thử thách, chấm dứt thời gian bị coi là khách phải nằm gian ngoài) để được vào
ngủ gian trong, trai gái chính thức nên vợ nên chồng. Nếu cho chung chăn, chung
chiếu ở bên bố mẹ nhà gái, tức bên nhà mộng, chàng rể trước khi vào gian trong
còn phải lạy bố mẹ ba lần, ý như để xin phép.
Kết luận
Về cơ bản, đám cưới của người Mường hiện nay vẫn giữ được những nghi thức
truyền thống nhưng chúng đã được rút gọn về thời gian. Chẳng hạn, từ khi ướm
tiếng cho đến khi dạm ngõ, ăn hỏi và cưới dâu, hai họ nhà trai-gái có thể thoả
thuận với nhau trong vòng vài tháng. Còn rất ít những gia đình kéo dài khoảng thời
gian từ ăn hỏi đến lễ cưới vì không lo kịp và đủ lễ vật thách cưới. Đây cũng là một
thay đổi khá lớn đối với yêu cầu vật chất, giúp cho nghi lễ hôn nhân bớt nặng nề
hơn xưa.
Dù vậy, người Mường còn rất coi trọng hình thức thách cưới. Họ cho rằng, qua lễ
vật mà nhà gái thách cưới đối với nhà trai, nó thể hiện sự tôn trọng của nhà trai đối
với công lao sinh thành và nuôi dưỡng người con dâu. Lễ vật đó cũng thể hiện sự
trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và để đáp ơn nhà gái đã trao con cho họ.
Chúng tôi thấy rất đáng trân trọng quan hệ cộng đồng qua Lễ cưới truyền thống
Mường, ở đó thể hiện những ứng xử khéo léo, đề cao các nghi thức của mối quan
hệ con người với con người, con người với xã hội (gia đình mở rộng, cộng đồng
làng, bản) tạo điều kiện cho những thành viên mới của một đơn vị xã hội mới (đôi
vợ chồng trẻ) biết tôn trọng nhau và biết củng cố sự bền chặt mối quan hệ của
mình. Đây chính là ý nghiã đích thực của lễ cưới truyền thống người Mường trong
đời sống văn hoá- xã hội hôm nay.
Bên cạnh đó, những tác động của lối sống mới từ đô thị, từ giao lưu văn hoá thế
giới đã có những ảnh hưởng đáng kể tới phong tục của địa phương trong việc cưới
hỏi. Ví dụ, về trang phục ngày cưới, các cô dâu vẫn còn muốn mặc quần áo dân tộc
(may mới), nhưng các chú rể thì không chịu và cho đó là lạc hậu, buồn cười. Trước
đây, về cuối buổi, lễ cưới thu hút được nhiều người tới chia vui vì những bài hát
“Rằng thường” để nhắn nhủ, răn dạy cô dâu. Nay, để làm vui cho đám cưới, nhà
trai nào khá giả sẽ thuê dàn máy hát karaoke với những bài hát tình yêu sướt mướt,
đau khổ, thật lạc lõng với ý nghĩa của ngày cưới... nhưng lại được thanh niên
hưởng ứng. Đây đang là một trào lưu sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật mới trong lễ
cưới của các cư dân không chỉ ở vùng người Mường nơi đây, mà ở khắp các vùng
nông thôn Việt Nam. Đây cũng là một công việc cần nghiên cứu kỹ và xem xét
trên nhiều góc độ của văn hoá- xã hội, văn hoá- giáo dục, để làm thế nào mà ngành
văn hoá (địa phương, trung ương) có thể phát huy được các yếu tố văn hoá truyền
thống trong đời sống văn hoá của người dân xã hội đương đại.
| 1/6

Preview text:

Như các bạn cũng biết, chuyện hôn nhân dựng vợ gả chồng là một chuyện
trọng đại của đời người. Ai cũng mong muốn lấy được người mình yêu và cùng
xây dựng hạnh phúc gia đình. Tùy từng dân tộc, từng vùng, từng giai đoạn lịch sử
mà lễ cưới diễn ra có khác nhau. Tìm hiểu lễ cưới giúp chúng ta nhận ra nếp sống
của con người trong xã hội ấy. Ở Hòa Bình, nơi mà người Mường chiếm đa số thì
phong tục cưới hỏi cũng khá là phong phú và đa dạng. Có một câu thơ như thế này:
“ nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”. Đây là bốn Mường nổi tiếng nhất của
tỉnh Hòa Bình với đời sống văn hóa thú vị và phong phú. Hôm nay, em sẽ dẫn thầy
và các bạn đến với đám cưới của một trong tứ Mường nổi tiếng nhất đó chính là
Mường Bi. Ngày xưa theo phong tục của Mường thì sẽ không được lấy người
ngoại tộc tức là sẽ không được lấy người của dân tộc khác và phải đặt chữ môn
đăng hộ đối lên trên và còn một cái nữa là phải nghe theo sự sắp xếp của cha mẹ.
Vì vậy trước đây có rất nhiều gia đình nhà trai vì nghèo, không lo được các khoản
chi phí mà nhà gái yêu cầu nên không thể lấy được vợ. Nhưng bây giờ xã hội đang
ngày càng hiện đại, con người ngày càng tiến bộ. Những hủ tục và những định kiến
đang dần biến mất nhưng lễ cưới ở Mường Bi vẫn còn giữ lại những nghi lễ truyền
thống từ ngày xưa. Một lễ cưới truyền thống được diễn ra như sau:
Trước khi cưới: khi trai gái hai bên đã tìm hiểu nhau kĩ càng và có mong
muốn đi tới hôn nhân thì nhà trai sẽ mời một ông mối, người Mường gọi là ông mò
đi đến nhà gái để ngỏ ý rằng nhà trai có mong muốn làm thông gia. Đây là lễ đi
thăm dòm ướm hỏi ( lễ dạm hỏi).
Ở nghi lễ này, điều đặc biệt là ông mối sẽ đi
vào giờ chiều tối vì theo lịch của người Mường Bi thì giờ đó là giờ tốt, có thể
thuận lợi trong mọi việc. ông mối sẽ không mang bất cứ thứ gì đến mà chỉ sang đó
nói chuyện đặt vấn đề với nhà gái. Về phía nhà gái cũng sẽ không đồng ý ngay mà
sẽ nói khéo để khoảng vài ba ngày mới có thể quyết định và sẽ hẹn ông mối vào
ngày gần nhất để trả lời. Đến ngày hẹn, ông mối sẽ lại sang nhà gái để hỏi chuyện
và nếu nhà gái đồng ý thì ông mối sẽ về nói chuyện lại với nhà trai nhà trai chuẩn
bị lễ vật sang xin cưới.
Sau khi đã dò hỏi thành công thì nhà trai sẽ đi chọn ngày lành tháng tốt sang nhà
gái làm lễ Bỏ trầu, (lễ ăn hỏi) Ông mối là người dẫn đầu đoàn nhà trai sang nhà
gái để ăn hỏi. Đồ lễ mang theo gồm một con lợn chừng 20-25kg, hai gánh gạo
chừng 40-50kg, một gánh bánh chưng độ 120 cái, bốn, năm chai rượu, cau 1
buồng, trầu trăm lá. Tất cả cho vào sọt đan đẹp, mường Bi gọi là đan khác. Chín
hoặc mười nội ngoại nhà trai, người gánh, người khiêng đưa các thứ đó sang nhà
gái. Hôm này chàng rể chưa đi mà chỉ có họ hàng nhà trai đến nhà gái.
Sau khi ăn uống vui vẻ, đại diện nhà trai thưa chuyện trước. Người đại diện cho
nhà gái mới thưa chuyện theo. Sau khi dạm hỏi về, nhà trai ít nhiều có sự chuẩn bị
để lo ngày cưới chính thức cho con. Trước hôm cưới ít ngày nhà trai sắm một lễ
gồm rượu hoặc trầu cau cho ông mờ sang nhà gái xin cưới. Mường Bi gọi là nòm
khảu. Buổi này nhà gái thông báo chính thức cho nhà trai biết ngày tháng nào sẽ cho cưới.
Ở lễ ăn hỏi thì nhà gái cũng sẽ đưa ra yêu cầu thách cưới. Tùy vào từng nhà mà độ
thách cưới sẽ khác nhau. có nhà thách cưới ít, có nhà thách cưới nhiều. Thường thì
khi nghe nhà gái thách cưới xong, nhà trai sẽ đồng ý ngay. Nhưng nếu nhà trai cảm
thấy nhà gái đang thách cưới quá cao thì sẽ nói lại với ông mối để ông mối nói
chuyện đàm phán lại với bên nhà gái để được giảm hoặc xin rút.
Muốn ngày cưới của con mình được chu đáo, trước hết nhà trai mời mấy ông nội
ngoại gần nhất đến bàn ngày họp họ xin tiền, xin gạo. Sau khi lên danh sách nội
ngoại xa gần, nhà trai chuẩn bị quà, có thể là những gói bánh, có thể là những gói
chè đến từng nhà xin quyên góp. Thường anh em chú bác thân thuộc giúp nhau
một chón cơm và một đồng bạc cổ (một chón cơm tương đương 10 đấu gạo nếp),
còn anh em họ mạc, bạn bè thân thích, làng xóm xa gần thì tùy khả năng mà giúp đỡ.
Khi đã họp bàn xong xuôi thì lễ cưới chính thức được bắt đầu, mường Bi gọi
là “li cháu”. Lễ ra mắt chàng rể mới Lễ cưới lần thứ nhất nhà trai sang nhà gái
gồm có: gạo 120 đấu (khoảng 100kg), lợn từ 40-50kg trở lên và một con lợn bé
người ta gọi đó là lơn vào trồ, rượu độ hai chục chai, cau một buồng, trầu trăm lá,
từ 2-4 cây mía. Số người theo sang tùy, miễn là có đủ nội, ngoại, bạn bè chừng độ
3-4 chục người do ông mối dẫn đầu. Chàng rể mặc quần áo đẹp, chít khăn trắng,
gùi một chón cơm (độ 10 đấu gạo) đã đồ chín, trên miệng chón để hai con gà sống
thiến đã luộc chín. Còn hai chàng trai khác có thể bên nội một, bên ngoại một cũng
gùi hai chón cơm đã đồ chín, không có gà để trên, mường Bi gọi là piềng. Dù nhà
gái xa hay gần ở mường Bi có tục: “li cháu đắp trâu, li du vàng mặt”, nghĩa là: nhà
trai đi cưới rể đến nhà gái lúc trâu về chuồng (khoảng 5 giờ chiều), còn phải đợi
lúc tối mặt người mới đón dâu vào nhà (khoảng 7 giờ tối). Nếu đến sớm hơn lệ tục
đã định, có khi đoàn nhà trai phải đợi hàng giờ mới được lên thang. Lúc đoàn
khách nhà trai rửa chân chuẩn bị vào nhà những cô con gái tinh nghịch bên nhà gái
thường đợi khách vào để giật dây để tổ kiến đỏ, kiến đen treo trên cành cây, bờ rào
đổ xuống bám vào đốt các vị khách. Riêng chàng rể và hai phù rể còn phải ở lại
nhà gái tiếp khách. Đến tối thứ ba nhà gái làm một tiệc nho nhỏ gọi là “chụ cháu”
để tiếp rể. Sáng hôm sau, nhà gái chuẩn bị đầy đủ quà cáp cho rể lại nhà. Mọi cuộc
sinh hoạt của ngày cưới ti cháu diễn ra đến đây mới kết thúc.
Vài năm tiếp theo, cứ sau ngày tết chàng rể lại phải sắm lễ mang đến cho bố mẹ
nhà gái gọi là “đi cơm nom”. Đồ lễ mang theo tùy khả năng kinh tế của mỗi gia
đình. Người khá giả thường mang gánh bánh, gánh rượu, gánh gạo, gánh cá ốt (tức
là cá túm lại đồ chín với măng chua hoặc là moi) và một con lợn chừng 10-20kg.
Nhận lễ xong nhà gái mời họ hàng lân cận đến cùng chia vui. Hai gia đình bên trai
bên gái chúc nhau nhân dịp xuân năm mới mong muốn quan hệ thông gia ngày càng thêm bền chặt.
Hôn nhân của người Mường ở mường Bi gần như quy định một hoặc vài năm mới
được đón dâu. Trong thời gian ấy nhà gái có việc gì sai gọi chàng rể đến làm giúp,
tối lại ngủ ở gian ngoài chưa được gần người vợ của mình.
Thời gian này cũng là dịp để cô dâu chú rể thử thách nhau và nhận biết tính nết của
nhau, hiểu đầy đủ người chồng, người vợ tương lai của mình. Nếu trong thời gian
đó bên trai hoặc bên gái có sơ suất điều gì một trong hai bên có thể khước từ hôn lễ
trả lại của cải cho nhau.
- Lễ đón dâu (Li du)
Theo diễn trình của Lễ cưới truyền thống Mường thì Lễ đón dâu (xước du) thường
được tổ chức sau Lễ ra mắt chàng rể khoảng từ 1 đến 3 năm. Nếu nhà trai ở xa nhà
gái thì mang lễ vật đón dâu từ ngày hôm trước, sau đó ở lại ăn cơm cùng nhà gái.
Lễ vật nhà trai mang sang đón dâu phải đủ để cho nhà gái chia cho họ hàng và tổ
chức cho họ hàng nhà gái ăn uống tại nhà cô dâu trước khi đón dâu. Khi lễ vật sang
đến nhà gái, đại diện nhà gái sẽ tiến hành kiểm tra số lượng, trọng lượng lễ vật. Và
chỉ sau khi đó, các thủ tục tiếp theo của diễn trình Lễ đón dâu mới bắt đầu. Suốt
đêm hai họ cùng hát thường rang, bọ mệng kể về công lao sinh thành nuôi dưỡng
của cha mẹ, răn dạy cô gái phận làm dâu, lời gửi gắm con gái cho nhà trai...
Cô dâu và phù dâu khi về nhà chồng bao giờ mỗi người cũng phải cầm theo một
con dao nhỏ khi đi đường. Con dao nhỏ này có cán bằng sừng hoãng hoặc bằng
nanh hổ. Con dao này được người Mường quan niệm như bùa hộ mệnh để khi đi
đường luôn gặp mọi sự may mắn, chống lại mọi thú dữ và ma quỉ trên đường đi.
Phù dâu thường phải là người chưa lập gia đình, biết ăn nói giỏi và nhan sắc
thường kém cô dâu để làm nổi bật vẻ đẹp của cô dâu trong ngày cưới..
Dân gian Mường có câu “Chẩu buông klu, du lại mặt” có nghĩa là “Làm rể vào
buổi trưa, làm dâu vào buổi tối”. Do đó hai họ sẽ phải tính toán thời gian đi đường
sao cho khi đón dâu về đến nhà vào lúc trời chạng vạng tối.
Đoàn đưa dâu về nhà chồng ngoài bà mối cũng còn có hai bố: bố khà (tức là bố già
trên 60 tuổi) và bố non (tức là bố trẻ dưới 60 tuổi), hai mẹ: mẹ già và mẹ non. Bố
mẹ cô dâu không đưa con gái sang nhà chồng. Bố già và bố non bao giờ cũng là
những người rất giỏi đối đáp và có khả năng hát đối đáp.
Người Mường rất coi trọng lời ăn, tiếng nói, do đó cũng rất coi trọng người
biết ăn nói có duyên. Người Mường thường nói: “Thiếu gì nước trong giếng, thiếu
gì tiếng trong mồm mà không nói ra cho vừa lòng nhau”.Lễ đón dâu, mọi chi phí
do nhà trai phải chịu. Đón dâu vào ngày nào, họ hàng bên nhà trai mang đồ vật đến
mừng, chủ yếu là tiền, ngoài ra là vải tự dệt hay váy áo đã may sẵn. Ngày này nhà
gái cho mời độ năm ba chục người đủ mặt bên họ nội, họ ngoại đi đưa dâu. Ngày
về nhà chồng dù không mưa không nắng cô dâu cũng phải đội nón, mặc váy áo
đẹp, ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt hai vạt ở phía trước. Có hai người một
bên nội, một bên ngoại cùng đi gọi là “piêng du”. Cô dâu mang về nhà chồng, nhà
khó khăn lắm cũng phải có hai cái gối, còn thường là hai cái chăn, hai cái lot, hai
quả gối to để biếu bố mẹ chồng và hàng chục cái gối con để nhà trai biếu chú bác,
cô dì thân thuộc. Dẫn đầu đoàn nhà gái là ông mối và hai cô gái trẻ bên nhà trai
sang đón dâu. Một nghi thức đặc trưng chỉ có ở lễ cưới người mường.Sau ngày
cưới nhà trai đến "xin" cô dâu về. Khi dâu mới về đến cửa nhà chồng thì sẽ được
bà mụ giúp gột rửa sạch sẽ trước khi bước vào nhà chồng. Lúc đó trước của để sẵn
một lu nước lớn, bà mụ dùng nước đó rửa chân cho cô dâu rồi đưa vào làm lễ ở bàn
thờ ông thần bếp. Đoàn người về nhà vào lúc sâm sẩm tối. Nhà trai đã chuẩn bị
rượu cần, ông mờ khấn rượu, khấn cơm, khấn bàn thờ tổ tiên, đưa cô dâu ra trình
diện trước bàn thờ ma nhà. Cuộc vui văn nghệ kéo dài thâu đêm, suốt sáng.
Cuối Lễ đón dâu, nhà trai bao giờ cũng phải có quà tặng cho bà/ông mối và các bậc
cha chú đã tham gia đưa, đón dâu. Nếu nhà gái cách xa nhà trai thì những người
đưa dâu thường ngủ qua đêm ở nhà trai và ra về vào sáng hôm sau. Lúc này nhà
trai sẽ làm một mâm cơm để tiễn họ hàng nhà gái và chuẩn bị thức ăn đi đường cho họ.
Đối với cô phù dâu (“piêng”), nhà trai cũng phải lo quà tặng. Vào cuối ngày lễ
cưới, nhà trai sẽ kiểm số tiền mừng cưới và trừ đi số tiền chi phí cho đám cưới, số
còn lại dược chia ba, họ giữ lại một phần, còn hai phần được gói vào miếng vải thổ
cẩm để vào gánh bánh chưng là quà của cô phù dâu. Trong phong tục Mường, cô
phù dâu bao giờ cũng được nhiều quà hơn tất cả mọi người, vì họ quan niệm, hai
cô gái (cô dâu và phù dâu) trong một lễ cưới mà một cô thì “được“ chồng, một cô
thì không “được” gì (!) do vậy phải an ủi “piêng”...
Theo truyền thống, sau Lễ đón dâu, cô dâu chưa ở ngay nhà chồng, mà trở về nhà
mình. Đón dâu về trai gái chưa được chung chăn, chung gối ngay mà còn phải đi
lại một thời gian, đôi khi phải hàng năm nữa. Khi cô dâu đã quen nếp ăn ở nhà
chồng thì nhà trai chọ lấy một bà nào đấy phúc hậu, dễ nuôi con, đợi ngày lành
tháng tốt đến trải chiếu, căng màn cho đôi vợ chồng mới. Lúc này chàng rể mới
không còn phải “bù ma ruộng” (theo quan niệm ở mường Bi là chấm dứt thời gian
thử thách, chấm dứt thời gian bị coi là khách phải nằm gian ngoài) để được vào
ngủ gian trong, trai gái chính thức nên vợ nên chồng. Nếu cho chung chăn, chung
chiếu ở bên bố mẹ nhà gái, tức bên nhà mộng, chàng rể trước khi vào gian trong
còn phải lạy bố mẹ ba lần, ý như để xin phép. Kết luận
Về cơ bản, đám cưới của người Mường hiện nay vẫn giữ được những nghi thức
truyền thống nhưng chúng đã được rút gọn về thời gian. Chẳng hạn, từ khi ướm
tiếng cho đến khi dạm ngõ, ăn hỏi và cưới dâu, hai họ nhà trai-gái có thể thoả
thuận với nhau trong vòng vài tháng. Còn rất ít những gia đình kéo dài khoảng thời
gian từ ăn hỏi đến lễ cưới vì không lo kịp và đủ lễ vật thách cưới. Đây cũng là một
thay đổi khá lớn đối với yêu cầu vật chất, giúp cho nghi lễ hôn nhân bớt nặng nề hơn xưa.
Dù vậy, người Mường còn rất coi trọng hình thức thách cưới. Họ cho rằng, qua lễ
vật mà nhà gái thách cưới đối với nhà trai, nó thể hiện sự tôn trọng của nhà trai đối
với công lao sinh thành và nuôi dưỡng người con dâu. Lễ vật đó cũng thể hiện sự
trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và để đáp ơn nhà gái đã trao con cho họ.
Chúng tôi thấy rất đáng trân trọng quan hệ cộng đồng qua Lễ cưới truyền thống
Mường, ở đó thể hiện những ứng xử khéo léo, đề cao các nghi thức của mối quan
hệ con người với con người, con người với xã hội (gia đình mở rộng, cộng đồng
làng, bản) tạo điều kiện cho những thành viên mới của một đơn vị xã hội mới (đôi
vợ chồng trẻ) biết tôn trọng nhau và biết củng cố sự bền chặt mối quan hệ của
mình. Đây chính là ý nghiã đích thực của lễ cưới truyền thống người Mường trong
đời sống văn hoá- xã hội hôm nay.
Bên cạnh đó, những tác động của lối sống mới từ đô thị, từ giao lưu văn hoá thế
giới đã có những ảnh hưởng đáng kể tới phong tục của địa phương trong việc cưới
hỏi. Ví dụ, về trang phục ngày cưới, các cô dâu vẫn còn muốn mặc quần áo dân tộc
(may mới), nhưng các chú rể thì không chịu và cho đó là lạc hậu, buồn cười. Trước
đây, về cuối buổi, lễ cưới thu hút được nhiều người tới chia vui vì những bài hát
“Rằng thường” để nhắn nhủ, răn dạy cô dâu. Nay, để làm vui cho đám cưới, nhà
trai nào khá giả sẽ thuê dàn máy hát karaoke với những bài hát tình yêu sướt mướt,
đau khổ, thật lạc lõng với ý nghĩa của ngày cưới... nhưng lại được thanh niên
hưởng ứng. Đây đang là một trào lưu sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật mới trong lễ
cưới của các cư dân không chỉ ở vùng người Mường nơi đây, mà ở khắp các vùng
nông thôn Việt Nam. Đây cũng là một công việc cần nghiên cứu kỹ và xem xét
trên nhiều góc độ của văn hoá- xã hội, văn hoá- giáo dục, để làm thế nào mà ngành
văn hoá (địa phương, trung ương) có thể phát huy được các yếu tố văn hoá truyền
thống trong đời sống văn hoá của người dân xã hội đương đại.